



















Preview text:
Nội dung
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT
BÀI TẬP NHÓM CHỦ ĐỀ 7
TRANH CHẤP VỀ QUYỀN SỞ HỮU CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI
THEO BẢN ÁN 380/2023/DS-PT
Hà Nội -2026 2
BẢN ÁN 380/2023/DS-PT NGÀY 22/06/2023 VỀ TRANH CHẤP HỢP
ĐỒNG ỦY QUYỀN, ĐÒI LẠI QUYỀN SỞ HỮU NHÀ VÀ QUYỀN SỬ
DỤNG ĐẤT DO NGƯỜI VIỆT NAM ĐỊNH CƯ Ở NƯỚC NGOÀI NHỜ
NGƯỜI TRONG NƯỚC GIAO DỊCH I. Mở đầu
1. Lý do chọn vụ án:
Vụ án Bản án 380/2023/DS-PT của Tòa án nhân dân cấp cao tại TP.HCM
(xét xử phúc thẩm năm 2023) là một tranh chấp quyền sở hữu tài sản có yếu tố
nước ngoài điển hình. Vụ việc liên quan đến tranh chấp quyền sở hữu nhà và
quyền sử dụng đất tại Việt Nam giữa một bên nguyên đơn là cặp vợ chồng
Việt kiều định cư tại Pháp và bị đơn là người thân trong nước. Đây là trường
hợp tiêu biểu về người Việt Nam ở nước ngoài nhờ người trong nước đứng tên
sở hữu nhà đất – một dạng tranh chấp phức tạp, đòi hỏi áp dụng pháp luật Việt
Nam về sở hữu tài sản và các quy định điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành
viên trong quá trình tố tụng.
2. Đối tượng tranh chấp:
Tài sản là nhà ở gắn liền với đất tại Ninh Thuận, Việt Nam, do cặp vợ
chồng Việt kiều (quốc tịch Pháp) mua nhưng phải nhờ người cháu trong nước
đứng tên sở hữu. Tranh chấp phát sinh khi người cháu chiếm hữu tài sản trái ý
muốn của vợ chồng Việt kiều và họ khởi kiện đòi lại quyền sở hữu nhà đất. Vấn
đề đặt ra là việc giải quyết tranh chấp sở hữu tài sản có yếu tố nước ngoài
tại Việt Nam phải tuân theo quy định pháp luật Việt Nam nào, thẩm quyền tòa
án nào, và có sự điều chỉnh của điều ước quốc tế nào hay không.
II. Tóm tắt vụ việc và diễn biến tố tụng 1. Các đương sự: - Nguyên đơn:
● Ông L Pierre Louis, sinh năm 1926 (vắng mặt); 3
● Bà Lâm Thị L1 (Lam Thi Epouse Lachaise), sinh năm 1933 (vắng mặt).
Cùng địa chỉ: Số 3 Quai Saturnin F 8500 La Seyne Sur M, France.
- Bị đơn: Bà Lâm Thị Hồng N, sinh năm 1960; Địa chỉ: 19 Võ Thị Sáu, phường
K, thành phố P, tỉnh Ninh Thuận (có mặt).
- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp: Ông Lê Sỹ H, Luật sư thuộc Đoàn
Luật sư thành phố Hà Nội (có mặt).
- Người làm chứng: Vợ chồng ông Dương Bá H1; Địa chỉ: Số 689 Thống Nhất,
phường K, thành phố P, tỉnh Ninh Thuận (vắng mặt, đề nghị xử vắng mặt).
- Người kháng cáo: Bị đơn - bà Lâm Thị Hồng N.
2. Tóm tắt nội dung vụ án:
Vợ chồng nguyên đơn – bà Lâm Thị L1 (sinh 1933) và ông L. Pierre Louis
(sinh 1926), đều mang quốc tịch Pháp, đã thỏa thuận mua một căn nhà ở địa chỉ
409B Thống Nhất, tỉnh Ninh Thuận (nay đổi số thành 689 Thống Nhất) vào
năm 1991. Do tại thời điểm đó, họ là Việt kiều (người Việt định cư ở nước
ngoài) nên không thể đứng tên chủ sở hữu nhà đất tại Việt Nam, họ đã nhờ
cháu ruột của bà L1 là bà Lâm Thị Hồng N. (bị đơn, cư trú tại Ninh Thuận)
đứng tên giúp trên giấy tờ mua bán. Giá mua nhà đất là 15 lượng vàng và
500.000 đồng; toàn bộ số tiền và vàng này do vợ chồng nguyên đơn cung cấp,
bị đơn thay mặt giao dịch với người bán. Ngày 20/08/1991, cơ quan có thẩm
quyền đã cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà mang tên bà N. đối với căn
nhà 409B. Cùng ngày 12/09/1991, các bên lập văn bản Giấy ủy quyền cho bà
N. quản lý nhà, với nội dung: bà N. không được bán, chuyển nhượng, cho
thuê hoặc cho người khác ở nhờ khi chưa có sự đồng ý của vợ chồng
nguyên đơn. Đồng thời có Giấy giao nhận vàng, tiền xác nhận bà N. đã nhận
15 lượng vàng và 500.000 đồng từ vợ chồng ông L. để mua nhà. Các văn bản
này đều có chứng thực và người làm chứng. 4
Sau khi mua, năm 1992 vợ chồng nguyên đơn bỏ thêm chi phí sửa chữa
nhà (~26,25 triệu đồng) và sử dụng căn nhà làm nơi ở mỗi khi về Việt Nam; họ
giữ toàn bộ giấy tờ và chìa khóa nhà, nhờ hàng xóm và công an khu vực trông
nom khi ở Pháp. Đầu năm 1999, phát sinh tranh chấp khi bà N. tự ý phá khóa,
chuyển vào ở trong nhà 409B mà không được sự đồng ý của nguyên đơn.
Nguyên đơn sau đó khởi kiện, yêu cầu hủy giấy ủy quyền 12/09/1991 và buộc
bà N. trả lại căn nhà 409B Thống Nhất cho họ.
3. Diễn biến tố tụng chính:
- 1999: Nguyên đơn nộp đơn khởi kiện tại Tòa án tỉnh Ninh Thuận, yêu cầu đòi lại nhà đất từ bà N.
- 20/7/2007: Tòa án ND tỉnh Ninh Thuận (sơ thẩm lần 1) xử chấp nhận yêu
cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bà N. giao nhà. Bà N. kháng cáo.
- 18/12/2007: Tòa Phúc thẩm TANDTC tại TP.HCM (phúc thẩm lần 1) xử
giữ nguyên bản án sơ thẩm, tiếp tục buộc bà N. trả nhà. Bản án có hiệu lực.
- 25/4/2008: Cơ quan Thi hành án dân sự tỉnh Ninh Thuận cưỡng chế thi hành:
giao nhà và đất cho vợ chồng bà L1; bà N. đã thi hành xong nghĩa vụ giao nhà
đất và nộp án phí. Vợ chồng nguyên đơn nhận lại nhà và sau đó bán căn nhà
đất này cho vợ chồng ông Dương Bá H1.
- 06/11/2012: Hội đồng Thẩm phán TANDTC (giám đốc thẩm) tuyên hủy
bản án sơ thẩm và phúc thẩm 2007 do chưa xem xét “công sức” của bà N.
trong việc đứng tên giúp mua nhà. Tòa án cấp cao yêu cầu xét xử lại từ sơ
thẩm, cần xác định giá trị nhà đất mà nguyên đơn bán để tính phần đóng góp,
công sức của bà N., đảm bảo quyền lợi cho cả hai bên (mỗi bên hưởng một nửa
phần chênh lệch giá trị).
- 2015-2018: Vụ án được giải quyết lại từ đầu. Do vợ chồng nguyên đơn đã bán
nhà cho người thứ ba (ông H1), việc định giá gặp khó khăn (bên mua không
cung cấp giá mua bán). Tòa án thu thập chứng cứ, áp dụng Án lệ số
02/2016/AL của Hội đồng Thẩm phán TANDTC làm cơ sở tính công sức cho 5
bị đơn theo phương pháp: lấy giá trị nhà đất (định giá 2007) trừ đi giá trị vàng
15 lượng (quy ra tiền tại thời điểm bán 2008), phần chênh lệch chia đôi. Kết quả
xác định bị đơn được hưởng 713.166.450 đồng (tương đương 1/2 phần chênh
lệch giá trị tăng thêm của tài sản).
- 15/3/2018: TAND tỉnh Ninh Thuận (sơ thẩm lần 2) xét xử lại, tuyên: tiếp
tục chấp nhận yêu cầu khởi kiện của vợ chồng nguyên đơn; xác định nhà đất
thuộc quyền sở hữu của nguyên đơn; buộc bà N. giao nhà đất cho nguyên đơn;
đồng thời buộc nguyên đơn trả cho bà N. 12.014.000 đồng tiền sửa chữa và
713.166.450 đồng tiền công sức (theo tính toán trên). Tòa kiến nghị UBND địa
phương thu hồi giấy chứng nhận nhà mang tên bà N. Bà N. kháng cáo toàn bộ bản án.
- 22/6/2023: TAND cấp cao tại TP.HCM (phúc thẩm lần 2) xét xử phúc thẩm
(Bản án 380/2023/DS-PT). Phiên tòa diễn ra vắng mặt nguyên đơn (vợ chồng bà
L1, do họ ở Pháp và đã có đơn đề nghị xử vắng mặt). Bị đơn giữ yêu cầu kháng
cáo. Tại bản án này, Tòa cấp cao bác kháng cáo của bà N., giữ nguyên các
quyết định của bản án sơ thẩm 2018 về nội dung. Cụ thể: Hủy giấy ủy quyền
1991; xác định nguyên đơn là chủ sở hữu nhà đất; bà N. không phải giao nhà
lần nữa vì đã thi hành xong từ 2008; nguyên đơn phải trả cho bà N. tổng cộng
725.180.450 đồng (bao gồm 713,166 triệu tiền công sức và ~12,014 triệu tiền
sửa chữa). Tòa cấp cao cũng miễn án phí cho bà N. (do cao tuổi). Bản án phúc
thẩm 2023 có hiệu lực pháp luật.
4. Vấn đề pháp lý cần giải quyết:
Từ vụ việc trên, nổi lên các vấn đề pháp lý chính:
(1) Xác định quan hệ pháp luật dân sự có yếu tố nước ngoài trong vụ án (về tố tụng và nội dung);
(2) Thẩm quyền của Tòa án Việt Nam giải quyết tranh chấp nhà đất trong trường hợp này; 6
(3) Xác định pháp luật áp dụng (quy tắc xung đột pháp luật về sở hữu tài sản – lex rei sitae);
(4) Vai trò của điều ước quốc tế (Hiệp định tương trợ tư pháp Việt–Pháp 1999)
trong quá trình tố tụng (tống đạt, ủy thác tư pháp…);
(5) Phán quyết của Tòa án: cơ sở pháp lý để Tòa hủy hợp đồng ủy quyền,
công nhận quyền sở hữu của nguyên đơn và buộc chia phần chênh lệch giá trị cho bị đơn;
(6) Đánh giá việc áp dụng pháp luật và thủ tục tố tụng trong vụ án
III. Xác định “quan hệ sở hữu có yếu tố nước ngoài”
1. Yếu tố nước ngoài về tố tụng:
Theo quy định tại Điều 464 Bộ luật Tố tụng Dân sự (BLTTDS) 2015, vụ
việc dân sự được coi là “có yếu tố nước ngoài” nếu thuộc một trong các trường
hợp: (a) Có ít nhất một bên tham gia là cá nhân, cơ quan, tổ chức nước ngoài;
(b) Các bên đều là công dân/cơ quan Việt Nam nhưng quan hệ xác lập, thay đổi
hoặc chấm dứt ở nước ngoài; (c) Các bên đều là người Việt nhưng đối tượng
của quan hệ ở nước ngoài. Trường hợp vụ án này rơi vào điểm (a): Nguyên đơn
là cá nhân định cư ở nước ngoài (Pháp), hơn nữa họ mang quốc tịch nước
ngoài (quốc tịch Pháp), do đó vụ án rõ ràng là vụ việc dân sự có yếu tố nước
ngoài theo BLTTDS. Việc Tòa án áp dụng Phần thứ VIII BLTTDS 2015 (thủ
tục tố tụng dân sự có yếu tố nước ngoài) là phù hợp. Thực tế, Tòa án cấp cao đã
thực hiện thủ tục ủy thác tư pháp sang Pháp để tống đạt giấy tờ cho nguyên đơn vắng mặt.
2. Yếu tố nước ngoài về nội dung quan hệ:
Về bản chất, đây là tranh chấp quyền sở hữu tài sản (nhà ở gắn liền với
đất) giữa các bên, trong đó một bên cư trú ở nước ngoài. Theo Điều 663 Bộ luật 7
Dân sự (BLDS) 2015, quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài cũng được định
nghĩa tương tự: (a) có ít nhất một bên là cá nhân, pháp nhân nước ngoài; (b) các
bên đều là người Việt nhưng việc xác lập, thực hiện hoặc chấm dứt quan hệ xảy
ra ở nước ngoài; (c) các bên đều là người Việt nhưng đối tượng của quan hệ ở
nước ngoài. Vụ việc này thỏa mãn khoản (a) Điều 663 BLDS: có bên đương sự
là người mang quốc tịch nước ngoài (ông L. Pierre Louis và bà L1 đều có quốc
tịch Pháp). Do đó, quan hệ pháp luật sở hữu tranh chấp ở đây (quyền sở hữu
nhà đất) là quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài. Việc xác định đúng tính chất
này làm cơ sở để áp dụng quy phạm xung đột và quy định tố tụng đặc thù.
Cả về tố tụng lẫn nội dung, vụ án đều có yếu tố nước ngoài. Điều này chi
phối cách xác định thẩm quyền tòa án, lựa chọn pháp luật áp dụng và thủ tục
tương trợ tư pháp quốc tế trong quá trình giải quyết.
IV. Thẩm quyền của Tòa án Việt Nam
Thẩm quyền chung của Tòa án Việt Nam: Theo Điều 469 BLTTDS
2015, Tòa án Việt Nam có thẩm quyền giải quyết vụ việc dân sự có yếu tố nước
ngoài nếu thuộc một trong các trường hợp: bị đơn cư trú tại Việt Nam; bị đơn là
tổ chức có trụ sở ở Việt Nam; bị đơn có tài sản trên lãnh thổ VN; v.v.. Vụ kiện
này đáp ứng nhiều tiêu chí: Bị đơn bà N. cư trú tại Việt Nam (Ninh Thuận); tài
sản tranh chấp (nhà và đất) nằm trên lãnh thổ Việt Nam. Do đó, Tòa án Việt
Nam đương nhiên có thẩm quyền thụ lý giải quyết theo thẩm quyền chung.
Thẩm quyền riêng biệt (loại trừ) của Tòa án Việt Nam: Quan trọng
hơn, do đối tượng tranh chấp là quyền đối với bất động sản tại Việt Nam, vụ
án thuộc thẩm quyền riêng biệt của Tòa án Việt Nam. Cụ thể, Điểm a Khoản 1
Điều 470 BLTTDS 2015 quy định: “Những vụ án dân sự có yếu tố nước ngoài
sau đây thuộc thẩm quyền giải quyết riêng biệt của Tòa án Việt Nam: (a) Vụ án
liên quan đến quyền đối với bất động sản có trên lãnh thổ Việt Nam”. Nghĩa
là, chỉ Tòa án Việt Nam mới có thẩm quyền xét xử tranh chấp này, tòa án nước 8
ngoài không có quyền đối với bất động sản ở Việt Nam. Quy định này phù hợp
nguyên tắc chủ quyền lãnh thổ và thông lệ tư pháp quốc tế.
Thẩm quyền theo lãnh thổ trong nước: Do tài sản là bất động sản nằm
tại tỉnh Ninh Thuận, theo Điều 39(1)(c) BLTTDS 2015, “Đối tượng tranh
chấp là bất động sản thì chỉ Tòa án nơi có bất động sản có thẩm quyền giải
quyết”. Vì vậy, Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Thuận là tòa án cấp tỉnh có thẩm
quyền sơ thẩm vụ kiện này. Thực tế diễn ra đúng vậy: vụ án được TAND tỉnh
Ninh Thuận thụ lý sơ thẩm (năm 2007 và xử lại năm 2018). Về cấp xét xử phúc
thẩm, do đây là vụ việc có yếu tố nước ngoài, bản án sơ thẩm 2018 của Tòa tỉnh
đã được kháng cáo và đưa lên Tòa án nhân dân cấp cao tại TP.HCM để giải
quyết phúc thẩm (thay vì Tòa án cấp tỉnh khác như thông thường). Điều này phù
hợp Điều 48 BLTTDS (phúc thẩm vụ án do Tòa cấp cao xét nếu vụ việc thuộc
thẩm quyền cấp tỉnh và có yếu tố nước ngoài).
Tòa án Việt Nam có thẩm quyền đầy đủ trong vụ tranh chấp này: thẩm
quyền quốc tế lẫn lãnh thổ đều được xác định theo luật tố tụng Việt Nam và
phù hợp thông lệ. Nguyên đơn đã chọn khởi kiện tại Việt Nam, và bị đơn cư trú
tại Việt Nam, tài sản tại Việt Nam, nên không có cơ sở nào để tòa án nước
ngoài can thiệp. Việc bà N. từng lập luận đòi hủy án vì nguyên đơn “không
phải người Việt Nam” cũng không ảnh hưởng thẩm quyền (họ có quyền khởi
kiện như công dân Việt Nam theo luật pháp Việt Nam).
V. Xác định pháp luật áp dụng để giải quyết quan hệ sở hữu (xung đột pháp luật)
Quy tắc lex rei sitae – luật nơi có tài sản: Quan hệ tranh chấp ở đây là quyền
sở hữu nhà và quyền sử dụng đất tại Việt Nam, tức là quyền đối với bất động
sản trên lãnh thổ Việt Nam. Pháp luật Việt Nam tuân theo nguyên tắc luật nơi
có tài sản (lex rei sitae) để giải quyết xung đột pháp luật về quyền sở hữu. Cụ 9
thể, Điều 678(1) BLDS 2015 quy định: “Việc xác lập, thực hiện, thay đổi, chấm
dứt quyền sở hữu và quyền khác đối với tài sản được xác định theo pháp luật
của nước nơi có tài sản. Do đó, pháp luật Việt Nam sẽ được áp dụng để giải
quyết quan hệ sở hữu đối với căn nhà và đất nằm ở Việt Nam. Trong vụ án, mặc
dù nguyên đơn là người nước ngoài, nhưng tài sản tranh chấp đặt trên lãnh thổ
Việt Nam nên toàn bộ các vấn đề như: ai là chủ sở hữu hợp pháp, hiệu lực hợp
đồng ủy quyền, yêu cầu đòi lại tài sản… đều được xét theo luật Việt Nam.
Thực tế, Hội đồng xét xử phúc thẩm cũng đã căn cứ vào các quy định của
pháp luật Việt Nam (BLDS, Luật Đất đai, Luật Nhà ở, án lệ Việt Nam) để ra phán quyết.
Loại trừ trường hợp đặc biệt: Điều 678 cũng có khoản 2 về động sản trên
đường vận chuyển (luật nơi đến) nhưng không áp dụng ở đây. Tài sản tranh
chấp là bất động sản cố định, không nằm trong ngoại lệ nào. Do vậy nguyên tắc
lex rei sitae được áp dụng một cách “ăn chắc” trong bài toán xung đột pháp luật của vụ việc.
Áp dụng các quy định nội dung của pháp luật Việt Nam: Xác định pháp luật
Việt Nam là luật áp dụng mới là bước đầu; kế đó, Tòa án vận dụng các điều
khoản nội dung tương ứng để giải quyết. Một số điểm chính:
● Quyền sở hữu tài sản và bảo hộ quyền sở hữu: BLDS 2015 Điều 158
khẳng định quyền sở hữu bao gồm quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt
tài sản của chủ sở hữu; quyền sở hữu được pháp luật bảo hộ. Chủ sở hữu
hợp pháp có quyền yêu cầu chấm dứt mọi sự xâm phạm.
● Biện pháp bảo vệ quyền sở hữu: BLDS 2015 Điều 164 khoản 2 quy
định chủ sở hữu có quyền “yêu cầu tòa án buộc người có hành vi xâm
phạm quyền phải trả lại tài sản, chấm dứt hành vi cản trở trái pháp luật...
và bồi thường thiệt hại”. Trong vụ kiện, vợ chồng nguyên đơn (với tư 10
cách chủ sở hữu thực sự) đã thực hiện đúng quyền này: yêu cầu Tòa án
buộc bà N. trả lại căn nhà và đất cho họ, chấm dứt hành vi chiếm giữ
trái ý chí chủ sở hữu. Tòa án các cấp đã chấp nhận yêu cầu đòi lại tài sản,
dựa trên chứng cứ về nguồn tiền mua nhà do nguyên đơn bỏ ra và thỏa
thuận ủy quyền hạn chế cho bị đơn. Đây chính là áp dụng Điều 164(2)
BLDS 2015 để bảo vệ quyền sở hữu hợp pháp của nguyên đơn.
● Hợp đồng ủy quyền và giao dịch giả cách: Giấy ủy quyền ngày
12/09/1991 thực chất là để bà N. đứng tên sở hữu giúp, chứ không trao
quyền định đoạt thực sự. Tòa án đã hủy bỏ giấy ủy quyền này theo yêu
cầu nguyên đơn, vì mục đích ủy quyền đã không còn và việc bà N. vi
phạm cam kết (tự ý chiếm nhà) làm mất sự tin cậy. Việc hủy bỏ giao dịch
ủy quyền phù hợp quy định hủy bỏ giao dịch dân sự khi mục đích giao
dịch trái pháp luật hoặc giả tạo nhằm che giấu quan hệ khác (ở đây là che
giấu việc nhờ đứng tên sở hữu).
● Quyền sở hữu nhà ở của Việt kiều: Luật Nhà ở 2014 (áp dụng tại thời
điểm xét xử) có quy định về quyền sở hữu nhà ở của người Việt Nam
định cư ở nước ngoài. Theo Điểm a Khoản 1 Điều 10 Luật Nhà ở 2014,
chủ sở hữu nhà có quyền bất khả xâm phạm đối với nhà ở hợp pháp của
mình, được pháp luật bảo hộ. Dù nguyên đơn mang quốc tịch Pháp, họ
thuộc diện người gốc Việt nên pháp luật cho phép sở hữu nhà ở tại Việt
Nam (Luật Nhà ở 2014 mở rộng quyền sở hữu nhà cho Việt kiều). Tòa án
khi công nhận quyền sở hữu nhà cho nguyên đơn cũng viện dẫn Điều 10
Luật Nhà ở 2014 điểm a khoản 1 (bảo hộ quyền sở hữu hợp pháp).
● Quyền sử dụng đất: Đối với đất, Luật Đất đai 2013 Điều 186 quy định
về việc người Việt Nam định cư ở nước ngoài được đứng tên trên giấy
chứng nhận nếu thuộc đối tượng được sở hữu nhà ở tại VN. Bản án phúc 11
thẩm 2023 cũng dẫn chiếu Điều 186 Luật Đất đai 2013 như căn cứ pháp
luật, cho thấy tòa án xem xét tính hợp pháp việc nguyên đơn (Việt kiều)
nhận quyền sử dụng đất gắn liền với nhà ở.
Pháp luật Việt Nam được áp dụng trọn vẹn. Tòa án đã căn cứ vào luật thực
định Việt Nam để giải quyết: từ các nguyên tắc về quyền sở hữu, luật nhà ở, đất
đai, cho đến việc vận dụng án lệ Việt Nam số 02/2016 (liên quan đến phân chia
tài sản trong trường hợp nhờ người khác đứng tên). Điều này cho thấy sự nhất
quán với quy phạm xung đột pháp luật: tài sản ở Việt Nam => áp dụng luật Việt Nam.
VI. Vai trò của điều ước quốc tế Việt–Pháp trong giải quyết vụ án (tố tụng dân sự quốc tế)
Vụ án này có yếu tố nước ngoài, do đó các thủ tục tố tụng quốc tế (tống đạt
giấy tờ ra nước ngoài, thu thập chứng cứ ở nước ngoài) cần tuân theo các
điều ước mà Việt Nam là thành viên, nổi bật là Hiệp định tương trợ tư pháp
về các vấn đề dân sự giữa Việt Nam và Pháp (1999). Mặc dù điều ước quốc
tế không quyết định trực tiếp việc ai là chủ sở hữu tài sản, nhưng nó ảnh
hưởng lớn đến trình tự, thủ tục để đảm bảo quyền lợi của đương sự ở nước
ngoài. Dưới đây là các khía cạnh chính:
● Nguyên tắc ưu tiên áp dụng điều ước: Khoản 3 Điều 2 BLTTDS 2015
quy định rõ: “Trường hợp điều ước quốc tế mà CHXHCN Việt Nam là
thành viên có quy định khác thì áp dụng quy định của điều ước quốc tế
đó”. Do đó, khi Việt Nam và Pháp đã ký Hiệp định tương trợ tư pháp
1999, các thủ tục như tống đạt văn bản sang Pháp, ủy thác chứng cứ… sẽ
ưu tiên thực hiện theo hiệp định này (nếu khác với quy định trong
BLTTDS). Tòa án trong vụ án đã vận dụng đúng nguyên tắc: gửi ủy thác
tư pháp qua Bộ Tư pháp theo cơ chế hiệp định thay vì chỉ áp dụng máy 12
móc thủ tục niêm yết theo luật trong nước.
● Tống đạt giấy tờ tư pháp ra nước ngoài: Hiệp định tương trợ tư pháp
Việt–Pháp quy định cơ chế chuyển giao giấy tờ thông qua Cơ quan
trung ương của hai nước. Cụ thể, Điều 11 của Hiệp định: khi cần tống
đạt tài liệu của Tòa án cho người ở nước kia, tòa án sẽ gửi yêu cầu tống
đạt đến Bộ Tư pháp của nước được yêu cầu (kèm bản dịch). Điều 12: Bộ
Tư pháp nước được yêu cầu sẽ thực hiện việc tống đạt theo cách thức phù
hợp pháp luật nước mình và gửi lại chứng từ xác nhận đã tống đạt hoặc
không tống đạt được. Trong vụ này, Tòa án cấp cao TP.HCM đã lập hồ sơ
ủy thác tư pháp số 656/TTTPDS-TA ngày 01/6/2022 gửi Bộ Tư pháp Việt
Nam để nhờ Bộ Tư pháp Pháp tống đạt quyết định đưa vụ án ra xử
phúc thẩm và triệu tập cho nguyên đơn ở Pháp. Bộ Tư pháp Việt Nam đã
chuyển hồ sơ theo Hiệp định (công văn số 2110/CH-BTP ngày
12/7/2022). Tuy nhiên, phía Pháp không phản hồi kết quả (có lẽ do
không tìm được đương sự hoặc chậm trễ).
● Các phương thức tống đạt khác: Hiệp định Việt–Pháp không cấm sử
dụng các hình thức tống đạt bổ sung. Điều 13 cho phép mỗi nước tự tống
đạt cho công dân mình trên lãnh thổ nước kia qua đường ngoại giao hoặc
lãnh sự (không cưỡng chế). Điều 14 mở đường cho việc gửi trực tiếp tài
liệu cho đương sự bằng đường bưu điện bảo đảm có hồi báo, hoặc để
đương sự tự thực hiện việc tống đạt theo phương thức hợp pháp nơi
nhận. Trên thực tế, sau khi ủy thác chính thức không có kết quả, Tòa án
cấp cao đã gửi thẳng giấy triệu tập theo địa chỉ ở Pháp của nguyên đơn
và đồng thời niêm yết công khai tại địa chỉ cuối cùng của nguyên đơn
ở Việt Nam. Việc niêm yết nội địa là theo BLTTDS, kết hợp cùng việc
nguyên đơn đã có văn bản hợp pháp hóa lãnh sự gửi tòa án xin xét xử
vắng mặt. Như vậy, Tòa án đã tận dụng mọi kênh: cả kênh hiệp định lẫn 13
kênh bổ trợ (bưu điện, niêm yết) để đảm bảo thông báo thủ tục cho
nguyên đơn ở Pháp, phù hợp với Hiệp định (Điều 14) và BLTTDS.
● Thu thập chứng cứ, ủy thác tư pháp: Hiệp định quy định về ủy thác tư
pháp thu thập chứng cứ tại Điều 15: Tòa án một nước có thể nhờ Tòa
án nước kia tiến hành các biện pháp xác minh, thu thập chứng cứ cần
thiết cho vụ án. Hồ sơ ủy thác cần gửi qua cơ quan trung ương hai nước
(Điều 16) và được thực hiện theo pháp luật nước được yêu cầu. Trong vụ
này, việc thu thập chứng cứ chủ yếu diễn ra trong nước (giá nhà đất, xác
minh việc bán nhà cho ông H1). Tuy nhiên, nếu cần chứng cứ từ phía
nguyên đơn ở Pháp (ví dụ lời khai, tài liệu), tòa án Việt Nam có thể đã
vận dụng hiệp định. Thực tế, vợ chồng nguyên đơn không hợp tác cung
cấp thông tin giá bán nhà năm 2008, Tòa án đã cố gắng triệu tập người
mua (ông H1) làm chứng nhưng họ không cung cấp giá. Trường hợp này,
hiệp định không giúp được vì chứng cứ nằm trong nước (Phan Rang).
Nhưng nguyên tắc là nếu cần, tòa án Việt Nam hoàn toàn có thể ủy thác
cho tòa án Pháp lấy lời khai hay tài liệu của nguyên đơn.
● Bảo hộ tư pháp và bình đẳng tiếp cận tòa án: Điều 5 Hiệp định cam
kết công dân mỗi nước trên lãnh thổ nước kia được tiếp cận tòa án và
tham gia tố tụng bình đẳng như công dân sở tại. Điều này rất ý nghĩa:
ông L. và bà L1 tuy là người Pháp nhưng khi khởi kiện tại Việt Nam vẫn
được hưởng đầy đủ quyền tố tụng (không bị phân biệt). Thực tế, tòa án
Việt Nam đã thụ lý vụ kiện của họ như đối với công dân Việt; đồng thời,
bị đơn bà N. cũng được đảm bảo quyền lợi tranh tụng công bằng. Hiệp
định cũng miễn yêu cầu đặt cọc tiền đảm bảo cho người nước ngoài (Điều
6 – miễn “cược án phí”), nghĩa là nguyên đơn ở Pháp không phải nộp
khoản tiền đặc biệt nào chỉ vì ở nước ngoài. Điều này phù hợp Khoản 1
Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Việt Nam về án phí 14
(người cao tuổi, người nước ngoài thuộc diện được miễn án phí...) – thực
tế bà N. được miễn án phí do cao tuổi, còn nguyên đơn cũng được miễn tạm ứng án phí.
Tựu trung, điều ước Việt–Pháp đóng vai trò “hậu trường” quan trọng đảm
bảo thủ tục được thực hiện đúng pháp luật và quyền lợi của đương sự được
tôn trọng. Nó không can thiệp vào nội dung ai đúng ai sai, nhưng tạo khuôn
khổ pháp lý để Tòa án hai nước phối hợp. Trong vụ án, nhờ có hiệp định, Tòa
án VN đã: gửi hồ sơ ủy thác tống đạt quyết định xét xử phúc thẩm sang Pháp;
sau đó cân nhắc các phương án khác khi ủy thác không thành. Đây là minh
chứng cụ thể cho việc tuân thủ nguyên tắc Điều 2(3) BLTTDS 2015 (ưu tiên
điều ước quốc tế) kết hợp vận dụng linh hoạt luật trong nước.
VII. Lập luận của Tòa án và kết quả giải quyết (gắn với “quan hệ sở hữu”)
Quan điểm của các bên: Nguyên đơn khẳng định họ là chủ sở hữu thực sự
của nhà đất 409B Thống Nhất – toàn bộ tiền mua nhà là của họ, việc nhờ bà N.
đứng tên chỉ là do hạn chế pháp lý đối với Việt kiều thời điểm 1991. Họ có
chứng cứ là giấy ủy quyền và giấy giao nhận vàng tiền năm 1991, thể hiện rõ
thỏa thuận bà N. đứng tên giùm và không được tự ý định đoạt tài sản. Ngược
lại, bà N. lập luận căn nhà là tài sản của bà vì giấy chứng nhận mang tên bà, và
bà cho rằng số vàng tiền nhận từ cô chú (nguyên đơn) là họ “cho” bà làm ăn,
đổi lại họ chỉ có quyền về ở nhờ khi về nước. Bà N. thừa nhận có ký cam kết
không bán khi cô chú còn sống, nhưng khẳng định đó không phải tiền gửi mua
nhà mà là cho tặng riêng.
Nhận định của Tòa án về quyền sở hữu: Hội đồng xét xử đã xem xét kỹ
chứng cứ và diễn biến:
● Thứ nhất, các văn bản năm 1991 (Giấy mua bán nhà giữa người bán và
bà N., Giấy ủy quyền, Giấy giao nhận vàng) cho thấy: vợ chồng ông L. là 15
Việt kiều không thể đứng tên nên ủy quyền cho cháu là bà N. đứng tên
mua nhà 409B; đồng thời bà N. cam kết không được bán, cho thuê…
nếu chưa được ông bà đồng ý. Đặc biệt, giấy giao nhận vàng xác nhận
15 lượng vàng + 500.000đ để mua nhà là do vợ chồng ông L. giao cho bà N. mua hộ.
● Thứ hai, bà N. công nhận đã nhận vàng tiền và ký cam kết hạn chế bán
nhà. Người bán nhà (ông H2) cũng xác nhận thực tế là ông bán nhà cho
vợ chồng ông L., nhưng do họ là Việt kiều nên nhờ bà N. đứng tên. Bà N.
không đưa ra được chứng cứ nào chứng minh căn nhà do bà tự bỏ tiền
mua, ngoài lời khai một chiều. Vì vậy, Tòa kết luận “căn nhà bà N. đứng
tên mua… là từ nguồn tiền của vợ chồng bà L1 ủy quyền cho bà N. đứng tên giúp”.
● Thứ ba, Tòa khẳng định việc buộc bị đơn trả nhà cho nguyên đơn là
đúng pháp luật – điều này đã được xác quyết từ các bản án 2007 và cả
Quyết định giám đốc thẩm 2012 cũng nói rõ. Như vậy, quan hệ pháp
luật trọng tâm là quan hệ sở hữu tài sản: nguyên đơn là chủ sở hữu
thật, bị đơn chỉ là người giữ hộ nhưng lại chiếm hữu như chủ.
Giải pháp của Tòa án: Để giải quyết dứt điểm tranh chấp sở hữu này, Tòa án
cấp sơ thẩm 2018 và phúc thẩm 2023 đã đưa ra phán quyết cuối cùng:
1. Hủy bỏ giấy ủy quyền 12/9/1991 – điều này xóa đi căn cứ pháp lý mà
trước đây cho phép bà N. quản lý nhà, khôi phục lại quyền định đoạt trọn
vẹn cho chủ sở hữu thật (nguyên đơn).
2. Công nhận quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đất cho vợ chồng bà
L1, ông L. – xác định họ mới là chủ sở hữu hợp pháp của tài sản. Đồng 16
thời kiến nghị hủy giấy chứng nhận cũ mang tên bà N.
3. Buộc bà N. giao trả nhà và đất cho nguyên đơn – về thực tế bà N. đã
giao nhà từ 2008 nên nghĩa vụ này coi như đã thi hành xong. Đây là biện
pháp trả lại tài sản cho chủ sở hữu theo Điều 164 BLDS, chấm dứt
hoàn toàn việc bị đơn chiếm hữu tài sản không hợp pháp.
4. Buộc nguyên đơn thanh toán tiền “công sức” và chi phí sửa chữa cho
bà N. – đây là điểm khác biệt so với phán quyết ban đầu. Theo chỉ đạo
giám đốc thẩm 2012 và án lệ 02/2016/AL, Tòa chia đôi phần giá trị tăng
thêm của tài sản trong giai đoạn bà N. đứng tên giúp. Cụ thể tính ra mỗi
bên hưởng 713 triệu đồng từ phần chênh lệch giá (tài sản tăng giá so với
vốn gốc 15 lượng vàng). Tòa buộc nguyên đơn trả số tiền này cho bà N.
(coi như đền bù công giữ hộ và các đóng góp khác), kèm 12 triệu đồng
tiền sửa nhà bà N. bỏ ra. Biện pháp này về pháp lý là nhằm hoàn trả
những lợi ích bà N. được hưởng do tài sản tăng giá mà bà đã góp
phần bảo toàn, đảm bảo sự công bằng cho bên đứng tên hộ.
Phán quyết trên giải quyết trọn vẹn quan hệ sở hữu: quyền sở hữu tài sản được
trả lại cho chủ đích thực (nguyên đơn), còn bên giữ hộ (bị đơn) được bồi hoàn
một khoản tương xứng công sức đóng góp. Tòa án đã làm rõ bản chất tranh
chấp không phải “hợp đồng tặng cho hay cho vay” gì giữa hai bên, mà chính là
tranh chấp ai là chủ sở hữu thật sự của nhà đất. Vợ chồng nguyên đơn đòi lại
nhà = yêu cầu đòi lại tài sản thuộc quyền sở hữu hợp pháp của họ. Bà N.
chiếm giữ nhà = hành vi xâm phạm quyền sở hữu. Do đó, vụ án đúng là tranh
chấp về quyền sở hữu tài sản (bên nào là chủ sở hữu hợp pháp) kết hợp yêu
cầu về hợp đồng ủy quyền. Kết luận của tòa đã khẳng định nguyên đơn là chủ
sở hữu, giải quyết dứt điểm tranh chấp sở hữu này. 17
VIII. Nhận xét – đánh giá
1. Về thẩm quyền và xung đột pháp luật: Việc Tòa án Việt Nam thụ lý và giải
quyết vụ án là hoàn toàn chính xác theo quy định pháp luật. Thẩm quyền xét
xử được xác định đúng: tài sản bất động sản ở VN => Tòa án VN có thẩm
quyền riêng biệt; Tòa án nơi có tài sản (Ninh Thuận) xử sơ thẩmt; Tòa án cấp
cao xử phúc thẩm vụ án có yếu tố nước ngoài. Không có xung đột thẩm quyền
với tòa án nước khác. Về luật áp dụng, Tòa án cũng tuân thủ nghiêm chỉnh
nguyên tắc xung đột: áp dụng luật Việt Nam (lex situs) cho quan hệ sở hữu
nhà đất. Không có tình huống phải áp dụng luật nước ngoài, vì đối tượng tranh
chấp hoàn toàn nằm ở Việt Nam. Đây là một điểm hợp lý và phù hợp thông lệ
chung (tranh chấp bất động sản luôn áp luật nơi có bất động sản).
2. Về áp dụng pháp luật nội dung: Tòa án các cấp đã vận dụng đúng các quy
định bảo vệ quyền sở hữu trong BLDS 2015. Yêu cầu đòi lại nhà của nguyên
đơn dựa trên quyền cơ bản của chủ sở hữu được quy định tại Điều 164(2) BLDS
– điều này tòa đã chấp thuận và thực hiện. Việc hủy bỏ giấy ủy quyền cũng
phù hợp vì bản chất giao dịch ủy quyền này chỉ nhằm lách luật (cho Việt kiều
nhờ đứng tên) nên có thể coi là giả tạo che đậy quan hệ gửi giữ tài sản – hủy bỏ
để xác định lại đúng quan hệ thật. Tòa cũng chiếu Luật Nhà ở 2014 và Luật
Đất đai 2013 để đảm bảo nguyên đơn đủ điều kiện đứng tên sở hữu nhà đất (sau
nhiều sửa đổi pháp luật, đến 2014, người Việt định cư nước ngoài thuộc diện
được sở hữu nhà ở như công dân trong nước nếu có điều kiện nhất định). Điều
này giải tỏa về mặt luật: nguyên đơn là Việt kiều nhưng được quyền đứng tên sở
hữu nhà đất như công dân Việt, do đó việc tuyên quyền sở hữu cho họ không
trái luật. Nhìn chung, cách áp dụng luật của Tòa án là đúng và chặt chẽ.
3. Về thủ tục tố tụng quốc tế: Tòa án đã thực hiện đúng quy trình ủy thác tư
pháp khi đương sự ở Pháp. Dù kết quả tống đạt qua Bộ Tư pháp Pháp không
thành, Tòa đã linh hoạt dùng các phương thức khác (gửi thư, niêm yết). Quan 18
trọng, nguyên đơn đã có đơn đề nghị xử vắng mặt nên việc xét xử vắng mặt
hoàn toàn hợp lệ (theo Điều 296 BLTTDS). Tòa cấp cao cũng ghi nhận Bộ Tư
pháp VN trả lời đã thực hiện ủy thác theo đề nghị, đây là bằng chứng tòa tuân
thủ hiệp định. Điều này cho thấy quyền tranh tụng của nguyên đơn ở nước
ngoài được đảm bảo – họ được thông báo và chính họ tự nguyện xin vắng mặt.
Bị đơn trong nước thì có luật sư bảo vệ và đã tham gia đầy đủ phiên tòa, có cơ
hội trình bày. Vì thế, xét toàn diện, quyền tiếp cận công lý của cả hai bên đều
được tôn trọng (phù hợp Điều 5 Hiệp định tương trợ tư pháp: bình đẳng công
dân hai nước trước tòa án).
4. Về việc áp dụng án lệ và bảo đảm công bằng: Điểm nổi bật là Tòa án đã áp
dụng Án lệ số 02/2016/AL của TANDTC để giải quyết vấn đề “công sức” của
người đứng tên giùm. Án lệ này (rút ra từ một vụ tương tự) hướng dẫn chia đôi
phần chênh lệch giá tài sản khi giải quyết tranh chấp đứng tên hộ. Việc áp dụng
án lệ đảm bảo thống nhất đường lối xét xử và thể hiện sự tiến bộ của tư pháp
Việt Nam trong việc sử dụng án lệ. Nhờ đó, phán quyết công bằng hơn: bị đơn
không bị tước trắng tài sản mà được nhận bồi hoàn tương xứng. Đây là một yếu
tố tích cực, cho thấy Tòa án đã đáp ứng tinh thần giám đốc thẩm 2012 và án
lệ, chứ không máy móc chỉ bảo vệ chủ sở hữu mà bỏ qua đóng góp của bên giữ
hộ. Kết quả này nhìn chung hài hòa lợi ích: nguyên đơn lấy lại tài sản (hoặc giá
trị tài sản, vì họ đã bán rồi) nhưng phải chia cho bị đơn phần giá trị tăng mà bản
thân bị đơn góp công giữ gìn.
5. Một vài vấn đề cần lưu ý: Vụ án kéo dài hơn 20 năm (1999-2023), qua
nhiều cấp xét xử, cho thấy tính phức tạp của loại tranh chấp này. Có thể rút ra
bài học pháp lý: trước đây do hạn chế pháp luật, nhiều Việt kiều phải nhờ
người khác đứng tên tài sản, dẫn đến rủi ro tranh chấp. Hiện nay, pháp luật đã
mở hơn (Việt kiều được đứng tên trực tiếp), nhưng tranh chấp quá khứ còn tồn
đọng cần giải quyết thấu tình đạt lý. Trong vụ này, Tòa án cấp cao đã đạt được
điều đó ở phán quyết cuối. Việc không đưa người mua thứ ba (ông H1) vào 19