-
Thông tin
-
Quiz
Từ việc phân tích lý luận về quy luật phù hợp giữa quan hệ sản xuất với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, hãy vận dụng vào việc thực hiện nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam| Tiểu luận hết môn triết học mác lênin
Nền văn minh nhân loại suy cho cùng là do sự phát triển đúng hướng của lực lượng sản xuất quyết định. Do đó việc nghiên cứu quy luật vận động và những hình thức phát triển của lực lượng sản xuất là một vấn đề hết sức quan trọng. Tài liệu giúp bạn tham khảo, ôn tập và đạt kết quả cao. Mời đọc đón xem!
Triết học Mác-Lênin (philosophy) 99 tài liệu
Học viện Báo chí và Tuyên truyền 2.1 K tài liệu
Từ việc phân tích lý luận về quy luật phù hợp giữa quan hệ sản xuất với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, hãy vận dụng vào việc thực hiện nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam| Tiểu luận hết môn triết học mác lênin
Nền văn minh nhân loại suy cho cùng là do sự phát triển đúng hướng của lực lượng sản xuất quyết định. Do đó việc nghiên cứu quy luật vận động và những hình thức phát triển của lực lượng sản xuất là một vấn đề hết sức quan trọng. Tài liệu giúp bạn tham khảo, ôn tập và đạt kết quả cao. Mời đọc đón xem!
Môn: Triết học Mác-Lênin (philosophy) 99 tài liệu
Trường: Học viện Báo chí và Tuyên truyền 2.1 K tài liệu
Thông tin:
Tác giả:




















Tài liệu khác của Học viện Báo chí và Tuyên truyền
Preview text:
Đề bài: Từ việc phân tích lý luận về quy luật phù hợp giữa quan hệ sản xuất
với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, hãy vận dụng vào việc thực hiện
nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. BÀI LÀM
Nền văn minh nhân loại suy cho cùng là do sự phát triển đúng hướng của lực
lượng sản xuất quyết định. Do đó việc nghiên cứu quy luật vận động và những
hình thức phát triển của lực lượng sản xuất là một vấn đề hết sức quan trọng .
Thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam là thời kỳ cải biến cách mạng
sâu sắc, toàn diện và triệt để về mọi mặt. Từ xã hội cũ sang xã hội mới XHCN.
Thời kỳ đó bắt đầu từ khi giai cấp vô sản lên nắm chính quyền. Cách mạng vô sản
thành công vang dội và kết thúc khi đã xây dựng xong cơ sở kinh tế chính trị tư
tưởng của xã hội mới. Đó là thời kỳ xây dựng từ lực lượng sản xuất mới dẫn đến
quan hệ sản xuất mới, quan hệ sản xuất mới hình thành lên các quan hệ sở hữu mới.
Thời kỳ trước đổi mới, do nhận thức và hành động giản đơn, chủ quan, duy ý
chí, không xuất phát từ thực tiễn khách quan nên nhiều quy luật của thời kỳ quá độ,
trong đó có quy luật về quan hệ sản xuất phải phù hợp với trình độ phát triển của
lực lực lượng sản xuất chưa được Đảng ta nhận thức và vận dụng đúng đắn trong
thực tiễn dẫn đến khủng hoảng kinh tế- xã hội. Từ 1986 đến nay, Đảng ta đã có
nhận thức mới về các quy luật khách quan của thời kỳ quá độ; từng bước làm rõ
các đặc trưng, đặc điểm các mối quan hệ của nền kinh tế thị trường định hướng
XHCN, trong đó có quan hệ “giữa phát triển lực lượng sản xuất và xây dựng, hoàn
thiện từng bước quan hệ sản xuất XHCN”.
Hiện nay đang có một số quan điểm, nhận thức khác nhau về mối quan hệ giữa
lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, thậm chí có những quan điểm xuyên tạc,
phủ nhận chủ nghĩa Mác- Lênin về mối quan hệ biện chứng của quy luật cơ bản
này. Việc nhận thức, vận dụng mối quan hê [ này phù hợp với thực tiễn Việt Nam sẽ
góp phần thực hiện thành công mục tiêu vì “ Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công
bằng, văn minh” vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội.
1. Đôi nét về phương thức sản xuất, lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất
a. Phương thức sản xuất
Sản xuất vật chất được tiến hành bằng phương thức sản xuất nhất định. Phương
thức sản xuất là cách thức con người thực hiện quá trình sản xuất vật chất ở những
giai đoạn nhất định trong lịch sử tồn tại và phát triển của xã hội loài người. Phương
thức sản xuất đóng vai trò nhất định đối với tất cả mọi mặt trong đời sống kinh tế
xã hội. Phương thức sản xuất chính là sự thống nhất giữa lực lượng sản xuất ở một
trình độ nhất định và quan hệ sản xuất tương ứng.
b. Lực lượng sản xuất
Khái niệm lực lượng sản xuất đã được nhiều học giả trước Mác nêu ra, nhưng lại
được kiến giải một cách duy tâm. Khái niệm này chỉ được kiến giải một cách khoa
học lần đầu tiên vào tháng 3-1845, khi Mác viết tác phẩm Về cuốn sách của
Phiđrích Lixtơ “Học thuyết dân tộc về kinh tế chính trị học”. Ở đây, Các Mác chỉ
ra tính chất duy tâm trong lý luận của Lixtơ, vạch trần tính chất tư sản của lý luận
đó. Các Mác chỉ ra rằng: lực lượng sản xuất không phải là cái “bản chất tinh thần”
nào đó như Lixtơ nghĩ ra, mà là một sức mạnh vật chất. Ông viết: “Để xua tan
vầng hào quang thần bí có tác dụng cải biến “sức sản xuất”, chỉ cần mở ra bản tổng
quan thống kê đầu tiên ta gặp là đủ. Ở đó có nói về sức nước, sức hơi nước, sức
người, sức ngựa. Tất cả những thứ ấy đều là “lực lượng sản xuất”.
Khi phân tích các yếu tố của lực lượng sản xuất C. Mác sử dụng nhiều cách
phân loại khác nhau như: phân loại theo công dụng của lực lượng sản xuất thành tư
liệu sản xuất và sức lao động. Trong tư liệu sản xuất lại bao gồm: tư liệu lao động (
công cụ lao động, phương tiện lao động) và đối tượng lao động; hoặc phân loại
theo chủ thể sức sản xuất thành sức sản xuất tự nhiên và sức sản xuất của con người.
Theo cách phân chia thứ nhất, C. Mác cho rằng, khi xem xét quá trình lao động
một cách trừu tượng, không phụ thuộc vào các hình thức lịch sử của nó, như là một
quá trình giữa người và tự nhiên, thì “Nếu đứng về mặt kết quả của nó, tức là đứng
về mặt sản phẩm mà xét toàn bộ quá trình, thì cả tư liệu lao động lẫn đối tượng lao
động đều biểu hiện ra là tư liệu sản xuất, còn bản thân lao động thì biểu hiện ra là
lao động sản xuất…. Định nghĩa này về lao động sản xuất, xét trên quan điểm của
một quá trình lao động giản đơn”.
Theo cách phân chia thứ hai, “con người, với tính cách lực lượng sản xuất,
không những sáng tạo ra của cải vật chất, mà cùng với sức sản xuất tự nhiên trở
thành lực lượng cách mạng thúc đẩy sự phát triển của xã hội”.
C. Mác cho rằng sức sản xuất tự nhiên là tiền đề cho mọi quá trình sản xuất.
Ông viết: “Nếu không nói đến hình thái ít nhiều phát triển của nền sản xuất xã hội,
thì năng suất lao động gắn liền với những điều kiện tự nhiên... Về mặt kinh tế,
những điều kiện tự nhiên ở bên ngoài chia thành hai loại lớn: sự phong phú tự
nhiên về những tài nguyên dùng làm tư liệu sinh hoạt, nghĩa là tính chất màu mỡ
của đất đai, những dòng nước lắm cá, v.v., và sự phong phú tự nhiên về những tài
nguyên dùng làm tư liệu lao động như thác nước chảy xiết, sông ngòi mà thuyền bè
có thể đi lại được, gỗ, kim loại, than đá, v.v.. Vào buổi đầu của nền văn minh, loại
tài nguyên thứ nhất có ý nghĩa quyết định, ở giai đoạn phát triển cao hơn thì loại tài
nguyên thiên nhiên thứ hai có ý nghĩa quyết định”. Tuy nhiên, C. Mác nhấn mạnh
rằng sức sản xuất tự nhiên không đóng vai trò quyết định sự phát triển theo chiều
hướng tiến bộ (tức chiều hướng phát triển nhờ tăng năng suất lao động xã hội),
ngược lại, “Một thiên nhiên quá hào phóng sẽ dắt con người đi như dắt tay một đứa
trẻ em mới tập đi. Nó không làm cho sự phát triển của con người thành một sự tất yếu tự nhiên”.
C. Mác đề cao sức sản xuất của con người. Ông viết: “Chính sự cần thiết phải có
sự kiểm soát của xã hội đối với một lực lượng nào đó của tự nhiên để tiết kiệm nó,
chính sự cần thiết phải chiếm lấy nó hoặc phải thuần thục nó bằng những công
trình đại quy mô do bàn tay con người dựng nên, - chính sự cần thiết đó đã đóng
một vai trò hết sức quyết định trong lịch sử công nghiệp”.
Tóm lại, những luận điểm cơ bản về lực lượng sản xuất của C.Mác và
Ph.Ăngghen vẫn còn nguyên giá trị và có ý nghĩa thời đại được đúc kết như sau:
- Lực lượng sản xuất biểu hiện mối quan hệ giữa con người với tự nhiên, phản
ánh khả năng con người chinh phục tự nhiên bằng các sức mạnh hiện thực của
mình, sức mạnh đó được khái quát thành lực lượng sản xuất. Trình độ của lực
lượng sản xuất biểu hiện của trình độ chinh phục tự nhiên của con người, lực lượng
sản xuất nói lên năng lực thực tế của con người trong quá trình sản xuất tạo ra của
cải vật chất cho xã hội bảo đảm nhu cầu của con người. Để tiến hành sản xuất thì
con người phải dùng các yếu tố vật chất, kỹ thuật nhất định. Tổng thể các yếu tố ấy
là lực lượng sản xuất, bao gồm:
Sức lao động, bao gồm ba yếu tố: thể lực, trí lực và kỹ năng lao động. Lao động
không chỉ bao gồm công nhân trực tiếp, mà còn gồm cả công nhân gián tiếp và các
nhà quản lý. Cùng với quá trình phát triển của khoa học và công nghệ, tỷ lệ đội ngũ
công nhân gián tiếp tăng lên.
Tư liệu sản xuất là những điều kiện cần thiết để tổ chức sản xuất, bao gồm tư
liệu lao động và đối tượng lao động. Tư liệu lao động là yếu tố vật chất sản xuất
mà con người dựa vào đó tác động lên đối tượng lao động. Đối tượng lao động là
yếu tố vật chất của sản xuất mà lao động của con người cùng với tư liệu lao động
tác động lên làm biến đổi hình dáng, tính chất vật lý... của đối tượng lao động.
Trong tư liệu lao động có công cụ sản xuất là nhân tố quyết định và một bộ phận là
vật chuyển dẫn, là những điều kiện sản xuất chung, được gọi là kết cấu hạ tầng
(như đường sá, bến cảng, hệ thống điện, viễn thông...). Trong quá trình phát triển,
hệ thống kết cấu hạ tầng ngày càng trở nên quan trọng và có vai trò quyết định đối
với toàn bộ quá trình sản xuất và sức sản xuất của nền sản xuất xã hội.
Khoa học kỹ thuật là một bộ phận của lực lượng sản xuất. Nó là cái cốt lõi, yếu
tố quyết định trình độ của lực lượng sản xuất.
Lực lượng sản xuất tồn tại một cách khách quan, người ta không được tự do lựa
chọn lực lượng sản xuất cho mình... “Vì mọi lực lượng sản xuất là lực lượng đã đạt
được, tức là một sản phẩm của một hoạt động đã qua... không phải do họ tạo ra, mà
do thế hệ trước tạo ra... Mỗi thế hệ sau đã có sẵn những lực lượng sản xuất do
những thế hệ trước đây dựng lên và được thế hệ mới dùng làm nguyên liệu cho sự
sản xuất mới". Do vậy, lực lượng sản xuất là có tính kế thừa và phát triển.
- Trong 3 yếu tố cấu thành lực lượng sản xuất thì người lao động là yếu tố quyết
định nhất, quan trọng nhất bởi con người lao động chế tạo ra tư liệu lao động, và
một phần đối tượng lao động, đồng thời là người sử dụng, phát huy vai trò của tư
liệu lao động, công cụ lao động. Ngay khoa học - kỹ thuật là yếu tố cốt lõi của lực
lượng sản xuất, nhưng tự bản thân khoa học không thể gây ra bất kỳ sự tác động
tích cực hay tiêu cực nào đối với thế giới, mà phải thông qua sự vận dụng vào hoạt
động thực tiễn của con người thì nó mới phát sinh tác dụng.
- Trình độ phát triển của lực lượng sản xuất của một dân tộc biểu lộ rõ nhất ở
trình độ phát triển của phân công lao động.
- Lực lượng sản xuất có vai trò chức năng sáng tạo ra của cải vật chất và là
động lực của sự phát triển xã hội. c . Quan hệ sản xuất
Nếu phạm trù lực lượng sản xuất được các nhà khoa học trước C. Mác đề cập
đến nhưng lại được giải thích một cách duy tâm và chỉ đến C.Mác mới được xem
xét một cách duy vật khoa học thì phạm trù quan hệ sản xuất là sự sáng tạo riêng
của C. Mác. Hàm nghĩa của quan hệ sản xuất được trình bày lần đầu tiên trong tác
phẩm “Gia đình thần thánh”, khi C. Mác phân tích mối quan hệ giữa sản phẩm lao
động với con người. Ông viết: “Vật thể, với tư cách là sự tồn tại vì con người, với
tư cách sự tồn tại vật thể của con người, thì đồng thời cũng là sự tồn tại hiện có của
con người vì người khác, là quan hệ người của anh ta đối với người khác, là quan
hệ xã hội đối với người”. Và rằng, trong quá trình “... sản xuất ra đời sống – ra đời
sống của bản thân mình bằng lao động, cũng như sản xuất ra đời sống của người
khác bằng việc sinh con, đẻ cái – biểu hiện ngay ra là một quan hệ song trùng: một
mặt là quan hệ tự nhiên, mặt khác là quan hệ xã hội, quan hệ xã hội với ý nghĩa đó
là sự hợp tác của nhiều cá nhân, không kể là trong những điều kiện nào, theo cách
và nhằm mục đích gì... ”. Rằng, “khi phát triển những lực lượng sản xuất của mình,
nghĩa là khi sinh sống, thì con người cũng phát triển những quan hệ nhất định giữa
họ với nhau,… tính chất của những quan hệ ấy tất yếu phải thay đổi cùng với sự
biến cải và phát triển của những lực lượng sản xuất ấy”. Từ cách gọi quan hệ trong
quá trình sản xuất là “quan hệ xã hội” hay “quan hệ giao tiếp”, sau này, trong tác
phẩm Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản, Các Mác và Ph.Ăngghen mới chính thức sử
dụng khái niệm quan hệ sản xuất, các ông viết: “Phương thức sản xuất, những quan
hệ trong đó các lực lượng sản xuất phát triển, đều không phải là những quy luật
vĩnh cửu, mà chúng thích ứng với một trình độ phát triển nhất định của con người
và của những lực lượng sản xuất của con người, và bất kỳ sự thay đổi nào trong lực
lượng sản xuất của con người đều tất phải dẫn đến một sự thay đổi trong
những quan hệ sản xuất của con người”. Kế thừa và những tư tưởng của C.Mác và
F.Ăngghen, chính V.I. Lênin sau này đã tiếp tục khẳng định: “...cũng như mọi hiện
tượng trong giới tự nhiên đều có nguyên nhân vật chất, sự phát triển của xã hội loài
người là do sự phát triển của những lực lượng vật chất, sản xuất quyết định. Quan
hệ giữa người với nhau trong việc sản xuất những vật phẩm cần thiết để thỏa mãn
nhu cầu của con người là do sự phát triển của lực lượng sản xuất quyết định. Và
chính những quan hệ ấy giải thích tất cả những hiện tượng của đời sống xã hội,
những nguyện vọng, tư tưởng và luật pháp của con người”.
Có thể nêu ra rất nhiều cách diễn đạt khác nhau, nhưng tổng hợp lại, theo quan
điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin có thể nêu một cách khái quát về quan hệ sản
xuất như sau: Quan hệ sản xuất là khái niệm dùng để chỉ quan hệ giữa người với
người trong quá trình sản xuất và trao đổi vật chất, thể hiện tập trung ở quan hệ
về sở hữu đối với tư liệu sản xuất, quan hệ trong tổ chức quản lý sản xuất, quan hệ
trao đổi hoạt động cho nhau và quan hệ trong phân phối sản phẩm lao
động. Trong các mặt của quan hệ sản xuất, quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất là
quan hệ xuất phát, quan hệ cơ bản, quan hệ trung tâm, đặc trưng cho quan hệ sản
xuất trong từng xã hội. Quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất quyết định quan hệ tổ
chức quản lý sản xuất, quan hệ trao đổi và quan hệ phân phối sản phẩm, cũng như
các quan hệ xã hội khác.
Một xã hội cụ thể thường bao gồm có ba loại quan hệ sản xuất cơ bản đó là:
quan hệ sản xuất thống trị, quan hệ sản xuất tàn dư của xã hội cũ và quan hệ sản
xuất mầm mống của xã hội tương lai. Trong đó, quan hệ sản xuất thống trị bao giờ
cũng giữ vai trò chủ đạo, chi phối các quan hệ sản xuất khác, nó quy định xu
hướng chung của đời sống kinh tế - xã hội và tạo ra cơ sở hạ tầng của một xã hội
cụ thể, để phân biệt xã hội này với xã hội khác. Tuy nhiên, quan hệ sản xuất tàn dư
và quan hệ sản xuất mầm mống cũng có vai trò nhất định và có sự tác động trở lại
quan hệ sản xuất đóng vai trò chủ đạo.
Quan hệ sản xuất là cái tạo thành cơ sở kinh tế của xã hội, là cơ sở hiện thực của
hoạt động sản xuất tinh thần của toàn bộ những quan hệ tư tưởng, chính trị và
những thiết chế tương ứng trong xã hội. Trong Lời tựa viết cho tác phẩm Góp
phần phê phán khoa kinh tế chính trị, Các Mác viết: “Toàn bộ những quan hệ sản
xuất … hợp thành cơ cấu kinh tế của xã hội, tức là cái cơ sở hiện thực trên đó dựng
lên một kiến trúc thượng tầng pháp lý và chính trị và những hình thái ý thức xã hội
nhất định tương ứng với cơ sở hiện thực đó”. Quan hệ sản xuất là một mặt của
phương thức sản xuất, nếu lực lượng sản xuất biểu thị mặt thứ nhất của mối “quan
hệ song trùng” của sản xuất vật chất, thì quan hệ sản xuất biểu hiện mặt thứ hai
của quan hệ đó, tức là quan hệ giữa người với người trong quá trình sản xuất vật chất.
2. Quy luật phù hợp giữa quan hệ sản xuất với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất
Tất cả chúng ta đều biết, quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất là hai mặt hợp
thành của phương thức sản xuất có tác động qua lại biện chứng với nhau. Việc đẩy
quan hệ sản xuất lên quá xa so với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng
sản xuất là một hiện tượng tương đối phổ biến ở nhiều nước xây dựng xã hội chủ
nghĩa. Nguồn gốc của tư tưởng sai lầm này là bệnh chủ quan, duy ý chí, muốn có
nhanh chủ nghĩa xã hội thuần nhất bất chấp qui luật khách quan. Về mặt phương
pháp luận, đó là chủ nghĩa duy vật siêu hình, quá lạm dụng mối quan hệ tác động
ngược lại của quan hệ sản xuất đối với sự phát triển của lực lượng sản xuất. Sự lạm
dụng này biểu hiện ở “Nhà nước chuyên chính vô sản có khả năng chủ động tạo ra
quan hệ sản xuất mới để mở đường cho sự phát triển của lực lượng sản xuất”.
Nhưng khi thực hiện người ta đã quên rằng sự “chủ động” không đồng nghĩa với
sự chủ quan tuỳ tiện, con người không thể tự do tạo ra bất cứ hình thức nào của
quan hệ sản xuất mà mình muốn có. Ngược lại quan hệ sản xuất luôn luôn bị qui
định một cách nghiêm ngặt bởi trạng thái của lực lượng sản xuất, bởi quan hệ sản
xuất với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất. Quan hệ sản xuất
chỉ có thể mở đường cho lực lượng sản xuất phát triển khi mà nó được hoàn thiện
tất cả về nội dung của nó, nhằm giải quyết kịp thời những mâu thuẫn giữa quan hệ
sản xuất và lực lượng sản xuất.
+ Lực lượng sản xuất quyết định sự hình thành biến đổi của quan hệ sản xuất:
lực lượng sản xuất là cái biến đổi đầu tiên và luôn biến đổi trong sản xuất con
người muốn giảm nhẹ lao động nặng nhọc tạo ra năng suất cao phải luôn tìm cách
cải tiến công cụ lao động. Chế tạo ra công cụ lao động mới. Lực lượng lao động
qui định sự hình thành và biến đổi quan hệ sản xuất ki quan hệ sản xuất không
thích ứng với trình độ, tính chất của lực lượng sản xuất thì nó kìm hãm thậm chí
phá hoại lực lượng sản xuất thì nó kìm hãm thậm chí phá hoại lực lượng sản xuất và ngược lại.
+ Sự tác động trở lại của quan hệ sản xuất đối với lực lượng sản xuất. Quan hệ
sản xuất khi đã được xác lập thì nó độc lập tương đối với lực lượng sản xuất và trở
thành những cơ sở và những thể chế xã hội và nó không thể biến đổi đồng thời đối
với lực lượng sản xuất. Thường lạc hậu so với lực lượng sản xuất và nếu quan hệ
sản xuất phù hợp với trình độ sản xuất, tính chất của lực lượng sản xuất thì nó thúc
đẩy sự phát triển của lực lượng sản xuất.
Nếu lạc hậu so với lực lượng sản xuất dù tạm thời thì nó kìm hãm sự phát triển
của lực lượng sản xuất. Sở dĩ quan hệ sản xuất có thể tác động mạnh mẽ trở lại đối
với lực lượng sản xuất vì nó qui định mục đích của sản xuất qui định hệ thống tổ
chức quản lý sản xuất và quản lý xã hội, qui định phương thức phân phối và phần
của cải ít hay nhiều mà người lao động được hưởng. Do đó nó ảnh hưởng tới thái
độ tất cả quần chúng lao động. Nó tạo ra những điều kiện hoặc kích thích hoặc hạn
chế sự phát triển công cụ sản xuất, áp dụng thành tựu khoa học kỹ thuật vào sản
xuất hợp tác phân công lao động quốc tế.
Mối quan hệ biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất
Mối quan hệ biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất là một
trong những nguyên lý cơ bản, cốt lõi của chủ nghĩa duy vật lịch sử, là quan hệ cơ
bản của toàn xã hội, quyết định sự vận động phát triển của lịch sử xã hội loài
người. Mối liên hệ này do C. Mác phát hiện ra và được trình bày trong nhiều tác
phẩm của ông, trong đó, tập trung nhất ở “Hệ tư tưởng Đức”,“Sự khốn cùng của
triết học”, Lời tựa cuốn “Góp phần phê phán khoa kinh tế chính trị”, Bộ “Tư bản
luận” và nhiều tác phẩm khác.
Trong Lời tựa cuốn “Góp phần phê phán khoa kinh tế chính trị”, C.Mác đã chỉ
rõ rằng, “trong sự sản xuất ra đời sống của mình, con người có những quan hệ nhất
định, tất yếu, không tùy thuộc vào ý muốn của họ - tức những quan hệ sản xuất,
những quan hệ này phù hợp với một trình độ phát triển nhất định của các lực lượng
sản xuất vật chất của họ. Toàn bộ những quan hệ sản xuất ấy họp thành cơ cấu kinh
tế của một xã hội, tức là cái cơ sở hiện thực trên đó dựng lên một kiến trúc thượng
tầng pháp lý và chính trị và những hình thái ý thức xã hội nhất định tương ứng với
cơ sở hiện thực đó. Phương thức sản xuất đời sống vật chất quyết định các quá
trình sinh hoạt xã hội, chính trị và tinh thần nói chung. Không phải ý thức của con
người quyết định tồn tại của họ; trái lại, tồn tại xã hội của họ quyết định ý thức của
họ. Tới một giai đoạn phát triển nào đó của chúng, các lực lượng sản xuất vật chất
của xã hội mâu thuẫn với những quan hệ sản xuất hiện có, hay - đây chỉ là biểu
hiện pháp lý của những quan hệ sản xuất đó - mâu thuẫn với những quan hệ sở
hữu, trong đó từ trước đến nay các lực lượng sản xuất vẫn phát triển. Từ chỗ là
những hình thức phát triển của các lực lượng sản xuất, những quan hệ ấy trở thành
những xiềng xích của các lực lượng sản xuất. Khi đó bắt đầu thời đại một cuộc
cách mạng xã hội...Không một hình thái xã hội nào diệt vong trước khi tất cả
những lực lượng sản xuất mà hình thái xã hội đó tạo địa bàn đầy đủ cho phát triển,
vẫn chưa phát triển, và những quan hệ sản xuất mới cao hơn cũng không bao giờ
xuất hiện trước khi những điều kiện tồn tại vật chất của những quan hệ đó chưa
chín muồi trong lòng xã hội cũ”. Sau này, chính V.I. Lênin trong quá trình nghiên
cứu lý luận và tổng kết thực tiễn chỉ đạo cách mạng cũng đi đến kết luận: “… chỉ
có đem quy những quan hệ xã hội vào những quan hệ sản xuất, và đem quy những
quan hệ sản xuất vào trình độ của những lực lượng sản xuất thì người ta mới có
được một cơ sở vững chắc để quan niệm sự phát triển của những hình thái xã hội là
một quá trình lịch sử - tự nhiên. Và dĩ nhiên là không có một quan điểm như thế thì
không thể có một khoa học xã hội được”.
Từ những tư tưởng của C.Mác và Ph. Ăngghen, Lênin có thể tóm lược những
nội dung cốt lõi của mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất như sau:
- Một là, lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất là hai thành tố cơ bản cấu thành
nên phương thức sản xuất, chúng tồn tại trong mối quan hệ thống nhất, ràng buộc
lẫn nhau trong quá trình sản xuất xã hội. Mỗi phương thức sản xuất hay quá trình
sản xuất xã hội không thể tiến hành được nếu thiếu một trong hai thành tố trên.
Trong đó, lực lượng sản xuất chính là nội dung vật chất, kỹ thuật, công nghệ của
quá trình này còn quan hệ sản xuất đóng vai trò là hình thức kinh tế của quá trình
đó. Sự phát triển của lực lượng sản xuất đòi hỏi quan hệ sản xuất phải được điều
chỉnh, thay đổi cho phù hợp, thích ứng với trình độ phát triển của lực lượng sản
xuất. Chỉ có sự thích ứng, phù hợp đó của quan hệ sản xuất, lực lượng sản xuất
mới có thể tiếp tục phát triển.
- Hai là, trong mỗi phương thức sản xuất thì lực lượng sản xuất đóng vai trò
quyết định. Tính quyết định của lực lượng sản xuất đối với quan hệ sản xuất được
thể hiện trên hai mặt thống nhất với nhau: lực lượng sản xuất nào thì quan hệ sản
xuất đó và cũng do đó mà khi lực lượng sản xuất thay đổi thì cũng tất yếu đòi hỏi
phải có những thay đổi nhất định đối với quan hệ sản xuất.
- Ba là, quan hệ sản xuất luôn có khả năng tác động ngược trở lại, đối với việc
bảo tồn, khai thác, sử dụng và phát triển lực lượng sản xuất. Quá trình tác động trở
lại của quan hệ sản xuất đối với lực lượng sản xuất có thể diễn ra với hai khả năng:
tác động tích cực hoặc tiêu cực. Khi quan hệ sản xuất phù hợp với nhu cầu khách
quan bảo tồn, khai thác, sử dụng và phát triển của lực lượng sản xuất thì có tác
động tích cực thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển, ngược lại, nếu trái với nhu
cầu khách quan đó thì nhất định sẽ diễn ra quá trình tác động tiêu cực. Lực lượng
sản xuất phát triển không ngừng, trong khi đó quan hệ sản xuất lại có tính ổn định
tương đối, vì nó gắn với các thiết chế xã hội, lợi ích của giai cấp cầm quyền. Quan
hệ sản xuất mang tính ổn định tương đối trong bản chất xã hội của nó. Chính vì thế
mà Các Mác đã khẳng định: “Tổng hợp lại thì những quan hệ sản xuất hợp thành
cái mà người ta gọi là những quan hệ sản xuất, là xã hội, và hơn nữa hợp thành
một xã hội ở vào một giai đoạn phát triển lịch sử nhất định, một xã hội có tính
chất độc đáo riêng biệt. Xã hội cổ đại, xã hội phong kiến, xã hội tư bản đều là tổng
thể quan hệ sản xuất như vậy, mỗi tổng thể đó đồng thời lại đại biểu cho một giai
đoạn phát triển đặc thù trong lịch sử nhân loại”. Sự tác động biện chứng giữa lực
lượng sản xuất và quan hệ sản xuất thúc đẩy xã hội loài người phát triển không
ngừng như một quá trình lịch sử - tự nhiên.
- Bốn là, mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất là quan hệ
mâu thuẫn biện chứng, tức là mối quan hệ thống nhất của hai mặt đối lập. Sự vận
động của mâu thuẫn biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất là đi
từ sự thống nhất đến mâu thuẫn và một khi mâu thuẫn được giải quyết thì tái thiết
lập sự thống nhất mới; quá trình này lặp đi lặp lại trong lịch sử tạo ra quá trình vận
động phát triển của phương thức sản xuất.
Ngược dòng thời gian, chúng ta thấy: Sau Cách mạng tháng Mười năm 1917,
nước Nga tuy đã trải qua giai đoạn phát triển trung bình của chủ nghĩa tư bản,
trong thời kỳ nội chiến, chống thù trong giặc ngoài, V.I. Lê-nin và những người
Bôn-sê-vích cũng đã tưởng rằng có thể áp dụng “chính sách cộng sản thời chiến”
để tiến nhanh lên chủ nghĩa cộng sản. Song, cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội
mùa xuân năm 1921 đã cho thấy đây là một sai lầm rất nghiêm trọng có hại cho sự
phát triển của nước Nga. Nhận thức được vấn đề, V.I. Lê-nin đã chỉ rõ: “Chúng ta
chưa tính toán đầy đủ mà đã tưởng là - có thể trực tiếp dùng pháp lệnh của nhà
nước vô sản để tổ chức theo kiểu cộng sản chủ nghĩa trong một nước tiểu nông,
việc nhà nước sản xuất và phân phối sản phẩm. Đời sống thực tế đã vạch rõ sai lầm
của chúng ta”. V.I. Lê-nin đã kịp thời phê phán bệnh ảo tưởng lúc bấy giờ vì không
sát thực tiễn trong việc vận dụng quy luật. Người đã quyết định chuyển sang chính
sách kinh tế mới (NEP) thay thế chế độ trưng thu lương thực bằng chế độ thuế
lương thực, khuyến khích phát triển quan hệ hàng hóa - tiền tệ, quan hệ thị trường,
cho phép phát triển kinh tế tư nhân, cá thể, tư bản tư nhân, chính sách tô nhượng,
cho phép sử dụng chuyên gia tư sản trong phát triển kinh tế và phương pháp quản
lý kinh tế phù hợp với thực tiễn của nước Nga.
Ở nước ta sau cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, thống nhất Tổ quốc
30/4/1975 đến trước thời kỳ đổi mới 1986, thực hiện cơ chế quản lý kinh tế kế
hoạch hoá tập trung quan liêu, bao cấp. Mặc dù đã huy động được sức người, sức
của cho kháng chiến và kiến quốc, nhưng kinh tế tăng trưởng chủ yếu theo chiều
rộng, hiệu quả thấp. Do chưa nhận thức được hiện thực khách quan, nên không
thừa nhận sự tồn tại của nền kinh tế nhiều thành phần, coi cơ chế thị trường chỉ là
thứ yếu bổ sung cho kế hoạch hoá; thủ tiêu cạnh tranh, triệt tiêu động lực kinh tế
đối với người lao động, kìm hãm tiến bộ khoa học, công nghệ… quá nhấn mạnh
một chiều cải tạo quan hệ sản xuất mà không thấy đầy đủ yêu cầu phát triển lực
lượng sản xuất, coi nhẹ quan hệ quản lý, quan hệ phân phối. Khi xác lập quan hệ
sản xuất, chúng ta tuyệt đối hoá vai trò của công hữu, làm cho quan hệ sản xuất chỉ
còn tồn tại giản đơn dưới hai hình thức toàn dân và tập thể; kỳ thị, nóng vội xoá bỏ
các thành phần kinh tế phi xã hội chủ nghĩa, không chấp nhận các hình thức sở hữu
hỗn hợp, sở hữu quá độ; xoá bỏ chế độ sở hữu tư nhân một cách ồ ạt, trong khi nó
đang tạo điều kiện cho sự phát triển của lực lượng sản xuất. Dẫn đến lực lượng sản
xuất không phát triển, tình trạng trì trệ kéo dài, sản xuất đình đốn, đời sống người
dân gặp nhiều khó khăn. Những hạn chế đó, có nhiều nguyên nhân, song nguyên
nhân chủ yếu là chúng ta đã chủ quan, nóng vội, duy ý chí dẫn đến việc nhận thức
và vận dụng chưa đúng quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độ
phát triển của lực lượng sản xuất. Chúng ta đã thoát ly khỏi điều kiện thực tiễn của
một đất nước kinh tế kém phát triển, còn nghèo nàn lạc hậu nhưng lại muốn tạo ra
một quan hệ sản xuất tiên tiến đi trước để mở đường cho lực lượng sản xuất phát
triển. Nhưng hậu quả thì ngược lại. Đúng như văn kiện Đại hội VI của Đảng đã
khẳng định: “Kinh nghiệm thực tế chỉ rõ:lực lượng sản xuất bị kìm hãm không chỉ
trong trường hợp quan hệ sản xuất lạc hậu, mà cả khi quan hệ sản xuất phát triển
không đồng bộ, có những yếu tố đi quá xa so với trình độ phát triển của lực lượng
sản xuất”. Lúc đó chúng ta đã chủ quan muốn tạo ra một quan hệ sản xuất vượt
trước trình độ lực lượng sản xuất, làm cho mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất và
quan hệ sản xuất trở nên gay gắt, đưa đất nước lâm vào khủng hoảng kinh tế - xã
hội. Chúng ta đã có những biểu hiện nóng vội muốn xóa bỏ ngay các thành phần
kinh tế phi xã hội chủ nghĩa, nhanh chóng biến kinh tế tư bản tư nhân thành quốc
doanh; mặt khác, duy trì quá lâu cơ chế tập trung quan liêu bao cấp, kìm hãm sự
phát triển của đất nước. Phải giám nhìn thẳng vào sự thật, nói đúng sự thật là
chúng ta vừa chủ quan nóng vội, vừa bảo thủ trì trệ, hai mặt đó cùng tồn tại và làm
cản trở bước tiến phát triển của đất nước. Sự nhận thức sai quy luật chứng tỏ sự lạc
hậu về nhận thức tư duy lý luận và vận dụng quy luật đang hoạt động trong thời kỳ
quá độ; thành kiến không đúng những quy luật của sản xuất hàng hóa, quy luật giá
trị; coi nhẹ việc tổng kết kinh nghiệm thực tiễn. Chính cuộc sống đã dạy cho chúng
ta một bài học thấm thía là không thể nóng vội làm trái quy luật, hiện thực khách quan được.
Từ sự nghiên cứu một cách nghiêm túc khách quan, khoa học, nhìn thẳng vào sự
thật, có thể rút ra một số sai lầm phổ biến trong nhận thức và vận dụng quy luật
quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất ở các vấn đề sau đây:
- Chưa nhận thức, chưa hiểu đúng quan hệ biện chứng giữa lực lượng sản xuất
với quan hệ sản xuất, tách rời quan hệ sản xuất với lực lượng sản xuất, cường điệu
quan hệ sản xuất mà coi nhẹ lực lượng sản xuất, coi nhẹ việc phát triển, giải phóng
lực lượng sản xuất, muốn tạo ra quan hệ sản xuất tiên tiến đi trước mở đường cho
lực lượng sản xuất, muốn nhanh chóng thực hiện nhiều mục tiêu của chủ nghĩa xã
hội trong điều kiện nền kinh tế của đất nước còn rất lạc hậu, mới thống nhất được
đất nước, tàn dư của chiến tranh còn rất nặng nề.
- Nhận thức quan hệ sản xuất không trong một chỉnh thể, cường điệu chế độ sở
hữu, nhất là muốn nhanh chóng thiết lập chế độ công hữu với bất kỳ giá nào, coi sở
hữu tư nhân nằm ngoài bản chất của chủ nghĩa xã hội và cần phải nhanh chóng xóa
bỏ; coi nhẹ quan hệ tổ chức - quản lý và phân phối; coi nhẹ động lực lợi ích cá
nhân của người lao động, trong khi đời sống của nhân dân đang gặp muôn vàn khó khăn, thiếu thốn.
- Duy trì quá lâu cơ chế tập trung quan liêu bao cấp, coi nhẹ quy luật giá trị,
quan hệ hàng hóa - tiền tệ, cơ chế thị trường, từ đó tạo thành cơ chế kìm hãm sự
phát triển của lực lượng sản xuất. Muốn tạo ra một quan hệ sản xuất nhất loạt như
nhau trong những ngành sản xuất kinh tế khác nhau, những vùng miền, địa bàn
khác nhau (vùng đồng bằng, miền núi, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo) với
những trình độ lực lượng sản xuất rất khác nhau, tức là cào bằng trong quan hệ sản
xuất gây ra nhiều cản trở, khó khăn, nhất là trong quản lý kinh tế, xã hội.
Những sai lầm trên đây chính là do nhận thức không đúng bản chất quy luật
quan hệ sản xuất phù hợp trình độ lực lượng sản xuất, những điều kiện tác động
của nó, không tính đến điều kiện thực tiễn khi vận dụng, kết cục không tránh khỏi
rơi vào thất bại. Nhận thức được vấn đề, tại Đại hội VI, Đảng ta đã phê phán bệnh
chủ quan duy ý chí do vi phạm quy luật khách quan mà trước hết và chủ yếu là quy
luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất. Từ đó
Đại hội đã rút ra bài học rất quan trọng là “Đảng phải luôn luôn xuất phát từ thực
tế, tôn trọng và hành động theo quy luật khách quan”, phải “làm cho quan hệ sản
xuất phù hợp với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất, luôn luôn có tác
dụng thúc đẩy sự phát triển của lực lượng sản xuất”. Công cuộc đổi mới xét về
thực chất chính là quay trở về với quy luật, nhận thức đúng hiện thực khách quan
với những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lê-nin phù hợp với thực tiễn đất
nước và thời đại mới.
3. Sự vận dụng quy luật phù hợp vào việc thực hiện nền kinh tế thị trường
định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam
Thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, trong 35 năm qua nước ta đã đạt được
những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử trên con đường xây dựng, phát trển đất
nước và bảo vệ vững chắc Tổ quốc; trong đó có thành tựu quan trọng về nhận thức
và vận dụng quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất.
Càng ngày chúng ta càng nhận thức rõ hơn, đầy đủ hơn quan hệ biện chứng giữa
lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, sự phù hợp và mâu thuẫn giữa chúng trong
từng giai đoạn phát triển. Về đặc trưng kinh tế trong xã hội xã hội chủ nghĩa mà
nhân dân ta xây dựng, đã chuyển từ “có nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực
lượng sản xuất hiện đại và chế độ công hữu về các tư liệu sản xuất chủ yếu”
(Cương lĩnh năm 1991) sang “có nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản
xuất hiện đại và quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp” (Cương lĩnh bổ sung, phát triển
năm 2011). Sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độ phát triển lực lượng sản
xuất, phù hợp với thực tiễn Việt Nam. Không ngừng hoàn thiện chủ trương phát
triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa với nhiều hình thức sở
hữu, nhiều thành phần kinh tế, hình thức tổ chức kinh doanh và hình thức phân
phối. Các thành phần kinh tế hoạt động theo pháp luật đều là bộ phận hợp thành
quan trọng của nền kinh tế, bình đẳng trước pháp luật, cùng phát triển lâu dài, hợp
tác, cạnh tranh lành mạnh cùng thắng.
Từ Đại hội Đảng lần thứ VI, khởi đầu công cuộc đổi mới, Đảng ta đã nêu ra
quan điểm phát triển nền kinh tế hàng hóa có kế hoạch gồm nhiều thành phần đi
lên chủ nghĩa xã hội, với nhiều chế độ sở hữu. Đây là dấu mốc quan trọng trong
quá trình đổi mới tư duy lý luận của Đảng về con đường và phương pháp xây dựng
chủ nghĩa xã hội ở nước ta, thể hiện sự nhận thức và vận dụng quy luật về sự phù
hợp giữa quan hệ sản xuất với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất; đồng thời,
đã đặt cơ sở, nền tảng quan trọng để các nhân tố mới ra đời, tạo tiền đề để từng
bước phát triển nền kinh tế của đất nước. Quá trình vận dụng quy luật và xuất phát
từ thực tiễn đất nước, tại Hội nghị Trung ương 6 khóa VI (3-1989), Đảng ta đã
khẳng định: “Thực hiện nhất quán chính sách cơ cấu kinh tế nhiều thành phần, coi
đây là chính sách có ý nghĩa chiến lược lâu dài, có tính quy luật từ sản xuất nhỏ đi
lên chủ nghĩa xã hội; trong đó mọi người được tự do làm ăn theo pháp luật; các
đơn vị sản xuất kinh doanh thuộc các thành phần kinh tế vừa hợp tác với nhau, bổ
sung cho nhau, vừa cạnh tranh với nhau trên cơ sở bình đẳng trước pháp luật”.
Nhìn tổng thể trong 35 năm thực hiện đường lối đổi mới đất nước đã đạt được
những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử trên con đường xây dựng, phát triển đất
nước. Trong đó, có thành tựu về nhận thức và vận dụng quy luật về sự phù hợp của
quan hệ sản xuất với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất ở nước ta. Hơn nữa,
trong bối cảnh toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế, việc nhanh chóng phát triển lực
lượng sản xuất đi đôi với từng bước hoàn thiện quan hệ sản xuất để phát triển kinh
tế - xã hội, khắc phục nguy cơ tụt hậu xa về kinh tế đang là một yêu cầu cấp thiết.
Đảng và Nhà nước ta đã, đang và sẽ phải tiếp tục thống nhất nhận thức về kinh
tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, nền kinh tế vận hành đầy đủ, đồng bộ
theo các quy luật của kinh tế thị trường. Đồng thời, bảo đảm định hướng xã hội chủ
nghĩa phù hợp với từng giai đoạn phát triển của đất nước; xây dựng nền kinh tế thị
trường hiện đại và chủ động hội nhập quốc tế; có sự quản lý của Nhà nước pháp
quyền xã hội chủ nghĩa, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo. Xác lập nền kinh
tế Việt nam “có quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp với trình độ phát triển của lực
lượng sản xuất, có nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, trong đó kinh
tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng của nền
kinh tế; các chủ thể thuộc các thành phần kinh tế bình đẳng, hợp tác và cạnh tranh
theo pháp luật”; thị trường đóng vai trò chủ yếu trong huy động và phân bổ hiệu
quả các nguồn lực phát triển, là động lực chủ yếu để giải phóng sức sản xuất; các
nguồn lực nhà nước được phân bổ theo chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phù hợp
với cơ chế thị trường. Nhà nước đóng vai trò định hướng, xây dựng và hoàn thiện
thể chế kinh tế, tạo môi trường cạnh tranh bình đẳng, minh bạch và lành mạnh; sử
dụng các công cụ, chính sách và các nguồn lực của Nhà nước để định hướng và
điều tiết nền kinh tế, thúc đẩy sản xuất kinh doanh và bảo vệ môi trường; thực hiện
tiến bộ, công bằng xã hội trong từng bước, từng chính sách phát triển. Phát huy vai
trò làm chủ của nhân dân trong phát triển kinh tế- xã hội, xây dựng và phát triển bền vững đất nước.
Đảng và Nhà nước ta có nhiều chủ trương, biện pháp để đẩy mạnh công nghiệp
hoá, hiện đại hoá nhằm phát triển lực lượng sản xuất, tạo “cốt vật chất” cho quan
hệ sản xuất mới. Tiếp tục thực hiện đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền
kinh tế; đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá gắn với phát triển kinh tế tri thức,
kinh tế số nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế, doanh nghiệp và hàng hoá dịch
vụ chủ động và tích cực hội nhập quốc tế để phát huy cao độ nội lực, tranh thủ
ngoại lực, tiếp thu những thành tựu về khoa học và công nghệ hiện đại trong điều
của cuộc cách mạng 4.0. Xây dựng, hoàn thiện luật pháp và chính sách kinh tế để
kiến tạo sự phát triển bền vững. Đào tạo nguồn nhân lực, trọng dụng nhân tài, nhất
là trong bộ máy quản lý, quản trị nhà nước. Đổi mới thể chế nhằm tăng cường hiệu
lực thực thi pháp luật và chính sách; phát huy dân chủ, tăng cường kỷ luật, kỷ cương trong toàn xã hội.
Có thể khẳng định công cuộc đổi mới là quá trình chúng ta ngày càng nhận thức
và vận dụng đúng đắn hơn quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình
độ phát triển của lực lượng sản xuất trong điều kiện thực tiễn của Việt Nam. Trong
những năm đổi mới, Đảng và Nhà nước ta đã ban hành nhiều chính sách và luật
pháp nhằm đa dạng hóa các hình thức của quan hệ sản xuất để khuyến khích, thúc
đẩy lực lượng sản xuất phát triển, giải phóng mọi tiềm năng của sản xuất, tạo thêm
động lực cho người lao động. Đó là những chính sách, pháp luật liên quan đến đổi
mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả của kinh tế nhà nước, nhất là doanh nghiệp nhà
nước, đến việc củng cố và phát triển kinh tế tập thể, đến phát huy vai trò động lực
của kinh tế tư nhân, thu hút mạnh mẽ và phát huy hiệu quả của kinh tế có vốn đầu
tư nước ngoài, nâng cao chất lượng và hiệu quả cổ phần hóa doanh nghiệp nhà
nước, phát triển kinh tế hỗn hợp...trong quá trình phát triển nền kinh tế.
Đảng và Nhà nước cũng đã ban hành nhiều chính sách và pháp luật để hoàn
thiện các mặt của quan hệ sản xuất mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa về sở
hữu, tổ chức - quản lý và phân phối. Đã ban hành Luật Đất đai (sửa đổi năm 2013),
quy định về sở hữu và đại diện chủ sở hữu, phân định quyền của người sở hữu,
quyền của người sử dụng tư liệu sản xuất và quyền quản lý của Nhà nước trong
lĩnh vực kinh tế; xác định vai trò quản lý kinh tế của Nhà nước thông qua định
hướng, điều tiết, kế hoạch, quy hoạch, chiến lược, chính sách, chương trình phát
triển và các lực lượng vật chất. Thực hiện đa dạng hóa các hình thức phân phối
theo kết quả lao động, hiệu quả kinh tế, đồng thời theo mức đóng góp vốn, trí tuệ
và các nguồn lực khác và phân phối thông qua hệ thống an sinh xã hội, phúc lợi xã
hội, chăm lo đời sống của người lao động.
Đảng và Nhà nước có nhiều chủ trương, biện pháp về đầu tư để xây dựng kết
cấu hạ tầng đồng bộ với một số công trình hiện đại, tập trung vào hệ thống giao
thông và hạ tầng đô thị lớn, chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp
hóa, hiện đại hóa; phát triển một số ngành công nghiệp cơ khí, đóng tàu, vận tải,
khai thác vật liệu, xây dựng, chế biến; ứng dụng những thành tựu khoa học - công
nghệ hiện đại, nhất là công nghệ thông tin; phát triển nguồn nhân lực, nhất là
nguồn nhân lực chất lượng cao... Thực hiện đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu
lại nền kinh tế; đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế
tri thức, kinh tế số, nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế, doanh nghiệp và hàng hóa dịch vụ.