Trật tự công cộng gì? Quy định tội phạm gây
rối trật tự công cộng
1. Khái niệm trật t công cộng
Trật tự công cộng trạng thái ổn định, tổ chức, kỉ luật nơi công cộng.
Những nơi phục vụ lợi ích công cộng như đường phố, quảng trường, công
viên, bệnh viện, nhà hát, rạp chiếu bóng, bãi biển, khu nghỉ mát... được t
chức, sắp xếp ngăn nắp, các quy ước chung được mọi người tôn trọng, thực
hiện nghiêm chỉnh.
Quy tắc bắt buộc phải tuân theo để bảo vệ lợi ích chung của hội, thể hiện
toàn bộ những yêu cầu bản của hội về các mặt chính trị, kinh tế, văn
hoá, hội...
2. Hành vi gây rối trật tự công cộng
Hành vi gây rối trật tự công cộng thể sự cản trở hoạt động bình thường
của quan nhà nước, tổ chức, doanh nghiệp nhân; gây cản trở, ách
tắc giao thông trong nhiều giờ; gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, ngoại giao,
đến trật tự an toàn hội… Hoặc để người xấu lợi dụng, lôi kéo, kích động
chống phá chính quyền, xuyên tạc đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật
của Nhà nước, gây hoang mang, lo sợ hoặc phẫn nộ trong nhân dân; gây khó
khăn trong thực hiện đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của nhà
nước. Như vậy, nội hàm của hành vi gây rối trật tự công công được hiểu theo
khái niệm rất rộng về không gian, thời gian địa điểm phạm tội.
Hành vi gây rối trật tự tại phiên tòa, phiên họp không được coi gây rối trật
tự công cộng. Người hành vi y rối tại phiên tòa, phiên họp thể bị truy
cứu trách nhiệm hình sự về tội Gây rối phiên tòa, phiên họp” theo Điều
391 B luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 (sau đây viết
tắt BLHS).
3. Chủ thể của tội phạm gây rối trật tự ng cộng
Chủ thể của tội phạm người năng lực trách nhiệm hình sự (đủ 16 tuổi
trở lên khả năng nhận thức, khả năng điều khiển hành vi của mình).
4. Các trường hợp gây rối trật tự cộng cộng
Trong thực tiễn, hành vi gây rối trật tự cộng cộng xảy ra muôn hình, vạn trạng,
khi kèm theo các công cụ, khí, gây thiệt hại tài sản, tính mạng của
người khác. vậy, trong quá trình giải quyết vụ án, cần nghiên cứu, đánh giá
đúng hành vi phạm tội theo tình tiết tăng nặng định khung hình phạt hoặc định
tội riêng biệt, để thể áp dụng chính xác pháp luật, thể gồm c trường
hợp sau:
- Trường hợp gây rối trật tự công cộng dùng khí theo quy định tại điểm
b khoản 2 Điều 318 BLHS được hiểu dùng khí quân dụng, súng săn,
khí thô sơ, khí thể thao khí khác tính năng, tác dụng tương tự gây
rối trật tự ng cộng.
- Trường hợp người hành vi chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái
phép hoặc chiếm đoạt khí quân dụng dùng khí đó gây rối trật tự
công cộng, nếu hành vi đó thỏa mãn điều kiện của tội chế tạo, tàng trữ, vận
chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt khí quân dụng được
quy định tại Điều 304 BLHS, thì ngoài việc phải chịu trách nhiệm hình sự về
tội “Gây rối trật tự công cộng” theo điểm b khoản 2 Điều 318 BLHS, người
phạm tội còn phải chịu trách nhiệm hình sự (TNHS) về tội “Chế tạo, tàng trữ,
vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt khí quân dụng” quy định
tại Điều 304 BLHS.
- Trường hợp một người hành vi chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, mua bán
trái phép hoặc chiếm đoạt ng săn, khí thô sơ, khí thể thao, khí
khác tính năng tác dụng như súng săn, khí thể thao, công cụ hỗ trợ
dùng khí đó gây rối trật t công cộng, nếu hành vi đó thỏa mãn điều kiện
của tội chế tạo, ng trữ, vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt ng săn,
khí thô sơ, súng thể thao hoặc công cụ hỗ trợ được quy định tại Điều 306
BLHS, thì ng với việc phải chịu TNHS về tội “Gây rối trật tự cộng cộng”
theo điểm b khoản 2 Điều 318 BLHS, người phạm tội n phải chịu TNHS về
tội Chế tạo, tàng trữ, vận chuyển… chiếm đoạt súng n, khí thể thao,
công cụ hỗ trợ” theo quy định tại Điều 306 BLHS.
- Trường hợp phạm tội “Gây rối trật tự ng cộng dùng hung khí” theo
điểm b khoản 2 Điều 318 BLHS trường hợp người phạm tội “Gây rối trật tự
công cộng” dùng ng cụ, dụng cụ, vật khả năng gây nguy hiểm đến
tính mạng hoặc sức khỏe của người khác như dùng a đinh, dao phay, các
loại dao sắc nhọn… hoặc vật do người phạm tội chế tạo ra như thanh sắt mài
nhọn, côn gỗ, vật sẵn trong t nhiên như gách, đá, đoạn cây cứng, thanh
sắt... gây rối trật tự công cộng.
- Trường hợp người gây rối trật tự công cộng hành vi phá phách theo quy
định tại điểm b khoản 2 Điều 318 BLHS được hiểu trong quá trình phạm tội
gây rối trật tự công cộng, người phạm tội hành vi đập phá, làm đảo lộn trật
tự bình thường của đồ vật, tài sản của người khác. Nếu hành vi phá phách
gây thiệt hại về tài sản của người khác thỏa mãn dấu hiệu của tội hủy hoại
hoặc cố ý làm hỏng tài sản của người khác t cùng với việc phải chịu
TNHS về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo điểm b khoản 2 Điều 318 BLHS,
người đó n phải chịu TNHS về tội “Hủy hoại hoặc cố ý làm hỏng tài sản
của người khác” theo Điều 178 BLHS.
- Trường hợp gây rối trật tự ng cộng mà hành vi hành hung người can
thiệp bảo vệ trật tự ng cộng theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 318
BLHS, người phạm tội hành vi dùng lực tấn công người can thiệp
bảo vệ trật tự công cộng. Nếu hành vi hành hung đó thỏa mãn dấu hiệu của
tội “Chống người thi hành công vụ” được quy định tại Điều 330 BLHS, ngoài
việc phải chịu trách nhiệm hình sự về tội “Gây rối trật tự cộng cộng” theo điểm
đ khoản 2 Điều 318 BLHS, người phạm tội còn phải chịu trách nhiệm hình sự
về tội “Chống người thi hành công vụ theo Điều 330 BLHS.
- Trường hợp phạm tội hành hung người can thiệp bảo vệ trật tự công cộng
gây chết người hoặc gây thương tích cho người can thiệp, bảo vệ trật tự
công cộng, nếu hành vi đó thỏa mãn dấu hiệu của tội “Giết người” theo quy
định tại Điều 123 BLHS, hoặc cố ý gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe
của người khác theo quy định tại Điều 134 BLHS, thì cùng với việc phải chịu
trách nhiệm hình sự về tội “Giết người” hoặc cố ý gây thương tích, người
phạm tội còn phải chịu trách nhiệm nh sự về tội “Gây rối trật tự công cộng”
theo điểm b khoản 2 Điều 318 BLHS.
5. Các dấu hiệu bản của tội phạm gây rối trật tự công cộng
5.1 Các dấu hiệu thuộc về chủ thể của tội phạm
Chủ thể của tội phạm này không phải chủ thể đặc biệt, ch cần người hành
vi gây rối trật tự công cộng đến một độ tuổi nhất định năng lực trách
nhiệm hình sự đều thể ch thể của tội phạm này.
Theo quy định tại Điều 12 Bộ luật hình sự thì chỉ người đủ 16 tuổi trở lên mới
chủ th của tội phạm này, tội phạm này không trường hợp nào tội
phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.
Nếu hành vi gây rối trật tự công cộng chưa gây ra hậu quả nghiêm trọng thì
người hành vi ch bị truy cứu trách nhiệm hình sự nếu người đó đã bị xử
phạt hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xoá
án tích còn vi phạm
5.2 Các dấu hiệu thuộc mặt khách thể của tội phạm
Tội gây rối trật t công cộng tội xâm phạm đến an toàn công cộng, đến các
quy tắc, sinh hoạt, đi lại, làm việc, vui chơi…ở nơi ng cộng.
5.3 Các dấu hiệu thuộc về mặt khách quan của tội phạm
5.3.1 Hành vi khách quan
Người phạm tội thực hiện hành vi gây rối bằng nhiều phương thức khác nhau
như: tập trung đông người nơi công cộng gây náo động làm mất trật tự
công cộng; đuổi đánh nhau, hét gây náo động nơi công cộng; đập phá
các công trình nơi công cộng, đập phá các tài sản trong các, quán ăn, quán
giải khái đông người. v.v…
Khi xác định hành vi gây rối trật tự cần phải phân biệt với hành vi tuy gây
rối trật tự công cộng nhưng đã cấu thành một tội khác thì người hành vi
gây rối chỉ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội phạm tương ứng họ đã
thực hiện, không bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội gây rối trật tự
công cộng. dụ: Hai tốp thanh niên đuổi đánh nhau trong đó Trần Văn H;
trong khi đuổi đánh nhau, hò hét gây náo động đường phố thì Trần Văn H đã
dùng dao nhọn mang theo đâm chết Bùi Văn T một trong số thanh niên
tham gia đánh nhau. Mặc Trần Văn H hành vi gây rối trật tự công cộng
nhưng từ việc gây rối H đã thực hiện hành vi giết người tội giết người
tội phạm nặng hơn tội gây rối trật tự công cộng nên H chỉ bị truy cứu trách
nhiệm hình sự về tội giết người.
Nói chung, để thể gây rối trật tự công cộng t phải nhiều người, nhưng
không phải bao giờ trong vụ án gây rối trật t công cộng cũng người tham
gia thể chỉ do một người thực hiện. dụ: Văn T đối tượng đã
người tiền án, tiền sự. Ngày 7-11-2005, T cùng bạn gái vào rạp xem phim;
trong lúc đang chiếu phim thì T lấy thuốc ra hút, mọi người xung quanh yêu
cầu T tắt thuốc nhưng T không những không nghe còn dở thói côn đồ,
chửi bới, lăng mạ mọi người xung quanh, gây mất trật tự trong rạp, buổi chiếu
phim phải dừng lại để ổn định trật tự, đèn trong rạp bật sáng, mọi người nhận
ra T là tên lưu manh đã nhiều tiền án, tiền sự; anh Phạm Văn H người
cùng phố với T đã đến khuyên T không nên thái đ càn quấy trong rạp,
nhưng T không nghe còn chửi anh H rất thậm tệ, rồi túm cổ áo anh H định
đánh thì những người làm nhiệm vụ bảo vệ trong rạp kịp thời tới can ngăn
đưa T ra khỏi rạp. Do hành vi gây mất trật tự của T nên buổi chiếu phim bị
giãn đoạn hơn 30 phút.
Thực tiễn xét xử cho thấy, đối với hành vi gây rối trật tự công cộng thường
hành vi khởi đầu cho những hành vi phạm tội khác kế tiếp như: giết người, cố
ý gây thương tích, chống người thi hành công vụ, huỷ hoại hoặc cố ý làm
hỏng tài sản… Tuy nhiên, cũng trường hợp từ hành vi phạm tội khác
dẫn đến hành vi gây rối trật tự công cộng như: t chức đua xe trái phép, đua
xe trái phép, đánh bạc, vi phạm các quy định về điều khiển phương giao
thông đường bộ… Những người bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội gây rỗi
trong c trường hợp này người liên quan đến hành vi phạm tội khác
nhưng không đủ dấu hiệu cấu thành tội phạm đó.
5.3.2 Hậu quả
Hậu quả của hành vi gây rối trật tự công cộng thiệt hại vật chất phi vật
chất được xác định gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn hội.
Hậu quả vừa dấu hiệu bắt buộc, vừa không phải dấu hiệu bắt buộc của
tội phạm này.
dấu hiệu bắt buộc nếu người phạm tội chưa bị xử phạt hành chính về
hành vi gây rối trật tự công cộng hoặc chưa bị kết án về tội này hoặc tuy đã bị
kết án về tội này nhưng đã được xoá án tích.
Không phải dấu hiệu bắt buộc nếu người phạm tội đã b xử phạt hành
chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xoá án tích
còn vi phạm.
Theo hướng dẫn của Toà án nhân dân tối cao thì coi gây hậu quả nghiêm
trọng do hành vi y rối trật tự công cộng nếu thuộc một trong các trường
hợp sau:
- Cản trở, ách tắc giao thông đến dưới 2 giờ ;
- Cản trở sự hoạt động bình thường của quan nhà nước, tổ chức kinh tế,
tổ chức hội, đơn vị trang nhân dân;
- Gây thiệt hại về tài sản giá trị từ mười triệu đồng trở lên;
- Làm chết người hoặc gây thương tích hoặc bị tổn hại sức khoẻ cho người
khác với tỷ lệ thương tật từ 31% trở lên.
- Gây cho nhiều người bị thương tích hoặc bị tổn hại sức kho với tỷ l
thương tật của mỗi người dưới 31%, nhưng tổng tỷ lệ thương tật của tất cả
những người này từ 41% trở lên;
- Gây cho người khác b thương tích hoặc bị tổn hại sức khoẻ với tỷ lệ
thương tật từ 21% đến 30% còn thiệt hại về tài sản giá trị từ m triệu
đồng trở lên;
- Gây cho nhiều người bị thương tích hoặc bị tổn hại sức kho với tỷ l
thương tật của mỗi người dưới 21%, nhưng tổng tỷ lệ thương tật của tất cả
những người này từ 30% đến 40% còn thiệt hại về tài sản giá trị từ năm
triệu đồng trở lên.
- Ngoài các hậu quả xảy ra về tính mạng, sức kho tài sản, thực tiễn cho
thấy thể còn hậu quả phi vật chất như ảnh hưởng xấu đến việc thực
hiện đường lối của Đảng, chính sách của Nhà nước, gây ảnh hưởng xấu đến
an ninh, ngoại giao, đến trật tự, an toàn hội...
Khi xác định hậu quả của hành vi phạm tội cần chú ý: thể trong vụ án gây
rối trật tự công cộng thiệt hại về tính mạng, sức khoẻ, tài sản đã hậu quả
của hành vi phạm tội khác người phạm tội khác đó đã bị truy cứu trách
nhiệm hình sự về tội phạm khác nhưng vẫn được tính hậu quả nghiêm
trọng của hành vi gây rối để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người
hành vi gây rối. Ví dụ: A, B, C D vào quán của chị H uống bia hơi, trong khi
uống bia A,B,C,D đã gây rối làm náo loạn quan bia, trong lúc gây rối, A đã lấy
cốc vỏ chai bia ném người khác làm hỏng tài sản của chị H trị giá 12
triệu đồng, n C đã dùng dao đâm anh Q làm anh Q bị thương t lệ
thương tật 45%. Mặc trong vụ án này, A bị truy cứu trách nhiệm hình sự
về tội cố ý làm hư hỏng tài sản của người khác C bị truy cứu trách nhiệm
hình sự về tội cố ý gây thương tích nhưng thiệt hại về sức khoẻ của anh Q
thiệt hại về tài sản của ch H đều được tính để xác định hậu qu nghiêm trọng
về hành vi gây rối của B D.
5.3.3 Các dấu hiệu khách quan khác
Ngoài hành vi, hậu quả do hành vi vi phạm gây ra, nhà làm luật không quy
định dấu hiệu khách quan khác dấu hiệu bắt buộc của cấu thành tội phạm
này. Tuy nhiên, khi xác định hành vi phạm tội gây rối cần nghiên cứu các quy
định của Nhà nước về các quy tắc về trật tự nơi công cộng.
5.4 Các dấu hiệu thuộc về mặt chủ quan của tội phạm
Người phạm tội thực hiện hành vi gây rối trật tự công cộng do cố ý.

Preview text:

Trật tự công cộng là gì? Quy định tội phạm gây
rối trật tự công cộng
1. Khái niệm trật tự công cộng
Trật tự công cộng là trạng thái ổn định, có tổ chức, có kỉ luật ở nơi công cộng.
Những nơi phục vụ lợi ích công cộng như đường phố, quảng trường, công
viên, bệnh viện, nhà hát, rạp chiếu bóng, bãi biển, khu nghỉ mát... được tổ
chức, sắp xếp ngăn nắp, các quy ước chung được mọi người tôn trọng, thực hiện nghiêm chỉnh.
Quy tắc bắt buộc phải tuân theo để bảo vệ lợi ích chung của xã hội, thể hiện
toàn bộ những yêu cầu cơ bản của xã hội về các mặt chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội...
2. Hành vi gây rối trật tự công cộng
Hành vi gây rối trật tự công cộng có thể là sự cản trở hoạt động bình thường
của cơ quan nhà nước, tổ chức, doanh nghiệp và cá nhân; gây cản trở, ách
tắc giao thông trong nhiều giờ; gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, ngoại giao,
đến trật tự an toàn xã hội… Hoặc để người xấu lợi dụng, lôi kéo, kích động
chống phá chính quyền, xuyên tạc đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật
của Nhà nước, gây hoang mang, lo sợ hoặc phẫn nộ trong nhân dân; gây khó
khăn trong thực hiện đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của nhà
nước. Như vậy, nội hàm của hành vi gây rối trật tự công công được hiểu theo
khái niệm rất rộng về không gian, thời gian và địa điểm phạm tội.
Hành vi gây rối trật tự tại phiên tòa, phiên họp không được coi là gây rối trật
tự công cộng. Người có hành vi gây rối tại phiên tòa, phiên họp có thể bị truy
cứu trách nhiệm hình sự về tội “Gây rối phiên tòa, phiên họp” theo Điều
391 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 (sau đây viết tắt là BLHS).
3. Chủ thể của tội phạm gây rối trật tự công cộng
Chủ thể của tội phạm là người có năng lực trách nhiệm hình sự (đủ 16 tuổi
trở lên và có khả năng nhận thức, khả năng điều khiển hành vi của mình).
4. Các trường hợp gây rối trật tự cộng cộng
Trong thực tiễn, hành vi gây rối trật tự cộng cộng xảy ra muôn hình, vạn trạng,
có khi kèm theo các công cụ, vũ khí, gây thiệt hại tài sản, tính mạng của
người khác. Vì vậy, trong quá trình giải quyết vụ án, cần nghiên cứu, đánh giá
đúng hành vi phạm tội theo tình tiết tăng nặng định khung hình phạt hoặc định
tội riêng biệt, để có thể áp dụng chính xác pháp luật, có thể gồm các trường hợp sau:
- Trường hợp gây rối trật tự công cộng mà dùng vũ khí theo quy định tại điểm
b khoản 2 Điều 318 BLHS được hiểu là dùng vũ khí quân dụng, súng săn, vũ
khí thô sơ, vũ khí thể thao và vũ khí khác có tính năng, tác dụng tương tự gây
rối trật tự công cộng.
- Trường hợp người có hành vi chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái
phép hoặc chiếm đoạt vũ khí quân dụng và dùng vũ khí đó gây rối trật tự
công cộng, nếu hành vi đó thỏa mãn điều kiện của tội chế tạo, tàng trữ, vận
chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vũ khí quân dụng được
quy định tại Điều 304 BLHS, thì ngoài việc phải chịu trách nhiệm hình sự về
tội “Gây rối trật tự công cộng” theo điểm b khoản 2 Điều 318 BLHS, người
phạm tội còn phải chịu trách nhiệm hình sự (TNHS) về tội “Chế tạo, tàng trữ,
vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vũ khí quân dụng” quy định tại Điều 304 BLHS.
- Trường hợp một người có hành vi chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, mua bán
trái phép hoặc chiếm đoạt súng săn, vũ khí thô sơ, vũ khí thể thao, vũ khí
khác có tính năng tác dụng như súng săn, vũ khí thể thao, công cụ hỗ trợ và
dùng vũ khí đó gây rối trật tự công cộng, nếu hành vi đó thỏa mãn điều kiện
của tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt súng săn, vũ
khí thô sơ, súng thể thao hoặc công cụ hỗ trợ được quy định tại Điều 306
BLHS, thì cùng với việc phải chịu TNHS về tội “Gây rối trật tự cộng cộng”
theo điểm b khoản 2 Điều 318 BLHS, người phạm tội còn phải chịu TNHS về
tội “Chế tạo, tàng trữ, vận chuyển… chiếm đoạt súng săn, vũ khí thể thao,
công cụ hỗ trợ” theo quy định tại Điều 306 BLHS.
- Trường hợp phạm tội “Gây rối trật tự công cộng có dùng hung khí” theo
điểm b khoản 2 Điều 318 BLHS là trường hợp người phạm tội “Gây rối trật tự
công cộng” có dùng công cụ, dụng cụ, vật có khả năng gây nguy hiểm đến
tính mạng hoặc sức khỏe của người khác như dùng búa đinh, dao phay, các
loại dao sắc nhọn… hoặc vật do người phạm tội chế tạo ra như thanh sắt mài
nhọn, côn gỗ, vật có sẵn trong tự nhiên như gách, đá, đoạn cây cứng, thanh
sắt... gây rối trật tự công cộng.
- Trường hợp người gây rối trật tự công cộng có hành vi phá phách theo quy
định tại điểm b khoản 2 Điều 318 BLHS được hiểu là trong quá trình phạm tội
gây rối trật tự công cộng, người phạm tội có hành vi đập phá, làm đảo lộn trật
tự bình thường của đồ vật, tài sản của người khác. Nếu hành vi phá phách
gây thiệt hại về tài sản của người khác thỏa mãn dấu hiệu của tội hủy hoại
hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản của người khác thì cùng với việc phải chịu
TNHS về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo điểm b khoản 2 Điều 318 BLHS,
người đó còn phải chịu TNHS về tội “Hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản
của người khác” theo Điều 178 BLHS.
- Trường hợp gây rối trật tự công cộng mà có hành vi hành hung người can
thiệp bảo vệ trật tự công cộng theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 318
BLHS, là người phạm tội có hành vi dùng vũ lực tấn công người can thiệp
bảo vệ trật tự công cộng. Nếu hành vi hành hung đó thỏa mãn dấu hiệu của
tội “Chống người thi hành công vụ” được quy định tại Điều 330 BLHS, ngoài
việc phải chịu trách nhiệm hình sự về tội “Gây rối trật tự cộng cộng” theo điểm
đ khoản 2 Điều 318 BLHS, người phạm tội còn phải chịu trách nhiệm hình sự
về tội “Chống người thi hành công vụ” theo Điều 330 BLHS.
- Trường hợp phạm tội hành hung người can thiệp bảo vệ trật tự công cộng
mà gây chết người hoặc gây thương tích cho người can thiệp, bảo vệ trật tự
công cộng, nếu hành vi đó thỏa mãn dấu hiệu của tội “Giết người” theo quy
định tại Điều 123 BLHS, hoặc cố ý gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe
của người khác theo quy định tại Điều 134 BLHS, thì cùng với việc phải chịu
trách nhiệm hình sự về tội “Giết người” hoặc cố ý gây thương tích, người
phạm tội còn phải chịu trách nhiệm hình sự về tội “Gây rối trật tự công cộng”
theo điểm b khoản 2 Điều 318 BLHS.
5. Các dấu hiệu cơ bản của tội phạm gây rối trật tự công cộng
5.1 Các dấu hiệu thuộc về chủ thể của tội phạm
Chủ thể của tội phạm này không phải chủ thể đặc biệt, chỉ cần người có hành
vi gây rối trật tự công cộng đến một độ tuổi nhất định và có năng lực trách
nhiệm hình sự đều có thể là chủ thể của tội phạm này.
Theo quy định tại Điều 12 Bộ luật hình sự thì chỉ người đủ 16 tuổi trở lên mới
là chủ thể của tội phạm này, vì tội phạm này không có trường hợp nào là tội
phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.
Nếu hành vi gây rối trật tự công cộng chưa gây ra hậu quả nghiêm trọng thì
người có hành vi chỉ bị truy cứu trách nhiệm hình sự nếu người đó đã bị xử
phạt hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm
5.2 Các dấu hiệu thuộc mặt khách thể của tội phạm
Tội gây rối trật tự công cộng là tội xâm phạm đến an toàn công cộng, đến các
quy tắc, sinh hoạt, đi lại, làm việc, vui chơi…ở nơi công cộng.
5.3 Các dấu hiệu thuộc về mặt khách quan của tội phạm 5.3.1 Hành vi khách quan
Người phạm tội thực hiện hành vi gây rối bằng nhiều phương thức khác nhau
như: tập trung đông người ở nơi công cộng gây náo động làm mất trật tự
công cộng; đuổi đánh nhau, hò hét gây náo động ở nơi công cộng; đập phá
các công trình ở nơi công cộng, đập phá các tài sản trong các, quán ăn, quán
giải khái có đông người. v.v…
Khi xác định hành vi gây rối trật tự cần phải phân biệt với hành vi tuy có gây
rối trật tự công cộng nhưng đã cấu thành một tội khác thì người có hành vi
gây rối chỉ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội phạm tương ứng mà họ đã
thực hiện, mà không bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội gây rối trật tự
công cộng. Ví dụ: Hai tốp thanh niên đuổi đánh nhau trong đó có Trần Văn H;
trong khi đuổi đánh nhau, hò hét gây náo động đường phố thì Trần Văn H đã
dùng dao nhọn mang theo đâm chết Bùi Văn T là một trong số thanh niên
tham gia đánh nhau. Mặc dù Trần Văn H có hành vi gây rối trật tự công cộng
nhưng từ việc gây rối mà H đã thực hiện hành vi giết người và tội giết người
là tội phạm nặng hơn tội gây rối trật tự công cộng nên H chỉ bị truy cứu trách
nhiệm hình sự về tội giết người.
Nói chung, để có thể gây rối trật tự công cộng thì phải có nhiều người, nhưng
không phải bao giờ trong vụ án gây rối trật tự công cộng cũng có người tham
gia mà có thể chỉ do một người thực hiện. Ví dụ: Vũ Văn T là đối tượng đã có
người tiền án, tiền sự. Ngày 7-11-2005, T cùng bạn gái vào rạp xem phim;
trong lúc đang chiếu phim thì T lấy thuốc lá ra hút, mọi người xung quanh yêu
cầu T tắt thuốc lá nhưng T không những không nghe mà còn dở thói côn đồ,
chửi bới, lăng mạ mọi người xung quanh, gây mất trật tự trong rạp, buổi chiếu
phim phải dừng lại để ổn định trật tự, đèn trong rạp bật sáng, mọi người nhận
ra T là tên lưu manh đã có nhiều tiền án, tiền sự; anh Phạm Văn H là người
cùng phố với T đã đến khuyên T không nên có thái độ càn quấy ở trong rạp,
nhưng T không nghe mà còn chửi anh H rất thậm tệ, rồi túm cổ áo anh H định
đánh thì những người làm nhiệm vụ bảo vệ trong rạp kịp thời tới can ngăn và
đưa T ra khỏi rạp. Do hành vi gây mất trật tự của T nên buổi chiếu phim bị giãn đoạn hơn 30 phút.
Thực tiễn xét xử cho thấy, đối với hành vi gây rối trật tự công cộng thường là
hành vi khởi đầu cho những hành vi phạm tội khác kế tiếp như: giết người, cố
ý gây thương tích, chống người thi hành công vụ, huỷ hoại hoặc cố ý làm hư
hỏng tài sản… Tuy nhiên, cũng có trường hợp từ hành vi phạm tội khác mà
dẫn đến hành vi gây rối trật tự công cộng như: tổ chức đua xe trái phép, đua
xe trái phép, đánh bạc, vi phạm các quy định về điều khiển phương giao
thông đường bộ… Những người bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội gây rỗi
trong các trường hợp này là người có liên quan đến hành vi phạm tội khác
nhưng vì không đủ dấu hiệu cấu thành tội phạm đó. 5.3.2 Hậu quả
Hậu quả của hành vi gây rối trật tự công cộng là thiệt hại vật chất và phi vật
chất được xác định là gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội.
Hậu quả vừa là dấu hiệu bắt buộc, vừa không phải là dấu hiệu bắt buộc của tội phạm này.
Là dấu hiệu bắt buộc nếu người phạm tội chưa bị xử phạt hành chính về
hành vi gây rối trật tự công cộng hoặc chưa bị kết án về tội này hoặc tuy đã bị
kết án về tội này nhưng đã được xoá án tích.
Không phải là dấu hiệu bắt buộc nếu người phạm tội đã bị xử phạt hành
chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm.
Theo hướng dẫn của Toà án nhân dân tối cao thì coi là gây hậu quả nghiêm
trọng do hành vi gây rối trật tự công cộng nếu thuộc một trong các trường hợp sau:
- Cản trở, ách tắc giao thông đến dưới 2 giờ ;
- Cản trở sự hoạt động bình thường của cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế,
tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân;
- Gây thiệt hại về tài sản có giá trị từ mười triệu đồng trở lên;
- Làm chết người hoặc gây thương tích hoặc bị tổn hại sức khoẻ cho người
khác với tỷ lệ thương tật từ 31% trở lên.
- Gây cho nhiều người bị thương tích hoặc bị tổn hại sức khoẻ với tỷ lệ
thương tật của mỗi người dưới 31%, nhưng tổng tỷ lệ thương tật của tất cả
những người này từ 41% trở lên;
- Gây cho người khác bị thương tích hoặc bị tổn hại sức khoẻ với tỷ lệ
thương tật từ 21% đến 30% và còn thiệt hại về tài sản có giá trị từ năm triệu đồng trở lên;
- Gây cho nhiều người bị thương tích hoặc bị tổn hại sức khoẻ với tỷ lệ
thương tật của mỗi người dưới 21%, nhưng tổng tỷ lệ thương tật của tất cả
những người này từ 30% đến 40% và còn thiệt hại về tài sản có giá trị từ năm triệu đồng trở lên.
- Ngoài các hậu quả xảy ra về tính mạng, sức khoẻ và tài sản, thực tiễn cho
thấy có thể còn có hậu quả phi vật chất như có ảnh hưởng xấu đến việc thực
hiện đường lối của Đảng, chính sách của Nhà nước, gây ảnh hưởng xấu đến
an ninh, ngoại giao, đến trật tự, an toàn xã hội...
Khi xác định hậu quả của hành vi phạm tội cần chú ý: có thể trong vụ án gây
rối trật tự công cộng thiệt hại về tính mạng, sức khoẻ, tài sản đã là hậu quả
của hành vi phạm tội khác và người phạm tội khác đó đã bị truy cứu trách
nhiệm hình sự về tội phạm khác nhưng vẫn được tính là hậu quả nghiêm
trọng của hành vi gây rối để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người có
hành vi gây rối. Ví dụ: A, B, C và D vào quán của chị H uống bia hơi, trong khi
uống bia A,B,C,D đã gây rối làm náo loạn quan bia, trong lúc gây rối, A đã lấy
cốc và vỏ chai bia ném người khác làm hư hỏng tài sản của chị H trị giá 12
triệu đồng, còn C đã dùng dao đâm anh Q làm anh Q bị thương có tỷ lệ
thương tật là 45%. Mặc dù trong vụ án này, A bị truy cứu trách nhiệm hình sự
về tội cố ý làm hư hỏng tài sản của người khác và C bị truy cứu trách nhiệm
hình sự về tội cố ý gây thương tích nhưng thiệt hại về sức khoẻ của anh Q và
thiệt hại về tài sản của chị H đều được tính để xác định hậu quả nghiêm trọng
về hành vi gây rối của B và D.
5.3.3 Các dấu hiệu khách quan khác
Ngoài hành vi, hậu quả do hành vi vi phạm gây ra, nhà làm luật không quy
định dấu hiệu khách quan khác là dấu hiệu bắt buộc của cấu thành tội phạm
này. Tuy nhiên, khi xác định hành vi phạm tội gây rối cần nghiên cứu các quy
định của Nhà nước về các quy tắc về trật tự ở nơi công cộng.
5.4 Các dấu hiệu thuộc về mặt chủ quan của tội phạm
Người phạm tội thực hiện hành vi gây rối trật tự công cộng là do cố ý.
Document Outline

  • Trật tự công cộng là gì? Quy định tội phạm gây rối
    • 1. Khái niệm trật tự công cộng
    • 2. Hành vi gây rối trật tự công cộng
    • 3. Chủ thể của tội phạm gây rối trật tự công cộng
    • 4. Các trường hợp gây rối trật tự cộng cộng
    • 5. Các dấu hiệu cơ bản của tội phạm gây rối trật t
      • 5.1 Các dấu hiệu thuộc về chủ thể của tội phạm
      • 5.2 Các dấu hiệu thuộc mặt khách thể của tội phạm
      • 5.3 Các dấu hiệu thuộc về mặt khách quan của tội p
        • 5.3.1 Hành vi khách quan
        • 5.3.2 Hậu quả
        • 5.3.3 Các dấu hiệu khách quan khác
      • 5.4 Các dấu hiệu thuộc về mặt chủ quan của tội phạ