ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
----- -----
TIỂU LUẬN
PHƯƠNG PHÁP LUẬN PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VĂN HOÁ
Đề bài: Trên cơ sở nội dung đã học, tiểu luận cuối kỳ, các bạn làm 1 đề cương nghiên cứu.
Sinh viên thực hiện: Lê Thế Công
Mã số sinh viên: 20032513
Lớp: CUL3002
Hà nội, ngày 27 tháng 12 năm 2021
Tên đề tài: Vai trò của cộng đồng trong bảo vệ và phát huy hát múa Ải Lao ở làng Hội
Xá, phường Phúc Lợi, quận Long Biên, thành phố Nội trong giai đoạn dịch bệnh
covid 19.
1. Lý do chọn đề tài
Trải qua hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước, trong suốt lịch sử hào hùng của dân
tộc, ông cha ta đã tạo dựng và kết tinh ra cho mình những tinh hoa và bản sắc văn hoá riêng
của dân tộc. Chính những tinh hoa, bản sắc văn hoá đó đã tạo ra sức mạnh, ý chí quật cường
của dân tộc Việt Nam không một quốc gia,n tộc nào thể đồng hoá, đánh bại được.
Một phần những tinh hoa, bản sắc dân tộc đó được thể hiện thông qua các lễ hội truyền
thống ở Việt Nam. Trong đó phải kể đến hội Gióng – là một trong những lễ hội truyền thống
nổi tiếng nhất đồng bằng Bắc Bộ. Câu ca dao“Ai ơi mồng chín tháng tư, không đi hội
Gióng cũng hư mất đời” chính là nói về sự nổi tiếng và thu hút của hội Gióng.
Hội Gióng lễ hội truyền thống được diễn ra hằng năm nhằm để tưởng niệm ca
ngợi vị anh hùng Thánh Gióng trong truyền thuyết Thánh Gióng công đánh giặc ngoại
xâm và mang lại hưng thịnh cho nhân dân. Mang trong mình đậm đà giá trị bản sắc văn hoá
Việt, vào tháng 11 năm 2010, Hội Gióng đền Phù Đổng đền Sóc đã được UNESCO
công nhận Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại. Nhắc đến hội Gióng đền
Phù Đổng, một trong những nét đặc trưng của lễ hội đó múa hát Ải Lao của Phường Ải
Lao với câu ca Phi Ải Lao bất thành Hội Gióng”. Hát múa Ải Lao một nghi thức truyền
thống, diễn ra lễ hội Gióng làng Phù Đổng, huyện Gia Lâm, Nội do phường Ải Lao
thuộc làng Hội Xá, phường Phúc Lợi, quận Long Biên thực hành. Theo nghiên cứu của cục
di sản văn hoá về phường Ải Lao, nguồn gốc phường Ải Lao từ trong truyền thuyết:
“Thánh Gióng đi đánh giặc qua dòng sông Thiên Đức (tức sông Đuống), Ngài rủ lũ trẻ chăn
trâu, người câu cá bên bờ sông cùng đi, Ông Hoàng Hổ cũng xin theo. Chiến thắng giặc Ân,
Thánh Gióng hóa về trời. Mẹ Thánh Gióng buồn con không về. Nhà vua hứa trọng
thưởng cho người làm vui cười trở lại nhưng không ai làm được. Khi trẻ chăn trâu làng
Hội sang múa hát, thấy đúng tâm trạng nên bật cười. Từ đó, nhà vua lệnh cho tổng
Phù Đổng khi tổ chức Hội Gióng, phải mời phường Ải Lao sang biểu diễn . Nghệ thuật hát1
và múa Ải Lao mang trong mình giá trị to lớn. Qua những câu hát cổ, điệu múa cổ, giai điệu
1 http://dsvh.gov.vn/hat-mua-ai-lao-1305 (ngày truy cập 3/1/2022).
2
độc đáo đã ca ngợi tinh thần dân tộc chống giặc ngoại xâm, giáo dục thế hệ trẻ về lòng yêu
nước và lưu giữ trong mình những giá trị văn hoá đặc biệt.
Tuy nhiên, do chịu tác động của hai cuộc kháng chiến chống Pháp chống đã
làm nghệ thuật hát múa phường Ải Lao đã bị mai một biến đổi. Việc thực hành bị ngắt
quãng làm các các ca từ cổ, điệu múa cổ gần như không được thực hành trong khoảng thời
gian dài, có ít các các nghệ nhân, người thực hành có thể thực hành hát múa, thiếu thế hệ trẻ
kế thừa… Những vấn đề này làm việc bảo vệ và phát huy hát múa Ải Lao đứng trước nhiều
khó khăn lớn, nếu không những chính sách phù hợp, nghệ thuật hát múa Ải Lao sẽ đứng
trước nguy cơ bị mai một, biến dạng.
Sau nhiều thập kỷ đổi mới, cùng với sự phát triển của hội, đời sống vật chất, tinh
thần của con người ngày càng được nâng cao thì nhu cầu tìm hiểu những giá trị văn hoá, bản
sắc văn hoá n tộc ngày càng phát triển. Hát múa Ải Lao cũng được nhà nước quan tâm
trong việc bảo vệ phát huy giá trị. Năm 2016, Hát múa Ải Lao được Bộ trưởng Bộ Văn
hóa, Thể thao và Du lịch đưa vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia. Tuy nhiên,
việc kế thừa, bảo vệ phát huy giá trị hát múa Ải Lao vẫn còn bài toán khó trong công
tác bảo vệ phát huy hát múa Ải Lao làng Hội Xá, phường Phúc Lợi, quận Long Biên,
thành phố Nội như những người thực hành phần lớn đều lớn tuổi, khó khăn trong truyền
dạy, ít có sự quan tâm, tham gia của thế hệ trẻ… Đặc biệt là trong giai đoạn dịch bệnh covid
từ cuối năm 2019, lễ hội Gióng bị dừng tổ chức do ảnh hưởng của dịch bệnh. Lễ hội gióng
2020 và 2021 đều bị không tổ chức, đặc biệt năm 2021 trùng với kỉ niệm 10 năm Hội Gióng
được UNESCO công nhận di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại đều bị hoãn,
làm cho nghệ thuật hát múa Ải Lao của phường Ải Lao không được biểu diễn. Với những
khó khăn trước đây do do ảnh hưởng của hai cuộc chiến tranh, lại thêm những khó khăn do
dịch bệnh mang lại thời gian hiện tại. đồng thời thể vẫn kéo dài thêm khoảng thời gian
dài nữa làm cho nghệ thuật hát múa Ải Lao đứng trước nhiều nguuy cơ mai một.
Nhận thấy được vai trò của cộng đồng trong bảo vệ phát huy hát múa Ải Lao
trong giai đoạn dịch bệnh covid 19, sinh viên ngành văn hoá học trường Đại học Khoa
học Xã hội và Nhân văn,đã được học những kiến thức về bảo vệ và phát huy di sản văn hoá,
đồng thời cũng người con vùng đất Long Biên, thành phố Nội quê hương ra đời
của phường Ải Lao. Tôi đã lựa chọn và triển khai đề tài Vai trò của cộng đồng trong bảo
vệ phát huy hát múa Ải Lao làng Hội Xá, phường Phúc Lợi, quận Long Biên,
3
thành phốNội trong giai đoạn dịch bệnh covid 19 để nhằm đưa ra mối quan hệ giữa
cộng đồng bảo vệ hát múa Ải Lao, từ đó làm những vấn đề đang gặp phải đưa đến
những nhận thức và giải pháp trong bảo vệ và phát huy nghệ thuật hát múa Ải Lao giai đoạn
dịch bệnh covid 19 . Với đề tài này, tôi hi vọng đóng góp một phần sức mình để các nhà
quản những chính sách bảo vệ phát huy nghệ thuật hát múa Ải Lao một cách hiệu
quả trong giai đoạn dịch bệnh này.
2. Tổng quan nghiên cứu vấn đề
2.1. Tổng quan nghiên cứu hát múa Ải Lao làng Hội Xá, phường Phúc Lợi, quận Long
Biên, thành phố Hà Nội.
Nghiên cứu đầu tiên về hát múa Ải Lao công trình nghiên cứu của nhà nghiên cứu
người Pháp G.Dumoutier. Đâybài nghiên cứu với nhan đề “Une fête religieuse annamite
à Phu Đong” Revue de l'histoire des religions”in trên Tạp chí năm 1893 tại Pháp. Nghiên
cứu chủ yếu đề cập đến hội Gióng miêu tả các hoạt động, quy trình trình trong lễ hội.
Phường Ải Lao đây chưa được gọi với cái tên chính thức chỉ được đề cập tại đây như
một nghi thức bên trong hội Gióng. Nghi thức này được tác giả miêu tả như một nghi thức
chịu ảnh hưởng của Đạo giáo với hình ảnh thuần phục con hổ những điệu hát múa lễ.
Nghiên cứu “Une fête religieuse annamite à Phu Đong” nhiều ghi chép khác với nhũng
nghiên cứu sau này về hội Gióng, tuy nhiên vẫn mang tính tham khảo sâu sắc bởi đây là một
trong số ít những nghiên cứu chính thức đầu tiên về hội Gióng. Mặc đề cập đến múa
hát Ải Lao, tuy nhiên tác giả chỉ nhìn nhận đây như một nghi thức trong lễ hội, chưa
phân tích sâu về giá trị, bảo vệ và phát huy múa hát Ải Lao.
Nghiên cứu đầu tiên của người Việt về múa hát Ải Lao bài viết Les chants et les
danses d'Ai-lao aux fêtes de Phù-Đông (Bẵc-ninh”) của GS. TS Nguyễn Văn Huyên đăng
trên bản tin trường Viễn Đông Bác cổ Pháp tập 39 trang 153- 196 xuất bản năm 1939. Bài
viết của tác giả trình bày chi tiết vào nguồn gốc các quy trình trong lễ hội Gióng hát
múa Ải Lao, đặc biệt lễ hội Ải Lao. Tác giả trích dẫn truyền thuyết phân tích nguồn
gốc của múa hát Ai Lao là xuất phát từ Lào từ thời vương quyền Ai Lao còn thuần phục nhà
Lý. Hằng năm, nước Lào phải đưa sang cho vua nước Đại Việt một đội hát xướng. Để tưởng
nhớ công ơn Thánh Gióng, vua Công Uẩn đã mở rộng đền thờ Thánh Gióng, những
người kế vị ông đã dâng tặng Ngài những bài hát từ Lào. Sau đó, Lào không còn triều cống
của Đại Việt, nhà vua đã giao cho dân làng Hội Xá việc tổ chức một đội múat để tiếp
4
tục cung cấp những nhịp điệu Ai Lao cho Ngài, gọi phường Ải Lao. Những quy trình,
hoạt động của phường Ải Lao cũng được tác giả miêu tả rất chi tiết và đầy đủ. Cả 12 bài hát
biểu diễn của phường Ải Lao đều được tác giả ghi chép rất tỉ mỉ. Đây một trong những
bài viết nghiên cứu đầy đủ chi tiết về phường Ải Lao, tuy nhiên bài viết tập trung đi sâu
vào miêu tả nguồn gốc chi tiết quy trình biểu diễn, chưa đưa ra được yêu cầu bảo vệ
phát huy giá trị hát múa phường Ải Lao.
Múa hát Ải Lao còn được đề cập trong chương “Hội Gióng tục diễn lại sự tích
Phù Đổng Thiên Vương phá giặc Ân” NẾP HỘI ĐÌNH ĐÁMtrong tác phẩm
Quyển Thượng xuất bản năm 1970 của tác giả Toan Ánh. Trong các phẩm của Toan Ánh, tác
giả đề cập tới múa hát phường Ải Lao với cái tên “ban múa Lào của làng Hội Xá”:
“Lúc đó ban múa Lào của làng Hội bên kia sông đã được cử sang để hát khúc
quân ca liền vào làm lễ múa ca. Ban này gồm 20 người, một người đóng vai ông
Cọp tượng trưng cho sức mạnh tới trước bàn thờ lễ phủ phục, còn mười chín người
đóng giả người Lào múa hát, điệu múa theo giọng hát. Dưới đây khúc quân ca
hàng năm ban hát làng hội vẫn ca múa trước bàn thờ, khúc hát này theo dân làng
Phù Đổng thì từ đời nhà Lý, ban hát làng Hội vẫn vừa hát vừa đánh phách
theo điệu múa”2
Tuy đề cập miêu chi tiết múa hát của phường Ải Lao nhưng tương tự nghiên cứu của
GS.TS Nguyễn Văn Huyên, tác phẩm của Toan Ánh chưa đề cập đến vấn đề bảo vệ phát
huy giá trị hát múa phường Ải Lao.
Các tác phẩm nghiên cứu về lễ hội Gióng như: cuốn sách Người anh hùng làng
Gióng” xuất bản 1967 của GS. Cao Huy Đỉnh; Thăng Long, Đông Đô, Hà Nội: địa chí văn
hóa dân gian” của Sở văn hóa thông tin Nội năm 1991; Trung Vũ (1992), Lễ hội
cổ truyền, nxb Khoa học hội; Văn Lung Đặng, Sông Thao Nguyễn, Văn Trụ Hoàng
(1999), Phong tục tập quán các dân tộc Việt Nam, Nhà xuất bản Văn hóa dân tộc; Ngọc
Khánh Vũ (2004), Văn hóa Việt Nam: những điều học hỏi: các bình diện văn hóa Việt Nam,
Nhà xuất bản Văn hóa-thông tin; Trung(2005), Lễ hội Việt Nam, NxbVăn hoá thông
tin; Nguyễn Thị Khuyên (2010), , Nxb Nội đều những tác Lễ Hội Nội tập 1
phẩm có sự nghiên cứu về lễ hội gióng đều đề cập đến mua hát Ải Lao. Tuy nhiên, trong
2 Toan Ánh (1970), , Quyển Thượng,Nxb: NAM CHI TÙNG THƯ, tr 106 – 107.NẾP CŨ – HỘI HÈ ĐÌNH ĐÁM
5
các tác phẩm trên hầu hết đều đề cập đến Ải Lao như một nghi thức gắn liền với lễ hội
Gióng mà chưa có sự đề cập đến bảo vệ và phát huy giá trị của nghệ thuật múa hát Ải Lao.
Gần đây nhất dự án “nghiên cứu, bảo vệ tập quán hội hát múa Ải Lao” do
Trung tâm Nghiên cứu Phát huy giá trị di sản văn hóa (CHH) thực hiện đã đưa ra được
tính bức thiết trong việc bảo vệ phát huy hát múa Ải Lao. Đặc biệt xất bản cuốn sách
“Các bài hát Ải Lao xưa nay” với nội dung ghi lại chi tiết các điệu múa 12 điệu hát.
Với dự án nghiên cứu “nghiên cứu, bảo vệ tập quán xã hội hát và múa Ải Lao” và cuốn sách
“Các bài hát Ải Lao xưa nay” đã thể hiện sự nhìn nhận đúng đắn đưa ra nhưng giải
pháp thiết thực về bảo vệ và phát huy hát múa Ải Lao. Tuy nhiên, cuốn sách “Các bài hát Ải
Lao xưa và nay” chủ yếu sử dụng phương pháp thống kê rồi liệt kê ra các bài hát mà chưa đi
sâu vào trong nghiên cứu góc độ bảo vệ phát huy di sản. Còn dự án “nghiên cứu, bảo vệ
tập quán hội hát múa Ải Lao” tuy đã đề cập đi vào nghiên cứu các biện pháp bảo
vệ phát huy hát múa Ải Lao nhưng mới chỉ nhìn nhận giải quyết vấn đề trên phương
diện các nhà quản lý, chưa đi sâu vào vai trò của cả cộng đồng trong bảo trong bảo vệ
phát huy di sản.
Một số bài viết trên các báo, tạp chí đề cập đến múa hát Ải Lao như: “Độc đáo
nghệ thuật hát múa Ải Lao trong Lễ hội Gióng” của tác giả Hồng Bắc đăng ngày
23/08/2016 trên báo điện tử VOV5; “Hát múa Ải lao di sản văn hóa phi vật thể quốc gia”
của tác giả Nguyễn Thị Xoay đăng ngày 6/3/2017 trên trang web cổng thông tin điện tử
quận Long Biên;Đặc sắc hát múa Ải Lao” của hai tác giả Mạnh Thắng - Hoàng Việt đăng
trên trang web báo Quân đội nhân dân ngày 5/3/2017; bài viết “Độc đáo nghệ thuật hát múa
Ải Lao hội Gióng làng Phù Đổng” đăng ngày 14/2/2016 trên tạp chí của ban Tuyên giáo
trung ương… Điểm chung của các bài báo, tạp chí nêu trên là đều đề cập và có sự phân tích
đến nghệ thuật hát múa Ải Lao, tuy nhiên ít hoặc không có sự đề cập đến vấn đề bảo tồn
phát huy di sản.
Ngoài ra cũng một số bài báo, tạp chí nêu vấn đề bảo vệ phát huy hát múa
Ải Lao như: Bảo vệ tập quán hội hát múa Ải Lao” của tác giả Đinh Thị Thuận đăng
ngày 26/12/2015 trên báo Công an nhân dân online; Ải Lao - Bảo tồn di sản hát múa
cổ” của tác giả Phương Thu đăng ngày 28/03/2017 trên trang web báo Tuổi trẻ thủ đô;
“Khám phá 'kho báu' di sản phi vật thể Nội (kỳ 4): “Phi Ải Lao bất thành Hội Gióng”
đăng ngày 06/01/2020 trên trang web báo Thể thao văn hoá… nhưng lại chủ yếu đề cập đến
6
hiện trạng và nhưng khó khăn gặp phải trong vấn đề bảo vệ và phát huy hát múa Ải Lao mà
chưa đề cập đến vai trò của cộng đồng trong bảo vệ và phát huy hát múa Ải Lao.
Tóm lại hiện nay, nhìn chung chưa nhiều nghiên cứu sự nghiên cứu thực sự
sâu sắc về bảo vệ phát huy hát múa Ải Lao. Hầu hết các nghiên cứu đều gắn hát múa Ải
Lao với chủ thể lễ hội Gióng ít có nghiên cứu nào coi hát múa Ải Lao chủ thể riêng
biệt. Nếu có thì cũng chỉ đề cập đến vấn đề cần bảo vệ và phát huy hát múa Ải Lao mà chưa
giải pháp bảo vệ phát huy hát múa Ải Lao trên phương diện cộng đồng trong thời
covid 19. Nghiên cứu này sẽ đưa ra khung lý thuyết cụ thể, các tác độngvai trò của cộng
đồng trong bảo vệ và phát huy di sản. Từ đó có những đóng góp giải pháp trong việc bảo vệ
và phát huy giá trị di sản.
2.2. Tổng quan nghiên cứu vai trò của cộng đồng trong bảo vệ phát huy di sản phi vật
thể.
Trong nhiều năm trở lại đây, tiếp cận nghiên cứu vấn đề bảo vệ và phát huy di sản phi
vật thể trên phương diện cộng đồng đang được nhiều nhà nghiên cứu các nhà quản
đánh giá cao và đưa ra nhiều bài nghiên cứu.
Trong Công ước về bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể (2003), UNESCO đã khẳng
định vai trò của cộng đồng trong bảo vệ và phát huy di sản văn hoá, đồng thời gắn liền cộng
đồng với trách nhiệm và nghĩa vụ bảo vệ và phát huy di sản:
“Trong khuôn khổ các hoạt động bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể, mỗi Quốc gia
thành viên cần phải nỗ lực để đảm bảo khả năng tham gia tối đa của các cộng đồng,
nhóm người và trong một số trường hợp là các cá nhân đã sáng tạo, duy trì và chuyển
giao loại hình di sản này cần phải tích cực lôi kéo họ tham gia vào công tác quản
lý.”3
Trong nghiên cứu “Cộng đồng bảo vệ di sản Kinh nghiệm thực hành tốt từ Dự án
Nhã nhạc” của tác giả Lê Thị Minh Lý in trên tạp chí Di sản văn hoá số 4 năm 2008 đã nhận
định nêu ra vai trò của cộng đồng với bảo vệ phát huy di sản văn hoá. Tác giả nhận
định di sản phải gắn liền với cộng đồng chỉ được bảo vệ một cách bền vững bởi cộng
đồng, đồng thời cộng đồng cũng là người hưởng thụ chính di sản đó:
3 UNESCO(2003), Công c vềề b o v di s n văn hóa phi v t th , Tr.9 .Tham kh o t i: ướ
https://ich.unesco.org/doc/src/00009-VI-PDF.pdf
7
“Cộng đồng những người nắm giữ thực hành di sản, giữ vai trò vừa chủ thể
sáng tạo vừa người hưởng thụ (và hưởng lợi) các sinh hoạt văn hoá đó. Di sản
văn hoá phải được bảo tồn trong không gian văn hoá nơi được sáng tạo ra, đồng
thời kết hợp hài hoà giữ bảo tồn yếu tố truyền thống sự biến đổi thích nghi cần
thiết. Di sản văn hoá phải được duy trì, bảo tồn trong điều kiện phù hợp với hội
hiện tại, đáp ứng như cầu cuộc sống. Để bảo vệ di sản n hoá một cách bền vững,
cộng đồng chủ thể văn hoá phải là người có vai trò quyết định”.4
Vai trò của cộng đồng trong bảo vệ di sản càng được tác giả Thị Minh khẳng
định trong bài viết khác mang tênTăng cường nhận thức và biện pháp quản lý lễ hội (Một
số ý kiến từ tiếp cận quản di sản văn hoá phi vật thể) được đăng trên tạp chí Di sản văn
hoá số 4 năm 2010. Trong bài viết, tác giả khẳng định “chính họ người làm nên giá trị lễ
hội và quyết định cách thức bảo vệ di sản của họ. Họ là đối tác làm việc với các nhà quản lý
văn hoá để bảo vệ lễ hội”. Vai trò cộng đồng lúc này đã được tác giả nhận định vai trò
quyết định đối với bảo vệ các di sản văn hoá phi vật thể.
Trong bài viết “Một số kiến nghị về công tác bảo vệ di sản văn hoá phi vật thể tại
Việt Nam” của hai tác giả Nguyễn Đức Tăng và Dương Bích Hạnh đăng trên Tạp chí Di sản
văn hoá số 1 năm 2014 đã đưa ra nhiều khuyến nghị với công tác bảo vệ phát huy di sản
văn hoá phi vật thể Việt Nam. Các tác giả đưa ra 4 giải pháp cốt yếu về bảo vệ di sản
trong đó giải pháp then chốt đưa lên hàng đầu khuyến khích sự tham gia tối đa của cộng
đồng.
Đặc biệt trong bài viết “ ” đăngCộng đồng với việc bảo tồn di sản văn hóa Phi vật thể
trên tạp chí Di sản số 1 năm 2016, tác giả Nguyễn Thị Thu Trang đã khẳng định dựa cộng
đồng chính phương pháp hiệu quả nhất để lưu giữ phát huy các giá trị di sản văn hóa
vật thể phi vật thể cộng đồng nắm giữ. Tác giả khẳng định di sản phải được gắn liền
với con người và đó chính là phương pháp bo vệ di sản văn hoá một cách bền vững nhất:
“Nhận thức được di sản văn hoá là đối tượng duy nhất và không thể thay thế, nên các
cộng đồng dân tộc các quốc gia trên thế giới đều trách nhiệm bảo vệ lưu giữ
cho tương lai. Ngược lại, trong công cuộc bảo vệ này, di sản văn hóa phải được gắn
với con người cộng đồng dân địa phương (với cách chủ thể sáng tạo văn
4 Lề Th Minh Lý (2008), ịC ng đồồng b o v di s n – Kinh nghi m th c hành tồốt t D án Nhã nh c, t p chí Di s n văn
hoá, sôố 4, 2008, tr 39.
8
hóa chủ sở hữu tài sản văn hóa), coi việc đáp ứng nhu cầu sinh hoạt văn hóa lành
mạnh của đông đảo công chúng trong xã hội là mục tiêu hoạt động.”
Như vậy, đã nhiều công trình nghiên về vấn đề “vai trò của cộng đồng trong bảo
vệ phát huy di sản phi vật thể”. Trên sở kế thừa những nghiên cứu trước đó, kết hợp
với những kiến thức do bản thân tìm hiểu được, tác giả nghiên cứu sẽ phân tích vai trò
của cộng đồng trong bảo vệ phát huy di sản phi vật thể hát múa Ải Lao nghiên cứu
xây dựng xây dựng một khung thuyết về vai trò cộng đồng trong bảo vệ phát huy di
sản văn hoá phi vật thể có thể áp dụng cho trường hợp nghệ thuật hát múa Ải Lao.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu này nhằm mục đích tìm hiểu làm hiện trạng, vấn đề bảo vệ và phát
huy nghệ thuật hát múa Ải Lao. Đánh giá chính xác những ưu điểm và hạn chế những chính
sách trong việc quản bảo vệ phát huy nghệ thuật hát múa Ải Lao, từ đó đề ra những
giải pháp nhằm phục dựng bảo vệ những điệu hát, múa, phát huy nghệ thuật hát múa Ải
Lao.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Nghiên cứu tổng quan nghệ thuật hát múa Ải Lao giá trị văn hoá, lịch sử hát múa
Ải Lao chứa đựng.
Khảo sát, phỏng vấn, phân tích đánh giá thực trạng vấn đề bảo vệ phát huy nghệ
thuật hát múa Ải Lao giai đoạn dịch bệnh covid 19 để thấy được những vấn đề cần phải giải
quyết đề bảo vệ phát huy di sản giai đoạn dịch bệnh covid 19, từ đó đề ra những giải
pháp nhằm phục dựng bảo vệ những điệu hát, múa phát huy nghệ thuật hát múa Ải
Lao giai đoạn trên.
Nghiên cứu sở luận sở pháp về bảo vệ di sản văn hoá phi vật thể
tổng quan vai trò cộng đồng với di sản văn hoá phi vật thể. Trên sở đó nhằm xây dựng
một khung thuyết về vai trò cộng đồng trong bảo vệ phát huy di sản văn hoá phi vật
thể có thể áp dụng cho trường hợp nghệ thuật hát múa Ải Lao.
4. Giới hạn về phạm vi nghiên cứu
9
- Giới hạn về nội dung nghiên cứu: Vai trò của cộng đồng trong bảo vệ và phát huy hát múa
Ải Lao giai đoạn dịch bệnh covid 19.
- Giới hạn về địa bàn nghiên cứu: làng Hội Xá, phường Phúc Lợi, quận Long Biên, thành
phố Hà Nội
- Giới hạn về thời gian nghiên cứu: từ năm 2019 đến nay (2022) ( khoảng thời gian xuất
hiện dịch bệnh covid 19 đến nay)
- Giới hạn về khách thể nghiên cứu: nghiên cứu đi sâu vào hai đối tượng chính trong bảo vệ
và phát huy hát múa Ải Lao gồm: người thực hành và cán bộ quản lý.
5. Lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
5.1. Lý thuyết nghiên cứu
Thuyết trung tâm và ngoại vi và lý thuyết vùng văn hoá: Hai lý thuyết này nhằm mục
đích nghiên cứu và giải thích cho việc xuất hiện múa hát Ải Lao ở nhiều nơi khác bên ngoài
“lãnh thổ” của lễ hội Gióng. Đồng thời cũng lý vấn đề nguồn gốc của phường Ải Lao có bắt
nguồn từ nước Lào hay không.
Lý thuyết cộng đồng trong bảo vệ và pháy huy di sản văn hoá phi vật thể. Cộng đồng
với cách vừachủ thể văn hoá vừa sở hữu, thực hành , sáng tạo gìn giữ di sản. Cộng
đồng điểm tựa của di sản văn hoá phi vật thể các thành viên của cộng đồng cũng thực
hành, sáng tạo, gìn giữ, truyền dạy các di sản văn hoá phi vật thể. Đồng thời, một di sản văn
hoá phi vật thể muốn tồn tại được phải có ý nghĩa với cộng đồng. Di sản văn hoá phi vật thể
không thể tồn tại tách rời khỏi cộng đồng, luôn nằm trong con người chỉ được nhận
biết, nhận diện thông qua hoạt động biểu diễn, thể hiện ra ngoài của cộng đồng. thuyết
này nhằm khẳng định vai trò của cộng đồng trong bảo vệ và pháy huy di sản văn hoá phi vật
thể nói chung và bảo vệ và phát huy hát múa Ải Lao nói riêng.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp thống kê, so sánh, phân tích tổng hợp: tiến hành tổng hợp hệ thống
các thông tin thu thập được các nguồn tham khảo, đối chiếu với cái nhìn thực tế để cái
nhìn tổng quát cũng như chính xác hơn về đối tượng nghiên cứu, đồng thời rút được ra kết
luận đề tài.
10
Phương pháp điền dân tộc học: Tiến hành khoả sát thực tế để những thông tin
thực tế, nhằm có thêm thông tin cũng như so sánh với các tài liệu tham khảo, đánh giá chính
xác về vai của cộng đồng trong bảo vệ phát huy hát múa Ải Lao. Từ đó những kết
luận, giải pháp chính xác trong bảo vệ và phát huy di sản.
Phương pháp quan sát không tham dự: Tiến hành quan sát, đánh giá sự tổ chức lễ hội
Gióng múa hát Ải Lao trong mùa dịch. Từ đó những kết luận về hiện trạng của nghệ
thuật múa hát Ải Lao trong giai đoạn covid 19. Đồng thời cũng cái nhìn khách quan về
vai trò cộng đồng trong việc bảo vệ và phát huy hát múa Ải Lao.
Phương pháp phỏng vấn sâu: Tiến hành phỏng vấn sâu, thu thập thông tin từ các nhà
quản lý, các người thực hành. Từ đó thu thập được những thông tin quan trọng, so sánh với
các tài liệu, báo cáo khác. Từ đó có những định hình về vai trò của cộng đồng trong việc bảo
vệ phát huy hát múa Ải Lao. Đồng thời hiện trạng, mức độ giải pháp việc bảo vệ
phát huy hát múa Ải Lao.
Phương pháp hồi cố: Tiến hành hỏi một nghệ nhân có thời gian thực hành hát múa Ải
Lao lâu năm, từ đó cái nhìn sâu sắc hơn về nguồn gốc, hiện trạng, sự thay đổi của di sản
qua thời gian, đặc biệt là giai đoạn dịch bệnh covid. Đồng thời có cái nhìn về sự gắn bó giữa
di sản và cộng đồng qua từng thế hệ.
6. Nguồn tư liệu sử dụng cho nghiên cứu
- Nguồn liệu cấp: các tài liệu sử học về hát múa Ải Lao như Đại Việt sử toàn thư,
Lĩnh Nam trích quái…
- Nguồn liệu thứ cấp: các bài nghiên cứu về hội Gióng múa hát Ải Lao, các văn bản
ghi chép về hát múa Ải Lao.
- Tư liệu điền dã: phỏng vấn trực tiếp người thực hành, các nghệ nhân trong phường Ải Lao,
các cán bộ cơ quan quản lý…
- liệu tiếng nước ngoài: G.Dumoutier (1893),“Une fête religieuse annamite à Phu
Đong” , Revue de l'histoire des religions”; Tạp chí Nguyễn Văn Huyên ( 1939), “Les
chants et les danses d'Ai-lao aux fêtes de Phù-Đông (Bẵc-ninh”) tạp chí trường Viễn Đông
Bác cổ.
7. Dự kiến nội dung nghiên cứu.
11
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, phần tài liệu tham khảo mục lục thì nội dung chính
của nghiên cứu bao gồm 3 chương:
Chương 1: Tổng quan về hội Gióng xã Phù Đổng và phường Ải Lao ở làng Hội Xá, phường
Phúc Lợi, quận Long Biên, thành phố Hà Nội.
1.1. Hội Gióng ở xã Phù Đổng.
1.2. Phường Ải Lao ở làng Hội Xá, phường Phúc Lợi, quận Long Biên, thành phố Hà Nội.
Chương 2: Vai trò của cộng đồng trong bảo vệ và phát huy hát múa Ải Lao.
2.1. Cộng đồng và khái niệm cộng đồng.
2.2. Vai trò của cộng đồng trong bảo vệ phát huy hát múa Ải Lao trước giai đoạn dịch
bệnh covid 19 (tính đến 2019).
2.2.1. Người thực hành
2.2.2. Cán bộ quản lý
2.3. Vai trò của cộng đồng trong bảo vệ phát huy hát múa Ải Lao trước giai đoạn dịch
bệnh covid 19 (từ sau 2019 đến nay).
2.2.1. Người thực hành
2.2.2. Cán bộ quản lý
Chương 3: Một số vấn đề gặp phải và giải pháp bảo vệ và phát huy hát múa Ải Lao.
3.1. Một số vấn đề gặp phải trong bảo vệ và phát huy hát múa Ải Lao.
3.2. Giải pháp bảo vệ và phát huy hát múa Ải Lao.
8. Tài liệu tham khảo (liên quan đến vấn đề nghiên cứu)
Tài liệu trong nước:
1. Toan Ánh (1970), , Quyển Thượng,Nxb: NAM CHINẾP– HỘI ĐÌNH ĐÁM
TÙNG THƯ, tr 106 – 107
2. Cao Huy Đỉnh (2003), “ ”, Nxb Khoa học xã hội.Người anh hùng làng Gióng
3. Văn Lung Đặng, Sông Thao Nguyễn, Văn Trụ Hoàng (1999), Phong tục tập quán
các dân tộc Việt Nam, Nhà xuất bản Văn hóa dân tộc
12
4. Nguyễn Văn Huyên ( 1939), Les chants et les danses d'Ai-lao aux fêtes de Phù-
Đông (Bẵc-ninh”) đăng trên tạp chí trường Viễn Đông Bác cổ. Xem tại trang web:
Les chants et les danses d'Ai-lao aux fêtes de Phù-Đông (Bẵc-ninh) - Persée
(persee.fr) (ngày truy cập 3/1/2022).
5. Văn Lung Đặng, Sông Thao Nguyễn, Văn Trụ Hoàng (1999), Phong tục tập quán
các dân tộc Việt Nam, Nhà xuất bản Văn hóa dân tộc
6. Nguyễn Thị Khuyên (2010), , Nxb Hà Nội Lễ Hội Hà Nội tập 1
7. Thị Minh Lý,“Cộng đồng bảo vệ di sản Kinh nghiệm thực hành tốt từ Dự án
Nhã nhạc”, tạp chí Di sản văn hoá, số 4, 2008.
8. Lê Thị Minh ,“Tăng cường nhận thức biện pháp quản lễ hội (Một số ý kiến
từ tiếp cận quản lý di sản văn hoá phi vật thể)”, tạp chí Di sản văn hoá, số 4, 2010.
9. Lê Trung Vũ (2005), Lễ hội Việt Nam, NxbVăn hoá thông tin
10.Ngọc Khánh (2004), Văn hóa Việt Nam: những điều học hỏi: các bình diện văn
hóa Việt Nam, Nhà xuất bản Văn hóa-thông tin
11. Lê Trung Vũ (1992), , nxb Khoa học xã hội.Lễ hội cổ truyền
12.Nguyễn Đức Tăng Dương Bích Hạnh ,“Một số kiến nghị về công tác bảo vệ di
sản văn hoá phi vật thể tại Việt Nam”, Tạp chí Di sản văn hoá, số 1, năm 2014.
13.Nguyễn Thị Thu Trang, “ ”, tạpCộng đồng với việc bảo tồn di sản văn hóa Phi vật thể
chí Di sản, số 1, 2016.
14.“Thăng Long, Đông Đô, Nội: địa chí văn hóa dân gian”, 1991, Sở văn hóa
thông tin Hà Nội.
15. UNESCO(2003), Công ước về bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể, Tr.9 .Tham khảo tại:
https://ich.unesco.org/doc/src/00009-VI-PDF.pdf (ngày truy cập 3/1/2022).
Tài liệu nước ngoài:
16. G.Dumoutier (1893),“Une fête religieuse annamite à Phu Đong” , Revue deTạp chí “
l'histoire des religions”. Xem tại trang web: Indochine 1931 Bộ sưu tập Sách
Đông Dương (nlv.gov.vn) (ngày tuy cập 3/1/2022).
Tài liệu trên internet:
17. http://dsvh.gov.vn/hat-mua-ai-lao-1305 (ngày truy cập 3/1/2022).
18. Độc đáo nghệ thuật hát múa Ải Lao trong Lễ hội Gióng” của tác giả Hồng Bắc
đăng ngày 23/08/2016 trên báo điện tử VOV5: https://vovworld.vn/vi-VN/viet-nam-
13
dat-nuoc-con-nguoi/doc-dao-nghe-thuat-hat-va-mua-ai-lao-trong-le-hoi-giong-
463913.vov (ngày truy cập 3/1/2022).
19. “Đặc sắc hát múa Ải Lao” của hai tác giả Mạnh Thắng - Hoàng Việt đăng trên trang
web báo Quân đội nhân dân ngày 5/3/2017: https://www.qdnd.vn/phong-su-anh/dac-
sac-hat-mua-ai-lao-501161 (ngày truy cập 3/1/2022).
20. “Độc đáo nghệ thuật hát múa Ải Lao hội Gióng làng Phù Đổng” đăng ngày
14/2/2016 trên tạp chí của ban Tuyên giáo trung ương: https://tuyengiao.vn/van-hoa-
xa-hoi/van-hoa/doc-dao-nghe-thuat-hat-mua-ai-lao-o-hoi-giong-lang-phu-dong-
85113 (ngày truy cập 3/1/2022).
21. “Bảo vệ tập quán xã hội hát và múa Ải Lao” của tác giả Đinh Thị Thuận đăng ngày
26/12/2015 trên báo Công an nhân dân online: https://cand.com.vn/Chuyen-dong-
van-hoa/Bao-ve-tap-quan-xa-hoi-hat-va-mua-ai-Lao-i376113/ (ngày truy cập
3/1/2022).
22. “Ải Lao - Bảo tồn di sản hát múa cổ” của tác giả Phương Thu đăng ngày
28/03/2017 trên trang web báo Tuổi trẻ thủ đô: https://tuoitrethudo.com.vn/ai-lao-
bao-ton-di-san-hat-va-mua-co-30595.html (ngày truy cập 3/1/2022).
23. “Phi Ải Lao bất thành Hội Gióng'” đăng ngày 06/01/2020 trên trang web báo Thể
thao văn hoá: https://thethaovanhoa.vn/van-hoa/kham-pha-kho-bau-di-san-phi-vat-
the-ha-noi-ky-4-phi-ai-lao-bat-thanh-hoi-giong-n20200106075902868.htm
(ngày truy cập 3/1/2022).
14

Preview text:

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN ----- ----- TIỂU LUẬN
PHƯƠNG PHÁP LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VĂN HOÁ
Đề bài: Trên cơ sở nội dung đã học, tiểu luận cuối kỳ, các bạn làm 1 đề cương nghiên cứu. Sinh viên thực hiện: Lê Thế Công Mã số sinh viên: 20032513 Lớp: CUL3002
Hà nội, ngày 27 tháng 12 năm 2021
Tên đề tài: Vai trò của cộng đồng trong bảo vệ và phát huy hát múa Ải Lao ở làng Hội
Xá, phường Phúc Lợi, quận Long Biên, thành phố Hà Nội trong giai đoạn dịch bệnh covid 19. 1. Lý do chọn đề tài
Trải qua hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước, trong suốt lịch sử hào hùng của dân
tộc, ông cha ta đã tạo dựng và kết tinh ra cho mình những tinh hoa và bản sắc văn hoá riêng
của dân tộc. Chính những tinh hoa, bản sắc văn hoá đó đã tạo ra sức mạnh, ý chí quật cường
của dân tộc Việt Nam mà không một quốc gia, dân tộc nào có thể đồng hoá, đánh bại được.
Một phần những tinh hoa, bản sắc dân tộc đó được thể hiện thông qua các lễ hội truyền
thống ở Việt Nam. Trong đó phải kể đến hội Gióng – là một trong những lễ hội truyền thống
nổi tiếng nhất ở đồng bằng Bắc Bộ. Câu ca dao“Ai ơi mồng chín tháng tư, không đi hội
Gióng cũng hư mất đời” chính là nói về sự nổi tiếng và thu hút của hội Gióng.
Hội Gióng là lễ hội truyền thống được diễn ra hằng năm nhằm để tưởng niệm và ca
ngợi vị anh hùng Thánh Gióng trong truyền thuyết Thánh Gióng có công đánh giặc ngoại
xâm và mang lại hưng thịnh cho nhân dân. Mang trong mình đậm đà giá trị bản sắc văn hoá
Việt, vào tháng 11 năm 2010, Hội Gióng ở đền Phù Đổng và đền Sóc đã được UNESCO
công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại. Nhắc đến hội Gióng ở đền
Phù Đổng, một trong những nét đặc trưng của lễ hội đó là múa hát Ải Lao của Phường Ải
Lao với câu ca “Phi Ải Lao bất thành Hội Gióng”. Hát múa Ải Lao là một nghi thức truyền
thống, diễn ra ở lễ hội Gióng làng Phù Đổng, huyện Gia Lâm, Hà Nội do phường Ải Lao
thuộc làng Hội Xá, phường Phúc Lợi, quận Long Biên thực hành. Theo nghiên cứu của cục
di sản văn hoá về phường Ải Lao, nguồn gốc phường Ải Lao có từ trong truyền thuyết:
“Thánh Gióng đi đánh giặc qua dòng sông Thiên Đức (tức sông Đuống), Ngài rủ lũ trẻ chăn
trâu, người câu cá bên bờ sông cùng đi, Ông Hoàng Hổ cũng xin theo. Chiến thắng giặc Ân,
Thánh Gióng hóa về trời. Mẹ Thánh Gióng buồn vì con không về. Nhà vua hứa trọng
thưởng cho người làm bà vui cười trở lại nhưng không ai làm được. Khi trẻ chăn trâu làng
Hội Xá sang múa hát, bà thấy đúng tâm trạng nên bật cười. Từ đó, nhà vua lệnh cho tổng
Phù Đổng khi tổ chức Hội Gióng, phải mời phường Ải Lao sang biểu diễn . 1 Nghệ thuật hát
và múa Ải Lao mang trong mình giá trị to lớn. Qua những câu hát cổ, điệu múa cổ, giai điệu
1 http://dsvh.gov.vn/hat-mua-ai-lao-1305 (ngày truy cập 3/1/2022). 2
độc đáo đã ca ngợi tinh thần dân tộc chống giặc ngoại xâm, giáo dục thế hệ trẻ về lòng yêu
nước và lưu giữ trong mình những giá trị văn hoá đặc biệt.
Tuy nhiên, do chịu tác động của hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mĩ đã
làm nghệ thuật hát múa phường Ải Lao đã bị mai một và biến đổi. Việc thực hành bị ngắt
quãng làm các các ca từ cổ, điệu múa cổ gần như không được thực hành trong khoảng thời
gian dài, có ít các các nghệ nhân, người thực hành có thể thực hành hát múa, thiếu thế hệ trẻ
kế thừa… Những vấn đề này làm việc bảo vệ và phát huy hát múa Ải Lao đứng trước nhiều
khó khăn lớn, nếu không có những chính sách phù hợp, nghệ thuật hát múa Ải Lao sẽ đứng
trước nguy cơ bị mai một, biến dạng.
Sau nhiều thập kỷ đổi mới, cùng với sự phát triển của xã hội, đời sống vật chất, tinh
thần của con người ngày càng được nâng cao thì nhu cầu tìm hiểu những giá trị văn hoá, bản
sắc văn hoá dân tộc ngày càng phát triển. Hát múa Ải Lao cũng được nhà nước quan tâm
trong việc bảo vệ và phát huy giá trị. Năm 2016, Hát múa Ải Lao được Bộ trưởng Bộ Văn
hóa, Thể thao và Du lịch đưa vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia. Tuy nhiên,
việc kế thừa, bảo vệ và phát huy giá trị hát múa Ải Lao vẫn còn là bài toán khó trong công
tác bảo vệ và phát huy hát múa Ải Lao ở làng Hội Xá, phường Phúc Lợi, quận Long Biên,
thành phố Hà Nội như những người thực hành phần lớn đều lớn tuổi, khó khăn trong truyền
dạy, ít có sự quan tâm, tham gia của thế hệ trẻ… Đặc biệt là trong giai đoạn dịch bệnh covid
từ cuối năm 2019, lễ hội Gióng bị dừng tổ chức do ảnh hưởng của dịch bệnh. Lễ hội gióng
2020 và 2021 đều bị không tổ chức, đặc biệt năm 2021 trùng với kỉ niệm 10 năm Hội Gióng
được UNESCO công nhận là di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại đều bị hoãn,
làm cho nghệ thuật hát múa Ải Lao của phường Ải Lao không được biểu diễn. Với những
khó khăn trước đây do do ảnh hưởng của hai cuộc chiến tranh, lại thêm những khó khăn do
dịch bệnh mang lại thời gian hiện tại. đồng thời có thể vẫn kéo dài thêm khoảng thời gian
dài nữa làm cho nghệ thuật hát múa Ải Lao đứng trước nhiều nguuy cơ mai một.
Nhận thấy được vai trò của cộng đồng trong bảo vệ và phát huy hát múa Ải Lao
trong giai đoạn dịch bệnh covid 19, là sinh viên ngành văn hoá học trường Đại học Khoa
học Xã hội và Nhân văn,đã được học những kiến thức về bảo vệ và phát huy di sản văn hoá,
đồng thời cũng là người con vùng đất Long Biên, thành phố Hà Nội – là quê hương ra đời
của phường Ải Lao. Tôi đã lựa chọn và triển khai đề tài “Vai trò của cộng đồng trong bảo
vệ và phát huy hát múa Ải Lao ở làng Hội Xá, phường Phúc Lợi, quận Long Biên, 3
thành phố Hà Nội trong giai đoạn dịch bệnh covid 19” để nhằm đưa ra mối quan hệ giữa
cộng đồng và bảo vệ hát múa Ải Lao, từ đó làm rõ những vấn đề đang gặp phải và đưa đến
những nhận thức và giải pháp trong bảo vệ và phát huy nghệ thuật hát múa Ải Lao giai đoạn
dịch bệnh covid 19 . Với đề tài này, tôi hi vọng đóng góp một phần sức mình để các nhà
quản lý có những chính sách bảo vệ và phát huy nghệ thuật hát múa Ải Lao một cách hiệu
quả trong giai đoạn dịch bệnh này.
2. Tổng quan nghiên cứu vấn đề
2.1. Tổng quan nghiên cứu hát múa Ải Lao ở làng Hội Xá, phường Phúc Lợi, quận Long Biên, thành phố Hà Nội.
Nghiên cứu đầu tiên về hát múa Ải Lao là công trình nghiên cứu của nhà nghiên cứu
người Pháp G.Dumoutier. Đây là bài nghiên cứu với nhan đề “Une fête religieuse annamite
à Phu Đong” in trên Tạp chí “Revue de l'histoire des religions” năm 1893 tại Pháp. Nghiên
cứu chủ yếu đề cập đến hội Gióng và miêu tả các hoạt động, quy trình trình trong lễ hội.
Phường Ải Lao ở đây chưa được gọi với cái tên chính thức mà chỉ được đề cập tại đây như
một nghi thức bên trong hội Gióng. Nghi thức này được tác giả miêu tả như một nghi thức
chịu ảnh hưởng của Đạo giáo với hình ảnh thuần phục con hổ và những điệu hát múa lễ.
Nghiên cứu “Une fête religieuse annamite à Phu Đong” có nhiều ghi chép khác với nhũng
nghiên cứu sau này về hội Gióng, tuy nhiên vẫn mang tính tham khảo sâu sắc bởi đây là một
trong số ít những nghiên cứu chính thức đầu tiên về hội Gióng. Mặc dù có đề cập đến múa
hát Ải Lao, tuy nhiên tác giả chỉ nhìn nhận đây như một nghi thức trong lễ hội, chưa có
phân tích sâu về giá trị, bảo vệ và phát huy múa hát Ải Lao.
Nghiên cứu đầu tiên của người Việt về múa hát Ải Lao là bài viết “Les chants et les
danses d'Ai-lao aux fêtes de Phù-Đông (Bẵc-ninh”) của GS. TS Nguyễn Văn Huyên đăng
trên bản tin trường Viễn Đông Bác cổ Pháp tập 39 trang 153- 196 xuất bản năm 1939. Bài
viết của tác giả trình bày chi tiết vào nguồn gốc và các quy trình trong lễ hội Gióng và hát
múa Ải Lao, đặc biệt là lễ hội Ải Lao. Tác giả trích dẫn truyền thuyết và phân tích nguồn
gốc của múa hát Ai Lao là xuất phát từ Lào từ thời vương quyền Ai Lao còn thuần phục nhà
Lý. Hằng năm, nước Lào phải đưa sang cho vua nước Đại Việt một đội hát xướng. Để tưởng
nhớ công ơn Thánh Gióng, vua Lý Công Uẩn đã mở rộng đền thờ Thánh Gióng, những
người kế vị ông đã dâng tặng Ngài những bài hát từ Lào. Sau đó, Lào không còn triều cống
của Đại Việt, nhà vua đã giao cho dân cư làng Hội Xá việc tổ chức một đội múa hát để tiếp 4
tục cung cấp những nhịp điệu Ai Lao cho Ngài, gọi là phường Ải Lao. Những quy trình,
hoạt động của phường Ải Lao cũng được tác giả miêu tả rất chi tiết và đầy đủ. Cả 12 bài hát
biểu diễn của phường Ải Lao đều được tác giả ghi chép rất tỉ mỉ. Đây là một trong những
bài viết nghiên cứu đầy đủ và chi tiết về phường Ải Lao, tuy nhiên bài viết tập trung đi sâu
vào miêu tả nguồn gốc và chi tiết quy trình biểu diễn, chưa đưa ra được yêu cầu bảo vệ và
phát huy giá trị hát múa phường Ải Lao.
Múa hát Ải Lao còn được đề cập trong chương “Hội Gióng và tục diễn lại sự tích
Phù Đổng Thiên Vương phá giặc Ân” trong tác phẩm NẾP
CŨ – HỘI HÈ ĐÌNH ĐÁM
Quyển Thượng xuất bản năm 1970 của tác giả Toan Ánh. Trong các phẩm của Toan Ánh, tác
giả đề cập tới múa hát phường Ải Lao với cái tên “ban múa Lào của làng Hội Xá”:
“Lúc đó ban múa Lào của làng Hội Xá ở bên kia sông đã được cử sang để hát khúc
quân ca liền vào làm lễ múa và ca. Ban này gồm 20 người, một người đóng vai ông
Cọp tượng trưng cho sức mạnh tới trước bàn thờ lễ phủ phục, còn mười chín người
đóng giả người Lào múa hát, điệu múa theo giọng hát. Dưới đây là khúc quân ca
hàng năm ban hát làng hội Xá vẫn ca múa trước bàn thờ, khúc hát này theo dân làng
Phù Đổng thì có từ đời nhà Lý, và ban hát làng Hội Xá vẫn vừa hát vừa đánh phách theo điệu múa”2
Tuy có đề cập và miêu chi tiết múa hát của phường Ải Lao nhưng tương tự nghiên cứu của
GS.TS Nguyễn Văn Huyên, tác phẩm của Toan Ánh chưa đề cập đến vấn đề bảo vệ và phát
huy giá trị hát múa phường Ải Lao.
Các tác phẩm nghiên cứu về lễ hội Gióng như: cuốn sách “Người anh hùng làng
Gióng” xuất bản 1967 của GS. Cao Huy Đỉnh; “Thăng Long, Đông Đô, Hà Nội: địa chí văn
hóa dân gian” của Sở văn hóa và thông tin Hà Nội năm 1991; Lê Trung Vũ (1992), Lễ hội
cổ truyền, nxb Khoa học xã hội; Văn Lung Đặng, Sông Thao Nguyễn, Văn Trụ Hoàng
(1999), Phong tục tập quán các dân tộc Việt Nam, Nhà xuất bản Văn hóa dân tộc; Ngọc
Khánh Vũ (2004), Văn hóa Việt Nam: những điều học hỏi: các bình diện văn hóa Việt Nam,
Nhà xuất bản Văn hóa-thông tin; Lê Trung Vũ (2005), Lễ hội Việt Nam, NxbVăn hoá thông
tin; Nguyễn Thị Khuyên (2010), Lễ Hội Hà Nội tập 1, Nxb Hà Nội… đều là những tác
phẩm có sự nghiên cứu về lễ hội gióng và đều đề cập đến mua hát Ải Lao. Tuy nhiên, trong
2 Toan Ánh (1970), NẾP CŨ – HỘI HÈ ĐÌNH ĐÁM, Quyển Thượng,Nxb: NAM CHI TÙNG THƯ, tr 106 – 107. 5
các tác phẩm trên hầu hết đều đề cập đến Ải Lao như một nghi thức gắn liền với lễ hội
Gióng mà chưa có sự đề cập đến bảo vệ và phát huy giá trị của nghệ thuật múa hát Ải Lao.
Gần đây nhất là dự án “nghiên cứu, bảo vệ tập quán xã hội hát và múa Ải Lao” do
Trung tâm Nghiên cứu và Phát huy giá trị di sản văn hóa (CHH) thực hiện đã đưa ra được
tính bức thiết trong việc bảo vệ và phát huy hát múa Ải Lao. Đặc biệt là xất bản cuốn sách
“Các bài hát Ải Lao xưa và nay” với nội dung ghi lại chi tiết các điệu múa và 12 điệu hát.
Với dự án nghiên cứu “nghiên cứu, bảo vệ tập quán xã hội hát và múa Ải Lao” và cuốn sách
“Các bài hát Ải Lao xưa và nay” đã thể hiện sự nhìn nhận đúng đắn và đưa ra nhưng giải
pháp thiết thực về bảo vệ và phát huy hát múa Ải Lao. Tuy nhiên, cuốn sách “Các bài hát Ải
Lao xưa và nay” chủ yếu sử dụng phương pháp thống kê rồi liệt kê ra các bài hát mà chưa đi
sâu vào trong nghiên cứu góc độ bảo vệ và phát huy di sản. Còn dự án “nghiên cứu, bảo vệ
tập quán xã hội hát và múa Ải Lao” tuy đã đề cập và đi vào nghiên cứu các biện pháp bảo
vệ và phát huy hát múa Ải Lao nhưng mới chỉ nhìn nhận và giải quyết vấn đề trên phương
diện các nhà quản lý, chưa đi sâu vào vai trò của cả cộng đồng trong bảo trong bảo vệ và phát huy di sản.
Một số bài viết trên các báo, tạp chí có đề cập đến múa hát Ải Lao như: “Độc đáo
nghệ thuật hát và múa Ải Lao trong Lễ hội Gióng” của tác giả Hồng Bắc đăng ngày
23/08/2016 trên báo điện tử VOV5; “Hát múa Ải lao di sản văn hóa phi vật thể quốc gia”
của tác giả Nguyễn Thị Xoay đăng ngày 6/3/2017 trên trang web cổng thông tin điện tử
quận Long Biên; “Đặc sắc hát múa Ải Lao” của hai tác giả Mạnh Thắng - Hoàng Việt đăng
trên trang web báo Quân đội nhân dân ngày 5/3/2017; bài viết “Độc đáo nghệ thuật hát múa
Ải Lao ở hội Gióng làng Phù Đổng” đăng ngày 14/2/2016 trên tạp chí của ban Tuyên giáo
trung ương… Điểm chung của các bài báo, tạp chí nêu trên là đều đề cập và có sự phân tích
đến nghệ thuật hát múa Ải Lao, tuy nhiên ít hoặc không có sự đề cập đến vấn đề bảo tồn và phát huy di sản.
Ngoài ra cũng có một số bài báo, tạp chí nêu rõ vấn đề bảo vệ và phát huy hát múa
Ải Lao như: “Bảo vệ tập quán xã hội hát và múa Ải Lao” của tác giả Đinh Thị Thuận đăng
ngày 26/12/2015 trên báo Công an nhân dân online; “Ải Lao - Bảo tồn di sản hát và múa
cổ” của tác giả Phương Thu đăng ngày 28/03/2017 trên trang web báo Tuổi trẻ thủ đô;
“Khám phá 'kho báu' di sản phi vật thể Hà Nội (kỳ 4): “Phi Ải Lao bất thành Hội Gióng”
đăng ngày 06/01/2020 trên trang web báo Thể thao văn hoá… nhưng lại chủ yếu đề cập đến 6
hiện trạng và nhưng khó khăn gặp phải trong vấn đề bảo vệ và phát huy hát múa Ải Lao mà
chưa đề cập đến vai trò của cộng đồng trong bảo vệ và phát huy hát múa Ải Lao.
Tóm lại là hiện nay, nhìn chung chưa có nhiều nghiên cứu có sự nghiên cứu thực sự
sâu sắc về bảo vệ và phát huy hát múa Ải Lao. Hầu hết các nghiên cứu đều gắn hát múa Ải
Lao với chủ thể lễ hội Gióng mà ít có nghiên cứu nào coi hát múa Ải Lao là chủ thể riêng
biệt. Nếu có thì cũng chỉ đề cập đến vấn đề cần bảo vệ và phát huy hát múa Ải Lao mà chưa
có giải pháp bảo vệ và phát huy hát múa Ải Lao trên phương diện cộng đồng trong thời kì
covid 19. Nghiên cứu này sẽ đưa ra khung lý thuyết cụ thể, các tác động và vai trò của cộng
đồng trong bảo vệ và phát huy di sản. Từ đó có những đóng góp giải pháp trong việc bảo vệ
và phát huy giá trị di sản.
2.2. Tổng quan nghiên cứu vai trò của cộng đồng trong bảo vệ và phát huy di sản phi vật thể.
Trong nhiều năm trở lại đây, tiếp cận nghiên cứu vấn đề bảo vệ và phát huy di sản phi
vật thể trên phương diện cộng đồng đang được nhiều nhà nghiên cứu và các nhà quản lý
đánh giá cao và đưa ra nhiều bài nghiên cứu.
Trong Công ước về bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể (2003), UNESCO đã khẳng
định vai trò của cộng đồng trong bảo vệ và phát huy di sản văn hoá, đồng thời gắn liền cộng
đồng với trách nhiệm và nghĩa vụ bảo vệ và phát huy di sản:
“Trong khuôn khổ các hoạt động bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể, mỗi Quốc gia
thành viên cần phải nỗ lực để đảm bảo khả năng tham gia tối đa của các cộng đồng,
nhóm người và trong một số trường hợp là các cá nhân đã sáng tạo, duy trì và chuyển
giao loại hình di sản này và cần phải tích cực lôi kéo họ tham gia vào công tác quản lý.”3
Trong nghiên cứu “Cộng đồng bảo vệ di sản – Kinh nghiệm thực hành tốt từ Dự án
Nhã nhạc” của tác giả Lê Thị Minh Lý in trên tạp chí Di sản văn hoá số 4 năm 2008 đã nhận
định và nêu ra vai trò của cộng đồng với bảo vệ và phát huy di sản văn hoá. Tác giả nhận
định di sản phải gắn liền với cộng đồng và chỉ được bảo vệ một cách bền vững bởi cộng
đồng, đồng thời cộng đồng cũng là người hưởng thụ chính di sản đó: 3 UNESCO(2003), Công ướ c vềề b ả
o vệ di s ả n văn hóa phi v ậ t th ể , Tr.9 .Tham kh ả o t ạ i:
https://ich.unesco.org/doc/src/00009-VI-PDF.pdf 7
“Cộng đồng là những người nắm giữ và thực hành di sản, giữ vai trò vừa là chủ thể
sáng tạo và vừa là người hưởng thụ (và hưởng lợi) các sinh hoạt văn hoá đó. Di sản
văn hoá phải được bảo tồn trong không gian văn hoá nơi nó được sáng tạo ra, đồng
thời kết hợp hài hoà giữ bảo tồn yếu tố truyền thống và sự biến đổi thích nghi cần
thiết. Di sản văn hoá phải được duy trì, bảo tồn trong điều kiện phù hợp với xã hội
hiện tại, đáp ứng như cầu cuộc sống. Để bảo vệ di sản văn hoá một cách bền vững,
cộng đồng chủ thể văn hoá phải là người có vai trò quyết định”.4
Vai trò của cộng đồng trong bảo vệ di sản càng được tác giả Lê Thị Minh Lý khẳng
định trong bài viết khác mang tên “Tăng cường nhận thức và biện pháp quản lý lễ hội (Một
số ý kiến từ tiếp cận quản lý di sản văn hoá phi vật thể)” được đăng trên tạp chí Di sản văn
hoá số 4 năm 2010. Trong bài viết, tác giả khẳng định “chính họ là người làm nên giá trị lễ
hội và quyết định cách thức bảo vệ di sản của họ. Họ là đối tác làm việc với các nhà quản lý
văn hoá để bảo vệ lễ hội”. Vai trò cộng đồng lúc này đã được tác giả nhận định có vai trò
quyết định đối với bảo vệ các di sản văn hoá phi vật thể.
Trong bài viết “Một số kiến nghị về công tác bảo vệ di sản văn hoá phi vật thể tại
Việt Nam” của hai tác giả Nguyễn Đức Tăng và Dương Bích Hạnh đăng trên Tạp chí Di sản
văn hoá số 1 năm 2014 đã đưa ra nhiều khuyến nghị với công tác bảo vệ và phát huy di sản
văn hoá phi vật thể ở Việt Nam. Các tác giả đưa ra 4 giải pháp cốt yếu về bảo vệ di sản
trong đó giải pháp then chốt đưa lên hàng đầu là khuyến khích sự tham gia tối đa của cộng đồng.
Đặc biệt trong bài viết “Cộng đồng với việc bảo tồn di sản văn hóa Phi vật thể” đăng
trên tạp chí Di sản số 1 năm 2016, tác giả Nguyễn Thị Thu Trang đã khẳng định dựa cộng
đồng chính là phương pháp hiệu quả nhất để lưu giữ và phát huy các giá trị di sản văn hóa
vật thể và phi vật thể mà cộng đồng nắm giữ. Tác giả khẳng định di sản phải được gắn liền
với con người và đó chính là phương pháp bảo vệ di sản văn hoá một cách bền vững nhất:
“Nhận thức được di sản văn hoá là đối tượng duy nhất và không thể thay thế, nên các
cộng đồng dân tộc ở các quốc gia trên thế giới đều có trách nhiệm bảo vệ và lưu giữ
cho tương lai. Ngược lại, trong công cuộc bảo vệ này, di sản văn hóa phải được gắn
với con người và cộng đồng cư dân địa phương (với tư cách là chủ thể sáng tạo văn 4 Lề Th ịC Minh L ộ ý (2008), ng đồồng b ả o v ệ di s ả
n – Kinh nghi ệ m th ự c hành tồốt t ừ ự D ạ
án Nhã nh t c, ạ p chí Di s ả n văn hoá, sôố 4, 2008, tr 39. 8
hóa và chủ sở hữu tài sản văn hóa), coi việc đáp ứng nhu cầu sinh hoạt văn hóa lành
mạnh của đông đảo công chúng trong xã hội là mục tiêu hoạt động.”
Như vậy, đã có nhiều công trình nghiên về vấn đề “vai trò của cộng đồng trong bảo
vệ và phát huy di sản phi vật thể”. Trên cơ sở kế thừa những nghiên cứu trước đó, kết hợp
với những kiến thức do bản thân tìm hiểu được, tác giả nghiên cứu sẽ phân tích rõ vai trò
của cộng đồng trong bảo vệ và phát huy di sản phi vật thể hát múa Ải Lao và nghiên cứu
xây dựng xây dựng một khung lý thuyết về vai trò cộng đồng trong bảo vệ và phát huy di
sản văn hoá phi vật thể có thể áp dụng cho trường hợp nghệ thuật hát múa Ải Lao.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu này nhằm mục đích tìm hiểu và làm rõ hiện trạng, vấn đề bảo vệ và phát
huy nghệ thuật hát múa Ải Lao. Đánh giá chính xác những ưu điểm và hạn chế những chính
sách trong việc quản lý bảo vệ và phát huy nghệ thuật hát múa Ải Lao, từ đó đề ra những
giải pháp nhằm phục dựng và bảo vệ những điệu hát, múa, phát huy nghệ thuật hát múa Ải Lao.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Nghiên cứu tổng quan nghệ thuật hát múa Ải Lao và giá trị văn hoá, lịch sử hát múa Ải Lao chứa đựng.
Khảo sát, phỏng vấn, phân tích đánh giá thực trạng vấn đề bảo vệ và phát huy nghệ
thuật hát múa Ải Lao giai đoạn dịch bệnh covid 19 để thấy được những vấn đề cần phải giải
quyết đề bảo vệ và phát huy di sản giai đoạn dịch bệnh covid 19, từ đó đề ra những giải
pháp nhằm phục dựng và bảo vệ những điệu hát, múa và phát huy nghệ thuật hát múa Ải Lao giai đoạn trên.
Nghiên cứu cơ sở lý luận và cơ sở pháp lý về bảo vệ di sản văn hoá phi vật thể và
tổng quan vai trò cộng đồng với di sản văn hoá phi vật thể. Trên cơ sở đó nhằm xây dựng
một khung lý thuyết về vai trò cộng đồng trong bảo vệ và phát huy di sản văn hoá phi vật
thể có thể áp dụng cho trường hợp nghệ thuật hát múa Ải Lao.
4. Giới hạn về phạm vi nghiên cứu 9
- Giới hạn về nội dung nghiên cứu: Vai trò của cộng đồng trong bảo vệ và phát huy hát múa
Ải Lao giai đoạn dịch bệnh covid 19.
- Giới hạn về địa bàn nghiên cứu: làng Hội Xá, phường Phúc Lợi, quận Long Biên, thành phố Hà Nội
- Giới hạn về thời gian nghiên cứu: từ năm 2019 đến nay (2022) ( khoảng thời gian xuất
hiện dịch bệnh covid 19 đến nay)
- Giới hạn về khách thể nghiên cứu: nghiên cứu đi sâu vào hai đối tượng chính trong bảo vệ
và phát huy hát múa Ải Lao gồm: người thực hành và cán bộ quản lý.
5. Lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
5.1. Lý thuyết nghiên cứu
Thuyết trung tâm và ngoại vi và lý thuyết vùng văn hoá: Hai lý thuyết này nhằm mục
đích nghiên cứu và giải thích cho việc xuất hiện múa hát Ải Lao ở nhiều nơi khác bên ngoài
“lãnh thổ” của lễ hội Gióng. Đồng thời cũng lý vấn đề nguồn gốc của phường Ải Lao có bắt
nguồn từ nước Lào hay không.
Lý thuyết cộng đồng trong bảo vệ và pháy huy di sản văn hoá phi vật thể. Cộng đồng
với tư cách vừa là chủ thể văn hoá vừa sở hữu, thực hành , sáng tạo và gìn giữ di sản. Cộng
đồng là điểm tựa của di sản văn hoá phi vật thể vì các thành viên của cộng đồng cũng thực
hành, sáng tạo, gìn giữ, truyền dạy các di sản văn hoá phi vật thể. Đồng thời, một di sản văn
hoá phi vật thể muốn tồn tại được phải có ý nghĩa với cộng đồng. Di sản văn hoá phi vật thể
không thể tồn tại tách rời khỏi cộng đồng, nó luôn nằm trong con người và chỉ được nhận
biết, nhận diện thông qua hoạt động biểu diễn, thể hiện ra ngoài của cộng đồng. Lý thuyết
này nhằm khẳng định vai trò của cộng đồng trong bảo vệ và pháy huy di sản văn hoá phi vật
thể nói chung và bảo vệ và phát huy hát múa Ải Lao nói riêng.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp thống kê, so sánh, phân tích tổng hợp: tiến hành tổng hợp và hệ thống
các thông tin thu thập được ở các nguồn tham khảo, đối chiếu với cái nhìn thực tế để có cái
nhìn tổng quát cũng như chính xác hơn về đối tượng nghiên cứu, đồng thời rút được ra kết luận đề tài. 10
Phương pháp điền dã dân tộc học: Tiến hành khoả sát thực tế để có những thông tin
thực tế, nhằm có thêm thông tin cũng như so sánh với các tài liệu tham khảo, đánh giá chính
xác về vai của cộng đồng trong bảo vệ và phát huy hát múa Ải Lao. Từ đó có những kết
luận, giải pháp chính xác trong bảo vệ và phát huy di sản.
Phương pháp quan sát không tham dự: Tiến hành quan sát, đánh giá sự tổ chức lễ hội
Gióng và múa hát Ải Lao trong mùa dịch. Từ đó có những kết luận về hiện trạng của nghệ
thuật múa hát Ải Lao trong giai đoạn covid 19. Đồng thời cũng có cái nhìn khách quan về
vai trò cộng đồng trong việc bảo vệ và phát huy hát múa Ải Lao.
Phương pháp phỏng vấn sâu: Tiến hành phỏng vấn sâu, thu thập thông tin từ các nhà
quản lý, các người thực hành. Từ đó thu thập được những thông tin quan trọng, so sánh với
các tài liệu, báo cáo khác. Từ đó có những định hình về vai trò của cộng đồng trong việc bảo
vệ và phát huy hát múa Ải Lao. Đồng thời hiện trạng, mức độ và giải pháp việc bảo vệ và phát huy hát múa Ải Lao.
Phương pháp hồi cố: Tiến hành hỏi một nghệ nhân có thời gian thực hành hát múa Ải
Lao lâu năm, từ đó có cái nhìn sâu sắc hơn về nguồn gốc, hiện trạng, sự thay đổi của di sản
qua thời gian, đặc biệt là giai đoạn dịch bệnh covid. Đồng thời có cái nhìn về sự gắn bó giữa
di sản và cộng đồng qua từng thế hệ.
6. Nguồn tư liệu sử dụng cho nghiên cứu
- Nguồn tư liệu sơ cấp: các tài liệu sử học về hát múa Ải Lao như Đại Việt sử kí toàn thư, Lĩnh Nam trích quái…
- Nguồn tư liệu thứ cấp: các bài nghiên cứu về hội Gióng và múa hát Ải Lao, các văn bản
ghi chép về hát múa Ải Lao.
- Tư liệu điền dã: phỏng vấn trực tiếp người thực hành, các nghệ nhân trong phường Ải Lao,
các cán bộ cơ quan quản lý…
- Tư liệu tiếng nước ngoài: G.Dumoutier (1893),“Une fête religieuse annamite à Phu
Đong” ,Tạp chí “Revue de l'histoire des religions”; Nguyễn Văn Huyên ( 1939), “Les
chants et les danses d'Ai-lao aux fêtes de Phù-Đông (Bẵc-ninh”) tạp chí trường Viễn Đông Bác cổ.
7. Dự kiến nội dung nghiên cứu. 11
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, phần tài liệu tham khảo và mục lục thì nội dung chính
của nghiên cứu bao gồm 3 chương:
Chương 1: Tổng quan về hội Gióng xã Phù Đổng và phường Ải Lao ở làng Hội Xá, phường
Phúc Lợi, quận Long Biên, thành phố Hà Nội.
1.1. Hội Gióng ở xã Phù Đổng.
1.2. Phường Ải Lao ở làng Hội Xá, phường Phúc Lợi, quận Long Biên, thành phố Hà Nội.
Chương 2: Vai trò của cộng đồng trong bảo vệ và phát huy hát múa Ải Lao.
2.1. Cộng đồng và khái niệm cộng đồng.
2.2. Vai trò của cộng đồng trong bảo vệ và phát huy hát múa Ải Lao trước giai đoạn dịch
bệnh covid 19 (tính đến 2019). 2.2.1. Người thực hành 2.2.2. Cán bộ quản lý
2.3. Vai trò của cộng đồng trong bảo vệ và phát huy hát múa Ải Lao trước giai đoạn dịch
bệnh covid 19 (từ sau 2019 đến nay). 2.2.1. Người thực hành 2.2.2. Cán bộ quản lý
Chương 3: Một số vấn đề gặp phải và giải pháp bảo vệ và phát huy hát múa Ải Lao.
3.1. Một số vấn đề gặp phải trong bảo vệ và phát huy hát múa Ải Lao.
3.2. Giải pháp bảo vệ và phát huy hát múa Ải Lao.
8. Tài liệu tham khảo (liên quan đến vấn đề nghiên cứu) Tài liệu trong nước:
1. Toan Ánh (1970), NẾP CŨ – HỘI HÈ ĐÌNH ĐÁM, Quyển Thượng,Nxb: NAM CHI TÙNG THƯ, tr 106 – 107
2. Cao Huy Đỉnh (2003), “Người anh hùng làng Gióng”, Nxb Khoa học xã hội.
3. Văn Lung Đặng, Sông Thao Nguyễn, Văn Trụ Hoàng (1999), Phong tục tập quán
các dân tộc Việt Nam, Nhà xuất bản Văn hóa dân tộc 12
4. Nguyễn Văn Huyên ( 1939), “Les chants et les danses d'Ai-lao aux fêtes de Phù-
Đông (Bẵc-ninh”) đăng trên tạp chí trường Viễn Đông Bác cổ. Xem tại trang web:
Les chants et les danses d'Ai-lao aux fêtes de Phù-Đông (Bẵc-ninh) - Persée
(persee.fr) (ngày truy cập 3/1/2022).
5. Văn Lung Đặng, Sông Thao Nguyễn, Văn Trụ Hoàng (1999), Phong tục tập quán
các dân tộc Việt Nam, Nhà xuất bản Văn hóa dân tộc
6. Nguyễn Thị Khuyên (2010), Lễ Hội Hà Nội tập 1, Nxb Hà Nội
7. Lê Thị Minh Lý,“Cộng đồng bảo vệ di sản – Kinh nghiệm thực hành tốt từ Dự án
Nhã nhạc”, tạp chí Di sản văn hoá, số 4, 2008.
8. Lê Thị Minh Lý ,“Tăng cường nhận thức và biện pháp quản lý lễ hội (Một số ý kiến
từ tiếp cận quản lý di sản văn hoá phi vật thể)”, tạp chí Di sản văn hoá, số 4, 2010.
9. Lê Trung Vũ (2005), Lễ hội Việt Nam, NxbVăn hoá thông tin
10. Ngọc Khánh Vũ (2004), Văn hóa Việt Nam: những điều học hỏi: các bình diện văn
hóa Việt Nam, Nhà xuất bản Văn hóa-thông tin 1
1. Lê Trung Vũ (1992), Lễ hội cổ truyền, nxb Khoa học xã hội.
12. Nguyễn Đức Tăng và Dương Bích Hạnh ,“Một số kiến nghị về công tác bảo vệ di
sản văn hoá phi vật thể tại Việt Nam”, Tạp chí Di sản văn hoá, số 1, năm 2014.
13. Nguyễn Thị Thu Trang, “Cộng đồng với việc bảo tồn di sản văn hóa Phi vật thể”, tạp chí Di sản, số 1, 2016.
14. “Thăng Long, Đông Đô, Hà Nội: địa chí văn hóa dân gian”, 1991, Sở văn hóa và thông tin Hà Nội.
15. UNESCO(2003), Công ước về bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể, Tr.9 .Tham khảo tại:
https://ich.unesco.org/doc/src/00009-VI-PDF.pdf (ngày truy cập 3/1/2022). Tài liệu nước ngoài:
16. G.Dumoutier (1893),“Une fête religieuse annamite à Phu Đong” ,Tạp chí “Revue de
l'histoire des religions”. Xem tại trang web: Indochine 1931 — Bộ sưu tập Sách
Đông Dương (nlv.gov.vn) (ngày tuy cập 3/1/2022). Tài liệu trên internet: 17. http://dsvh.gov
.vn/hat-mua-ai-lao-1305 (ngày truy cập 3/1/2022).
18. Độc đáo nghệ thuật hát và múa Ải Lao trong Lễ hội Gióng” của tác giả Hồng Bắc
đăng ngày 23/08/2016 trên báo điện tử VOV5: https://vovworld.vn/vi-VN/viet-nam- 13
dat-nuoc-con-nguoi/doc-dao-nghe-thuat-hat-va-mua-ai-lao-trong-le-hoi-giong-
463913.vov (ngày truy cập 3/1/2022).
19. “Đặc sắc hát múa Ải Lao” của hai tác giả Mạnh Thắng - Hoàng Việt đăng trên trang
web báo Quân đội nhân dân ngày 5/3/2017: https://www.qdnd.vn/phong-su-anh/dac-
sac-hat-mua-ai-lao-501161 (ngày truy cập 3/1/2022).
20. “Độc đáo nghệ thuật hát múa Ải Lao ở hội Gióng làng Phù Đổng” đăng ngày
14/2/2016 trên tạp chí của ban Tuyên giáo trung ương: https://tuyengiao.vn/van-hoa-
xa-hoi/van-hoa/doc-dao-nghe-thuat-hat-mua-ai-lao-o-hoi-giong-lang-phu-dong-
85113 (ngày truy cập 3/1/2022).
21. “Bảo vệ tập quán xã hội hát và múa Ải Lao” của tác giả Đinh Thị Thuận đăng ngày
26/12/2015 trên báo Công an nhân dân online: https://cand.com.vn/Chuyen-dong-
van-hoa/Bao-ve-tap-quan-xa-hoi-hat-va-mua-ai-Lao-i376113/ (ngày truy cập 3/1/2022).
22. “Ải Lao - Bảo tồn di sản hát và múa cổ” của tác giả Phương Thu đăng ngày
28/03/2017 trên trang web báo Tuổi trẻ thủ đô: https://tuoitrethudo.com.vn/ai-lao-
bao-ton-di-san-hat-va-mua-co-30595.html (ngày truy cập 3/1/2022).
23. “Phi Ải Lao bất thành Hội Gióng'” đăng ngày 06/01/2020 trên trang web báo Thể
thao văn hoá: https://thethaovanhoa.vn/van-hoa/kham-pha-kho-bau-di-san-phi-vat-
the-ha-noi-ky-4-phi-ai-lao-bat-thanh-hoi-giong-n20200106075902868.htm (ngày truy cập 3/1/2022). 14