Tự do nhân gì? Lịch sử hình thành ghi
nhận quyền tự do nhân Việt Nam
Trả lời:
Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng gửi câu hỏi đề nghị vấn luật đến Bộ
phận luật vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi
của bạn đã được đội ngũ luật của Chúng tôi nghiên cứu vấn cụ thể
như sau:
1. Cơ s pháp lý:
- Hiến pháp năm 2013
2. Cá nhân gì? Tự do nhân ?
nhân một chỉnh thể đơn nhất gồm những đặc điểm riêng về thể chất,
tâm sinh lý, hoàn cảnh sống, mối liên hệ hữu , chặt chẽ với hội
thể hiện "cái tôi" trong những điều kiện chính trị, kinh tế, văn hóa, hội nhất
định.
Tự do nhân quyền của con người với những đặc điểm riêng về thể chất,
tâm sinh được sống hoạt động trong lĩnh vực dân sự theo ý nguyện của
mình trong những điều kiện chính trị, kinh tế, văn hóa, hội nhất định.
3. Sự hình thành và phát triển những quy định về tự do nhân
trong Hiến pháp của N nước ta
Tự do nhân một trong những nội dung cấu thành quyền con người
vừa mang tính tự nhiên, phổ biến, vừa mang tính hội, tính đặc thù, gắn
liền với lịch sử, truyền thống phụ thuộc vào trình độ phát triển kình tế, văn
hóa, hội của mỗi nước.
3.1. Hiến pháp năm 1946
Việt Nam, tự do nhân được đặt ra xuất phát t điều kiện, hoàn cảnh cụ
thể của từng giai đoạn cách mạng, từ bản chất của chế độ ta. Trong t do
nhân, quyền bất khả m phạm về thân thể, được hưởng tự do độc lập
quyền bản, quan trọng nhất, quyết định toàn bộ những nội dung tự do
nhân khác. Bản Tuyên ngôn độc lập của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
do Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc tại Quảng trưòng Ba Đình Nội ngày 2-9-1945
đã thể hiện quan điểm này: "Nưốc Việt Nam quyền hưởng tự do độc
lập, sự thật đã thành một nưởc tự do độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam
quyết đem tất cả tinh thần lực lượng, tính mạng của cải để giữ vững
quyền tự do, độc lập ấy".
Điều thứ 10 Hiến pháp năm 1946 đã ghi nhận quyền tự do trú, đi lại với
tính chất quyển công dân: "Công dân Việt Nam quyền:
- Tự do trú, đi lại trong nước ra nước ngoài".
Các quyền bất khả xâm phạm về thân thể, nhà ở, thư tín, quyền được bảo vệ
tính mạng, nhân phẩm, danh dự ng đã được ghi nhận tại các điều th 11,
12, 67, 68, trong đó đáng chú ý Điều thứ 11 quy định: "Tư pháp chưa quyết
định thì không được bắt bớ giam cầm người công dân Việt Nam.
Nhà thư tín của công dân Việt Nam, không ai được m phạm một cách
trái pháp luật".
Việc Nhà nước ta chính thức ghi nhận về mặt pháp những quyền t do
nhân nói trên ngay sau khi mới giành được chính quyền, thể hiện tính chất ưu
việt, tiến bộ của chế độ n chủ nhân dân. Để thể thấy hết tính ưu việt của
những quy định này, thể dẫn chứng: trong Tuyên ngôn thế giới về nhân
quyền được thông qua theo Nghị quyết số 217A (III) ngày 10-12-1948 của
Đại hội đồng Liên hợp quốc cũng đã ghi nhận c quyền trên tại các điều 3, 5,
9, 11, 13... dụ: Điều 13 Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền quy định:
"1. Mọi người đều quyền tự do đi lại tự do trú trong phạm vi một
quốc gia.
2. Mỗi người đều quyền rời khỏi một nước, kể cả chính nưổc mình
quyền trở lại nước mình".
Từ sự phân tích trên cho thấy, trong Hiến pháp năm 1946, Nhà nước ta đã
chính thức ghi nhận những quyền tự do nhân bản với tính chất
quyền công dân, tạo thành nội dung ch yếu của quyền con người. Đây
thành tựu kỹ thuật lập pháp đáng ghi nhận của nước ta về quyền t do
nhân.
3.2. Hiến pháp năm 1959
Cùng với sự phát triển của ch mạng Việt Nam, nội dung quyền tự do
nhân ngày càng được nhận thức đầy đ hơn được Nhà nước ta ghi nhận
về mặt pháp lý, đồng thời bảo đảm thực hiện trên thực tế.
Trong Hiến pháp năm 1959, quyền bất khả m phạm về thân thể của công
dân đã được quy định cụ thể hơn so với Hiến pháp năm 1946 tại Điều
27: "Quyền bất khả xâm phạm về thân thể của công dân nước Việt Nam Dân
chủ Cộng hoà được bảo đảm. Không ai thể bị bắt nếu không sự quyết
định của Tòa án nhân dân hoặc sự phê chuẩn của Viện kiểm sát nhân dân".
Điều 28 Hiến pháp năm 1959 cũng đã quy định cụ thể hơn quyền bất khả
xâm phạm về chỗ ở, thư tín: "Pháp luật bảo đảm nhà của công n nước
Việt Nam dân chủ cộng hòa không bị xâm phạm, thư tín được giữ mật".
3.3. Hiến pháp năm 1980
Trong Hiến pháp năm 1980, lần đầu tiên trong lịch sử lập hiến Việt Nam, một
trong những quyền tự do nhân quan trọng của con người quyền được
pháp luật bảo hộ về tính mạng, danh dự, nhân phẩm đã chính thức được ghi
nhận tại Điều 70: "Công dân quyền được pháp luật bảo hộ về tính mạng,,
tài sản, danh dự nhân phẩm". So với Hiến pháp năm 1959, quyền bất khả
xâm phạm vể chỗ ở, mật thư tín, điện thoại, điện tín cũng được Hiến pháp
năm 1980 quy định cụ thể hơn tại Điều 71:
"Công dân quyền bất khả m phạm về chỗ ở.
Không ai được t ý vào chỗ của người khác nêu người đó
không đồng ý, tr trường hợp được pháp luật cho phép. Việc
khám xét chỗ phải do đại diện quan nhà nước thẩm
quyển tiến hành, theo quy định của pháp luật.
mật thư tín, điện thoại, điện tín được bảo đảm.
Quyền tự do đi lại trú được tôn trọng, theo quy định của
pháp luật".
3.4. Hiến pháp năm 1992
Đến Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001), lần đầu tiên trong lịch
sử lập hiến Việt Nam, cụm từ "quyền con người" đã chính thức được ghi
nhận tại Điều 50: "Ở nước Cộng hòa hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền
con người về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa hội được tôn trọng, thể
hiện các quyền công dân được quy định trong Hiến pháp luật". So với
các hiến pháp trước đây, quyền được pháp luật bảo hộ về sức khỏe đã được
bổ sung tại Điều 71:
"Công dân quyền bất khả xâm phạm về thân thể, được pháp
luật bảo hộ về tính mạng, sức khỏe, danh dự nhân phẩm.
Không ai bị bắt, nếu không quyết định của Tòa án nhân dân,
quyết định hoặc phê chuẩn của Viện kiểm sát nhân dân, trừ
trường hợp phạm tội quả tang. Việc bắt giam giữ người phải
đúng pháp luật.
Nghiêm cấm mọi hình thức truy bức, nhục hình, xúc phạm danh
dự, nhân phẩm của công dân".
Trong Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001), suy đoán tội -
nguyên tắc tiến bộ của nền văn minh nhân loại, đã được chính thức ghi nhận
tại Điều 72: "Không ai bị coi tội phải chịu hình phạt khi chưa bản
án kết tội của a án đã hiệu lực pháp luật". Cũng tại Điều này, Nhà nước
ta thể hiện thái độ kiên qụyết bảo vệ các quyền tự do nhân: "Người bị bắt,
bị giam giữ, bị truy tố, t xử trái pháp luật quyền được bồi thường thiệt hại
về vật chất phục hồi danh dự. Người làm trái pháp luật trong việc bắt, giam
giữ, truy tố, xét xử gây thiệt hại cho người khác phải bị xử nghiêm
minh". Quy định này hoàn toàn phù hợp với Điều 11 Tuyên ngôn thế giới về
nhân quyền:
"Mỗi b cáo đã b buộc tội quyền được coi tội cho đến
khi được chứng minh phạm tội theo luật pháp tại một phiên
tòa xét xử công khai vối mọi đảm bảo biện hộ cần thiết.
Không ai bị coi phạm tội về bất cứ hành động hoặc không
hành động nào đã xảy ra vào thời điểm theo pháp luật quốc
gia hay luật quốc tế không cấu thành một tội phạm hình sự.
Tương tự như vậy, không ai bị tuyên hình phạt nặng hơn mức
hình phạt được áp dụng vào thời điểm thực hiện hành vi phạm
tội".
Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung m 2001) quy định ràng hơn về
quyền tự do đi lại t so với Hiến pháp năm 1980: "Công dân quyền
tự do đi lại trú trong nước, quyền ra nước ngoài t nước ngoài
về nước theo quy định của pháp luật" iều 68); quyền mật thư tín, điện
thoại, điện tín cũng đã được quy định cụ thể n tại Điều 73: "Thư tín, điện
thoại, điện tín của công dân được bảo đảm an toàn mật.
Việc khám xét chỗ ở, việc c mở, kiểm soát, thu giữ thư tín, điện tín của
công dân phải do người thẩm quyền tiến hành theo quy định của pháp
luật".
3.5. Hiến pháp năm 2013
Hiến pháp năm 2013 đã tiếp tục sử dụng khái niệm quyền con người” với nội
dung chính trị - pháp rộng hơn để phản ánh giá tr của nhân con người.
Nhìn góc độ về khái niệm, “quyền con người không loại trừ không thay
thế được khái niệm “quyền công dân”. Hiến pháp năm 2013 đặc biệt quan
tâm đặt vị trí của chương “Quyền con người quyền nghĩa vụ bản của
công dân” -Chương II. thể nói đây cũng chính là sự kế thừa “vị trí” của
Hiến pháp năm 1946. Tuy nhiên, do nhiệm vụ chính trị của các thời kỳ khác
nhau n điều khác biệt, nếu như Hiến pháp năm 1946 đặt nghĩa vụ của
công dân lên trước thì Hiến pháp m 2013 lại đặt quyền của công dân lên
trước. Một mặt điều này cho thấy quan điểm tôn trọng quyền con người,
quyền công dân, một mặt cho thấy quyền nghĩa vụ trong tất cả các thời kỳ
mối quan hệ mật thiết với nhau, sự kế thừa phát triển của Hiến
pháp sau so với Hiến pháp trước.
Điều 14 ghi nhận: “Ở nước Cộng hòa hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền
con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, hội được
công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp pháp luật. Quyền
con người, quyền công dân chỉ thể bị hạn chế theo quy định của luật trong
trường hợp cần thiết do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn
hội, đạo đức hội, sức khỏe của cộng đồng”. Đây thực chất sự hiến pháp
hóa quan điểm của Đảng về quyền con người “Nhà nước tôn trọng bảo
đảm quyền con người, quyền công dân; chăm lo hạnh phúc, sự phát triển tự
do của mỗi người. Quyền nghĩa vụ công dân do Hiến pháp pháp luật
quy định”. Như vậy, lần đầu tiên trong Hiến pháp Việt Nam ghi nhận “Quyền
con người”, điều này cho thấy không phải các bản Hiến pháp trước đó chúng
ta không ghi nhận về “quyền con người” (nhân quyền) trước đây chúng ta
chưa phân biệt hai khái niệm quyền con người” “quyền ng dân”, hay
nói cách khách chúng ta đã đồng nhất hai khái niệm trên, cũng chính điều
này chúng ta bị các thế lực thù địch xuyên tạc Nhà nước ta không quan
tâm đến “quyền con người”, vi phạm nhân quyền…lần ghi nhận này ý
nghĩa hết sức quan trọng một mặt chúng ta phân biệt hai khái niệm “quyền
con người” “quyền ng dân”, ghi nhận quyền con người” đứng trước
“quyền công dân” cũng nghĩa chúng ta ghi nhận “quyền con người”
nội hàm rộng hơn “quyền công dân”, “quyền công dân một bộ phận của
quyền con người, đồng thời cũng ghi nhận từ trước đến nay chúng ta luôn
thừa nhận quyền con người đã được cụ thể hóa trong quyền ng dân
các Hiến pháp trước đây đã ng nhận, điều chúng ta chưa tách bạch độc
lập về hai khái niệm trên.
Điều 20 (sửa đổi, bổ sung Điều 72) thể hiện tính phù hợp hơn của tinh thần
nhà nước pháp quyền, tiếp tục khẳng định vai trò của quan tòa án nhưng
cũng khẳng định một trong những quyền của con người được tòa án xét xử
khi bị buộc tội, như vậy thể hiểu rằng không một quan nào khác được
thực hiện quyền này nhằm đảm bảo tính công bằng công cho tất cả những
người phạm tội việc xét xử ấy cũng chỉ được t xử bằng chính pháp luật
chỉ bằng pháp luật, họ thể sử dụng sự trợ giúp pháp của người bào
chữa đ thể “gỡ” tội cho chính mình: “Mọi người quyền bất khả xâm
phạm về thân thể, được pháp luật bảo hộ về sức khoẻ, danh dự nhân
phẩm; không bị tra tấn, bạo lực, truy bức, nhục hình hay bất kỳ hình thức đối
xử nào khác xâm phạm thân thể, sức khỏe, xúc phạm danh dự, nhân phẩm.
Không ai bị bắt nếu không quyết định của Toà án nhân dân, quyết định
hoặc phê chuẩn của Viện kiểm sát nhân dân, trừ trường hợp phạm tội quả
tang. Việc bắt, giam giữ người do luật định. Mọi người quyền hiến , bộ
phận thể người hiến xác theo quy định của luật. Việc thử nghiệm y học,
dược học, khoa học hay bất kỳ hình thức thử nghiệm nào khác trên thể
người phải sự đồng ý của người được thử nghiệm”; trong điều này ghi
nhận hai quyền bản; quyền bất khả xâm phạm về thân thể; quyền hiến mô,
bộ phận thể người hiến xác.
Nguyên tắc suy đoán tội tiếp tục được ghi nhận tại khoản 1 Điều 31 Hiến
pháp năm 2013: "Người bị buộc tội được coi không tội cho đến khi được
chứng minh theo trình tự luật định bản án kết tội của Tòa án đã hiệu
lực pháp luật."
Tiếp thu những tinh hoa văn hóa nhân loại, xây dựng một hội dân chủ,
công bằng văn minh, lợi ích chân chính phẩm giá con người, hơn suốt
hai mươi năm qua các quyền con người được tôn trọng, bảo vệ thực thi
thông qua việc ghi nhận nội dung quyền con người quyền nghĩa vụ
bản của công dân trong c bản Hiến pháp Việt Nam qua các thời kỳ, đã thể
hiện quan điểm của Đảng nhân dân Việt Nam về sự quan tâm tiếp
thu, kế thừa những quan điểm, giá trị tiến bộ của truyền thống dân tộc, của
thế giới, cùng những kinh nghiệm lập hiến, lập pháp của các nước tiến bộ,
phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế - hội nước nhà.
Với phương châm “tôn trọng bảo vệ quyền con người, gắn quyền con
người với quyền lợi ích của dân tộc, đất nước quyền làm chủ của nhân
dân” đã được thể hiện ngày càng đầy đủ hơn về những nội dung liên quan
quyền con người quyền nghĩa vụ bản của công dân trong các bản
Hiến pháp Việt Nam qua các thời kỳ đã chứng minh Việt Nam luôn quan tâm
đến công dân cũng như luôn quan tâm đến việc phát triển con người Việt
Nam, phù hợp với cách tiếp cận của Liên hợp quốc trong việc thực hiện
quyền con người nhằm xây dựng, kết mối quan hệ đại đoàn kết toàn dân tộc
ngày càng phát triển bền vững mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ,
công bằng, văn minh.
Từ sự phân tích trên cho thấy, quyền tự do nhân đã từng bước được
Nhà nước ta ghi nhận bảo đảm thực hiện p hợp với điều kiện cụ thể của
đất nưốc các tiêu chuẩn tiến bộ về quyền tự do nhân đã được cộng
đồng quốc tế thừa nhận rộng rãi.

Preview text:

Tự do cá nhân là gì? Lịch sử hình thành và ghi
nhận quyền tự do cá nhân ở Việt Nam Trả lời:
Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ
phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi
của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau: 1. Cơ sở pháp lý: - Hiến pháp năm 2013
2. Cá nhân là gì? Tự do cá nhân là gì?
Cá nhân là một chỉnh thể đơn nhất gồm những đặc điểm riêng về thể chất,
tâm sinh lý, hoàn cảnh sống, có mối liên hệ hữu cơ, chặt chẽ với xã hội và
thể hiện "cái tôi" trong những điều kiện chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội nhất định.
Tự do cá nhân là quyền của con người với những đặc điểm riêng về thể chất,
tâm sinh lý được sống và hoạt động trong lĩnh vực dân sự theo ý nguyện của
mình trong những điều kiện chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội nhất định.
3. Sự hình thành và phát triển những quy định về tự do cá nhân
trong Hiến pháp của Nhà nước ta
Tự do cá nhân là một trong những nội dung cấu thành quyền con người nó
vừa mang tính tự nhiên, phổ biến, vừa mang tính xã hội, có tính đặc thù, gắn
liền với lịch sử, truyền thống và phụ thuộc vào trình độ phát triển kình tế, văn
hóa, xã hội của mỗi nước. 3.1. Hiến pháp năm 1946
Ở Việt Nam, tự do cá nhân được đặt ra xuất phát từ điều kiện, hoàn cảnh cụ
thể của từng giai đoạn cách mạng, từ bản chất của chế độ ta. Trong tự do cá
nhân, quyền bất khả xâm phạm về thân thể, được hưởng tự do và độc lập là
quyền cơ bản, quan trọng nhất, quyết định toàn bộ những nội dung tự do cá
nhân khác. Bản Tuyên ngôn độc lập của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
do Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc tại Quảng trưòng Ba Đình Hà Nội ngày 2-9-1945
đã thể hiện rõ quan điểm này: "Nưốc Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc
lập, và sự thật đã thành một nưởc tự do độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam
quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững
quyền tự do, độc lập ấy".
Điều thứ 10 Hiến pháp năm 1946 đã ghi nhận quyền tự do cư trú, đi lại với
tính chất là quyển công dân: "Công dân Việt Nam có quyền:
- Tự do cư trú, đi lại trong nước và ra nước ngoài".
Các quyền bất khả xâm phạm về thân thể, nhà ở, thư tín, quyền được bảo vệ
tính mạng, nhân phẩm, danh dự cũng đã được ghi nhận tại các điều thứ 11,
12, 67, 68, trong đó đáng chú ý Điều thứ 11 quy định: "Tư pháp chưa quyết
định thì không được bắt bớ và giam cầm người công dân Việt Nam.
Nhà ở và thư tín của công dân Việt Nam, không ai được xâm phạm một cách trái pháp luật".
Việc Nhà nước ta chính thức ghi nhận về mặt pháp lý những quyền tự do cá
nhân nói trên ngay sau khi mới giành được chính quyền, thể hiện tính chất ưu
việt, tiến bộ của chế độ dân chủ nhân dân. Để có thể thấy hết tính ưu việt của
những quy định này, có thể dẫn chứng: trong Tuyên ngôn thế giới về nhân
quyền được thông qua theo Nghị quyết số 217A (III) ngày 10-12-1948 của
Đại hội đồng Liên hợp quốc cũng đã ghi nhận các quyền trên tại các điều 3, 5,
9, 11, 13. . Ví dụ: Điều 13 Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền quy định:
"1. Mọi người đều có quyền tự do đi lại và tự do cư trú trong phạm vi một quốc gia.
2. Mỗi người đều có quyền rời khỏi một nước, kể cả chính nưổc mình và có
quyền trở lại nước mình".
Từ sự phân tích ở trên cho thấy, trong Hiến pháp năm 1946, Nhà nước ta đã
chính thức ghi nhận những quyền tự do cá nhân cơ bản với tính chất là
quyền công dân, tạo thành nội dung chủ yếu của quyền con người. Đây là
thành tựu kỹ thuật lập pháp đáng ghi nhận của nước ta về quyền tự do cá nhân. 3.2. Hiến pháp năm 1959
Cùng với sự phát triển của Cách mạng Việt Nam, nội dung quyền tự do cá
nhân ngày càng được nhận thức đầy đủ hơn và được Nhà nước ta ghi nhận
về mặt pháp lý, đồng thời bảo đảm thực hiện trên thực tế.
Trong Hiến pháp năm 1959, quyền bất khả xâm phạm về thân thể của công
dân đã được quy định cụ thể hơn so với Hiến pháp năm 1946 tại Điều
27: "Quyền bất khả xâm phạm về thân thể của công dân nước Việt Nam Dân
chủ Cộng hoà được bảo đảm. Không ai có thể bị bắt nếu không có sự quyết
định của Tòa án nhân dân hoặc sự phê chuẩn của Viện kiểm sát nhân dân"
.
Điều 28 Hiến pháp năm 1959 cũng đã quy định cụ thể hơn quyền bất khả
xâm phạm về chỗ ở, thư tín: "Pháp luật bảo đảm nhà ở của công dân nước
Việt Nam dân chủ cộng hòa không bị xâm phạm, thư tín được giữ bí mật".
3.3. Hiến pháp năm 1980
Trong Hiến pháp năm 1980, lần đầu tiên trong lịch sử lập hiến Việt Nam, một
trong những quyền tự do cá nhân quan trọng của con người là quyền được
pháp luật bảo hộ về tính mạng, danh dự, nhân phẩm đã chính thức được ghi
nhận tại Điều 70: "Công dân có quyền được pháp luật bảo hộ về tính mạng,,
tài sản, danh dự và nhân phẩm"
. So với Hiến pháp năm 1959, quyền bất khả
xâm phạm vể chỗ ở, bí mật thư tín, điện thoại, điện tín cũng được Hiến pháp
năm 1980 quy định cụ thể hơn tại Điều 71:
"Công dân có quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở.
Không ai được tự ý vào chỗ ỏ của người khác nêu người đó
không đồng ý, trừ trường hợp được pháp luật cho phép. Việc
khám xét chỗ ở phải do đại diện cơ quan nhà nước có thẩm
quyển tiến hành, theo quy định của pháp luật.
Bí mật thư tín, điện thoại, điện tín được bảo đảm.
Quyền tự do đi lại và cư trú được tôn trọng, theo quy định của pháp luật"
. 3.4. Hiến pháp năm 1992
Đến Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001), lần đầu tiên trong lịch
sử lập hiến Việt Nam, cụm từ "quyền con người" đã chính thức được ghi
nhận tại Điều 50: "Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền
con người về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa và xã hội được tôn trọng, thể
hiện ở các quyền công dân và được quy định trong Hiến pháp và luật"
. So với
các hiến pháp trước đây, quyền được pháp luật bảo hộ về sức khỏe đã được bổ sung tại Điều 71:
"Công dân có quyền bất khả xâm phạm về thân thể, được pháp
luật bảo hộ về tính mạng, sức khỏe, danh dự và nhân phẩm.
Không ai bị bắt, nếu không có quyết định của Tòa án nhân dân,
quyết định hoặc phê chuẩn của Viện kiểm sát nhân dân, trừ
trường hợp phạm tội quả tang. Việc bắt và giam giữ người phải đúng pháp luật.
Nghiêm cấm mọi hình thức truy bức, nhục hình, xúc phạm danh
dự, nhân phẩm của công dân".

Trong Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001), suy đoán vô tội -
nguyên tắc tiến bộ của nền văn minh nhân loại, đã được chính thức ghi nhận
tại Điều 72: "Không ai bị coi là có tội và phải chịu hình phạt khi chưa có bản
án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật"
. Cũng tại Điều này, Nhà nước
ta thể hiện thái độ kiên qụyết bảo vệ các quyền tự do cá nhân: "Người bị bắt,
bị giam giữ, bị truy tố, xét xử trái pháp luật có quyền được bồi thường thiệt hại
về vật chất và phục hồi danh dự. Người làm trái pháp luật trong việc bắt, giam
giữ, truy tố, xét xử gây thiệt hại cho người khác phải bị xử lý nghiêm
minh".
Quy định này hoàn toàn phù hợp với Điều 11 Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền:
"Mỗi bị cáo đã bị buộc tội có quyền được coi là vô tội cho đến
khi được chứng minh là phạm tội theo luật pháp tại một phiên
tòa xét xử công khai vối mọi đảm bảo biện hộ cần thiết.
Không ai bị coi là phạm tội về bất cứ hành động hoặc không
hành động nào đã xảy ra vào thời điểm mà theo pháp luật quốc
gia hay luật quốc tế không cấu thành một tội phạm hình sự.
Tương tự như vậy, không ai bị tuyên hình phạt nặng hơn mức
hình phạt được áp dụng vào thời điểm thực hiện hành vi phạm tội".

Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001) quy định rõ ràng hơn về
quyền tự do đi lại và cư trú so với Hiến pháp năm 1980: "Công dân có quyền
tự do đi lại và cư trú ở trong nước, có quyền ra nước ngoài và từ nước ngoài
về nước theo quy định của pháp luật" (Điều 68); quyền bí mật thư tín, điện
thoại, điện tín cũng đã được quy định cụ thể hơn tại Điều 73: "Thư tín, điện
thoại, điện tín của công dân được bảo đảm an toàn và bí mật.
Việc khám xét chỗ ở, việc bóc mở, kiểm soát, thu giữ thư tín, điện tín của
công dân phải do người có thẩm quyền tiến hành theo quy định của pháp luật". 3.5. Hiến pháp năm 2013
Hiến pháp năm 2013 đã tiếp tục sử dụng khái niệm “quyền con người” với nội
dung chính trị - pháp lý rộng hơn để phản ánh giá trị của cá nhân con người.
Nhìn ở góc độ về khái niệm, “quyền con người” không loại trừ và không thay
thế được khái niệm “quyền công dân”. Hiến pháp năm 2013 đặc biệt quan
tâm đặt vị trí của chương “Quyền con người và quyền và nghĩa vụ cơ bản của
công dân” -Chương II. Có thể nói đây cũng chính là sự kế thừa “vị trí” của
Hiến pháp năm 1946. Tuy nhiên, do nhiệm vụ chính trị của các thời kỳ là khác
nhau nên có điều khác biệt, nếu như Hiến pháp năm 1946 đặt nghĩa vụ của
công dân lên trước thì Hiến pháp năm 2013 lại đặt quyền của công dân lên
trước. Một mặt điều này cho thấy quan điểm tôn trọng quyền con người,
quyền công dân, một mặt cho thấy quyền và nghĩa vụ trong tất cả các thời kỳ
là có mối quan hệ mật thiết với nhau, có sự kế thừa và phát triển của Hiến
pháp sau so với Hiến pháp trước.
Điều 14 ghi nhận: “Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền
con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được
công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật. Quyền
con người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật trong
trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã
hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng”. Đây thực chất là sự hiến pháp
hóa quan điểm của Đảng về quyền con người “Nhà nước tôn trọng và bảo
đảm quyền con người, quyền công dân; chăm lo hạnh phúc, sự phát triển tự
do của mỗi người. Quyền và nghĩa vụ công dân do Hiến pháp và pháp luật
quy định”. Như vậy, lần đầu tiên trong Hiến pháp Việt Nam ghi nhận “Quyền
con người”, điều này cho thấy không phải các bản Hiến pháp trước đó chúng
ta không ghi nhận về “quyền con người” (nhân quyền) mà trước đây chúng ta
chưa phân biệt rõ hai khái niệm “quyền con người” và “quyền công dân”, hay
nói cách khách chúng ta đã đồng nhất hai khái niệm trên, cũng chính vì điều
này mà chúng ta bị các thế lực thù địch xuyên tạc Nhà nước ta không quan
tâm đến “quyền con người”, vi phạm nhân quyền…lần ghi nhận này có ý
nghĩa hết sức quan trọng một mặt chúng ta phân biệt rõ hai khái niệm “quyền
con người” và “quyền công dân”, ghi nhận “quyền con người” đứng trước
“quyền công dân” cũng có nghĩa là chúng ta ghi nhận “quyền con người” có
nội hàm rộng hơn “quyền công dân”, “quyền công dân” là một bộ phận của
quyền con người, đồng thời cũng ghi nhận từ trước đến nay chúng ta luôn
thừa nhận quyền con người đã được cụ thể hóa trong quyền công dân mà
các Hiến pháp trước đây đã công nhận, có điều chúng ta chưa tách bạch độc
lập về hai khái niệm trên.
Điều 20 (sửa đổi, bổ sung Điều 72) thể hiện tính phù hợp hơn của tinh thần
nhà nước pháp quyền, tiếp tục khẳng định vai trò của cơ quan tòa án nhưng
cũng khẳng định một trong những quyền của con người là được tòa án xét xử
khi bị buộc tội, như vậy có thể hiểu rằng không một cơ quan nào khác được
thực hiện quyền này nhằm đảm bảo tính công bằng công lý cho tất cả những
người phạm tội và việc xét xử ấy cũng chỉ được xét xử bằng chính pháp luật
và chỉ bằng pháp luật, họ có thể sử dụng sự trợ giúp pháp lý của người bào
chữa để có thể “gỡ” tội cho chính mình: “Mọi người có quyền bất khả xâm
phạm về thân thể, được pháp luật bảo hộ về sức khoẻ, danh dự và nhân
phẩm; không bị tra tấn, bạo lực, truy bức, nhục hình hay bất kỳ hình thức đối
xử nào khác xâm phạm thân thể, sức khỏe, xúc phạm danh dự, nhân phẩm.
Không ai bị bắt nếu không có quyết định của Toà án nhân dân, quyết định
hoặc phê chuẩn của Viện kiểm sát nhân dân, trừ trường hợp phạm tội quả
tang. Việc bắt, giam giữ người do luật định. Mọi người có quyền hiến mô, bộ
phận cơ thể người và hiến xác theo quy định của luật. Việc thử nghiệm y học,
dược học, khoa học hay bất kỳ hình thức thử nghiệm nào khác trên cơ thể
người phải có sự đồng ý của người được thử nghiệm”; trong điều này ghi
nhận hai quyền cơ bản; quyền bất khả xâm phạm về thân thể; quyền hiến mô,
bộ phận cơ thể người và hiến xác.
Nguyên tắc suy đoán vô tội tiếp tục được ghi nhận tại khoản 1 Điều 31 Hiến
pháp năm 2013: "Người bị buộc tội được coi là không có tội cho đến khi được
chứng minh theo trình tự luật định và có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật."
Tiếp thu những tinh hoa văn hóa nhân loại, xây dựng một xã hội dân chủ,
công bằng văn minh, vì lợi ích chân chính và phẩm giá con người, hơn suốt
hai mươi năm qua các quyền con người được tôn trọng, bảo vệ và thực thi
thông qua việc ghi nhận nội dung quyền con người và quyền và nghĩa vụ cơ
bản của công dân trong các bản Hiến pháp Việt Nam qua các thời kỳ, đã thể
hiện rõ quan điểm của Đảng và nhân dân Việt Nam về sự quan tâm có tiếp
thu, kế thừa những quan điểm, giá trị tiến bộ của truyền thống dân tộc, của
thế giới, cùng những kinh nghiệm lập hiến, lập pháp của các nước tiến bộ,
phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế - xã hội nước nhà.
Với phương châm “tôn trọng và bảo vệ quyền con người, gắn quyền con
người với quyền và lợi ích của dân tộc, đất nước và quyền làm chủ của nhân
dân” đã được thể hiện ngày càng đầy đủ hơn về những nội dung liên quan
quyền con người và quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân trong các bản
Hiến pháp Việt Nam qua các thời kỳ đã chứng minh Việt Nam luôn quan tâm
đến công dân cũng như luôn quan tâm đến việc phát triển con người Việt
Nam, phù hợp với cách tiếp cận của Liên hợp quốc trong việc thực hiện
quyền con người nhằm xây dựng, kết mối quan hệ đại đoàn kết toàn dân tộc
ngày càng phát triển bền vững vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.
Từ sự phân tích ở trên cho thấy, quyền tự do cá nhân đã từng bước được
Nhà nước ta ghi nhận và bảo đảm thực hiện phù hợp với điều kiện cụ thể của
đất nưốc và các tiêu chuẩn tiến bộ về quyền tự do cá nhân đã được cộng
đồng quốc tế thừa nhận rộng rãi.
Document Outline

  • Tự do cá nhân là gì? Lịch sử hình thành và ghi nhậ
    • 1. Cơ sở pháp lý:
    • 2. Cá nhân là gì? Tự do cá nhân là gì?
    • 3. Sự hình thành và phát triển những quy định về t
      • 3.1. Hiến pháp năm 1946
      • 3.2. Hiến pháp năm 1959
      • 3.3. Hiến pháp năm 1980
      • 3.4. Hiến pháp năm 1992
      • 3.5. Hiến pháp năm 2013