Mục lục
CHƯƠNG 1: CÁCH MẠNG GIẢI PHÓNG DÂN TỘC MUỐN THẮNG LỢI PHẢI ĐI THEO
CON ĐƯỜNG CÁCH MẠNG VÔ SẢN..................................................................................................2
1.1. Cơ sở lý luận....................................................................................................................................2
1.1.1 Cách mạng vô sản.....................................................................................................................2
1.2.2 Cách mạng giải phóng dân tộc.................................................................................................2
1.2. Cơ sở khách quan...........................................................................................................................2
1.2.1. Bối cảnh thế giới.......................................................................................................................2
1.2.2. Bối cảnh trong nước................................................................................................................2
1.3. Nguyễn Ái Quốc và lựa chọn con đường cách mạng vô sản........................................................3
1.3.1. Bài học từ sự thất bại của các bậc tiền bối.............................................................................3
1.3.2. Tính chất “không đến nơi” của cách mạng tư sản................................................................4
1.3.3. Nhận thức về chủ nghĩa Mác - Lênin.....................................................................................5
1.4. Con đường cách mạng vô sản ở Việt Nam....................................................................................5
Chương 2: “ Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu”..................................................................................7
2.1. Cơ sở lý luận....................................................................................................................................7
2.2. Bối cảnh lịch sử Việt Nam..............................................................................................................7 Tài liệu tham khảo
CHƯƠNG 1: CÁCH MẠNG GIẢI PHÓNG DÂN TỘC MUỐN THẮNG
LỢI PHẢI ĐI THEO CON ĐƯỜNG CÁCH MẠNG VÔ SẢN. 1.1. Cơ sở lý luận 1.1.1 Cách mạng vô sản
- Cách mạng vô sản là cuộc đấu tranh do giai cấp vô sản lãnh đạo, dùng bạo lực
cách mạng để lật đổ ách thống trị của giai cấp tư sản, lập nên chế độ xã hội chủ nghĩa.
- Ví dụ: Cách mạng tháng Mười Nga năm 1917 là cuộc cách mạng vô sản tiêu biểu
ở thế kỉ XX. Đây là cuộc cách mạng đã lật đổ chính quyền của giai cấp tư sản và
lập nên nhà nước xã hội chủ nghĩa đầu tiên trên thế giới.
1.2.2 Cách mạng giải phóng dân tộc
- Cách mạng giải phóng dân tộc là cuộc đấu tranh của các dân tộc bị áp bức nhằm
lật đổ ách thống trị của đế quốc, thực dân và giành lại độc lập dân tộc. 1.2. Cơ sở khách quan
1.2.1. Bối cảnh thế giới
- Cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX, lịch sử thế giới có nhiều biến đổi hết sức to lớn.
Chủ nghĩa tư bản chuyển từ giai đoạn cạnh tranh sang độc quyền và nắm giữ,
thống trị hầu hết trên thế giới. Chủ nghĩa tư bản đã trở thành kẻ thù chung của
nhân dân các nước thuộc địa.
- Trên thế giới xuất hiện, nổi lên nhiều cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản nhằm lật
đổ ách thống trị của giai cấp tư sản. Điển hình là cuộc cách mạng tháng Mười nga
(1917) giành thắng lợi đã tác động mạnh mẽ đến các nước thuộc địa, trong đó có
Việt Nam. Ngoài thắng lợi của cách mạng tháng Mười Nga còn có sự thành lập
Quốc tế Cộng sản, sự ra đời của các đảng cộng sản (Pháp, Trung Quốc) không chỉ
cổ vũ nhân dân ta đấu tranh gành độc lập mà còn tạo ra những điều kiện thuận lợi
trong việc truyền bá chủ nghĩa Mác – Lênin vào Việt Nam. Thắng lợi này khiến
cho chủ nghĩa tư bản không còn là hệ thống duy nhất trên thế giới, khiến cục diện
thế giới có những thay đổi sâu sắc.
1.2.2. Bối cảnh trong nước
- Tại Việt Nam, cuối thế kỉ XIX, thực dân Pháp đã hoàn thành xâm lược, xã hội
xuất hiện hai mâu thuẫn cơ bản: mâu thuẫn dân tộc (giữa toàn thể dân tộc Việt
Nam với thực dân Pháp xâm lược) và mâu thuẫn giai cấp (Trong đó chủ yếu là
mẫu thuẫn giữa nông dân với địa chủ phong kiến). Muốn xã hội phát triển cần giải
quyết được hai mâu thuẫn cơ bản đó.
- Đầu thế kỉ XX, một phong trào yêu nước mới nảy sinh theo khuynh hướng dân
chủ tư sản, tiêu biểu là Phan Bội Châu (xu hướng bạo động) và Phan Châu Trinh
(xu hướng cải cách) nhưng do mắc phải những sai lầm nên đều thất bại.
- Sự sai lầm của văn thân sĩ phu yêu nước cuối thế kỉ XIX cũng như các sĩ phu yêu
nước đầu thế kỉ XX là hạn chế của lịch sử và thời đại. Thời kì này chưa đủ điều
kiện ra đời những giai cấp tiên tiến lãnh đạo cách mạng: tầng lớp tư sản, tiểu tư
sản yếu ớt, lệ thuộc; giai cấp nông dân không thể trở thành giai cấp lãnh đạo bởi vì
nông dân có hạn chế về tư hữu, sản xuất nhỏ, không có hệ tư tưởng riêng; giai cấp
công nhân lúc đó chưa được trang bị tư tưởng, lí luận cách mạng của chủ nghĩa Mác – Lênin.
- Trong thời gian đó, một sự kiện đã ảnh hưởng mạnh mẽ tới đường lối giải phóng
dân tộc của Nguyễn Ái Quốc, đó là sự thắng lợi của cách mạng tháng Mười Nga
(1917). Từ đó, Nguyễn Ái Quốc từng bước hình thành nên lí luận cách mạng giải
phóng dân tộc và truyền bá về Việt Nam.
1.3. Nguyễn Ái Quốc và lựa chọn con đường cách mạng vô sản.
1.3.1. Bài học từ sự thất bại của các bậc tiền bối
- Từ lúc trạc 13 tuổi, người thanh niên xứ Nghệ đã nói: “muốn làm quen với nền
văn minh Pháp, muốn tìm xem những gì ẩn đằng sau những chữ ấy”[1]
- Tới năm 1919, người thanh niên ấy đã đưa ra một quyết định lịch sử đó là ra đi tìm
đường cứu nước, vậy điều gì đã khiến Nguyễn Tất Thành – người thanh niên
mang trong mình sức trẻ với hoài bão tìm ra con đường giải phóng dân tộc:
+ Trước hết, xuất phát từ yêu cầu của sự nghiệp đấu tranh giành độc lập dân tộc: từ
khi Pháp xâm lược Việt Nam, phong trào đấu tranh chống Pháp của nhân dân ta diễn
ra sôi nổi và liên tục, với tinh thần “người trước ngã, người sau đứng dậy”. Đã có
nhiều phong trào đấu tranh theo khuynh hướng phong kiến và tư sản diễn ra cuối thế
kỉ XIX – đầu thế kỉ XX nhưng đều thất bại. Việt Nam đứng trước yêu cầu cần thiết
phải tìm ra một con đường cứu nước mới. Điều đó đã thôi thúc lòng yêu nước của mọi
người dân Việt Nam, trong đó có Nguyễn Tất Thành.
+ Thứ hai, do sự hấp dẫn của văn minh nhân loại, nhất là khẩu hiệu “Tự do – Bình
đẳng – Bác ái”: sinh ra và lớn lên trong một gia đình giàu truyền thống Nho học,
Nguyễn Tất Thành chịu ảnh hưởng sâu sắc của văn hóa phương Đông, nhưng ở người
thanh niên trẻ không có sự chối bỏ hay mâu thuẫn với văn hóa phương Tây. Với tư
duy văn hóa mở, Nguyễn Tất Thành nhận thấy được sự phong phú của các nền văn
hóa. Tháng 9 – 1905, Nguyễn Tất Thành được theo học lớp dự bị (preparatoire)
Trường Tiểu học Pháp – bản xứ ở Vinh. Tại đây, người thanh niên ấy được tiếp xúc
với khẩu hiệu TỰ DO - BÌNH ĐẲNG – BÁC ÁI. Ngoài ra, Nguyễn Tất Thành còn
đọc được một số tờ báo phát hành sang Việt Nam nên nảy ý muốn sang xem “mẫu
quốc” ra sao. Ý nghĩ đi sang phương Tây để hiểu tình hình các nước và học hỏi thành
tự văn minh nhân loại từng bước len lỏi trong tâm trí Người.[2]
+ Cuối cùng, nhờ trí tuệ và sự nhạy cảm về chính trị, Nguyễn Tất Thành nhận thấy sự
cần thiết phải tìm con đường mới: nhận thấy được hạn chế trong phong trào cứu nước
của các vị tiền bối. Sự tan rã của phong trào Đông Du đã chứng tỏ ta không thể dựa
vào Nhật để đánh Pháp, điều đó chẳng khác gì “đuổi hổ cửa trước, rước beo cửa sau”.
Cùng với đó, sự thất bại của phong trào Duy tân cũng cho thấy việc trông chờ vào
thiện chí của người Pháp để được trao trả độc lập cũng giống như “xin giặc rủ lòng
thương”. Khởi nghĩa của Hoàng Hoa Thám tuy có phần thực tế hơn “nhưng vẫn mang
nặng cốt cách phong kiến”. Chính vì vậy, mặc dù rất khâm phục con đường cứu nước
của các bậc tiền bối, nhưng Nguyễn Tất Thành không đi theo con đường của họ mà đã
chọn cho mình một hướng đi riêng, chính là sang phương Tây.[3]
Nhìn chung, các phong trào yêu nước của các vị tiền bối đi trước tuy đã có sự tiến
bộ hơn so với giai đoạn trước nhưng đều chưa thành công bởi nhiều nguyên do. Các
phong trào yêu nước và các tổ chức đều có hạn chế trong giai cấp, đường lối chính trị,
hệ thống tổ chức chặt chẽ, chưa tập hợp được đông đảo các lực lương của dân tộc,
chưa xác định được lực lượng nòng cốt của cách mạng. Các cuộc đấu tranh diễn ra
trong thế bị động, dễ dàng bị Pháp đàn áp, dập tắt. Các cuộc đấu tranh còn diễn ra lẻ
tẻ, đa số mang tính tự phát, trong nội bộ vẫn còn sự chia rẽ. Đồng thời, các cuộc đấu
tranh còn diễn ra trong bối cảnh lực lượng giữa ta và địch không cân tài cân sức (địch
còn mạnh, ta chưa có chính Đảng lãnh đạo). Tuy thất bại nhưng các phong trào ấy đã
thể hiện, tiếp nối truyền thống yêu nước của dân tộc.
1.3.2. Tính chất “không đến nơi” của cách mạng tư sản
- Không những rút ra kinh nghiệm, học hỏi từ thất bại của các bậc tiền bối trong nước mà
người thanh niên xứ Nghệ còn có tầm nhìn rộng ra ngoài thế giới với những cuộc cách
mạng trên thế giới, đó là cuộc cách mạng ở các nước tư bản chủ nghĩa với điển hình là
cuộc cách mạng tư sản Pháp và Mỹ. Với tầm nhìn ra thế giới, Người đã rút ra được bài
học và bản chất của cuộc cách mạng tư sản Pháp (1789), cách mạng tư sản Mỹ (1776).
Từ đó, Nguyễn Ái Quốc nhận thấy tính chất “không đến nơi” của cách mạng tư sản.
- Khi sang Mỹ, sau khi tìm hiểu cuộc đấu tranh giành độc lập của nhân dân Mỹ với bản
tuyên ngôn độc lập nổi tiếng, Người đã thấy được ở cách mạng Mỹ một số giá trị tích cực
tuy nhiên cũng phê phán tính chất nửa vời, không triệt để của cuộc cách mạng này. Năm
1919, sau khi đưa bản Yêu sách của nhân dân An Nam gửi tới hội nghị Véc – sai không
được xem xét Người đã kết luận “Muốn được giải phóng, các dân tộc chỉ có thể trông cậy
vào mình, trông cậy vào lực lượng của bản thân mình”. Cùng với đó, Nguyễn Ái Quốc đã
phân tích tính chất cuộc cách mạng tư sản Pháp và nhận thấy hai cuộc cách mạng tư sản
này đều không thể áp dụng vào nước ta. Bởi, lực lượng chủ yếu tham gia cuộc cách mạng
là công – nông nhưng khi cách mạng thành công người hưởng thành quả lớn nhất lại nằm
trong tay một nhóm người, mà chủ yếu là giai cấp tư sản. Đại đa số quần chúng – những
người đã làm nên thắng lợi lại không được hưởng những thành quả đó. Hơn nữa, giai cấp
tư sản còn tìm mọi cách hạn chế quyền bầu cử của quần chúng nhân dân nghèo, chỉ người
có tài sản cao mới được đi bầu nên số lượng người đi bầu cử rất ít. Về quyền tự do, trong
Bấm Tải xuống để xem toàn bộ.