



















Preview text:
lOMoAR cPSD| 58702377
[Lý luận] Vai trò của dư luận
xã hội đối với việc thực hiện
pháp luật ở Việt Nam hiện nay.
November 22, 2016 Bài tập Luật
Dư luận xã hội là một hiện tượng đặc biệt trong đời sống xã hội. Trên bình diện chung, nó biểu thị
những mối quan tâm, tâm tư, nguyện vọng, được thể hiện dưới dạng ý kiến phán xét, đánh giá của
đông đảo người dân về một hiện tượng, quá trình, sự kiện nào đó xảy ra trong xã hội. Trong bất kỳ
xã hội nào, dư luận xã hội cũng có những ảnh hưởng nhất định, nhiều khi rất mạnh mẽ đến các quá
trình chính trị – xã hội của đất nước, đến việc lãnh đạo và quản lý người dân. Đối với việc thực
hiện pháp luật, dư luận xã hội cũng mang tầm ảnh hưởng khá sâu sắc. Để làm rõ vấn đề này, bài
viết xin được đề cập đến « Vai trò của dư luận xã hội đối với việc thực hiện pháp luật ở Việt Nam hiện nay. »
1. Lý luận chung về hoạt động thực hiện pháp luật và dư luận xã hội 2. Hoạt động
thực hiện pháp luật 3. Khái niệm
Thực hện pháp luật là hoạt động có mục đích nhằm hiện thực hóa các quy định của pháp luật, làm
cho chúng đi vào cuộc sống, trở thành những hành vi thực tế hợp pháp của các chủ thể pháp luật.
1. Các hình thức thực hiện pháp luật
Việc thực hiện pháp luật có bốn hình thức cơ bản là : tuân thủ pháp luật, thi hành pháp luật, sử
dụng pháp luật và áp dụng pháp luật.
Tuân thủ pháp luật là hình thức thực hiện pháp luật, trong đó các chủ thể pháp luật tự kiềm chế
để không thực hiện những hành vi, hoạt động mà pháp luật ngăn cấm. Tuân thủ pháp luật biểu hiện
cách xử sự thụ động của các chủ thể, song nó cũng thể hiện sự tự giác thực hiệ pháp luật.
Thi hành pháp luật là hình thức thực hiện pháp luật, trong đó các chủ thể pháp luật thực hiện
nghĩa vụ pháp lý của mình bằng hành động tích cực. Chẳng hạn việc hăng hái thực hiện nghĩa vụ
quân sự của nam thanh niên trong độ tuổi bắt buộc thực hiện nghĩa vụ quân sự theo luật là việc thi hành pháp luật. lOMoAR cPSD| 58702377
Sử dụng pháp luật là hình thức thực hiện pháp luật, trong đó các chủ thể pháp luật thực hiện
quyền, tự do pháp lý của mình (thực hiện những hành vi mà pháp luật cho phép). Theo đó, chủ thể
có quyền thực hiện hoặc không thực hiện những hành vi đó.
Áp dụng pháp luật là hình thức thực hiện pháp luật, trong đó nhà nước thông qua các cơ quan nhà
nước hoặc nhà chức trách có thẩm quyền tổ chức cho các chủ thể của pháp luật thực hiện những
quy định của pháp luật hoặc tự mình căn cứ vào các quy định của pháp luật tạo ra các quyết định
làm phát sinh, thay đổi, đình chỉ hoặc chấm dứt các quan hệ pháp luật cụ thể.
2. Dư luận xã hội 3. Khái niệm
Dư luận xã hội là tập hợp các ý kiến, thái độ có tính chất phán xét, đánh giá của các nhóm xã hội
hay của xã hội nói chung trước những vấn đề mang tính thời sự có liên quan đến lợi ích chung, thu
hút được sự quan tâm của nhiều người và được thể hiện trong các nhận định và hành động thực tiễn của họ.
1. Tính chất của dư luận xã hội
Dư luận xã hội mang tính khuynh hướng
Hình thức thể hiện chính của dư luận xã hội là sự phán xét, đánh giá, bình phẩm, kiến nghị. Khuynh
hướng chung trong các ý kiến đánh giá và thái độ của công chúng đối với mỗi sự kiện, hiện tượng,
quá trình xã hội bao gồm tán thành, phản đối, lưỡng lự hoặc tích cực, tiêu cực, tiến bộ, lạc hậu…
Tính khuynh hướng cũng biểu thị sự thống nhất hay xung đột của dư luận xã hội.
Dư luận xã hội mang tính lợi ích
Tính lợi ích của dư luận xã hội được nhìn nhận trên hai phương diện là lợi ích vật chất và lợi ích tinh thần.
Lợi ích vật chất được nhận thức rõ nét khi các hiện tượng diễn ra trong xã hội có liên quan chặt
chẽ đến hoạt động kinh tế và sự ổn định cuộc sống của đông đảo người dân.
Lợi ích tinh thần được đề cập khi các vấn đề, các sự kiện đang diễn ra đụng chạm đến hệ thống
các giá trị, chuẩn mực xã hội, phong tục tập quán, khuôn mẫu hành vi ứng xử văn hóa của cộng
đồng xã hội hoặc của cả dân tộc.
Dư luận xã hội mang tính lan truyền
Dư luận xã hội được coi như biểu hiện của hành vi tập thể, do đó, cơ sở của nó là hiệu ứng phản
xạ quay vòng, mà khởi điểm từ cá nhân hay nhóm xã hội nhỏ sẽ gây nên các chuỗi kích thích của
các cá nhân khác, nhóm xã hội khác. Cứ như vậy, dư luận xã hội ngày càng lan truyền mạnh mẽ và rộng rãi. lOMoAR cPSD| 58702377
Dư luận xã hội mang tính bền vững tương đối và tính dễ biến đổi
Dư luận xã hội vừa có tính bền vững tương đối, lại vừa có tính dễ biến đổi, phụ thuộc vào nhiều
yếu tố. Đối với những sự kiện, hiện tượng hay quá trình quen thuộc, dư luận xã hội thường rất bền vững.
Còn tính biến đổi của dư luận xã hội thường được xem xét trên hai phương diện : không gian và
thời gian. Đối với việc biến đổi theo không gian và môi trường văn hóa, có thể hiểu với cùng một
sự kiện thì dư luận xã hội ở các cộng đồng người khác nhau sẽ có sự đánh giá khác nhau. Đối với
sự biến đổi theo thời gian, thì cùng với thời gian, xã hội sẽ có những sự thay đổi nhất định, theo
đó mà các quan điểm, các cách nhìn nhận của con người cũng có sự thay đổi.
Dư luận xã hội mang tính tương đối trong khả năng phản ánh thực tế
Khả năng phản ánh thực tế của dư luận xã hội chỉ mang tính tương đối, tức là có thể đúng hoặc
sai. Chân lý của dư luận xã hội không phụ thuộc vào sự phổ biến của nó.
3. Mối quan hệ giữa dư luận xã hội và pháp luật
Pháp luật và dư luận xã hội là hai hiện tượng xã hội khác nhau, hoàn toàn độc lập với nhau nhưng
chúng có mối quan hệ chặt chẽ. Dư luận xã hội tuy không cần có luận cứ khoa học nhưng lại phản
ánh tâm tư, nguyện vọng của quảng đại đa số dân chúng về những vấn đề mà họ quan tâm. Pháp
luật do nhà nước đặt ra để quản lý xã hội, để xây dựng một xã hội có kỷ cương, trong đó người
dân yên tâm sống, làm việc và mưu cầu hạnh phúc, các quyền lợi của nhân dân được đảm bảo. Suy
cho cùng thì pháp luật được Nhà nước đặt ra để bảo vệ chế độ, bảo vệ nhân dân. Do đó, pháp luật
không thể đi ngược dư luận xã hội. Và thực tế cho thấy những qui định pháp luật đi ngược với dư
luận xã hội đều không có hiệu lực trên thực tế.
1. Vai trò của dư luận xã hội đối với việc thực hiện pháp luật 2. Dư luận xã hội góp
phần điều chỉnh các mối quan hệ giữa con người với con người
Dư luận xã hội là sản phẩm đặc biệt của quá trình giao tiếp xã hội. Trên cơ sở các phán xét đánh
giá các sự kiện, hiện tượng, nó nêu ra các chuẩn mực, chỉ ra những việc nên làm, việc nên tránh,
điều chỉnh hành vi, cách xử sự của mọi người. Dư luận xã hội đặt ra cho các thành viên của mình
những chuẩn mực quan hệ xã hội nhất định. Vì vậy, dư luận xã hội không chỉ là nhân tố điều chỉnh
mối quan hệ giữa người với người, mà còn là nhân tố điều chỉnh mối quan hệ giữa cá nhân với
cộng đồng và xã hội, giữa xã hội với từng cá nhân cụ thể.
2. Vai trò giáo dục
Dư luận xã hội khi đã hình thành tác động vào ý thức con người, chi phối ý thức cá nhân, điều
chỉnh nó cho phù hợp với ý chí chung của cộng đồng, có vai trò giáo dục quan trọng. Đại đa số
người trong cộng đồng đều quan tâm tới dư luận xã hội đánh giá hành vi của mình, có khuynh lOMoAR cPSD| 58702377
hướng giữ gìn, bảo vệ những đánh giá tốt, sửa chữa sai sót đáp ứng những đòi hỏi của dư luận xã
hội đối với bản thân mình.
3. Vai trò đấu tranh phòng chống các biểu hiện tiêu cực xã hội
Dư luận xã hội là một phương tiện giáo dục có hiệu quả, đồng thời là một nhân tố phòng ngừa vi
phạm pháp luật. Do bản chất của nó là sự phán xét, đánh giá tập thể, nên dư luận xã hội có ảnh
hưởng rất lớn đến việc hình thành cách ứng xử hợp pháp của các thành viên trong xã hội, ràng
buộc từng cá nhân phải khuôn mình theo pháp luật, theo các chuẩn mực xã hội chủ nghĩa.
4. Vai trò đánh giá
Các qui định của pháp luật kể từ khi ban hành đến khi thực hiện trong cuộc sống là một khoảng
thời gian dài. Để những qui định đó phát huy hiệu quả thì phải thông qua dư luận xã hội. Qua việc
nghiên cứu dư luận xã hội, những thông tin thu thập được qua điều tra, thăm dò sẽ cung cấp cho
chúng ta những đánh giá đúng – sai, thật – giả, mặt tích cực – mặt tiêu cực của những qui định
pháp luật, của việc thực hiện pháp luật…
5. Vai trò giám sát, tư vấn
Hoạt động giám sát của dư luận xã hội đối với việc thực hiện pháp luật được thể hiện như sau:
Đối với việc tuân thủ pháp luật: Nhờ sự giám sát của dư luận xã hội, buộc các chủ thể phải kiềm
chế không tiến hành các hoạt động mà pháp luật cấm.
Đối với việc thi hành pháp luật: Cùng với các cơ quan nhà nước, sự giám sát của dư luận xã hội
buộc các chủ thể pháp luật phải tích cực thực hiện nghĩa vụ pháp lý của mình với nhà nước.
Đối với việc sử dụng pháp luật: Qua sự giám sát của dư luận buộc các chủ thể thực hiện quyền lực
của mình một cách phù hợp, tránh sự tùy tiện.
Đối với hoạt động áp dụng pháp luật: nếu không có sự giám sát của người dân, thì hoạt động áp
dụng pháp luật trên thực tế dễ bị tùy tiện, kém hiệu quả, gây ảnh hưởng đến quyền lợi của người dân.
Đánh giá vai trò của dư luận xã hội đối với hoạt động thực hiện pháp luật ở Việt Nam hiện nay.
Trong xã hội Việt Nam hiện nay, với sự bùng nổ của các phương tiện thông tin đại chúng, các mạng
xã hội…thì việc các nhóm xã hội xuất hiện ngày càng nhiều, mọi người cũng « mạnh miệng » hơn
khi nêu quan điểm cá nhân của mình, tạo điều kiện cho dư luận xã hội phát triển mạnh mẽ hơn. lOMoAR cPSD| 58702377
Có một thực tế là mọi người đang dần quen với việc sử dụng các mạng xã hội, mà điển hình là
facebook. Và những luồng dư luận cũng xuất phát từ đó khá nhiều. Song, vì chủ yếu độ tuổi quan
tâm tới những thông tin trên facebook khác trẻ, nên có những ý kiến tạo nên dư luận xã hội không
hề có ý nghĩa, nhất là có những đánh giá mang tính thiếu hiểu biết liên quan đến pháp luật. Những
dư luận xã hội kiểu này nhìn chung có ảnh hưởng xấu, gây ra nhận thức lệch lạc về pháp luật cũng
như việc thực hiện pháp luật trong một bộ phận giới trẻ.
Không chỉ giới trẻ, mà còn cả những lớp tuổi khác trong xã hội Việt Nam cũng đang quen dần với
văn hoá thông tin mạng qua các hình thức như báo mạng, thời sự mạng,… Nhìn chung, nếu có một
cái nhìn khách quan từ phía người tiếp nhận thông tin, thì đây cũng là một phương pháp tốt để «
dư luận » có thể tiếp cận và phát huy vai trò của mình đối với xã hội. Tuy nhiên, tồn tại ở đây lại
nằm ở chính người đọc, người nghe khi một phần rất lớn trong số họ không có sự chọn lọc thông
tin cần thiết, chỉ biết hướng ứng theo những luồng ý kiến trái chiều, gây ra nhiều tác động tiêu cực.
Nhìn theo hướng này, thì chính những người tiếp nhận và xử lý thông tin một cách phiến diện đã
tạo nên « dư luận xấu ».
Bên cạnh đó, việc áp dụng pháp luật của các cơ quan có thẩm quyền đôi khi cũng gây ra tranh cãi,
khiến dư luận bất bình, và người dân chọn cách biểu tình để gây chú ý. Diều này lại vô tình tạo ra
một môi trường không thể thuận lợi hơn, với những kẽ hở để « dư luận xấu » có thể len lỏi và phát
triển, gây ra những sai lệch trong nhận thức của rất nhiều thành viên trong xã hội.
Do vậy, cần có những biện pháp hợp lý để nâng cao vai trò của dư luận xã hội trong việc thực hiện pháp luật :
Thứ nhất, dân chủ hóa các lĩnh vực của đời sống xã hội với nội dung cốt lõi “tất cả quyền lực
thuộc về nhân dân”. Mức độ dân chủ hóa đời sống xã hội, khả năng và sự tham gia thực tế của
người dân vào các sinh hoạt chính trị – xã hội của địa phương cũng như của đất nước có ảnh hưởng
rất quan trọng tới sự hình thành dư luận xã hội.
Thứ hai, nâng cao vai trò của báo chí và thông tin đại chúng.Từ hoạt động của hệ thống thông tin
đại chúng mà mọi người dân trong cả nước ngày càng có điều kiện theo dõi tình hình trong nước
và quốc tế trong cùng một thời gian tạo điều kiện cho công chúng đưa ra những phán xét, đánh giá
của mình trong cùng một thời gian nhất định.
Thứ ba, nâng cao trình độ văn hóa chính trị của nhân dân Thứ tư,
sử dụng kết quả nghiên cứu dư luận xã hội trong lãnh đạo và quản lí xã hội.
Thứ năm, xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật. Nếu được sự đồng tình của dư luận xã hội
thì các quy định Pháp luật sẽ được thực thi có hiệu quả và ngược lại. Như vậy, dư luận xã hội tích
cực có vai trò quan trọng thúc đẩy việc hiện thực hóa các quy định của pháp luật đạt hiệu quả cao. lOMoAR cPSD| 58702377
Do vậy, cần phải có những quy định, cơ chế rõ ràng để tạo điều kiện thuận lợi cho dư luận xã hội
phát huy vai trò tích cực của mình.
Dù là « con dao hai lưỡi », song dư luận xã hội cũng góp phần không nhỏ trong hoạt động thực
hiện pháp luật ở các quốc gia nói chung và ở Việt Nam hiện nay nói riêng. Dư luận xã hội, dù ảnh
hưởng tốt hay xấu, cũng là một trong những tác nhân khiến các quy định của pháp luật được phổ
biến rộng rãi. Và chúng ta cần nhanh nhạy trong việc « lợi dụng » dư luận xã hội để khiến hoạt
động thực hiện pháp luật đạt hiệu quả tốt: đẩy mạnh những tác động tích cực và xử lý những tác
động tiêu cực để đạt những kết quả như mong đợi. lOMoAR cPSD| 58702377
Vai trò của dư luận xã hội đối với thực hiện pháp luật ở Việt Nam MỞ ĐẦU
Xã hội của chúng ta luôn luôn biến đổi không ngừng, phức tạp và theo nhiều chiều
hướng khác nhau mà chúng ta không thể đoán biết trước được vì thế, để xã hội luôn
nằm trong vòng kiểm soát và ổn định chúng ta cần đến các công cụ điều chỉnh quan hệ
xã hội. Trong hệ thống công cụ điều chỉnh quan hệ xã hội như pháp luật, đạo đức, phong
tục tập quán, dư luận xã hội, điều lệ, hương ước, tín điều tôn giáo...thì pháp luật có vai
trò,vị trí đặc biệt quan trọng trong hệ thống để điều chỉnh các quan hệ xã hội. Tuy nhiên
bên cạnh pháp luật thì các công cụ khác cũng đóng vai trò to lớn góp phần điều chỉnh
các quan hệ xã hội cũng như góp phần vào việc xây dựng và thực hiện pháp luật. Trong
số các công cụ quản lý xã hội ở Việt Nam thì dư luận xã hội chưa được coi trọng đúng
mức mặc dù vậy nó lại có tác động quan trọng đến việc thực hiện pháp luật nước ta hiện
nay. Chính vì thế để tìm hiểu sâu hơn về vấn đề này em xin chọn đề tài 14: “Vai trò của
dư luận xã hội đối với việc thực hiện pháp luật ở Việt Nam hiện nay”. Bài làm ắt hẳn
sẽ không tránh khỏi sai sót vì vậy mong thầy cô góp ý và sửa lỗi để bài làm thêm hoàn
thiện. Em xin chân thành cảm ơn. NỘI DUNG
I. NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ DƯ LUẬN XÃ HỘI
1.1. Khái niệm dư luận xã hội
Dư luận xã hội là một hiện tượng quan trọng trong đời sống tinh thần của con người,
nó tồn tại trong tất cả các cộng đồng lớn nhỏ khác nhau của con người như trong làng,
xã, tỉnh...trong một nước hay trên phạm vi một nhóm nước thậm chí trên toàn thế giới.
Có nhiều ý kiến khác nhau về khái niệm dư luận xã hội tuy nhiên một cách khái quát ta
có thể hiểu rằng:” Dư luận xã hội là tập hợp các ý kiến của các cá nhân, các nhóm xã hội
hay của xã hội nói chung trước các vấn đề, sự kiện, hiện tượng mang tính thời sự, có liên
quan đến nhu cầu, lợi ích của họ, thu hút được sự quan tâm của con người và được thể
hiện trong các nhận định và hành động thực tiễn của họ”.
1.2. Các cơ sở của dư luận xã hội về vai trò của dư luận xã hội đối với thực hiện
pháp luật ở Việt Nam
1.2.1. Cở sở nhận thức của dư luận xã hội
Dư luận xã hội phụ thuộc trước hết vào mức độ được thông tin, mức độ hiểu biết của
công chúng, chủ thể của xã hội về những vấn đề mà họ quan tâm. Đối với những vấn
đề, sự kiện, hiện tượng xã hội đơn giản, quen thuộc, dễ hiểu, ý kiến của đa số dễ đúng.
Đối với những vấn đề phức tạp mới nảy sinh, ý kiến đúng thường là ý kiến của những
người tiếp xúc với nhiều nguồn thông tin, am hiểu sự việc chứ chưa phải là ý kiến của
đa số, những người chưa đủ thông tin, chưa am hiểu sự việc.
1.2.2. Cơ sở xã hội của dư luận xã hội
Các yếu tố xã hội trước hết là lợi ích nhóm, tầng lớp, giai cấp, quốc gia dân tộc có mối
quan hệ chặt chẽ với nội dung và sắc thái của dư luận xã hội.
1.2.3. Tính chất cơ bản của dư luận xã hội
Dư luận xã hội có một số các tính chất cơ bản như sau: •
Tính công chúng, công khai lOMoAR cPSD| 58702377
Từ thực tế cho thấy tính công khai của dư luận xã hội đòi hỏi các nhóm xã hội phải
tiếp cận với thực tế, khả năng sử dụng các phương tiện phổ biến và trao đổi thông tin
nhất định. Trong xã hội hiện đại, các phương tiện này chính là hệ thống thông tin đại
chúng với các loại hình chủ yếu như báo chí, phát thanh, truyền hình, mạng máy tính,
truyền miệng.... Dư luận xã hội xã hội có thể được hình thành một cách tự phát nhưng
cũng có thể được hình thành có chủ định từ sự chuẩn bị trước để phục vụ cho một chủ
trương, chính sách nào đó, vì thế nó có ảnh hưởng lớn đến con người trong xã hội. • Tính lợi ích
Dư luận xã hội chỉ nảy sinh khi trong cộng đồng xuất hiện những vấn đề, sự kiện, hiện
tượng mang tính thời sự, có liên quan trực tiếp đến lợi ích của các nhóm xã hội hoặc cả
cộng đồng. Lợi ích được đề cập ở đây bao gồm cả lợi ích vật chất và lợi ích tinh thần.
Các lợi ích vật chất mà họ hướng tới đó là những lợi ích liên quan chặt chẽ đến hoạt
động kinh tế và sự ổn định cuộc sống của đông đảo người dân: như các quyết định của
nhà nước về việc tăng giá điện, giá xăng dầu, sửa đổi Luật thuế thu nhập các nhân...
Các lợi ích tinh thần được nói đến khi các vấn đề đang diễn ra đụng chạm đến hệ thống
các chuẩn mực, các phong tục tập quán, khuôn mẫu hành vi và ứng xử văn hóa của cộng
đồng dân cư, dân tộc... • Tính lan truyền
Dư luận xã hội có tính lan truyền rất nhanh và sâu rộng. Dư luận xã hội lan truyền
càng rộng thì càng có xu hướng thống nhất về nội dung các phán xét, đánh giá, càng làm
cho mọi người trong xã hội nhận thức sâu sắc hơn, đặc biệt đối với các sự kiện lớn của
đất nước hay các sự kiện mang tính thời sự thu hút sự quan tâm của dư luận xã hội về
các vấn đề mang tính bản chất của chính trị, kinh tế, đạo đức, về việc sửa đổi và ban
hành pháp luật, hiến pháp hay các phiên tòa xét xử vụ án cá độ bóng đá của các cầu thủ
trong đội tuyển quốc gia Việt Nam, về các vụ án tham nhũng, giết người... • Tính biến đổi
- Biến đổi theo không gian và môi trường văn hóa
- Biến đổi theo thời gian
Các tính chất của dư luận xã hội có tác động lớn đến việc thực hiện pháp luật trên thế
giới và việc thực hiện pháp luật ở nước ta hiện nay. [caption id="attachment_62113"
align="aligncenter" width="300"] lOMoAR cPSD| 58702377
vai trò của dư luận xã hội đối với thực hiện pháp luật[/caption]
II. Vai trò của dư luận xã hội đối với thực hiện pháp luật ở Việt Nam
2.1. Mối quan hệ giữa dư luận xã hội và pháp luật
Pháp luật là hệ thống các quy tắc xử sự mang tính bắt buộc chung do nhà nước ban
hành hoặc thừa nhận và đảm bảo thực hiện nhằm điều chỉnh các mối quan hệ xã hội
theo mục tiêu, định hướng cụ thể.
Pháp luật và dư luận xã hội là hai hiện tượng xã hội khác nhau, hoàn toàn độc lập
với nhau nhưng chúng có mối quan hệ chặt chẽ, thống nhất, hỗ trợ và không tách rời
nhau. Dư luận xã hội tuy không chứa nhiều yếu tố khoa học nhưng lại phản ánh tâm tư,
nguyện vọng của đại đa số dân chúng, về những vấn đề mà họ quan tâm. Pháp luật
được xây dựng lên để xây dựng một xã hội có kỷ cương, trật tự, dễ quản lý, người dân
yên tâm sống, làm việc và mưu cầu hạnh phúc, các quyền lợi của nhân dân được đảm bảo.
Suy cho cùng thi pháp luật được Nhà nước đặt ra để bảo vệ chế độ, bảo vệ nhân dân.
Do đó, pháp luật không thể đi ngược lại dư luận xã hội. Và thực tế cho thấy những quy
định pháp luật đi ngược lại với dư luận xã hội đều không có hiệu lực trên thực tế.
2.2. Vai trò của dư luận xã hội đối với việc thực hiện pháp luật
Thực hiện pháp luật là một quá trình hoạt động có mục đích của các cá nhân,cơ quan
nhà nước, tổ chức xã hội... làm cho những quy định của pháp luật đi vào cuộc sống,trở
thành những hành vi thực tế hợp pháp của các chủ thể. Vai trò của dư luận xã hội đối
với việc thực hiện pháp luật là rất lớn, nó có tác dụng như là cố vấn về mặt tinh thần nó
tác động trực tiếp hoặc gián tiếp cho việc tiến hành các hoạt động thực hiện của các cơ
quan hay nhà chức trách có thẩm quyền thể hiện ở một số điểm sau:
2.2.1. Dư luận xã hội góp phần điều chỉnh các mối quan hệ giữa con người với con người
Dư luận xã hội là sản phẩm đặc biệt của quá trình giao tiếp xã hội. Trên cơ sở các
phán xét đánh giá các sự kiện, hiện tượng, nó nêu ra các chuẩn mực, chỉ ra những việc
nên làm, việc nên tránh, điều chỉnh hành vi, cách ứng xử của mọi người. Dư luận xã hội
đặt ra cho các thành viên của mình những chuẩn mực quan hệ xã hội nhất định. Vì vậy,
dư luận xã hội không chỉ là nhân tố điều chỉnh mối quan hệ giữa người với người, mà
còn là nhân tố điều chỉnh mối quan hệ giữa cá nhân với cộng đồng và xã hội, giữa xã hội
với từng cá nhân cụ thể.
Ví dụ: ở làng A có bà H và bà K mâu thuẫn với nhau nhiều ngày bởi việc bà H lấn đất
để xây dựng quán của nhà mình mặc dù mà H biết đó là sai. Vụ việc xảy ra làm nhiều
người trong làng tỏ ra không ưa gì bà H và bất bình cho bà K, họ bàn luận nhiều về vấn
đề này do do tác động của dư luận quá lớn bà H đã trả tiền khuôn đất minh lấn chiếm lOMoAR cPSD| 58702377
của bà K, bà K đồng ý, khi đó hai người đã làm lành với nhau và mối quan hệ trở nên tốt đẹp hơn từ đó.
2.2.2. Vai trò giáo dục
Dư luận xã hội có tác động mạnh mẽ đến tư tưởng, ý thức của con người, nó góp
phần giáo dục mọi người nhận thức đúng đắn về điều tốt, xấu, phải trái, thiện ác... Dư
luận xã hội còn có tác dụng với việc hình thành nhân cách con người, tạo ra sự ảnh
hưởng của cộng đồng lên nhân cách mỗi cá nhân. Bởi sự đánh giá của dư luận đối với
hành vi, ứng xử của thành viên nào đó thường được dựa trên những chuẩn mực, khuôn
mẫu hành vi đã có sẵn và được thừa nhận rộng rãi trong cộng đồng xã hội. Hầu hết
những thành viên trong cộng đồng thường quan tâm xem dư luận xã hội đánh giá về
hành vi, cách ứng xử của mình như thế nào rồi từ đó phát huy, điều chỉnh, thay đổi việc
làm, cách ứng xử của mình sao cho phù hợp với dư luận xã hội.
Ví dụ: khi những người con đối xử tệ bạc với cha mẹ mình thì xã hội sẽ lên án, phê
phán hành động đó là sai xét trên cả phạm vi đạo đức và pháp luật, lúc đó xã hội sẽ “tẩy
chay” những người nay. Khi bị xã hội “tẩy chay”, họ biết mình đã sai và phải đối xử tốt
với cha mẹ mình đó là đạo lý của người làm con và hơn hết là thực hiện nghĩa vụ của mình trong pháp luật.
2.2.3. Vai trò đấu tranh phòng chống các biểu hiện tiêu cực xã hội
Dư luận xã hội là một phương tiện giáo dục có hiệu quả, đồng thời là một nhân tố
phòng ngừa vi phạm pháp luật. Dư luận xã hội có thể gây sức ép, lên án, đòi hỏi các cơ
quan nhà nước phải tích cực đấu tranh chống các hiện tượng như tham nhũng, quan
liêu, tắc trách, thiếu tinh thần trách nhiệm...trong bộ máy của Đảng, của nhà nước và của
các tổ chức xã hội khác. Đối với những vấn đề nan giải, bức xúc mà cộng đồng gặp phải,
dư luận xã hội cò thể đưa ra các đề nghị, khuyến cáo, sự khuyên bảo có tính chất tư vấn
cho việc giải quyết những vấn đề đó một cách phù hợp và được ửng hộ nhất.
Ví dụ: dư luận xã hội thời gian qua ở nước ta về việc các cơ quan bảo vệ pháp luật
xử lý các vụ án tham nhũng, về việc buôn bán nhà đất...đã buộc các cơ quan chức năng
Nhà nước ta phải sữa chữa những sai trái trong các quyết định của mình như xử lý công
khai, minh bạch hơn cho mọi người cùng biết qua các thông tin đại chúng như tivi, báo đài...
2.2.4. Vai trò đánh giá
Các quy định của pháp luật kể từ khi ban hành đến khi thực hiện trong cuộc sống là
một khoảng thời gian dài. Để những quy định đó phát huy hiệu quả thì phải thông qua dư
luận xã hội. Thông qua việc thăm dò dư luận xã hội sẽ cung cấp cho chúng ta những
đánh giá đúng, sai, thật, giả, mặt tích cực, hạn chế...của những quy định pháp luật, của
việc thực hiện pháp luật...giúp cho các cơ quan có thẩm quyền có cách ứng xử,sử lý sao
cho phù hợp nhất, phù hợp với dư luận của xã hội.
Ví dụ: việc ban hành Hiến pháp 2013 của nước ta đã tổ chức việc lấy ý kiến nhân dân
qua việc Nhà nướ tổ chức trưng cầu ý dân. Qua đó, đánh giá đươc những điểm tiến bộ
của Hiến pháp để áp dụng lâu dài về sau và khắc phục hạn chế trong dự thảo Hiến pháp
nhằm xây dựng Hiến pháp đáp ứng nhu cầu của xã hội. Việc xây dựng một bản Hiến
pháp đáp ứng được nguyện vọng của nhân dân cũng giúp việc thực hiện pháp luật một cách tốt hơn sau này. lOMoAR cPSD| 58702377
2.2.5. Vai trò giám sát, tư vấn
Hoạt động giám sát của dư luận xã hội đối với việc thực hiện pháp luật thể hiện ở một số mặt như:
Đối với việc tuân thủ pháp luật: nhờ sự giám sát của dư luận xã hội, buộc các chủ thể
phải kiềm chế không tiến hành các hoạt động mà pháp luật cấm.
Đối với việc thi hành pháp luật: nhờ sự giám sát của dư luận xã hội buộc các chủ thể
pháp luật phải tích cực thực hiện nghĩa vụ pháp lý của mình đối với nhà nước. Đối với
việc sử dụng pháp luật: dưới sự giám sát của dư luận buộc các chủ thể thực hiện quyền
lực của mình một cách phù hợp, tránh sự tùy tiện.
Đối với hoạt động áp dụng pháp luật: nếu không có sự giám sát của người dân dưới
hình thức của dư luận xã hội thì hoạt động áp dụng pháp luật trên thực tế dễ bị tùy tiện,
kém hiệu quả, gây ảnh hưởng đến quyền của người dân.
Ví dụ: hoạt động xét xử của tòa án là một hoạt động luôn gây được sự quan tâm của
dư luận xã hội nhất là các vụ việc dân sự, hôn nhân, tham nhũng...nếu các cơ quan này
xét xử sai hoặc có ý che dấu tội phạm sẽ được dư luận xã hội lên án, giám sát buộc phải
xét xử lại, phải tuân thủ, thi hành, và áp dụng pháp luật một cách đúng đắn... Như vậy,
dư luận xã hội là một sức mạnh tinh thần trong xã hội, sự ruồng bỏ của xã hội đôi khi có
thể hủy diệt uy tín, danh dự, thậm chí là sức khỏe, tính mạng của con người. Mặt khác,
dư luận xã hội cũng tạo điều kiện cho mọi người được thể hiện ý kiến, quan điểm của
mình một cách công khai với các vấn đề ngoài xã hội. Ngày nay, khi mà vai trò của quần
chúng nhân dân được mở rộng, coi trọng, nền dân chủ được mở rộng thì vai trò và hiệu
lực của dư luận càng được nâng cao.
III. Thực trạng và một số giải pháp nâng cao vai trò của dư luận xã hội đối với thực hiện pháp luật ở Việt Nam
3.1. Thực trạng việc áp dụng dư luận xã hội vào thực hiện pháp luật
Thời gian qua việc Nhà nước ta áp dụng dư luận xã hội vào thực hiện pháp luật ở thể
hiện ở một số hành động, việc làm cụ thể như: thực hiện trưng cầu ý dân cho Hiến pháp
2013; khi một văn bản pháp luật hay một chủ trương, chính sách của Đảng được Nhà
nước ban hành ra gặp phải sự phản ứng trái chiều của người dân thì Nhà nước đã tổ
chức các hội thảo để bàn ,tìm cách giải quyết kịp thời; thực hiện dân chủ cho nhân dân
bằng cách tổ chức các chương trình chất vấn về pháp luật như “dân hỏi bộ trưởng trả
lời”, “tìm hiểu về pháp luật Việt Nam”, “tư vấn pháp luật”, đưa pháp luật vào giảng dạy ở
các trường trên cả nước....; các vụ việc xét xử sai, chưa đúng với Luật quy định hay chưa
công bằng bị xã hội lên tiếng, phản ánh thì Nhà nước đã điều tra và tiếp thu ý kiến của
dư luận, xin lỗi và tìm các biện pháp giải quyết kịp thời...
Tuy nhiên việc áp dụng dư luận xã hội ở nước ta chưa thật sự triệt để, giải quyết vấn
đề một cách thờ ơ cho qua chuyện nhằm làm dịu lại dư luận xã hội ở thời điểm đó.
3.2. Một số giải pháp nhằm nâng cao vai trò của dư luận xã hội đối với thực hiện pháp luật ở Việt Nam
Với tư cách là công cụ điều chỉnh quan hệ xã hội, dư luận xã hội hỗ trợ cùng pháp
luật trong việc điều chỉnh hành vi của con người, duy trì trật tự trong toàn xã hội cũng
như trong cộng đồng. Mặc dù là công cụ điều chỉnh quan hệ xã hội, nhưng do tính chất
đặc thù lại tồn tại dưới dạng quan điểm, nhận xét, ít chứa đựng các yếu tố khoa học. Do
vậy, tác dụng điều chỉnh của dư luận xã hội phần nhiều mang tính nhất thời, không bền lOMoAR cPSD| 58702377
vững. Thông thường dư luận nổi lên rồi sau đó một thời gian nhất định lại “lắng xuống”
và tác dụng sẽ giảm dần.
Vì lý đó, em xin đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao Vai trò của dư luận xã hội đối
với thực hiện pháp luật ở Việt Nam ở nước ta hiện nay:
Các cơ quan Nhà nước khi ban hành bất cứ một quy định pháp luật cụ thể nào đó,
mang tính nhạy cảm thì nên tiến hành thăm dò dư luận xã hội, nắm bắt được phản ứng
của xã hội ủng hộ hay phản đối, có những băn khoăn gì...để có những giải pháp phù hợp
và thể hiện tính dân chủ trong nhân dân.
Luôn lắng nghe dư luận xã hội vì đó là lòng dân, nhân dân quan tâm đến Đảng, đến
Nhà nước, đến những công việc chung như thế nào, tiếp thu trí tuệ và sự sáng tạo của
nhân dân cho sự nghiệp chung của đất nước. Cần nghiên cứu và sử dụng dư luận giúp
cho việc xây dựng pháp luật, những người hoạch định chính sách khắc phục được những
quyết định chủ quan hay những biểu hiện quan liêu, xa rời quần chúng, xa rời thực tiễn
của cán bộ, công chức nhà nước.
Vì dư luận xã hội có sức lan truyền mạnh mẽ nên việc nâng cao vai trò của báo chí
và thông tin đại chúng là vô cùng quan trọng, nó sẽ cung cấp thông tin và định hướng
xây dựng dư luận tốt hơn.
Nâng cao trình độ văn hóa của chính trị cho người dân cũng là một biện pháp quan
trọng nhằm phát huy vai trò của dư luận. Sống trong một xã hội mà trình độ văn hóa
chính trị của người dân thì khả năng tham gia quản lý nhà nước, ý thức pháp luật của
người dân cũng được nâng cao.
Xây dựng các cơ chế, chính sách pháp lý phù hợp, thuận lợi để thăm dò dư luận xã
hội, xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật bằng cách công khai, dân chủ- kể cả dân
chủ trực tiếp và gián tiếp ví dụ như việc tổ chức trưng cầu ý dân...
Cần lựa chọn những người lãnh đạo có phẩm chất và năng lực cần thiết, uy tín để
nắm vai trò là người dẫn đầu tạo điều kiện để giải quyết tốt các vấn đề liên quan đến lợi
ích của người dân và xã hội đáp ứng yêu cầu của pháp luật hiện nay.
Công khai hóa không chỉ những việc làm tốt mà cả những việc làm sai lầm, những
hành vi vi phạm pháp luật của cán bộ công nhân viên chức cho dù họ giữ bất kỳ chức
vụ, quyền hạn ra sao và các biện pháp xử lý các hành vi vi phạm pháp luật của họ. Việc
làm này tránh những dư luận không tốt cho rằng những người có chức vụ nếu có vi phạm
thường được bao che hoặc xử lý nhẹ hơn quy định pháp luật và góp phần xây dựng dư luận tốt đẹp hơn. KẾT LUẬN
Như vậy qua tìm hiểu, ta thấy dư luận xã hội giữ vai trò quan trọng trong đời sống
pháp luật nhất là việc thực hiện pháp luật ở nước ta. Cùng với pháp luật xã hội chủ nghĩa,
dư luận xã hội được coi là một trong những phương tiện quan trọng góp phần nâng cao
hiệu lực quản lí của nhà nước, làm cho mục tiêu "dân giàu, nước mạnh, xã hội công
bằng, dân chủ và văn minh" của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa nhanh chóng
trở thành hiện thực. Trong điều kiện xây dựng nhà nước pháp quyền và nền kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa hiện nay, thì pháp luật không chỉ là sự đặt ý chí của
Nhà nước mà trong đó phải thể hiện được ý chí và nguyện vọng của các đối tượng tham
gia thị trường, phải thực hiện pháp luật nên việc nghiên cứu dư luận xã hội để phục vụ
các hoạt động pháp luật lại càng cần thiết và đẩy mạnh hơn. Do đó, nâng cao vai trò của lOMoAR cPSD| 58702377
dư luận xã hội trong thực hiện pháp luật ở nước ta là một vấn đề cấp thiết cần Đảng,
Nhà nước ta và cả xã hội ta chung tay góp sức xây dựng.
DANH MỤC TÀI LIỆU KHAM KHẢO 1. Giáo trình Lý luận chung về nhà nước và pháp
luật - Trường Đại học Luật Hà Nội,Nhà xuất bản Công An nhân dân. Hà Nội 2015. 2.
Nguyễn Minh Đoan - Vai trò của pháp luật trong đời sống xã hội Nhà xuất bản chính trị
Quốc gia, 2008. 3. Tạ Thị Thu Hường, Luận văn thạc sĩ Luật - Vai trò
của dư luận xã hội với việc thực hiện pháp luật ở nước ta hiện nay. 4. Nguyễn Minh
Đoan - Thực hiện và áp dụng pháp luật ở Việt Nam Nhà xuất bản chính trị Quốc gia 2008
5. Lê Vương Long - Những vấn đề Lý luận về quan hệ pháp luật Nhà xuất bản tư pháp
Một số bài viết tham khảo:
Phát huy vai trò của dư luận xã hội trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng 1. Trang chủ
2. Dư luận xã hội
Dư luận xã hội hình thành, tồn tại, phát triển và tác động tới quá trình
vận động, phát triển của xã hội loài người. Trong xã hội hiện nay, dư
luận xã hội có vai trò vô cùng quan trọng, vì vậy các thế lực thù địch
thường xuyên lợi dụng để chống phá cách mạng nước ta. Bài viết
tập trung khái quát vai trò, thực trạng vai trò dư luận xã hội và đề
xuất các giải pháp cơ bản phát huy vai trò dư luận xã hội trong bảo
vệ nền tảng tư tưởng của Đảng hiện nay. lOMoAR cPSD| 58702377 A A A + -
1. Vai trò của dư luận xã hội trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng
Tùy theo cách tiếp cận khác nhau, mà có nhiều quan niệm khác nhau về dư luận
xã hội. Song theo nghĩa chung nhất, dư luận xã hội là tập hợp ý kiến của các cá
nhân, nhóm xã hội hay xã hội nói chung trước các vấn đề, sự kiện, hiện tượng
mang tính thời sự, có liên quan đến nhu cầu, lợi ích của họ, thu hút sự quan tâm
của con người, được thể hiện trong các nhận định và hành động thực tiễn. Nội
dung của dư luận xã hội là những sự kiện xảy ra trong đời sống xã hội, thường
gắn với những dấu mốc, thời điểm quan trọng của đất nước, của địa phương;
với việc ban hành, thực thi chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước và các
quy định của địa phương; với thái độ, hành vi của cán bộ, đảng viên, nhất là cán
bộ, đảng viên giữ cương vị chủ chốt các cấp. Các nhóm xã hội chỉ hình thành dư
luận nếu sự kiện đó liên quan đến lợi ích của họ.
Ở Việt Nam, dư luận xã hội đóng vai trò rất quan trọng trong việc bảo vệ vững
chắc nền tảng tư tưởng của Đảng, thể hiện ở những nội dung cụ thể sau:
Một là, dư luận xã hội là “hàng rào xã hội” tự nhiên chống lại các quan điểm sai
trái, thù địch. Dư luận xã hội tích cực góp phần định hướng nhận thức cho cán lOMoAR cPSD| 58702377
bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân trước những thông tin sai lệch, bóp méo
chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.
Hai là, tạo sức ép xã hội đối với các hành vi lệch chuẩn, xuyên tạc, chống phá nền
tảng tư tưởng của Đảng; đồng thời cổ vũ, biểu dương các hành động đúng đắn,
chuẩn mực, góp phần giữ vững niềm tin xã hội vào Đảng và chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta.
Ba là, kênh thông tin phản biện xã hội giúp các cấp ủy đảng, chính quyền nắm
bắt tâm tư, nguyện vọng của nhân dân, từ đó kịp thời điều chỉnh chính sách, tăng
cường sự đồng thuận xã hội và củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng.
Bốn là, góp phần định hướng tư tưởng và hành động, nhất là trong bối cảnh đời
sống xã hội ở Việt Nam hiện nay xuất hiện nhiều luồng thông tin phức tạp, đa
chiều. Vì vậy, dư luận xã hội có vai trò gợi mở và khuyến khích người dân hành
động tích cực, chủ động, trách nhiệm trong tham gia bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.
Nhận thức rõ tầm quan trọng của dư luận xã hội đối với việc bảo vệ nền tảng tư
tưởng của Đảng, Đảng ta đã ban hành những chủ trương quan trọng về vấn đề
này. Nghị quyết Trung ương 5 khóa X về công tác tư tưởng, lý luận và báo chí
trước yêu cầu mới nhấn mạnh: “Chú trọng công tác nghiên cứu, điều tra xã hội
học, nắm bắt dư luận xã hội phục vụ công tác tư tưởng”. Ngày 18/8/2014, Ban
Bí thư Trung ương Đảng (khóa XI) đã ban hành Kết luận số 100-KL/TW về việc đổi
mới và nâng cao chất lượng công tác điều tra, nắm bắt, nghiên cứu dư luận xã
hội, trong đó nêu rõ: “Điều tra, nắm bắt, nghiên cứu dư luận xã hội nhằm nắm
bắt, tập hợp kịp thời, sát thực tâm tư, tình cảm, ý chí, nguyện vọng của nhân dân
về những vấn đề, sự kiện có tính thời sự trong nước và thế giới, đặc biệt là đối
với các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước; giúp các cơ quan lãnh đạo,
quản lý có thêm thông tin tham khảo trong quá trình xây dựng, hoàn thiện và tổ
chức thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước; là
một khâu quan trọng, cần thiết trong xây dựng, ban hành, tổ chức thực hiện,
đánh giá kết quả thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước1.
Trong Văn kiện Đại hội XIII, đề cập về định hướng dư luận xã hội, Đảng ta khẳng
định: “Chú trọng nắm bắt, định hướng dư luận xã hội, bảo đảm thống nhất tư
tưởng trong Đảng, đồng thuận cao trong xã hội”2. Như vậy, việc nắm bắt, định
hướng dư luận xã hội là một đòi hỏi khách quan trong hoạt động lãnh đạo, quản
lý xã hội hiện nay vừa tạo sự đồng thuận cao trong các tầng lớp nhân dân, vừa lOMoAR cPSD| 58702377
góp phần đấu tranh chống lại các luận điệu xuyên tạc, sai trái của các thế lực thù
địch trong và ngoài nước.
2. Thực trạng vai trò dư luận xã hội trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng
Dưới sự quan tâm sâu sắc và chỉ đạo sát sao của Đảng và Nhà nước, việc phát
huy vai trò của dư luận xã hội luôn được coi trọng và triển khai hiệu quả, đạt
được nhiều kết quả tích cực. Nhìn chung, dư luận xã hội tiếp tục thể hiện sự tin
tưởng vào vai trò lãnh đạo của Đảng, đồng thời khẳng định tính khoa học và cách
mạng của nền tảng tư tưởng là chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh.
Sự ủng hộ rộng rãi đối với đường lối đổi mới, đặc biệt là sự kiên định của Đảng
trên con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, phản ánh niềm tin vào tầm nhìn chiến
lược của Đảng về tương lai phát triển đất nước đến giữa thế kỷ XXI, với mục tiêu
đưa Việt Nam trở thành quốc gia phát triển, có thu nhập cao.
Các cơ quan chức năng, báo chí, truyền thông đại chúng và mạng xã hội từng
bước phát huy vai trò trong việc định hướng và dẫn dắt dư luận, đặc biệt là trong
công tác phản bác các quan điểm sai trái, xuyên tạc của các thế lực thù địch, phản
động và cơ hội chính trị. Bên cạnh đó, một bộ phận nhân dân, đặc biệt là đội ngũ
trí thức, cán bộ, đảng viên có trách nhiệm đã chủ động, tích cực tham gia phát
ngôn, viết bài, chia sẻ, lan tỏa thông tin tích cực, "phủ xanh" không gian truyền
thông, góp phần quan trọng vào việc bảo vệ vững chắc chủ trương, đường lối,
chính sách của Đảng và Nhà nước trong bối cảnh hiện nay.
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, vai trò dư luận xã hội trong bảo vệ
nền tảng tư tưởng của Đảng vần còn những mặt hạn chế: Thiếu sự thống nhất
trong định hướng dư luận, nhất là một số vấn đề nhạy cảm như các quyết định
về công tác nhân sự của Đảng, công tác thanh tra của Chính phủ, chủ trương về
các dự án chiến lược của Nhà nước, việc đấu thầu trong triển khai các dự án từ
nguồn ngân sách nhà nước, lãng phí nguồn lực do dự án treo kéo dài… chưa
được định hướng kịp thời khiến dư luận đồn thổi, lan truyền nhiều thông tin
chưa chính thống, bị dẫn dắt bởi các thế lực thù địch. Tình trạng thờ ơ chính trị,
ngại bày tỏ chính kiến, hoặc dễ bị lôi kéo bởi những thông tin tiêu cực xuất hiện
phổ biến ở một bộ phận nhân dân, nhất là giới trẻ. Hệ thống chính trị, nhất là
các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội nghề nghiệp chưa phát huy hết vai
trò trong tổ chức định hướng, dẫn dắt dư luận. Bên cạnh đó, còn thiếu cơ chế
phối hợp đồng bộ, phản ứng nhanh, xử lý chưa kịp thời với các thông tin xấu độc
lan truyền trên không gian mạng giữa các cơ quan chức năng... Những hạn chế lOMoAR cPSD| 58702377
này tác động không nhỏ tới tình hình tư tưởng và ý kiến đánh giá của cán bộ,
đảng viên và các tầng lớp nhân dân về tầm quan trọng của các vấn đề xã hội, đặc
biệt là về sự cấp bách trong việc giải quyết.
Trước sự phát triển nhanh chóng của truyền thông, internet, mạng xã hội,
phương thức nắm bắt, phát huy vai trò của dư luận xã hội theo cách truyền thống
đang dần mất đi tính hiệu quả, thiếu kịp thời, do đó việc nghiên cứu và đề xuất
các giải pháp phát huy vai trò của dư luận xã hội trong đấu tranh phản bác các
quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong bối cảnh
hiện nay là rất cấp thiết.
3. Giải pháp phát huy vai trò của dư luận xã hội trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng
Một là, nâng cao chất lượng công tác nắm bắt và định hướng dư luận xã hội.
Mục đích định hướng dư luận xã hội của các cơ quan tuyên truyền và truyền
thông là nhằm góp phần thay đổi nhận thức, hành động và điều chỉnh hành vi
của mỗi cá nhân, nhóm xã hội hướng tới người dân, tạo sự đồng thuận trong
việc thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước, đồng thời góp
phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Dự thảo các văn kiện trình Đại hội XIV
của Đảng nhấn mạnh: “Nâng cao chất lượng công tác điều tra dư luận xã hội và
đánh giá sự hài lòng của người dân; chủ động nắm bắt, nghiên cứu, dự báo tình
hình, tư tưởng, kịp thời xử lý thông tin, định hướng tư tưởng và dư luận xã hội”3.
Theo đó, để nâng cao chất lượng công tác nắm bắt và định hướng dư luận xã hội,
các cơ quan chức năng cần tiếp tục đẩy mạnh đầu tư chiều sâu về phương pháp,
công cụ, con người trong công tác nghiên cứu dư luận xã hội. Coi trọng sử dụng
các phương pháp thật sự hiệu quả dựa trên các công cụ tiên tiến, có độ chính
xác cao và được vận hành bởi đội ngũ nhân lực có trình độ, chuyên môn cao.
Qua đó, tập trung nắm chắc các luồng tư tưởng, xu hướng ý kiến của các tầng
lớp nhân dân, đặc biệt là trong những thời điểm nhạy cảm, có nhiều biến động
chính trị xã hội như trước Đại hội Đảng, bầu cử Quốc hội, lấy ý kiến nhân dân về
các dự thảo luật, sửa đổi, bổ sung Hiến pháp... Đồng thời, phát triển hệ thống
cảnh báo sớm về những biểu hiện sai lệch trong nhận thức tư tưởng qua mạng
xã hội để chủ động xử lý thông tin và kịp thời điều chỉnh dư luận, không để tạo
thành điểm nóng trong đời sống xã hội. Ngoài ra, cần đầu tư xây dựng các trung
tâm phân tích dư luận xã hội cấp chiến lược, ứng dụng mạnh mẽ công nghệ trí lOMoAR cPSD| 58702377
tuệ nhân tạo (AI), phân tích dữ liệu lớn (big data) để theo dõi, dự báo xu thế dư
luận trên mạng xã hội và trong đời sống.
Hai là, đổi mới mạnh mẽ phương thức định hướng dư luận xã hội.
Đây là giải pháp cơ bản, quan trọng, có tác dụng nâng cao chất lượng định hướng
dư luận xã hội, nhất là trong bối cảnh xây dựng “Chính phủ số”, “xã hội số”, “công
dân số” trên nền tảng ứng dụng mạnh mẽ AI, interner kết nối vạn vật (IoT), dữ
liệu lớn (big data). Phát huy vai trò định hướng của báo chí, truyền thông chính
thống bằng cách nâng cao tính phản biện, tính chiến đấu, tính hấp dẫn của nội
dung tuyên truyền, tăng cường đấu tranh trực diện với những quan điểm sai trái,
xuyên tạc. Đồng thời, đẩy mạnh ứng dụng AI, công nghệ thông minh, điện toán
đám mây trên các ấn phẩm điện tử để tăng cường tính tương tác, tính lan tỏa,
phủ xanh thông tin tích cực trong tuyên truyền qua các nền tảng số, mạng xã hội;
coi trọng định hướng dư luận bằng ngôn ngữ gần gũi, dễ hiểu, dễ tiếp nhận, đặc
biệt là đối với học sinh, sinh viên.
Cấp ủy, chính quyền các cấp và các cơ quan chức năng cần chủ động tạo nguồn
dư luận tích cực bằng cách tuyên truyền những mô hình hay, cá nhân điển hình
tiên tiến, tích cực trong thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng.
Ba là, phát huy vai trò của các lực lượng tham gia định hướng dư luận.
Để định hướng dư luận xã hội hiệu quả, việc phát huy vai trò của các lực lượng
tham gia là yếu tố quan trọng hàng đầu, bởi xét đến cùng, muốn định hướng dư
luận xã hội tốt thì không chỉ có sự quan tâm và nâng cao nhận thức, mà yếu tố
quyết định là huy động được lực lượng tham gia đông đảo, có trách nhiệm. Do
vậy, cần phát huy tốt vai trò của đội ngũ dư luận viên, cộng tác viên trong định
hướng dư luận xã hội, trong đó, đội ngũ này cần được đào tạo bài bản, có hiểu
biết chính trị vững vàng, có khả năng phân tích tâm lý xã hội và kỹ năng sử dụng
các phương tiện truyền thông hiện đại.
Bên cạnh đó, phát huy tốt vai trò của đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là người
đứng đầu cấp ủy, chính quyền các cấp phải gương mẫu, chủ động nắm bắt tâm
tư, nguyện vọng của quần chúng, không né tránh những vấn đề khó, nhạy cảm
mà dư luận quan tâm. Từ đó, kịp thời xử lý triệt để các vấn đề tư tưởng nảy sinh,
các vướng mắc, bất cập trong đời sống xã hội, không để lan rộng thành dư luận
để các thế lực thù địch lợi dụng chống phá. Đồng thời, phát huy tốt vai trò, chức
năng, nhiệm vụ của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp và các tổ chức chính trị - lOMoAR cPSD| 58702377
xã hội, tổ chức xã hội nghề nghiệp trong định hướng dư luận xã hội. Theo đó, các
tổ chức này cần chủ động, tích cực tổ chức các diễn đàn, hội nghị trực tiếp, trực
tuyến và qua các kênh thông tin được mở để lắng nghe ý kiến phản ánh, đề nghị,
kiến nghị của các tầng lớp nhân dân, qua đó tạo điều kiện để nhân dân bày tỏ
chính kiến và tham gia giám sát, phản biện xã hội.
Bốn là, tăng cường giáo dục lý luận chính trị và nâng cao “sức đề kháng” trước
những thông tin xấu, độc.
Đây là giải pháp quan trọng, góp phần nâng cao hiệu quả việc định hướng dư
luận xã hội bởi thông qua giáo dục lý luận chính trị, giúp cán bộ, đảng viên và các
tầng lớp nhân dân nâng cao nhận thức về nền tảng tư tưởng của Đảng, kiên định
với đường lối đổi mới đất nước dưới sự lãnh đạo của Đảng và nâng cao trách
nhiệm, khả năng “tự miễn dịch” trước các thông tin xấu, độc trên mạng xã hội.
Do vậy, toàn Đảng và toàn hệ thống chính trị cần đẩy mạnh giáo dục lý luận chính
trị, nhất là giáo dục, bồi dưỡng kỹ năng nhận diện thông tin sai trái trong các cơ
sở giáo dục, đơn vị lực lượng vũ trang, cơ quan hành chính các cấp.
Tăng cường bồi dưỡng kỹ năng truyền thông chính trị cho cán bộ, đảng viên để
mỗi người là một kênh thông tin sống, thiết thực trong định hướng dư luận đúng
đắn trong cộng đồng làng, xã, tổ dân phố, khu phố... Ngoài ra, cần bồi dưỡng và
phát huy tốt vai trò của già làng, trưởng bản, tổ trưởng tổ dân phố, người có uy
tín trong cộng đồng dân cư để thường xuyên nắm bắt, phản ánh tâm tư, nguyện
vọng của nhân dân và định hướng dư luận xã hội gắn với từng địa phương, địa
bàn, tầng lớp dân cư. Mặt khác, cần quan tâm và thường xuyên tổ chức các đợt
sinh hoạt chính trị chuyên đề, tọa đàm, đối thoại để định hướng tư tưởng và lan
tỏa chính kiến tích cực trong quần chúng nhân dân.
Năm là, hoàn thiện cơ chế phối hợp, phản ứng nhanh với dư luận xã hội.
Hoàn thiện cơ chế phối hợp, phản ứng nhanh với dư luận xã hội là yếu tố không
thể thiếu trong công tác dư luận xã hội hiện nay, qua đó, bảo đảm cho dư luận
xã hội được định hướng đúng và trở thành kênh thông tin hữu hiệu giúp bảo vệ
nền tảng tư tưởng của Đảng trước những âm mưu, thủ đoạn chống phá ngày
càng quyết liệt của các thế lực thù địch. Vì vậy, cần hoàn thiện cơ chế để thiết
lập đường dây nóng, cổng thông tin tiếp nhận ý kiến dư luận, nâng cao hiệu quả
trao đổi hai chiều giữa Đảng, Nhà nước với Nhân dân. lOMoAR cPSD| 58702377
Hoàn thiện quy định của pháp luật về tự do ngôn luận trên báo chí, truyền thanh,
truyền hình, internet và mạng xã hội; xây dựng cơ chế cho phép các cơ quan chức
năng kịp thời lên tiếng và xử lý thông tin sai sự thật, nhất là trên không gian
mạng. Tiếp tục hoàn thiện chế tài xử phạt nghiêm đối với các hành vi lợi dụng
internet, mạng xã hội, AI, công nghệ thông minh nhằm lan truyền tin đồn thất
thiệt hoặc thông tin sai sự thật, tạo thành dư luận và gây hoang mang trong cộng
đồng dân cư, xã hội, nhằm định hướng dư luận theo hướng tích cực, tránh bị chi
phối, dẫn dắt bởi thế lực thù địch.
Xây dựng quy chế phối hợp giữa các cơ quan tuyên giáo và dân vận, công an,
quân đội, truyền thông trong xử lý các tình huống dư luận phức tạp, bảo đảm sự
vào cuộc đồng bộ của các cơ quan chức năng, nhanh chóng dập tắt các tin đồn,
thông tin sai trái, xuyên tạc của các thế lực thù địch hoặc cá nhân, tổ chức bị các
thế lực thù địch hướng lái, dẫn dắt. 1.
Xem Hướng dẫn số 167-HD/BTGTW, ngày 26/12/2015 của BanTuyên giáo
Trung ương hướng dẫn thực hiện Kết luận số 100KL/TW, ngày 18/8/2014 của Ban
Bí thư về việc đổi mới và nâng cao chất lượng công tác điều tra, nắm bắt, nghiên cứu dư luận xã hội. 2.
Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII,
Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, t. I, tr. 181. 3.
Đảng Cộng sản Việt Nam: Dự thảo các văn kiện trình Đại hội XIV của Đảng,
Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2025, tr. 383.
Bàn về khái niệm “dư luận xã hội”
https://baochinhphu.vn/ ban-ve-khai-
niem-du-luanxa-hoi-10244096.htm
Dư luận xã hội (hay công luận) là một hiện tượng đời sống xã hội quen thuộc mà mỗi cá nhân,
tổ chức (bao gồm cả quốc gia), trong cuộc sống hàng ngày, thường phải quan tâm và tính toán