











Preview text:
Câu 1 : Quy luật lượng - chất
Trong phép biện chứng duy vật, các quy luật cơ bản phản ánh những mối liên hệ phổ biến và bản
chất của sự vận động, phát triển của thế giới vật chất. Một trong ba quy luật cơ bản đó là quy luật
chuyển hóa từ những thay đổi về lượng dẫn đến những thay đổi về chất và ngược lại. Quy luật này
chỉ ra cách thức vận động và phát triển của sự vật, hiện tượng thông qua sự tích lũy dần dần về
lượng và sự biến đổi mang tính bước ngoặt về chất, đồng thời khẳng định mối quan hệ biện chứng
giữa lượng và chất trong quá trình phát triển.
ND của quy luật được vạch ra thông qua việc làm rõ các KN, phạm trù có liên quan.
Chất là khái niệm dùng để chỉ tính quy định khách quan vốn có của sự vật, hiện tượng; là sự
thống nhất hữu cơ của các thuộc tính, yếu tố tạo nên sự vật, hiện tượng, làm cho sự vật, hiện
tượng là nó mà không phải là sự vật, hiện tượng khác. Mọi sự vật, hiện tượng đều có những
thuộc tính cơ bản và không cơ bản. Chỉ những thuộc tính cơ bản mới hợp thành chất của sự
vật, hiện tượng. Khi những thuộc tính cơ bản thay đổi thì chất của nó thay đổi. Mọi sự vật hiện
tượng không chỉ có một chất, mà còn nhiều chất, tùy thuộc vào các mối quan hệ cụ thể của nó
với những cái khác. Chất không tồn tại thuần túy tách rời sự vật, hiện tượng, biểu hiện tính ổn
định tương đối của nó.
Lượng là khái niệm dùng để chỉ tính quy định vốn có của sự vật về mặt số lượng, quy mô, trình
độ, nhịp điệu của sự vận động và phát triển cũng như các thuộc tính của sự vật, biểu hiện bằng
con số các thuộc tính, các yếu tố cấu thành nó. Lượng là cái khách quan, vốn có của sự vật
nên không phụ thuộc vào ý chí, ý thức của con người. Lượng của sự vật biểu thị kích thước dài
hay ngắn, số lượng nhiều hay ít, quy mô lớn hay nhỏ, trình độ cao hay thấp, nhịp điệu nhanh hay
chậm… Đặc điểm cơ bản của lượng là tính khách quan: vì là một dạng biểu hiện của vật chất
,chiếm một vị trí nhất định trong không gian và tồn tại trong thời gian nhất định. Có nhiều loại
lượng khác nhau : Có loại có thể đo, đếm được, có loại thì phải nhận biết bằng năng lực trừu tượng hóa.
Tuy nhiên sự phân biệt giữa chất và lượng trong quá trình nhận thức về sự vật, hiện tượng chỉ
có ý nghĩa tương đối: có cái trong mối quan hệ này đóng vai trò là chất nhưng trong mối quan
hệ khác lại là lượng.
Về bản chất, sự vật, hiện tượng cũng là một thể thống nhất giữa hai mặt chất và lượng. Hai
mặt đó không tách rời nhau mà tác động lẫn nhau một cách biện chứng. Sự thay đổi về lượng
tất yếu sẽ dẫn tới sự chuyển hóa về chất .Ở một giới hạn nhất định, sự thay đổi về lượng chưa
dẫn tới sự thay đổi về chất. Giới hạn đó được gọi là độ. Vì vậy, trong giới hạn của độ, sự vật,
hiện tượng vẫn là nó, chưa chuyển hóa thành sự vật và hiện tượng khác. Khi lượng thay đổi đến
một giới hạn nhất định sẽ tất yếu dẫn đến những sự thay đổi về chất. Giới hạn đó chính là điểm
nút. Sự thay đổi về lượng khi đạt tới điểm nút, với những điều kiện nhất định tất yếu sẽ dẫn đến
sự ra đời của chất mới. Đây chính là bước nhảy trong quá trình vận động, phát triển của sự vật,
hiện tượng. Bước nhảy là sự kết thúc một giai đoạn vận động, phát triển; đồng thời, đó cũng
là điểm khởi đầu cho một giai đoạn mới, là sự gián đoạn trong quá trình vận động, phát triển
liên tục của sự vật, hiện tượng. Các hình thức của bước nhảy: bước nhảy đột biến, bước nhảy
dần dần, bước nhảy toàn bộ, bước nhảy cục bộ.
Ph.Ăngghen khái quát tính tất yếu này: “Những thay đổi đơn thuần về lượng, đến một mức độ
nhất định sẽ chuyển hóa thành những sự khác nhau về chất”. Khi chất mới ra đời lại có sự tác
động trở lại lượng của sự vật trên nhiều phương diện: làm thay đổi kết cấu, quy mô, trình độ, nhịp
điệu của sự vận động, phát triển của sự vật, hiện tượng. Tóm lại, bất kỳ sự vật, hiện tượng nào
cũng có sự thống nhất biện chứng giữa hai mặt chất và lượng. Sự thay đổi dần dần về lượng vượt
quá giới hạn của độ sẽ dẫn đến sự thay đổi căn bản về chất thông qua bước nhảy; đồng thời, chất
mới sẽ tác động trở lại lượng, tạo ra những biến đổi mới về lượng của sự vật, hiện tượng
Về ý nghĩa pp luận, trong hoạt động nhận thức và thực tiễn, tùy theo mục đích cụ thể, cần từng
bước tích lũy về lượng để có thể làm thay đổi về chất. Đồng thời, cũng phải phát huy tác động
của chất mới theo hướng làm thay đổi về lượng của sự vật, hiện tượng. Vì sự thay đổi về lượng
chỉ có thể đạt đến những biến đổi về chất với điều kiện lượng phải được tích lũy tới giới hạn điểm
nút, do đó, trong công tác thực tiễn cần phải khắc phục tư tưởng nóng nảy, tả khuynh: Tả
khuynh chính là hành động bất chấp quy luật, chủ quan, duy ý chí, không tích lũy về lượng mà chỉ
chú trọng thực hiện những bước nhảy liên tục về chất. Mặt khác, khi lượng đã được tích lũy đến
giới hạn điểm nút sẽ tất yếu có khả năng diễn ra bước nhảy về chất của sự vật, hiện tượng. Vì thế
cũng cần phải khắc phục tư tưởng bảo thủ, hữu khuynh trong công tác thực tiễn. Hữu
khuynh là sự biểu hiện tư tưởng bảo thủ, trì trệ, không dám thực hiện bước nhảy mặc dù lượng
đã tích lũy tới điểm nút và quan niệm phát triển chỉ đơn thuần là sự biến hóa về lượng. Nâng cao
tính tích cực chủ động của chủ thể để thúc đẩy quá trình chuyển hoá lượng đến chất một cách có hiệu quả nhất
Quy luật chuyển hóa từ những thay đổi về lượng dẫn đến những thay đổi về chất và
ngược lại được phản ánh sinh động qua các câu ca dao, tục ngữ như: “Có công mài sắt, có ngày
nên kim”, “Tích tiểu thành đại”, “Góp gió thành bão”. Trong học tập và rèn luyện của mỗi cá
nhân, quy luật lượng – chất cho thấy muốn đạt được kết quả cao cần có quá trình tích lũy kiến
thức, kỹ năng một cách thường xuyên, liên tục. Việc học tập từng ngày, từng bài, từng kỹ năng tuy
nhỏ nhưng nếu được duy trì lâu dài sẽ tạo nên sự chuyển biến căn bản về trình độ và năng
lực. Ngược lại, nếu học tập thiếu kiên trì, nóng vội, không chú trọng tích lũy về lượng thì khó có
thể tạo ra sự thay đổi về chất. Do đó, nhận thức và vận dụng đúng quy luật lượng – chất có ý
nghĩa quan trọng trong việc hình thành thái độ học tập nghiêm túc, bền bỉ và hiệu quả.
Câu 2 : quy luật sự thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập.
Quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập là hạt nhân của phép biện chứng vì nó là
nguồn gốc vận động, phát triển của sự vật, hiện tượng.
Các mặt đối lập chỉ những mặt, những khuynh hướng vận động trái ngược nhau của sự vật hiện
tượng. Mâu thuẫn biện chứng là khái niệm dùng để chỉ sự liên hệ, tác động theo cách vừa
thống nhất, vừa đấu tranh; vừa đòi hỏi, vừa loại trừ, vừa chuyển hóa lẫn nhau giữa các mặt đối
lập. Các mặt đối lập nằm trong sự liên hệ, tác động qua lại và chuyển hóa lẫn nhau tạo thành mâu
thuẫn biện chứng.Các tính chất chung của mâu thuẫn biện chứng: tính khách quan: mâu thuẫn
là cái vốn có của mọi sự vật, hiện tượng, không phải đem từ bên ngoài vào, tồn tại không phụ
thuộc vào ý thức con người. Tính phổ biến: Mọi sự vật, hiện tượng trong mọi lĩnh vực tự nhiên, xã
hội và tư duy đều tồn tại mâu thuẫn. Chỉ có sự khác nhau giữa mâu thuẫn đã phát hiện ra và mâu
thuẫn chưa phát hiện ra. Tính đa dạng: Mỗi sự vật, hiện tượng trong mỗi lĩnh vực khác nhau, qua
từng giai đoạn phát triển, mâu thuẫn có đặc điểm, vị trí, vai trò khác nhau đối với sự vận động,
phát triển của sự vật. Đó là mâu thuẫn cơ bản và không cơ bản, mâu thuẫn bên trong và bên
ngoài, mâu thuẫn chủ yếu và thứ yếu…
Trong mỗi mâu thuẫn, các mặt đối lập vừa thống nhất với nhau, vừa đấu tranh lẫn nhau tạo nên
trạng thái ổn định tương đối của sự vật, hiện tượng. Sự thống nhất giữa các mặt đối lập là
khái niệm dùng để chỉ sự liên hệ giữa chúng và được thể hiện ở việc: Thứ nhất, các mặt đối lập
cần đến nhau, nương tựa vào nhau, làm tiền đề cho nhau tồn tại ; Thứ hai, các mặt đối lập tác
động ngang nhau, cân bằng nhau thể hiện sự đấu tranh giữa cái mới đang hình thành với cái cũ
chưa mất hẳn ; Thứ ba, giữa các mặt đối lập có sự tương đồng. Sự đấu tranh giữa các mặt đối
lập là khái niệm dùng để chỉ sự tác động qua lại theo hướng bài trừ, phủ định lẫn nhau giữa
chúng. Sự thống nhất giữa các mặt đối lập có tính tạm thời, tương đối, có điều kiện, nghĩa là sự
thống nhất đó chỉ tồn tại trong trạng thái đứng im tương đối của sự vật, hiện tượng. Đấu tranh
có tính tuyệt đối, nghĩa là đấu tranh phá vỡ sự ổn định tương đối của chúng dẫn đến sự chuyển hóa về chất
Sự phát triển và giải quyết mâu thuẫn: Khi mới xuất hiện, mâu thuẫn biểu hiện ở sự
khác biệt giữa hai thuộc tính, hai yếu tố nào đó và dần dần phát triển thành hai mặt đối lập.
Hai mặt đối lập đó tồn tại trong cùng một sự vật, vừa thống nhất, vừa đấu tranh với nhau. Theo
thời gian, sự khác nhau của hai mặt đối lập phát triển thành sự đối lập. Khi hai mặt đối lập của
mâu thuẫn xung đột gay gắt và nếu gặp điều kiện thích hợp thì hai mặt đối lập sẽ chuyển hóa lẫn
nhau (mâu thuẫn được giải quyết) làm cho sự vật cũ mất đi, sự vật mới ra đời. Sự vật mới ra đời
lại nảy sinh mâu thuẫn mới và quá trình tác động, chuyển hóa của mâu thuẫn mới lại tiếp diễn. Mọi
đối tượng đều bao gồm những mặt, những khuynh hướng, lực lượng... đối lập nhau tạo thành
những mâu thuẫn trong chính nó; sự thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập là nguyên nhân,
động lực bên trong của sự vận động và phát triển,làm cho cái cũ mất đi và cái mới ra đời.
Về mặt ý nghĩa lý luận, quy luật thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập chỉ ra nguồn gốc
và động lực bên trong của sự vận động và phát triển của mọi sự vật, hiện tượng. Nó giúp chúng
ta hiểu rằng sự phát triển diễn ra thông qua mâu thuẫn, đấu tranh và chuyển hóa giữa các mặt
đối lập. Từ đó cung cấp phương pháp luận biện chứng để xem xét sự vật một cách toàn diện,
không phiến diện, biết nhận diện mặt tích cực – tiêu cực, mới – cũ trong mỗi quá trình. Giúp
nhận thức khách quan về sự phát triển. Về mặt ý nghĩa thực tiễn, cần phải thừa nhận tính
khách quan của mâu thuẫn trong sự vật, hiện tượng; từ đó giải quyết mâu thuẫn phải tuân theo
quy luật, điều kiện khách quan. Muốn phát hiện mâu thuẫn cần tìm ra thể thống nhất của các mặt
đối lập trong sự vật, hiện tượng. Vì mâu thuẫn có tính đa dạng, phong phú nên khi phân tích mâu
thuẫn, phải xem xét quá trình phát sinh, phát triển của từng loại mâu thuẫn; xem xét vai trò, vị trí
và mối quan hệ giữa các mâu thuẫn và điều kiện chuyển hóa giữa chúng. Phải biết phân tích cụ
thể một mâu thuẫn và đề ra được phương pháp giải quyết mâu thuẫn đó. Phải nắm vững nguyên
tắc giải quyết mâu thuẫn bằng đấu tranh giữa các mặt đối lập,không điều hòa mâu thuẫn cũng
không nóng vội hay bảo thủ, bởi giải quyết mâu thuẫn còn phụ thuộc vào điều kiện đã đủ và chín muồi hay chưa
Vận dụng quy luật thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập, trong lịch sử Việt Nam, Cách
mạng Tháng Tám năm 1945 là kết quả của việc giải quyết mâu thuẫn biện chứng giữa toàn thể
dân tộc Việt Nam và chế độ thống trị của chủ nghĩa đế quốc, phát xít và tay sai. Mâu thuẫn này thể
hiện sự đấu tranh gay gắt giữa các mặt đối lập và không thể giải quyết bằng con đường điều hòa.
Khi các điều kiện khách quan và chủ quan đã chín muồi, thông qua đấu tranh cách mạng, chế độ
cũ bị lật đổ, nhà nước mới ra đời, qua đó thúc đẩy sự phát triển của xã hội.
Câu 3: Quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức
Trong lịch sử triết học, mối quan hệ giữa vật chất và ý thức là vấn đề cơ bản của mọi hệ thống tư
tưởng. Trên lập trường của chủ nghĩa duy vật biện chứng, triết học Mác - Lênin khẳng định vật
chất và ý thức có mối quan hệ tác động qua lại lẫn nhau một cách khách quan. Trong đó, vật
chất đóng vai trò quyết định đối với ý thức, còn ý thức có tính độc lập tương đối và tác
động trở lại vật chất thông qua hoạt động thực tiễn của con người. Việc hiểu rõ mối quan hệ
này không chỉ có ý nghĩa lý luận mà còn là kim chỉ nam cho mọi hoạt động thực tiễn.
Trong tác phẩm “ Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán” , V.I.Lênin đã đưa
ra định nghĩa về vật chất như sau: “Vật chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách
quan, được đem lại cho con người trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại,
phản ánh, và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác.” Vật chất tồn tại bằng vận động và thể hiện sự
tồn tại thông qua vận động. Vật chất vận động trong không gian và thời gian; Không gian và thời
gian là thuộc tính chung vốn có của các dạng vật chất cụ thể và là hình thức tồn tại của vật chất. Ý
thức là sự phản ánh năng động, sáng tạo thế giới khách quan của bộ óc con người, là hình ảnh
chủ quan của thế giới khách quan. Nguồn gốc của ý thức bao gồm nguồn gốc tự nhiên và nguồn gốc xã hội.
Vật chất quyết định ý thức: Thứ nhất, vật chất quyết định nguồn gốc của ý thức. Vật chất tồn
tại khách quan, độc lập với ý thức nên vật chất là cái có trước, là tính thứ nhất. Ý thức chỉ là hình
thức phản ánh của vật chất vào trong bộ óc con người nên ý thức là cái có sau, là tính thứ hai.
Phải có sự vận động của vật chất trong tự nhiên (bộ óc người và thế giới khách quan) và vật chất
trong xã hội (lao động và ngôn ngữ) thì mới có sự ra đời ý thức. Thứ hai, vật chất quyết định nội
dung của ý thức: Dưới bất kỳ hình thức nào, ý thức đều là phản ánh hiện thực khách quan. Nội
dung của ý thức là kết quả của sự phản ánh hiện thực khách quan trong đầu óc con người. Sự
phát triển của hoạt động thực tiễn là động lực mạnh mẽ nhất quyết định tính phong phú và độ sâu
sắc nội dung của ý thức con người qua các thế hệ. Thứ ba, vật chất quyết định bản chất của ý
thức; Bản chất của ý thức là phản ánh tích cực, sáng tạo hiện thực khách quan, tức là thế giới vật
chất được dịch chuyển vào bộ óc con người và được cải biên trong đó. Vậy nên vật chất là cơ sở
để hình thành bản chất của ý thức. Thứ tư, vật chất quyết định sự vận động, phát triển của ý
thức: Mọi sự tồn tại, phát triển của ý thức đều gắn liền với sự biến đổi của vật chất. Vật chất thay
đổi thì ý thức cũng phải thay đổi theo. Vật chất luôn vận động và biến đổi nên con người cũng
ngày càng phát triển cả về thể chất lẫn tinh thần, thì dĩ nhiên ý thức cũng phát triển cả về nội dung
và hình thức phản ánh. Tục ngữ có câu “có thực mới vực được đạo”, nghĩa là có ăn uống đầy
đủ thì mới có sức để đi theo đạo, hoàn cảnh sẽ quyết định lối suy nghĩ, đời sống vật chất phải
được đáp ứng thì chúng ta mới hướng tới đời sống tinh thần. Điều này đã chứng minh cho quan
niệm vật chất có trước, ý thức có sau, vật chất quyết định ý thức.
Tuy nhiên, mối quan hệ này không phải là sự áp đặt một chiều. Ý thức có tính độc lập tương đối
và tác động trở lại mạnh mẽ đối với vật chất. Thứ nhất, tính độc lập tương đối của ý thức
thể hiện ở chỗ ý thức là sự phản ánh thế giới vật chất vào trong đầu óc con người nhưng khi đã
ra đời thì ý thức có “đời sống” riêng, không lệ thuộc máy móc vào vật chất mà tác động trở lại thế
giới vật chất. Thứ hai, sự tác động của ý thức đối với vật chất phải thông qua hoạt động
thực tiễn của con người. Nhờ hoạt động thực tiễn, ý thức có thể làm biến đổi những điều
kiện,hoàn cảnh vật chất để phục vụ cho cuộc sống con người. Thứ ba, ý thức có vai trò định
hướng và chỉ đạo hoạt động của con người; nó ảnh hưởng trực tiếp đến việc con người hành
động đúng hay sai, thành công hay thất bại. Ý thức không tự tạo ra hay làm thay đổi thế giới,
nhưng cung cấp tri thức về hiện thực khách quan để con người xác định mục tiêu, kế hoạch và
cách hành động phù hợp. Sự tác động của ý thức đối với vật chất diễn ra theo hai hướng: Tích
cực: Khi phản ánh đúng đắn hiện thực, ý thức sẽ là động lực thúc đẩy vật chất phát triển. Tiêu
cực: Khi phản ánh sai lạc hiện thực, ý thức có thể kìm hãm sự phát triển của vật chất. Thứ tư, xã
hội càng phát triển thì vai trò của ý thức ngày càng to lớn, nhất là trong thời đại ngày nay, khi
mà tri thức khoa học đã trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp. Tính năng động, sáng tạo của ý
thức mặc dù rất to lớn nhưng không thể vượt quá tính quy định của những tiền đề vật chất đã
xác định, phải dựa vào các điều kiện khách quan và năng lực chủ quan của các chủ thể hoạt động.
Từ mối quan hệ biện chứng nêu trên, chúng ta rút ra được những ý nghĩa phương pháp luận
quan trọng cho hoạt động thực tiễn. Một mặt, trong mọi công việc, chúng ta phải luôn xuất phát từ
thực tế khách quan, tôn trọng quy luật của tự nhiên và xã hội; tuyệt đối tránh việc lấy ý chí cá nhân
hoặc mong muốn chủ quan để áp đặt lên thực tế – đây chính là việc chống lại bệnh "chủ quan duy
ý chí". Mặt khác, chúng ta không được rơi vào thái độ thụ động, buông xuôi hay định mệnh. Thay
vào đó, cần phải tích cực phát huy tính năng động chủ quan bằng cách không ngừng học tập để
nâng cao trí tuệ, rèn luyện bản lĩnh và ý chí sáng tạo. Chỉ khi kết hợp được việc tôn trọng thực tế
với sự nỗ lực chủ quan, con người mới có thể đạt được những thành tựu to lớn trong công cuộc
cải tạo bản thân và xã hội.
Để làm sáng tỏ mối quan hệ này, ta có thể xem xét ví dụ về cuộc cách mạng công nghiệp và sự thay đổi
tư duy của nhân loại. Về mặt quyết định của vật chất, chính sự ra đời của máy hơi nước và hệ thống nhà
máy thế kỷ 18 (điều kiện vật chất mới) đã buộc con người phải thay đổi tư duy từ sản xuất nông nghiệp
manh mún sang tư duy công nghiệp dây chuyền. Ngược lại, về sự tác động của ý thức, chính những tri thức
khoa học và phát minh sáng tạo (ý thức đúng đắn) của các nhà bác học đã được ứng dụng vào thực tiễn để
chế tạo ra máy móc, từ đó làm biến đổi hoàn toàn bộ mặt thế giới vật chất. Nếu con người không có ý chí
cải tạo và tư duy khoa học, những tài nguyên như than đá hay sắt thép vẫn sẽ mãi nằm yên trong lòng đất
mà không thể trở thành động lực phát triển cho xã hội
Câu 4: Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến
Triết học Mác - Lênin khẳng định rằng thế giới không phải là tập hợp của những sự vật, hiện
tượng rời rạc, cô lập mà là một chỉnh thể thống nhất, trong đó các sự vật luôn có sự ràng buộc, tác
động và chuyển hóa lẫn nhau. Việc hiểu đúng nguyên lý này giúp con người tránh được cái nhìn
phiến diện, siêu hình và xây dựng được phương pháp tư duy khách quan, toàn diện.
Mối liên hệ dùng để chỉ sự quy định, sự tác động và chuyển hóa lẫn nhau giữa các sự vật, hiện
tượng hoặc giữa các mặt, các yếu tố trong cùng một sự vật, hiện tượng của thế giới. Mối liên hệ
không chỉ là sự tiếp xúc bên ngoài mà còn là sự ràng buộc mang tính bản chất. Mở rộng hơn,
mối liên hệ phổ biến dùng để chỉ những mối liên hệ tồn tại ở mọi sự vật, hiện tượng trong thế
giới; nó là những mối liên hệ chung nhất, phổ quát nhất, không chỉ diễn ra trong tự nhiên mà còn
trong cả xã hội và tư duy con người. Việc khẳng định tính phổ biến này giúp chúng ta nhận thức
được thế giới như một mạng lưới khổng lồ của những tác động qua lại không ngừng.
Theo quan điểm duy vật biện chứng, mối liên hệ này có ba tính chất cơ bản. Tính khách
quan khẳng định mối liên hệ là cái vốn có của bản thân sự vật, không phụ thuộc vào ý chí chủ
quan của con người.Tính phổ biến thể hiện ở việc mối liên hệ tồn tại trong mọi lĩnh vực từ tự
nhiên, xã hội đến tư duy. Tính đa dạng, phong phú Các sự vật, hiện tượng hay quá trình khác
nhau có những mối liên hệ cụ thể khác nhau, vai trò, vị trí khác nhau đối với sự tồn tại và phát
triển của nó. Cùng một mối liên hệ nhất định của sự vật, hiện tượng nhưng trong những điều kiện
cụ thể khác nhau, ở những giai đoạn khác nhau trong quá trình vận động phát triển của sự vật
cũng có những tính chất và vai trò khác nhau. Quan điểm về tính phong phú, đa dạng của các mối
liên hệ còn bao hàm quan niệm về sự thể hiện của chúng trong không gian và thời gian cụ thể.
Các tính chất trên có liên hệ với nhau trong đó tính phổ biến đã bao hàm cả tính kquan và tính đa
dạng. Vì vậy , ta gọi nguyên lý này là nguyên lý về mối liên hệ phổ biến.
Từ nội dung và các tính chất trên, nguyên lý này rút ra ý nghĩa phương pháp luận quan trọng là
quan điểm toàn diện. Trong nhận thức và thực tiễn, khi xem xét một sự vật, chúng ta phải đặt nó
trong chỉnh thể các mối liên hệ vốn có, tránh cách nhìn phiến diện "thấy cây mà không thấy rừng".
Chúng ta cần đánh giá đầy đủ các mặt, các yếu tố và mối liên hệ để tìm ra bản chất của sự vật.
Đồng thời, phải kết hợp với quan điểm lịch sử - cụ thể, nghĩa là phải xem xét sự vật trong điều
kiện không gian và thời gian xác định, bởi lẽ một mối liên hệ có thể đúng trong hoàn cảnh này
nhưng lại thay đổi trong hoàn cảnh khác. Việc áp dụng đúng các quan điểm này sẽ giúp chúng ta
đưa ra những quyết định chính xác và hiệu quả trong mọi lĩnh vực của đời sống.
Đánh giá về công cuộc đổi mới ở Việt Nam từ năm 1986 đến nay, ta phải đánh giá toàn diện
những thành tựu (kết cấu hạ tầng, thu nhập, mức sống, giáo dục, y tế..) cùng những hạn chế (mặt
trái của những yếu tố trên đặc biệt là tệ nạn xã hội). Rút ra được thành tựu vẫn là cái cơ bản. Trên
cơ sở đó, ta kết luận đổi mới là tất yếu khách quan, phải phân tích được nguyên nhân dẫn tới hạn
chế, nguyên nhân nào là cơ bản, chủ yếu, đưa ra giải pháp khắc phục yếu kém đó
Câu 5: Quy luật phủ định của phủ định
quy luật phủ định của phủ định lại chỉ ra khuynh hướng phát triển của sự vật, hiện tượng. Đây là
quy luật quan trọng giúp chúng ta hiểu rằng sự phát triển không diễn ra theo đường thẳng mà theo
chu kỳ, xoáy ốc đi lên, cái mới ra đời trên cơ sở kế thừa những giá trị của cái cũ.
Phủ định biện chứng là khái niệm dùng để chỉ sự tự phủ định của sv, hiện tượng, tạo tiền đề cho
lần phủ định sau, cho sự ra đời của cái mới thay thế cái cũ.
PDBC có các tính chất sau : Tính khách quan: sự vật, hiện tượng tự phủ định mình do mâu
thuẫn bên trong nó gây ra ; Tính kế thừa: loại bỏ các yếu tố không phù hợp và cải tạo các yếu tố
của sự vật, hiện tượng cũ còn phù hợp để đưa vào sự vật, hiện tượng mới. Tính phổ biến: diễn
ra trong mọi lĩnh vực tự nhiên, xã hội và tư duy. Tính đa dạng, phong phú: thể hiện ở nội dung, hình thức của nó.
Phủ định biện chứng là quá trình phát triển trong đó sự vật trải qua nhiều lần phủ định, vận động
theo hình xoáy ốc: lặp lại nhưng ở trình độ cao hơn. Quá trình này vừa loại bỏ những hạn chế của
cái cũ, vừa giữ lại những mặt tích cực, là khâu tất yếu trong sự phát triển của sự vật.
Kế thừa biện chứng là việc cái mới chọn lọc tiếp thu và cải tạo những yếu tố còn phù hợp của cái
cũ, đồng thời loại bỏ những yếu tố lỗi thời, làm cho sự vật mới hoàn thiện và phát triển hơn.
Quy luật phủ định của phủ định cho thấy sự phát triển của sự vật bắt nguồn từ mâu thuẫn
bên trong, thông qua đấu tranh và chuyển hóa giữa các mặt đối lập. Lần phủ định thứ nhất làm
cho sự vật cũ chuyển thành cái đối lập với nó – tức cái mới nhưng vẫn còn hạn chế. Lần phủ
định thứ hai tiếp tục phủ định cái mới đó và làm xuất hiện một sự vật mới ở trình độ cao hơn,
dường như lặp lại cái ban đầu nhưng đã được bổ sung những yếu tố tiến bộ hơn, tích cực hơn.
Phủ định của phủ định có tính chất chu kỳ: đưa sự vật dường như quay trở lại trạng thái cũ,
nhưng thực tế là kết thúc một chu kỳ phát triển, mở ra một chu kỳ phát triển mới, kế thừa một cách
có chọn lọc các yếu tố của cái cũ, bổ sung những yếu tố mới và đạt được sự thay đổi và tiến bộ
nhất định về chất. Hình thức "xoáy ốc": sự phát triển theo quy luật phủ định của phủ định: thông
qua những lần phủ định của phủ định nối tiếp nhau, sự vật phát triển không phải theo đường
thẳng hay vòng tròn (lặp lại cái cũ) mà theo đường "xoáy ốc" đi lên, vừa thể hiện tính kế thừa và
tính chu kỳ, vừa thể hiện tính tiến bộ về chất. Như vậy, quy luật phủ định của phủ định chỉ ra
hướng vận động, phát triển của sự vật. Tóm lại phủ định của phủ định khái quát khuynh hướng
phát triển phổ biến của sự vật, hiện tượng theo đường "xoáy ốc" đi lên. Đường "xoáy ốc" diễn tả
tính chất biện chứng của sự phát triển, đó là tính kế thừa, tính chu kỳ và tính tiến bộ về chất. Mỗi
vòng khấu khâu của đường xoáy ốc như lặp lại cái cũ về mặt hình thức, nhưng là sự tiến bộ cao
hơn về nội dung. Sự nối tiếp của các vòng khâu đó phản ánh quá trình phát triển vô tận từ thấp lên
cao của các sự vật hiện tượng.
Từ quy luật này, chúng ta rút ra ý nghĩa phương pháp luận quan trọng. Quy luật phủ định của
phủ định là cơ sở khoa học giúp chúng ta nhận thức đúng đắn về xu hướng phát triển của
sự vật, hiện tượng. Quá trình phát triển đó không diễn ra theo đường thẳng mà trải qua nhiều lần
phủ định quanh co, phức tạp, nhất là trong lĩnh vực xã hội. Để cái mới ra đời thay thế cái cũ theo
đúng quy luật của nó, chúng ta phải nhận dạng được cái mới, ủng hộ cái mới và quan trọng
hơn là tạo điều kiện cho cái mới phát triển. Để thực hiện được điều này cũng cần khắc phục
tư tưởng giáo điều, bảo thủ, kìm hãm sự ra đời, phát triển của cái mới. Phải có quan điểm
biện chứng trong quá trình kế thừa của sự phát triển. Chúng ta không phủ định hoàn toàn
những cùng không kế thừa nguyên xi cái cũ mà chỉ kế thừa những nhân tố tích cực, tiến
bộ, hợp lý của cái cũ, phù hợp với sự phát triển của cái mới.
Quá trình đổi mới giáo dục là 1 vd điển hình cho sự phủ định của phủ định. Chương trình giáo dục
mới phủ định chương trình cũ bằng cách loại bỏ yếu tố lạc hậu, đồng thời kế thừa có chọn lọc
những nhân tố tích cực, hợp lý của chương trình cũ. Nhờ đó, cái mới ra đời ở trình độ cao hơn,
thể hiện quan điểm biện chứng, chống bảo thủ, giáo điều, thúc đẩy sự phát triển tiến bộ của giáo dục.
Câu 6: Nguyên lý về sự phát triển
Nguyên lý về sự phát triển là cơ sở quan trọng để chúng ta nhận thức thế giới trong trạng thái
vận động và biến đổi không ngừng. Phát triển là một quá trình tiến lên từ thấp đến cao, từ đơn
giản đến phức tạp, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn. Cần phân biệt rõ "phát triển" với "vận
động": phát triển là vận động nhưng theo chiều hướng đi lên, tạo ra cái mới tiến bộ hơn cái cũ.
Theo quan điểm CNDVBC, “ phát triển là một hình thức của vdong, nó khái quát quá trình vận
động tiến lên từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn”
Phân biệt sự khác nhau giữa phát triển và vận động: Vận động là bao hàm mọi biến đổi nói
chung, còn phát triển biểu hiện tính quy luật, tính khuynh hướng của vận động: vận động theo
khuynh hướng tiến lên làm cho sự vật ngày càng hoàn thiện hơnh. Phát triển là vận động nhưng
chỉ có vận động nào theo khuynh hướng đi lên thì mới là ptrngừ. Ptrien là qutrinh thay đổi về
lượng dẫn đến sự thay đổi về chất, là qtrinh diễn ra theo đường xoáy ốc. Nguyên nhân của sự
ptrien là do mâu thuẫn nằm ngay trong chính bản thân sự vật.Qtrinh này quanh co, phức tạp, thậm
chí có thể thụt lùi. Tóm lại, sự ptrien là htuong diễn ra không ngừng trong tự nhiên, xã hội và tư
duy của con người. Nếu xét trong từng trường hợp cụ thể, sv có thể đi lên, thậm chí có thể đi
xuống nhưng nếu xét cả 1 qtrinh với không gian rộng và tgian dài thì khuynh hướng chung của sv là đi lên
Mọi SV,Ht luôn luôn vdong, ptrien k ngừng. Vdong và ptrien không đồng nghĩa như nhau. Có
những vận động diễn ra theo khuynh hướng đi lên, từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ
kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn, Có những vận động lại thụt lùi, đi xuống song nó là tiền đề, là
điều kiện cho sự cdong đi lên. Có khuynh hướng vdong theo vòng tròn, lặp lại như cũ
Các tính chất cơ bản của sự phát triển, Tính khách quan: Sự phát triển của nguồn gốc nằm trong
chính bản thân sự vật hiện tượng chứ không phải do sự tác động từ bên ngoài và đặc biệt không
phụ thuộc vào ý thức, ý muốn chủ quan của con người. Tính phổ biến: Sự phát triển diễn ra ở
khắp nơi, cả trong tự nhiên xã hội và tư duy sự ptr diễn ra ở mọi lĩnh vực.Tính kế thừa: Sự vật
mới ra đời không xóa bỏ hoàn toàn cái cũ mà chỉ loại bỏ những yếu tố lỗi thời, đồng thời giữ lại và
cải tạo những mặt còn phù hợp của cái cũ để phục vụ cho sự phát triển. Tính đa dạng, phong
phú: ptrien là khuynh hướng chung, nhưng từng sv/ht qtrinh ptrien diễn ra không giống nhau tùy
thuộc vào không gian,thgian tồn tại của sv,ht đó
Về ý nghĩa PPL , Cần có quan điểm phát triển khi nghiên cứu, xem xét các sự vật, hiện tượng.
Quan điểm phát triển đòi hỏi chúng ta khi xem xét sự vật phải đặt nó trong khuynh hướng tiến lên,
cái mới, cái tiến bộ ra đời thay thế cái cũ. Tuy nhiên, cũng phải nhận thấy rằng sự phát triển của
sự vật không diễn ra theo đường thẳng mà quanh co, phức tạp. Quan điểm phát triển là cơ sở
khoa học giúp chúng ta khắc phục tư tưởng bảo thủ, trì trệ, ngại đổi mới trong nhận thức và hoạt
động thực tiễn. Nghiên cứu các quá trình phát triển phải phân kỳ lịch sử phát triển của chúng vì
sự vật có những tính chất khác nhau trong mỗi giai đoạn phát triển khác nhau.
Trong thực tiễn, Tăng trưởng kinh tế là điều kiện quan trọng thúc đẩy phát triển kinh tế, tạo tiền
đề vật chất cho sự vận động theo khuynh hướng tiến lên của nền kinh tế. Phát triển kinh tế không
chỉ làm tăng số lượng mà còn nâng cao chất lượng, hiệu quả, từ đó tạo ra điều kiện mới để tăng
trưởng kinh tế đạt quy mô và tốc độ cao hơn, phản ánh quá trình phát triển từ thấp đến cao, từ
kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn.
Câu 7: Mối quan hệ BC giữa CSHT và KTTT
Trong triết học Marx - Lenin, việc giải thích sự vận động của xã hội không bắt nguồn từ ý muốn
chủ quan của con người mà từ những quy luật khách quan của đời sống vật chất. Một trong
những quy luật nền tảng nhất chính là mối quan hệ biện chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến
trúc thượng tầng. Đây không chỉ là một lý thuyết trừu tượng mà là chiếc chìa khóa vạn năng để
chúng ta hiểu rõ cấu trúc của một hình thái kinh tế - xã hội và cách thức mà xã hội đó chuyển mình
qua các giai đoạn lịch sử.
Trước hết, cơ sở hạ tầng là tổng hợp những quan hệ sản xuất hợp thành cơ cấu kinh tế của một
hình thái kinh tế - xã hội nhất định. Nó bao gồm quan hệ sản xuất thống trị trong nền kinh tế, quan
hệ sản xuất tàn dư, quan hệ sản xuất mới có tồn tại dưới dạng mầm mống tiền đề. Còn kiến trúc
thượng tầng là toàn bộ các hệ thống kết cấu các hình thái ý thức xã hội cùng với các chế độ
chính trị xã hội tương ứng được hình thành trên một cơ sở hạ tầng nhất định. Cấu trúc của kiến
trúc thượng tầng bao gồm toàn bộ những quan điểm tư tưởng về chính trị, pháp quyền, đạo đức,
triết học, tôn giáo, nghệ thuật... với những thể chế tương ứng: nhà nước, đảng phái, giáo hội, các đoàn thể…
Chủ nghĩa Mác Lênin đã khẳng định: cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng có quan hệ biện
chứng không tách rời nhau, trong đó cơ sở hạ tầng giữ vai trò quyết định kiến trúc thượng
tầng. Còn kiến trúc thượng tầng là phản ánh cơ sở hạ tầng, nhưng nó có vai trò tác động trở lại
to lớn với cơ sở hạ tầng đã sinh ra nó. Theo quan điểm duy vật lịch sử, cơ sở hạ tầng thế nào thì
kiến trúc thượng tầng sẽ như thế ấy. Cơ sở hạ tầng là những quan hệ vật chất khách quan
quy định mọi quan hệ khác: về chính trị, tinh thần, tư tưởng của xã hội. Cơ sở hạ tầng nào
thì kiến trúc thượng tầng ấy, nói cách khác cơ sở hạ tầng sinh ra kiến trúc thượng tầng, kiến
trúc thượng tầng bao giờ cũng phản ánh một cơ sở hạ tầng nhất định, và bảo vệ cho cơ sở hạ
tầng đó nên không có kiến trúc thượng tầng chung cho mọi xã hội. Cơ sở hạ tầng quyết định
kiến trúc thượng tầng về tính chất, nội dung và kết cấu: Tính chất của kiến trúc thượng tầng
đối kháng hay không đối kháng, nội dung của kiến trúc thượng tầng nghèo nàn hay đa dạng, và
hình thức của kiến trúc thượng tầng gọn nhẹ hay phức tạp đều do cơ sở hạ tầng quyết định. Tính
mâu thuẫn trong cơ sở hạ tầng được thể hiện trong kiến trúc thượng tầng. Vai trò quyết định của
cơ sở hạ tầng đối với kiến trúc thượng tầng còn thể hiện ở chỗ những biến đổi căn bản trong cơ
sở hạ tầng dẫn đến sự biến đổi căn bản trong kiến trúc thượng tầng. Khi cơ sở hạ tầng đã mất
đi thì kiến trúc thượng tầng đó cũng bị mất đi. Tuy vậy,kiến trúc thượng tầng cũng không hoàn
toàn thụ động mà có vai trò tác động trở lại đối với cơ sở hạ tầng sinh ra nó.Đây chính là tính biện
chứng của mối quan hệ này. Kiến trúc thượng tầng có chức năng bảo vệ, duy trì và phát triển cơ
sở kinh tế đã sinh ra nó. Trong đó, Nhà nước là yếu tố có tác động mạnh mẽ nhất thông qua hệ
thống pháp luật, chính sách và cơ chế quản lý. Nếu kiến trúc thượng tầng phù hợp với các quy
luật kinh tế khách quan, nó sẽ trở thành động lực thúc đẩy kinh tế phát triển vượt bậc. Ngược lại,
nếu kiến trúc thượng tầng trở nên lạc hậu, lỗi thời hoặc được xây dựng một cách duy ý chí, không
phù hợp với thực tiễn kinh tế, nó sẽ trở thành rào cản, kìm hãm sự tiến bộ của xã hội.
Quy luật quan hệ biện chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng là cơ sở khoa học để
hiểu đúng mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị. Kinh tế quyết định chính trị, nhưng chính trị
cũng tác động mạnh mẽ trở lại kinh tế thông qua đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước.
Chính vì vậy V.I Lênin cho rằng : “ Chính trị là sự biểu hiện tập trung của kinh tế … Chính trị không
thể không chiếm địa vị quan trọng hàng đầu so với kinh tế” Trong nhận thức và thực tiễn, nếu
tách rời hoặc tuyệt đối hóa một yếu tố nào giữa kinh tế và chính trị đều là sai lầm. Tuyệt đối hóa
kinh tế sẽ dẫn đến quan điểm duy vật tầm thường, vô chính phủ, coi nhẹ pháp luật; tuyệt đối hóa
chính trị dẫn đến duy ý chí, nóng vội và thất bại. Vì vậy cần xem xét biện chứng, hài hòa giữa hai
yếu tố. Đảng Cộng sản Việt Nam đã vận dụng đúng quy luật này: trong thời kỳ đổi mới, Đảng chủ
trương đổi mới toàn diện cả kinh tế và chính trị, trong đó kinh tế là trung tâm, chính trị đổi mới từng
bước, bảo đảm ổn định – phát triển và giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa.
Mối quan hệ biện chứng này được vận dụng một cách sâu sắc trong công cuộc đổi mới từ năm
1986 đến nay. Đảng ta xác định rằng, để phát triển lực lượng sản xuất, trước hết phải đổi mới tư
duy lý luận (thuộc kiến trúc thượng tầng) để từ đó thay đổi mô hình kinh tế từ kế hoạch hóa tập
trung sang kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa (thay đổi cơ sở hạ tầng). Hiện nay, khi
nền kinh tế nước ta ngày càng hội nhập sâu rộng, đòi hỏi chúng ta phải tiếp tục hoàn thiện hệ
thống pháp luật, đẩy mạnh cải cách hành chính và xây dựng Nhà nước pháp quyền. Việc tinh gọn
bộ máy, nâng cao hiệu lực quản lý chính là cách chúng ta củng cố kiến trúc thượng tầng để tạo
môi trường thuận lợi nhất cho cơ sở hạ tầng kinh tế phát triển. Sự nhịp nhàng trong mối quan hệ
này chính là nhân tố quyết định để Việt Nam thực hiện thành công mục tiêu dân giàu, nước mạnh,
dân chủ, công bằng, văn minh.
Câu 8 : Quan hệ sản xuất phải phù hợp với trình độ phát triển của LLSX
Trong triết học Marx-Lenin, sự vận động của lịch sử loài người không phải là một sự ngẫu nhiên
mà tuân theo những quy luật khách quan, trong đó quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản
xuất (QHSX) với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất (LLSX) là quy luật cơ bản nhất,
vạch ra động lực thực sự phía sau sự thay đổi của các hình thái kinh tế - xã hội từ thấp đến cao.
Sản xuất vật chất luôn bao hàm hai mặt không thể tách rời: một bên là mối quan hệ giữa con
người với tự nhiên (LLSX) và một bên là mối quan hệ giữa con người với con người (QHSX). Lực
lượng sản xuất đại diện cho nội dung của quá trình sản xuất, bao gồm người lao động và tư liệu
sản xuất, trong đó công cụ lao động là yếu tố động nhất và cách mạng nhất. Ngược lại, quan hệ
sản xuất đóng vai trò là hình thức xã hội của quá trình sản xuất, bao gồm các quan hệ về sở hữu
tư liệu sản xuất, tổ chức quản lý và phân phối sản phẩm. Sự tác động qua lại giữa "nội dung" và
"hình thức" này tạo thành một phương thức sản xuất nhất định.
Trong mối quan hệ này, lực lượng sản xuất luôn giữ vai trò quyết định. Lực lượng sản xuất là
nội dung của quá trình sản xuất có tính năng động, cách mạng, thường xuyên vận động và phát
triển. Sự phát triển của sản xuất bắt đầu bằng sự biến đổi của công cụ lao động và kỹ năng của
người lao động. Khi lực lượng sản xuất phát triển đến một trình độ nhất định, nó sẽ mâu thuẫn với
quan hệ sản xuất cũ vốn đã trở nên chật hẹp và lỗi thời. Lúc này, quan hệ sản xuất không còn là
địa bàn thuận lợi cho sản xuất phát triển mà trở thành "xiềng xích" kìm hãm nó. Sự đòi hỏi khách
quan là phải xóa bỏ quan hệ sản xuất cũ để thiết lập một quan hệ sản xuất mới phù hợp với trình
độ mới của lực lượng sản xuất. Chính sự thay đổi này dẫn đến sự thay đổi của toàn bộ phương
thức sản xuất và xa hơn là toàn bộ đời sống xã hội. Như vậy, lực lượng sản xuất quyết định sự ra
đời của một kiểu quan hệ sản xuất mới trong lịch sử, quyết định nội dung và tính chất của quan hệ sản xuất.
Tuy nhiên, quan hệ sản xuất không hoàn toàn thụ động. Với tư cách là hình thức kinh tế -
xã hội, nó tác động trở lại mạnh mẽ đối với lực lượng sản xuất theo hai hướng. Nếu quan hệ
sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, nó sẽ tạo ra động lực, thúc đẩy
các yếu tố của lực lượng sản xuất phát triển nhanh chóng. Ngược lại, nếu quan hệ sản xuất không
phù hợp — có thể là lỗi thời lạc hậu hoặc "đi quá xa" một cách duy ý chí so với trình độ của lực
lượng sản xuất — thì nó sẽ kìm hãm, thậm chí phá hoại sự phát triển của lực lượng sản xuất.Tuy
nhiên, sự kìm hãm đó chỉ diễn ra trong những giới hạn, với những điều kiện nhất định. Quy luật
quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất là quy luật phổ biến tác
động trong toàn bộ tiến trình lịch sử nhân loại. Sự tác động biện chứng giữa lực lượng sản xuất
với quan hệ sản xuất làm cho lịch sử xã hội loài người là lịch sử kế tiếp nhau của các phương thức sản xuất
Quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất có ý nghĩa
phương pháp luận rất quan trọng. Trong thực tiễn muốn phát triển kinh tế phải bắt đầu từ phát
triển lực lượng sản xuất, trước hết là phát triển lực lượng lao động và công cụ lao động. Muốn xóa
bỏ quan hệ sản xuất cũ, thiết lập quan hệ sản xuất mới phải căn cứ từ trình độ phát triển của lực
lượng sản xuất. Trong quá trình cách mạng Việt Nam, đặc biệt trong sự nghiệp đổi mới toàn diện
đất nước hiện nay, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn quan tâm hàng đầu đến việc nhận thức và vận
dụng đúng đắn, sáng tạo quy luật này, đem lại hiệu quả to lớn trong thực tiễn.
Việc Đảng và Nhà nước Việt Nam thực hiện đường lối Đổi mới từ năm 1986 là sự vận dụng
đúng đắn quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất.
Thông qua đổi mới quan hệ sở hữu, cơ chế quản lý và phân phối, Nhà nước đã tạo điều kiện giải
phóng và phát triển lực lượng sản xuất, nhất là nguồn nhân lực và khoa học – công nghệ, từ đó
thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, ổn định xã hội và nâng cao đời sống nhân dân.
Câu 9: MQH Bc giữa TTXH & YTXH
Trong dòng chảy của triết học duy vật lịch sử, việc giải thích nguồn gốc và sự vận động của đời
sống tinh thần xã hội luôn là một vấn đề then chốt. Để trả lời cho câu hỏi: "Tại sao ở những thời
đại khác nhau, con người lại có những quan niệm, niềm tin và giá trị khác nhau?", các nhà sáng
lập chủ nghĩa Marx đã đưa ra phạm trù Tồn tại xã hội và Ý thức xã hội. Mối quan hệ giữa hai
thực thể này không đơn thuần là sự phản ánh một chiều mà là một quá trình tương tác biện chứng
sâu sắc, tạo nên diện mạo hoàn chỉnh của lịch sử nhân loại.
Trước hết, cần hiểu Tồn tại xã hội là sinh hoạt vật chất và những điều kiện sinh hoạt vật chất của
xã hội, bao gồm các yếu tố như phương thức sản xuất vật chất, điều kiện tự nhiên và dân cư.
Trong đó, phương thức sản xuất vật chất giữ vai trò quyết định nhất. Đối trọng với nó là Ý thức xã
hội, dùng để chỉ mặt tinh thần của đời sống xã hội, bao gồm những quan điểm, tư tưởng, tình
cảm, truyền thống... nảy sinh từ tồn tại xã hội và phản ánh tồn tại xã hội trong những giai đoạn phát triển nhất định.
Tồn tại xã hội quyết định ý thức xã hội vì ý thức xã hội là sự phản ánh và phụ thuộc vào tồn tại
xã hội. Tồn tại xã hội là nguồn gốc khách quan, là cơ sở sự hình thành, ra đời của ý thức xã
hội. Tồn tại xã hội thay đổi thì kéo theo sự thay đổi của ý thức xã hội. Tồn tại xã hội nào thì ý thức
xã hội ấy. Tồn tại xã hội quyết định nội dung, tính chất, đặc điểm của các hình thái ý thức xã
hội. Trong xã hội có giai cấp, thì ý thức xã hội cũng mang tính giai cấp. Khi tồn tại xã hội thay đổi
thì ý thức xã hội cũng thay đổi theo. Tuy nhiên, mức độ và nhịp điệu thay đổi của các bộ phận ý
thức xã hội diễn ra khác nhau, có những bộ phận biến đổi nhanh,có những bộ phận biến đổi
chậm. Mặc dù chịu sự quy định và chi phối của tồn tại xã hội nhưng ý thức xã hội không những có
tính độc lập tương đối, mà còn tác động trở lại mạnh mẽ với tồn tại xã hội, mà đặc biệt ý
thức xã hội còn có thể vượt trước, thậm chí vượt rất xa tồn tại xã hội.
Ý thức xã hội có tính độc lập tương đối và tác động trở lại mạnh mẽ đối với tồn tại xã hội.
Tính độc lập tương đối của ý thức xã hội thể hiện ở những điểm , Ý thức thường có xu hướng
lạc hậu hơn so với tồn tại xã hội do sức trì trệ của truyền thống và thói quen; nhưng đôi khi,
YTXH có thể vượt trước TTXH nhờ những tư tưởng khoa học tiên tiến lại có khả năng vượt
trước, dự báo và soi đường cho sự phát triển của thực tại. Ý thức xã hội có tính kế thừa’
tiến trình đời sống tinh thần của xã hội loài người cho thấy rằng, các quan điểm lý luận, các tư
tưởng lớn của thời đại sau bao giờ cũng dựa vào những tiền đề đã có từ các giai đoạn lịch sử
trước đó. Hơn nữa, ý thức xã hội không chỉ phản ánh mà còn can thiệp vào đời sống. Một
hệ tư tưởng tiến bộ, khi thâm nhập vào quần chúng nhân dân, sẽ trở thành sức mạnh vật chất to
lớn để cải tạo xã hội, thúc đẩy kinh tế phát triển. Ngược lại, những tư tưởng phản động, lạc hậu sẽ
trở thành rào cản, kéo lùi sự tiến bộ của lịch sử.
Từ mối quan hệ biện chứng giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội cho thấy, trong quá trình cải
tạo xã hội cũ và xây dựng xã hội mới cần phải tiến hành đồng thời trên cả hai mặt. Trong đó,
phải phát huy vai trò của ý thức tiến bộ, cách mạng, coi trọng đẩy mạnh cách mạng xã hội chủ
nghĩa trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa. Bên cạnh việc thay đổi tồn tại xã hội làm cơ sở vật chất,
cần nhận thức đúng vai trò to lớn của ý thức xã hội đối với quá trình hình thành nền văn hóa mới
và con người mới xã hội chủ nghĩa. Đồng thời, phải kế thừa có chọn lọc các giá trị văn hóa truyền
thống, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, tránh chủ quan duy ý chí trong xây dựng đời sống tinh thần xã hội.
Trong thực tiễn, quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam, Nhà nước vừa phát triển
kinh tế (thay đổi tồn tại xã hội), vừa chú trọng xây dựng văn hóa, con người Việt Nam (phát triển ý
thức xã hội). Việc giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, đồng thời mở rộng giao lưu văn hóa quốc tế
thể hiện rõ tính kế thừa của ý thức xã hội và sự tác động trở lại của ý thức xã hội đối với tồn tại xã
hội, góp phần vào phát triển bền vững đất nước.