Vấn đề ôn tập môn Kinh tế chinh trị Mác - Lênin | Học viện Báo chí và Tuyên truyền

Đối tượng và phương pháp nghiên cứu của kinh tế chính trị Mác. Phân biệt quy luật kinh tế và chính sách kinh tế. Ý nghĩa của việc nghiên cứu kinh tế chính trị Mác -  Lênin đối với hoạt động sản xuất kinh doanh và quản trị quốc gia. Tài liệu giúp bạn tham khảo, ôn tập và đạt kết quả cao. Mời đọc đón xem!

Thông tin:
22 trang 2 tuần trước

Bình luận

Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để gửi bình luận.

Vấn đề ôn tập môn Kinh tế chinh trị Mác - Lênin | Học viện Báo chí và Tuyên truyền

Đối tượng và phương pháp nghiên cứu của kinh tế chính trị Mác. Phân biệt quy luật kinh tế và chính sách kinh tế. Ý nghĩa của việc nghiên cứu kinh tế chính trị Mác -  Lênin đối với hoạt động sản xuất kinh doanh và quản trị quốc gia. Tài liệu giúp bạn tham khảo, ôn tập và đạt kết quả cao. Mời đọc đón xem!

20 10 lượt tải Tải xuống
VẤN ĐỀ ÔN TẬP MÔN KINH TẾ CHÍNH TRỊ MÁC – LÊNIN
1. Đối tượng phương pháp nghiên cứu của kinh tế chính trị Mác.
Phân biệt quy luật kinh tế chính sách kinh tế. Ý nghĩa của việc nghiên cứu
kinh tế chính trị Mác - Lênin đối với hoạt động sản xuất kinh doanh quản
trị quốc gia.
TRẢ LỜI:
Đối tượng nghiên cứu của kinh tế chính trị Mác- Lênin các quan hệ
hội của sản xuất trao đổi các quan hệ này được đặt trong sự liên hệ biện
chứng với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất kiến trúc thượng tầng
tương ứng của phương thức sản xuất nhận định.
Phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp biện chứng duy vật: Biện chứng là đặt một hiện tượng, sự vật
trong mối quan hệ với các hiện tượng quá trình khác trong sự vận động phát
triển không ngừng, duy vật là trên cơ sở thực tiễn kinh tế và xã hội.
- Phương pháp trừu tượng hóa khoa học phương pháp nghiên cứu dùng tư
duy trừu tượng để gạt bỏ khỏi đối tượng nghiên cứu những yếu tố ngẫu nhiên tạm
thời không bản chất (phương pháp chủ yếu).
- Ngoài ra kinh tế chính trị Mác- Lênin còn yêu cầu sử dụng nhiều phương
pháp nghiên cứu thích hợp như: logic kết hợp lịch sử, thống kê, so sánh, phân tích,
tổng hợp, quy nạp diễn dịch, hệ thống hóa, hình hóa, khảo sát, tổng kết thực
tiễn...
PHÂN BIỆT QUY LUẬT KINH TẾ VÀ CHÍNH SÁCH KINH TẾ
- Quy luật kinh tế tồn tại khách quan, không phụ thuộc vào ý chí của con
người, con người không thể thủ tiêu quy luật kinh tế, nhưng thể nhận thức
vận dụng quy luật kinh tế để phục vụ lợi ích của mình. Khi vận dụng không phù
hợp, con người phải thay đổi hành vi của mình chứ không thay đổi được quy luật.
- Chính sách kinh tế sản phẩm chủ quan của con người được hình thành
trên sở vận dụng các quy luật kinh tế. Chính sách kinh tế thếthể phù hợp,
hoặc không phù hợp với quy luật kinh tế khách quan. Khi chính sách không phù
hợp, chủ thể ban hành chính sách có thể ban hành chính sách khác để thay thế.
- Mối liên hệ giữa quy luật kinh tế và chính sách kinh tế:
+ Quy luật kinh tế là cơ sở của chính sách kinh tế.
+ Quy luật kinh tế chính sách kinh tế thuộc vào các điều kiện kháchphụ
quan.
Ý nghĩa của việc nghiên cứu kinh tế chính trị Mác - Lênin đối với hoạt
động sản xuất kinh doanh và quản trị quốc gia.
Ý nghĩa của việc nghiên cứu KTCT- Mác Lênin là: Kinh tế chính trị ý
nghĩa quan trọng trong đời sống xã hội. Nghiên cứu môn kinh tế chính trị giúp các
doanh nhân, nhà tư bản hiểu được bản chất của các hiện tượng và quá trình kinh tế,
nắm được các quy luật kinh tế chi phối sự vận động và phát triển kinh tế; phát triển
luận kinh tế vận dụng luận đó vào thực tế, hành động theo quy luật, tránh
bệnh chủ quan, giáo điều, duy ý chí. Nghiên cứu kinh tế chính trị Mác –Lênin cung
cấp các luận cứ khoa học làm cơ sở cho Nhà nước hình thành đường lối, chiến lược
phát triển kinh tế, hội các chính sách, biện pháp kinh tế cụ thể phù hợp với
yêu cầu của các quy luật khách quan điều kiện cụ thể của đất nước từng thời
kỳ nhất định. Nắm được các phạm trù và quy luật kinh tế là cơ sở cho ta hình thành
duy kinh tế, không những cần thiết cho các nhà quản còn rất cần
cho quản lý sản xuất kinh doanh ở các doanh nghiệp của mọi tầng lớp dân cư, ở tất
cả các thành phần kinh tế. năng này sẽ tạo điều kiện cho các nhà quản nâng
cao chất lượng hoạt động sản xuất kinh doanh, tăng doanh thu lợi nhuận, giảm giá
thành sản phẩm. Người tiêu dùng khi nghiên cứu kinh tế chính trị Mác Lênin sẽ
hình thành tư duy tiêu dùng thông thái
Nếu Nhà nước nắm bắt quy luật kinh tế sẽ ban hành được những chính
sách kinh tế có lợi cho nước nhà, khắc phục được những khuyết tật của nền kinh tế,
từ đó kinh tế cả nước sẽ đi lên, đời sống nhân dân được cải thiện.
2. Khái niệm, điều kiện ra đời của sản xuất hàng hóa. Hai thuộc tính của
hàng hóa tính hai mặt của lao động sản xuất hàng hóa. Các nhân tố ảnh
hưởng đến lượng giá trị của hàng hóa. Nguồn gốc, bản chất, chức năng của tiền
tệ.
Sản xuất hàng hóa kiểu tổ chức sản xuất trong đó, sản phẩm làm ra
không phải để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của chính người trực tiếp sản xuất ra nó mà
để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của người khác thông qua trao đổi, mua bán. Sản xuất
hàng hóa chỉ ra đời khi có đủ hai điều kiện đó là có phân công lao động xã hội và có
sự tách biệt tương đối về mặt kinh tế của những người sản xuất.
VD:
Hai thuộc tính của hàng hóa:
- Khái niệm hàng hóa: là sản phẩm của lao động thỏa mãn nhu cầu nào đó của
con người được đưa vào tiêu dùng thông qua trao đổi, mua bán.
- Giá trị sử dụng: là công dụng thỏa mãn như cầu nào đó của con người. Giá
trị sử dụng có đặc điểm: là phạm trù vĩnh viễn (tính có ích không thay đổi theo thời
gian), số lượng và chất lượng tăng và là vật mang giá trị trao đổi, nhận thức tăng thì
giá trị sử dụng cũng tăng.
- Giá trị: là hao phí lao động của người sản xuất hàng hóa kết tinh trong hàng
hóa. Giá trị mang đặc điểm: mang phạm trù lịch sử, bộc lộ ra ngoài thành giá trị trao
đổi, giá cả, mang quan hệ giữa người sản xuất hàng hóa.
VD:
nh hai mặt của lao động sản xuất hàng hóa:
- Lao động cụ thể lao động ích dưới một hình thức cụ th của những
nghề nghiệp chuyên môn nhất định. Mỗi lao động cụ thể có mục đích lao động riêng,
đối tượng lao động riêng, công cụ lao động riêng, phương pháp lao động riêng và kết
quả riêng. Lao động cụ thể tạo ra giá trị s dụng của hàng hóa. Lao động cụ thể khác
nhau tạo ra sản phẩm khác nhau có giá trị sử dụng riêng. Phân công lao động xã hội
ng thì nhiều ngành nghề xuất hiện, hình thức lao động cụ th cũng phong phú đa
dạng hơn.
- Lao động trừu tượng là lao động xã hội của người sản xuất hàng hoá không
kể đến hình thức cụ thể của nó. Đó là sự hao phí sức lao động nói chung của người
sản xuất hàng hóa với cơ bắp, thần kinh, trí óc. Lao động trừu tượng tạo ra giá trị của
ng hóa.
- Không có 2 hình thức lao động khác nhaulà do lao động người sản xuất
ng hóa mang tính 2 mặt.
c nhân tố ảnh hưởng đến lượng giá trị hàng hóa:
- ng suất lao động: sức sản xuất của lao động được đo bằng lượng sản
phẩm tạo ra trong một đơn vị thời gian để sản xuất một đơn vị sản phẩm. Năng suất
lao động tỷ lệ nghịch với giá trị của hàng hóa. Những yếu tố ảnh hưởng đến năng suất
lao động là: kỹ năng và sự thành thạo của người lao động, mức độ phát triển của khoa
học – kỹ thuật, quy mô và trình độ tổ chức, quản lý, các điều kiện tự nhiên.
- Cường độ lao động: là đại lượng chỉ mức độ hao phí sức lao động trong một
đơn vị thời gian. cho thấy mức độ khẩn trương, ng thẳng, nặng nhọc của lao
động.
- Mức độ giản đơn hay phức tạp của lao động: lao động đơn giản là công việc
không đòi hỏi kiến thức chuyên n, huấn luyện ng thể làm được, lao động
phức tạp lao động người lao động cần được đào tạo huấn luyện mới thể thực
hiện được.
Nguồn gốc, bản chất, chức năng của tiền tệ.
- Nguồn gốc: Tiền tệ là kết quả phát triển lâu dài của sản xuất và trao đổi hàng
a sau khi trải qua bốn hình thái giá trị của hàng hóa: Hình thái giản đơn, hình thái
mở rộng, hình thái chung, hình thái tiền.
- Bản chất: Tiền là một hình thái giá trị của hàng hóa và một hàng hóa đặc
biệt, kết quả của quá trình sản xuất trao đổi ng hóa. Tiền vật ngang giá
chung cho tất cả các hàng hóa. Tiền là hình thái biểu hiện giá trị hàng hóa.
- Chức năng:
+ Thước đo giá trị
+ Phương tiệnu thông
+ Phương tiện cất trữ
+ phương tiện thanh toán
+ tiền tệ thế giới.
3. Thị trường, chế thị trường nền kinh tế thị trường. Ưu thế
những khuyết tật của kinh tế thị trường.
Thị trường tổng hòa những quan hệ kinh tế bao gồm cung, cầu, giá cả;
quan hệ hàng tiền; quan hệ giá trị, gia trị sử dụng, quan hệ hợp tác, cạnh tranh;
quan hệ trong nước, ngoài nước…., nơi diễn ra hành vi trao đổi mua bán giứa
các chủ thể kinh tế với nhau.
- Vai trò:
+ Thị trường thực hiện giá trị hàng hóa, điều kiện, môi trường cho sản
xuất phát triển. Vì vậy, thị trường có vai trò thông tin, định hướng cho mọi nhu cầu
sản xuất kinh doanh.
+ Thị trường kích thích sự sáng tạo của mọi thành viên trong hội, tạo ra
cách thức phân bổ nguồn lực hiệu quả trong nền kinh tế.
+ Thị trường gắn kết nền kinh tế thành một chỉnh thể, gắn kết nền kinh tế
quốc gia với nền kinh tế thế giới.
chế thị trường hệ thống các quan hệ mang tính tự điều chỉnh tuân theo
yêu cầu của các quy luật kinh tế. Cơ chế thị trường là phương thức cơ bản để phân
phối, sử dụng các nguồn vốn, tài nguyên, công nghệ, sức lao động, thông tin, trí
tuệ... trong nền kinh tế thị trường.
Nền kinh tế thị trường là nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường,nền
kinh tế hàng hóa phát triển cao, đó mọi quan hệ sản xuất trao đổi đều được
thông qua thị trường, chịu sự tác động, điều tiết của các quy luật thị trường.
Ưu thế của nền kinh tế thị trường:
- Một là, nền kinh tế thị trường luôn tạo ra động lực cho sự sáng tạo của các
chủ thể kinh tế.
- Hai là, nền kinh tế thị trường luôn phát huy tốt nhất tiềm năng của mọi chủ
thể. Các vùng miền cũng như lợi thế quốc gia.
- Ba là, nền kinh tế thị trường luôn tạo ra các phương thức để thỏa mãn tối
đa nhu cầu của con người. Từ đó thúc đẩy sự tiến bộ văn minh của xã hội.
Khuyết tật của nền kinh tế thị trường:
- Một là, trong nền kinh tế thị trường luôn tiềm ẩn những rủi ro khủng
hoảng.
- Hai là, nền kinh tế thị trường không tự khắc phục được xu hướng cạn kiệt
tài nguyên nên không thể tái tạo, suy thoái môi trường tự nhiên, môi trường xã hội.
- Ba nền kinh tế thị trường không tự khắc phục được hiện tượng phân hóa
sâu sắc trong xã hội.
4. Các quy luật trong nền kinh tế thị trường. Vị trí, nội dung tác
động của quy luật giá trị. Ý nghĩa của việc nghiên cứu.
Một số quy luật kinh tế chủ yếu của nền kinh tế thị trường:
- Quy luật giá trị: Là quy luật kinh tế cơ bản của sản xuất hàng hóa, ở đâu
sản xuất và trao đổi hàng hoá thì ở đó có sự hoạt động của quy luật giá trị. Quy luật
giá trị yêu cầu việc sản xuất trao đổi hàng hóa phải được tiến hành trên sở
của hao phí lao động hội cần thiết. Lượng giá trị của một hàng hóa biệt phải
phù hợp với thời gian lao động hội cần thiết. Trong lĩnh vực trao đổi, tiến hành
theo nguyên tắc ngang giá, lấy giá trị hội làm sở, không dựa trên giá trị
biệt.
Quy luật giá trị phát huy tác dụng thông qua sự vận động của giá cả xung
quanh giá trị, dưới sự tác động của quan hệ cung - cầu. Trong nền kinh tế hàng
hoá, quy luật giá trị có những tác động cơ bản sau:
+ Thứ nhất, điều tiết sản xuất lưu thông hàng hóa. Quy luật giá trị điều
tiết hàng hóa từ nơi giá cả thấp đến nơi giá cả cao, từ nơi cung lớn hơn cầu
đến nơi cung nhỏ hơn cầu, góp phần làm cung cầu hàng hóa giữa các vùng được
cân bằng, phân phối lại thu nhập giữa các vùng miền, điều chỉnh sức mua của thị
trường.
+ Thứ hai, kích thích cải tiến kỹ thuật, hợp hóa sản xuất nhằm tăng năng
suất lao động. Trong lưu thông, để bán được nhiều hàng hóa, người sản xuất phải
không ngừng tăng chất lượng phục vụ quảng cáo, tổ chức tốt khâu bán hàng, làm
cho quá trình lưu thông được hiệu quả hơn, nhanh chóng thuận tiện với chi phí
thấp nhất.
+ Thứ ba, phân hóa những người sản xuất thành người giàu, người nghèo
một cách tự nhiên. Người năng lực giỏi, nhạy bén với thị trường, sản xuất hao
phí cá biệt thấp hơn hao phí chung của xã hội sẽ giàu có. Ngược lại, người hạn chế
về vốn, kinh nghiệm sản xuất thấp, giá trị biệt sẽ cao hơn giá trị hội dễ
thua lỗ.
- Quy luật cung - cầu: quy luật điều tiết quan hệ giữa cung (bên bán)
cầu (bên mua) hàng hóa trên thị trường. Quy luật này đòi hỏi cung cầu phải sự
thống nhất. Quy luật cung - cầu tác dụng điều tiết quan hệ giữa sản xuất lưu
thông hàng hóa, làm thay đổi cơ cấu và quy mô thị trường.
- Quy luật lưu thông tiền tệ: Quy luật lưu thông tiền tệ yêu cầu việc lưu
thông tiền tệ phải căn cứ trên yêu cầu phải lưu thông hàng hóa và dịch vụ.
- Quy luật cạnh tranh:quy luật kinh tế, điều tiết một cách khách quan mối
quan hệ ganh đua kinh tế giữa các chủ thể trong sản xuất trao đổi hàng hóa.
Cạnh tranh ganh đua giữa những chủ thể kinh tế với nhau nhằm được ưu thế
về sản xuất cũng như tiêu thụ, thông qua đó thu được lợi ích tối đa.
Ý nghĩa việc nghiên cứu:
Chỉ khi hiểu và nghiên cứu các quy luật này thì mới đưa ra được các chính
sách kinh tế sao cho hợp lý. Nếu không hiểu quy luật kinh tế sẽ có những chính
sách chủ quan, duy ý chí. Khi đó, nền kinh tế của một quốc gia hay một khu vực sẽ
bị ảnh hưởng xấu. Nói tóm lại, doanh nghiệp nếu hiểu biết, tôn trọng và áp dụng
đúng các quy luật kinh tế sẽ thu về hiệu quả kinh tế cao, góp phần phát triển mạnh
mẽ nền kinh tế của quốc gia.
5. Khái niệm, điều kiện để sức lao động trở thành hàng hoá và hai thuộc
tính của hàng hoá sức lao động. Nguồn gốc, bản chất của giá trị thặng
tiền công. Các phương pháp sản xuất giá trị thặng . Ý nghĩa của việc
nghiên cứu lý luận giá trị thặng dư của C. Mác.
Khái niệm sức lao động: Sức lao động năng lực lao động của con người.
bao hàm toàn bộ trí lực thể lực tồn tại trong thể người để tiến hành quá
trình sản xuất.
Điều kiện để sức lao động trở thành hàng hóa:
- Người có sức lao động phải được tự do về thân thể
- Người lao động không có đủ tư liệu sản xuất cần thiếtkhông có của cải,
muốn sống phải bán sức lao động.
VD:
Hai thuộc tính của hàng hóa sức lao động:
- do thời gian lao động xã hội cần thiết đểGiá trị của hàng hóa sức lao động
sản xuất và tái sản xuất sức lao động quyết định. Đề sản xuất và tái sản xuất, người
lao động cần một lượng tư liệu sinh hoạt nhất định phục vụ nhu cầu ăn, mặc, ở, học
nghề… Như vậy, giá trị của hàng hóa sức lao động được quyết định bởi toàn bộ giá
trị các liệu sinh hoạt cần thiết duy trì đời sống của công nhân làm thuê gia
đình họ cả về vật chất lẫn tinh thần và cả những chi phí đào tạo người công nhân
Giá trị sức lao động khác với hàng hóa thông thường chỗ bao hàm cả
yếu tinh thần yếu tố lịch sử, phụ thuộc vào hoàn cảnh lịch sử của từng nước,
từng thời kì, phụ thuộc vào trình độ văn minh đã đạt được, vào điều kiện lịch sử
hình thành giai cấp và điều kiện địa lý khí hậu.
VD: Yếu tố tinh thần:
Yếu tố lịch sử:
Giá trị hàng hóa sức lao động bao gồm: giá trị các tư liệu sinh hoạt để suy trì
sức lao động của công nhân trong trạng thái sinh hoạt bình thường, chi phí đào tạo
tùy theo tính chất phức tạp của sức lao động, giá trị các tư liệu sinh hoạt cho những
người thay thế.
- Giá trị sử dụng của hàng hóa sức lao động thể hiện ra trong quá trình tiêu
dùng sức lao động, tức quá trình lao động của người công nhân. Hàng hóa sức lao
động giá trị sử dụng đặc biệt, khi sử dụng thể tạo ra một giá trị lớn hơn
giá trị bản thân nó. Đặc điểm này chìa khóa giải quyết mâu thuẫn trong công
thức chung của tư bản.
Nguồn gốc, bản chất của giá trị thặng dư và tiền công
Nguồn gốc giá trị thặngbộ phận giá trị mới dôi ra ngoài giá trị sức lao
động do công nhân tạo ra, kết quả của lao động không công của công nhân cho
nhà bản. thể hiểu rằng, nhà tư bản mua liệu sản xuất hàng hóa sức lao
động để sản xuất. Người công nhân được mua sức lao động dùng lao động cụ thể
để chuyển nguyên vẹn giá trị liệu sản xuất vào giá trị sản phẩm, dùng lao động
trừu tượng để tạo ra giá trị mới lớn hơn giá trị sức lao động, phần lớn hơn đó là giá
trị thặng dư.
VD: liệu sinh hoạt nuôi sống duy trì sức lao động của người công
nhân trong một tháng là 500$ nhưng khi làm việc cho nhà tư bản, người công nhân
có thể tạo ra giá trị gia tăng vào sản phẩm là 800$. Sự chênh lệch 300$ chính là giá
trị thặng dư nhà tư bản chiếm doạt.
Bản chất của giá trị thặng dư:
- Giá trị thặng dư là kết quả của sự hao phí lao động.
- Mục đích của nhà bản giá trị thặng dư, người lao động làm thuê phải
bán sức lao động cho nhà bản. Nhà bản bóc lột sức lao động của công nhân
để tạo ra thặng cho bản thân. Xét về bản chất kinh tế hội, giá trị thặng
phản ánh quan hệ giai cấp, quan hệ bóc lột giữa một bên người sở hữu liệu
sản xuất với bên kia người sở hữu hàng hóa sức lao động, giữa nhà bản với
người lao động làm thuê.
- Trong điều kiện ngày nay, quan hệ đó vẫn diễn ra những với trình độ
mức độ rất khác.
Tiền công: Tiền công giá cả của hàng hóa sức lao động. Đó là bộ phận
của giá trị mới do chính hao phí sức lao động của người lao động làm thuê tạo ra.
Nhưng thường được hiểu là do người mua sức lao động trả cho người lao động làm
thuê.
Bản chất của tiền công: Tiền công giá cả của hàng hóa sức lao động
nhưng biểu hiện ra bên ngoài như giá cả của lao động vì: công nhân bán quyền
sử dụng sức lao động, không phải sở hữu sức lao động; công nhân phải lao động
mới có tiền công, công nhân chỉ nhận được tiền công sau khi lao động.
Các phương pháp sản xuất giá trị thặng dư: Mục đích của các nhà tư bản
sản xuất ra giá trị thặng tối đa, vậy các nhà bản đã dùng nhiều phương
pháp để tăng tỷ suất và khối lượng giá trị thặng dư.
- Sản xuất giá trị thặng tuyệt đối: Giá trị thặng tuyệt đối giá tr
thặng thu được do kéo dài ngày lao động ợt quá thời gian lao động tất yếu,
trong khi năng suất lao động, giá trị sức lao động thời gian lao động tất yếu
không thay đổi.
VD: Thời gian lao động tất yếu 4h, thời gian lao động thặng 4h, tỷ
suất giá trị thặng 100%. Để bóc lột giá trị thặng tuyệt đối, thời gian lao
động thặng dư tăng thêm 2h, tỷ suất giá trị thặng dư tăng lên 150%.
Để có được nhiều giá trị thặng dư nhà tư bản sẽ tìm cách kéo dài thời gian và
cường độ lao động. Tuy nhiên, sức lao động thời gian lao động của con người
giới hạn nên không thể vượt qua. Ưu điểm tăng năng suất giá trị thặng dư,
nhược điểm là bóc lột sức lao động của công nhân.
- Sản xuất giá trị thặng tương đối: Giá trị thặng tương đối giá trị
thặng thu được nhờ rút ngắn thời gian lao động tất yếu; do đó kéo dài thời gian
lao động thặng dư trong khi độ dài ngày lao động không thay đổi hoặc thậm chí rút
ngắn.
VD: Thời gian lao động tất yếu 4h, thời gian lao động thặng 4h, tỷ
suất giá trị thặng 100%. Nhờ máy móc hiện đại, thời gian lao động tất yếu
giảm xuống 2h, thời gian lao động thặng 6h, từ đó tỷ suất lao động tăng lên
300%.
Ưu điểm Tăng năng suất lao động trong các ngành sản xuất liệu sinh
hoạt và cải tiến kỹ thuật.
Ý nghĩa của việc nghiên cứu lý luận giá trị thặng dư của C. Mác.
Nghiên cứu Học thuyết giá trị thặng của C.Mác sẽ giúp chúng ta thấy
rằng trong một chừng mực nào đó, quan hệ bóc lột chưa thể bị xóa bỏ ngay. Chừng
nào quan hệ bóc lột còntác dụng giải phóng sức sản xuất thúc đẩy lực lượng
sản xuất phát triển thì chừng đó chúng ta còn phải chấp nhận sự hiện diện của nó.
vậy, nhà nước phải chính sách bảo vệ quyền chính đáng của người lao động
lẫn người sử dụng lao động bằng luật, bằng các chế tài, bảo đảm công khai, minh
bạch, bền vững. Những mâu thuẫn về lợi ích trong quá trình sử dụng lao động
một thực tế, việc phân xử các mâu thuẫn ấy như thế nào để tránh xung đột không
cần thiết cũng một yêu cầu cấp thiết. Hiểu luận về giá trị thặng của
C.Mác, người lao động sẽ biết cách bảo vệ những quyền lợi lao động chính đáng
của mình, người sử dụng lao động sẽ biết tối ưu hóa giá trị thặng dư mìnhđược
theo cách hợp lý nhất. Nghiêm cứu giá trị thặng dư sẽ thúc đẩy các nhà tư bản phát
triển khoa học, công nghệ thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển. Nếu biết vận
dụng học thuyết một cách thông minh, sáng tạo vào điều kiện thực tiễn của đất
nước thì đất nước sẽ đi lên, nền kinh tế sẽ thêm phát triển.
6. Bản chất các nhân tố làm tăng quy tích lũy bản. Các quy
luật chung của tích lũy tư bản.
Để chỉ ra thì cần nghiên cứu về tái sản xuất. Táibản chất của tích lũy tư bản
sản xuất có 2 hình thức là tái sản xuất giản đơn và tái sản xuất mở rộng.
- Tái sản xuất giản đơn là sự lặp lại quá trình sản xuất với quy mô như cũ. Ví
dụ: tư bản đầu tư 100 triệu, thu về 120 triệu, giá trị thặng dư là 20 triệu. Chu kỳ sau
anh ta đầu tư 100 triệu tái sản xuất, 20 triệu dư ra thì dùng để mua tư liệu sinh hoạt.
Quy trình tái sản xuất được gặp lại với quy mô như cũ.
- Tái sản xuất mở rộng là quy trình sản xuất được lặp lại với quy mô và quá
trình tăng lên. Để tái sản xuất mở rộng, một phần thặng được trích ra đầu
trở lại mở rộng sản xuất, biến một phần giá trị thặng dư thành tư bản phụ thêm.
Bản chất của tích lũy bản quá trình tái sản xuất mở rộng bản chủ
nghĩa thông qua việc biến giá trị thặng thành bản phụ thêm để mở rộng quy
sản xuất hay nói cách khác, nhà bản không sử dụng hết giá trị thặng thu
được cho tiêu dùng cá nhân mà biến nó thành tư bản phụ thêm.
Các nhân tố làm tăng quy mô tích lũy tư bản
- Trình độ khai thác sức lao động: Khi tăng cường độ lao động, kéo dài ngày
lao động, cắt giảm lương.... Tỷ suất giá trị thặng tăng, từ đó tạo tiền đề để tăng
quy mô giá trị thặng dư và tạo điều kiện để tăng quy mô tích lũy.
- Tăng năng suất lao động hội làm cho giá trị liệu sinh hoạt giảm
xuống, giá trị sức lao động giảm giúp nhà bản thu được nhiều giá trị thặng
hơn, từ đó làm tăng quy mô tích lũy.
- Sử dụng hiệu quả máy móc: Để tiến hành sản xuất, nhà tư bản phải bỏ ra tư
bản mua máy móc thiết bị nhà xưởng. Bộ phận tư bản này tham gia vào toàn bộ
quá trình sản xuất, nhưng giá trị thì chuyển dần vào sản phẩm. Mặc dù đã chuyển
một phần vào sản phẩm nhưng bộ phận tư bản này vẫn hoạt động với tư cách còn
đầy đủ giá trị. Giá trị của tư bản cố định đã chuyển vào sản phẩm được nhà tư bản
thu hồi có thể được đầu tư để mở rộng sản xuất kinh doanh và trở thành tích lũy tư
bản.
- Tư bản ứng trước càng lớn thì càng là tiền đề tăng quy mô tích lũy.
Các quy luật chung của tích lũy tư bản.
- Tích lũy bản làm tăng cấu tạo hữu của bản: Cấu tạo hữu cấu
tạo giá trị do cấu tạo kỹ thuật quyết định phản ánh sự thay đổi của cấu tạo kỹ
thuật. Với tiến bộ khoa học, cấu tạo kỹ thuật tăng nên cấu tạo giá trị tăng dẫn đến
cấu tạo hữu cơ tăng.
- Tích lũy bản làm tăng tích tụ tập trung bản: Tích tụ bản sự
tăng thêm quy của tư bản cá biệt bằng cách tư bản hóa giá trị thặng dư. Tích tụ
bản kết quả trực tiếp của tích lũy bản. Tập trung bản sự tăng lên của
quy mô tư bảnbiệt mà không làm tăng quy mô tư bản xã hội do hợp nhất các
bản cá biệt tạo thành một tư bản cá biệt lớn hơn.
- Tích lũy tư bản làm bần cùng hóa lao động làm thuê: Quá trình tích lũy
bản tính hai mặt: Một mặt thể hiện tích lũy sự giàu sang về phía giai cấp
sản, mặt khác tích lũy sự bần cùng về phía giai cấp công nhân làm thuê. Bần cùng
hóa có 2 hình thức: bần cùng hóa tuyệt đối và bần cùng hóa tương đối.
+ Bần cùng hóa tương đối tỷ lệ thu nhập của người công nhân trong thu
nhập quốc dân ngày càng giảm còn tỉ lệ thu nhập của giai cấp bản ngày càng
tăng. Khoảng cách giàu nghèo ngày càng tăng.
+ Bần cùng hóa tuyệt đối thể hiện sự suy giảm tuyệt đối trong mức sống
của công nhân làm thuê, thể hiện với những người thất nghiệp hoặc với toàn bộ
giai cấp công nhân làm thuê trong điều kiện kinh tế khó khăn, khủng hoảng kinh
tế.
7. Bản chất nguồn gốc của lợi nhuận thương nghiệp, lợi tức, địa tô
trong nền kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa.
Bản chất và nguồn gốc của lợi nhuận thương nghiệp
Nguồn gốc: Lợi nhuận thương nghiệpmột phần giá trị thặng được tạo
ra trong quá trình sản xuất mà tư bản công nghiệp nhường cho tư bản thương
nghiệp, để bản thương nghiệp bán hàng hóa cho mình. Lợi nhuận thương
nghiệp là hình thức biến tướng của giá trị thặng dư.
Bản chất: Sau khi bán hàng hóa, nhà bản không những đắp đủ số chi
phí đã ứng ra mà còn thu được số chênh lệch bằng giá trị thặng dư. Số chênh
lệch này gọi lợi nhuận. Lợi nhuận thương nghiệp phản ánh mối quan hệ
giữa bản công nghiệp bản thương nghiệp trong phân chia và bóc lột
giá trị thặng dư.
Bản chất và nguồn gốc của lợi tức
Nguồn gốc: Lợi tức số tiền bản đi vay phải trả cho nhà tư bản cho vay
ngoài số tiền vay (tiền gốc) để sản xuất kinh doanh. Lợi tức một phần giá trị
thặng dư do công nhân tạo ra trong sản xuất.
Bản chất: Lợi tức chỉ là 1 phần của giá trị thặng nhà bản hoạt động thu
được nhờ sử dụng bản đi vay trả cho chủ sở hữu bản cho vay, tức 1 phần
của lợi nhuận bình quân các nhà bản công thương nghiệp thu được khi sử
dụng bản đi vay vào hoạt động sản xuất kinh doanh trả cho nhà bản cho vay.
Lợi tức phản ánh mối quan hệ bóc lột giữa tư bản và lao động
Bản chất và nguồn gốc của địa tô
Nguồn gốc: Địa tôsố tiền mà nhàbản kinh doanh trong nông nghiệp phải trả
cho địa chủ để được sử dụng ruộng đất trong một thời gian nhất định. Địa tô là một
phần của lợi nhuận siêu ngạch bên ngoài lợi nhuận bình quân do công nhân làm
thuê trong nông nghiệp tạo ranhàbản thuê đất bóc lột được đem trả cho địa
chủ.
Bản chất: Địa phản ánh mối quan hệ bóc lột của giai cấp bản địa chủ đối
với công nhân làm thuê trong lĩnh vực nông nghiệp.
8. Đặc điểm kinh tế bản của chủ nghĩa bản độc quyền độc
quyển nhà nước. Những biểu hiện mới về đặc điểm kinh tế của chủ nghĩa
bản độc quyền và độc quyền nhà nước trong giai đoạn hiện nay.
Có 5 đặc điểm kinh tế cơ bản của chủ nghĩa tư bản độc quyền:
- Các tổ chức độc quyền có quy mô tích tụ và tập trung tư bản lớn:
Do sự tích tụ, tập trung sản
xuất tăng cao trực tiếp dẫn đến hình thành tổ chức độc quyền. Doanh nghiệp lớn ít
nên dễ thỏa hiệp với nhau. Những doanh nghiệp quy lớn ấy dễ đối chọi, đấu
tranh gay gắt với nhau nên lựa chọn liên kết với nhau để giữ địa vị độc quyền.
VD: Cuộc khủng hoảng kinh tế năm 1873 làm phá sản hàng loạt nghiệp
vừa và nhỏ, thúc đẩy nhanh chóng quá trình tích tụ và tập trung tư bản.
+ Các hình thức tổ chức độc quyền:
Ban đầu hình thành liên kết ngang: Là loại liên kết giữa các nhà tư bản trong
cùng một ngành, sản xuất ra cùng một loại sản phẩm. Gồm 3 nh thức
cácten, xanhđica, tờrớt.
Tiếp đó, xuất hiện sự liên kết dọc: loại liên kết giữa các tổ chức độc
quyền tạo ra những sản phẩm thể thay thế cho nhau được. Liên kết này
liên kết không chỉ những xí nghiệp lớn mà cả những xanhđica, tờrớt… thuộc
các ngành khác nhau nhưng có liên quan với nhau về kinh tế và kỹ thuật.
Từ giữa thế kỷ XX phát triển một kiểu liên kết mới liên kết đa ngành: Là
liên kết giữa các Cartel, Sydicate, Trust trong các ngành tính chất kinh tế
kỹ thuật rất khác nhau, đồng thời bao gồm cả vận tải, thương mại, ngân hàng
và các dịch vụ khác, v.v..
- Những biểu hiện mới: Do tác động của các đạo luật chống độc quyền hay luật
chống hạn chế cạnh tranh đã làm xuất hiện phổ biến các hình thức tổ chức độc
quyền lớn hơn, cao hơn: hình thức ôlygôpôly (oligopoly - độc quyền của một vài
công ty) hay pôlypôly (polypoly - độc quyền của một số khá nhiều công ty trong
mỗi ngành). Cách mạng khoa học công nghệ dường như biểu lộ thành hai xu
hướng đối lập nhau nhưng thực ra thống nhất với nhau: xu hướng tập trung
xu hướng phi tập trung hóa.
- Sức mạnh của các tổ chức độc quyền do tư bản tài chính và hệ thống tài phiệt chi
phối: trong ngân hàng cũng diễn ra quá trình tích tụ, tập trung dẫn đến hình thành
các tổ chức độc quyền trong ngân hàng. Quy luật tích tụ, tập trung trong ngân hàng
cũng giống như trong công nghiệp: các ngân hàng vừa nhỏ sự cạnh tranh +
cần ngân hàng lớn để phục vụ công việc kinh doanh của doanh nghiệp lớn -> sát
nhập thành ngân hàng lớn để tránh phá sản -> tổ chức độc quyền ngân hàng ra đời.
+ Độc quyền công nghiệp liên kết chặt chẽ với độc quyền ngân hàng sinh ra tư bản
tài chính. Tư bản tài chính phát triển dẫn đến sự ra đời của tài phiệt (hay đầu sỏ tài
chính, trùm tài chính) một nhóm bản tài chính lớn nhất tiềm lực tài chính
lớn mạnh. Về mặt kinh tế, tài phiệt chi phối toàn bộ đời sống kinh tế của một quốc
gia. Về mặt chính trị, tài phiệt chi phối kinh tế dẫn đến chi phối mọi hoạt động của
cơ quan nhà nước, các chính sách đối nội, đối ngoại của, biến nhà nước thành công
cụ phục vụ lợi ích. Tư bản tài chính thống trị bằng “chế độ tham dự”: nhà/tập đoàn
tài chính mua cổ phiếu khống chế “công ty mẹ” -> “công ty mẹ” thống trị các
“công ty con” -> “công ty con” lại chi phối “công ty cháu”...
- sự thay đổi trong quá trình liên kết thâm nhập vàoNhững biểu hiện mới:
nhau giữa bản ngân hàng bản công nghiệp. Ngày nay, phạm vi liên kết
được mở rộng ra nhiều ngành, do đó các tập đoàn tài chính thường tồn tại dưới
hình thức những tổ hợp đa dạng kiểu công - nông - thương - tín - dịch vụ hay công
nghiệp - quân sự - dịch vụ quốc phòng. Nội dung của sự liên kết cũng đa dạng hơn,
tinh vi hơn, phức tạp hơn. Vai trò kinh tế chính trị của bản tài chính ngày
càng lớn, không chỉ trong khuôn khổ quốc gia mà còn ảnh hưởng mạnh mẽ tới các
nước khác trên thế giới. Trùm tài chính không chỉ tăng cường địa vị thống trị về
kinh tế còn tăng cường sự khống chế lợi dụng chính quyền nhà nước. Các
ngân hàng đa quốc gia và xuyên quốc gia tạo điều kiện cho các công ty xuyên quốc
gia thâm nhập vào các nước khác, đặc biệt Ngân hàng Thế giới (WB) Quỹ
Tiền tệ quốc tế (IMF).
- Xuất khẩu bản trở thành phổ biến: Xuất khẩu bản xuất khẩu giá trị ra
nước ngoài (đầubản ra nước ngoài) nhằm mục đích thu được giá trị thặng
các nguồn lợi nhuận khác các nước nhập khẩu bản. Xuất khẩu bản xuất
hiện khi các nước tư bản phát triển có “tư bản thừa”, nhiều nước nghèo nhưng giàu
nguồn lợi hấp dẫn đầu tư tư bản. Một nguyên nhân khác là do phong trào xâm lược
thuộc địa. Có hai hình thức xuất khẩu tư bản: đầu tư trực tiếp và đầu tư gián tiếp.
+ Đầu trực tiếp: hình thức biến các nghiệp nước nhận đầu trở thành một
chi nhánh của “công ty mẹ” ở chính quốc.
+ Đầu gián tiếp: hình thức đầu nhà đầu không trực tiếp tham gia quản
lý hoạt động đầu tư mà cho vay để thu lợi tức, mua cổ phần, cố phiếu....
- Những biểu hiện mới: Do cuộc cách mạng khoa học công nghệ mới đã thúc
đẩy sự phát triển của việc phân công quốc tế, việc quốc tế hóa sản xuất việc
tăng nhanh tư bản "dư thừa" trong các nước; mặt khác là do sự tan rã của hệ thống
thuộc địasau chiến tranh, quy mô xuất nhập khẩu tư bản ngày càng lớn. Từ đầu
những năm 70 của thế kỷ XX, đại bộ phận dòng bản lại chảy qua chảy lại giữa
các nước tư bản chủ nghĩa phát triển với nhau.
- Cạnh tranh để phân chia thị trường thế giới tất yếu giữa các tập đoàn độc
quyền: Xuất hiện do sự mở rộng không ngừng của các tổ chức độc quyền, tích tụ
tập trung vốn, nhu cầu khai thác nguyên liệu tìm kiếm khách hàng do sự
đụng độ về lợi ích thị trường.Về bản chất, đặc điểm này sự củng cố địa vị độc
của các tổ chức độc quyền những lĩnh vực, hoặc thị trường nhất định. Những
cuộc đụng độ trên trường quốc tế giữa các tổ chức độc quyền sức mạnh kinh tế
hùng hậu, những cuộc cạnh tranh khốc liệt tất yếu dẫn đến xu hướng:
Liên kết thỏa hiệp với nhau
Ký kết các hiệp định
Liên kết với nhà nước
- Những biểu hiện mới: Sức mạnh phạm vi bành trướng của các công ty độc
quyền xuyên quốc gia tăng lên thúc đẩy xu hướng quốc tế hóa đời sống kinh tế
sự phân chia phạm vi ảnh hưởng giữa chúng với nhau, đồng thời thúc đẩy việc
hình thành chủ nghĩa tư bản độc quyền nhà nước quốc tế. Cùng với xu hướng quốc
tế hóa toàn cầu hóa đời sống kinh tế lại diễn ra hiện tượng khu vực hóa, hình thành
,
ngày càng nhiều liên minh kinh tế khu vực như: Liên minh châu Âu (EU), Hiệp hội
các nước Đông Nam Á (ASEAN), Tổ chức Hợp tác kinh tế châu Á - Thái Bình
Dương (APEC)... Ngày càng nhiều nước tham gia vào các liên minh Mậu dịch
tự do (FTA) hoặc các Liên minh Thuế quan (CU).
- Lôi kéo, thúc đẩy các chính phủ vào việc phân định khu vực lãnh thổ ảnh hưởng
cách thức để bảo vệ lợi ích độc quyền: Về bản chất thiết lập vị trí độc quyền
của các tổ chức độc quyền nhà nước sản các quốc gia vùng lãnh thổ,
biểu hiện bằng các cuộc chiến xâm lược thuộc địa như Pháp chiếm Đông Dương,
Anh chiếm Hồng Kông,.. Do chủ nghĩa bản phát triển càng cao, nguyên liệu
thiếu thốn cạnh tranh, tìm kiếm nguyên liệu gay gắt nên các cuộc đấu tranh
chiếm thuộc địa càng quyết liệt hơn. Từ đó dẫn đến hậu quả thiể hại về người của
các nước thuộc địa, thiệt hệ về kinh tế, hội những tài nguyên của các nước
thuộc địa bị vơ vét cạn kiệt.
- Những biểu hiện mới: Tuy chủ nghĩa thực dân đã hoàn toàn sụp đổ chủ
nghĩa thực dân mới đã suy yếu, nhưng các cường quốc bản chủ nghĩa, khi ngấm
ngầm, lúc công khai, vẫn tranh giành nhau phạm vi ảnh hưởng bằng cách thực hiện
"Chiến lược biên giới mềm", ra sức bành trướng "biên giới kinh tế" rộng hơn biên
giới địa lý, ràng buộc, chi phối các nước kém phát triển từ sự lệ thuộc về vốn, công
nghệ đi đến sự lệ thuộc về chính trị vào các cường quốc
=> Năm đặc điểm kinh tế bản của độc quyền dưới chủ nghĩa bản quan hệ
chặt chẽ với nhau, nói lên bản chất sự thống trị của bản độc quyền. Đó cũng
biểu hiện của phương thức thực hiện lợi ích của các tập đoàn độc quyền trong giai
đoạn phát triển độc quyền của chủ nghĩa tư bản.
9. Tính tất yếu của việc phát triển kinh tế thị trường định hướng hội
chủ nghĩa Việt Nam. Những đặc trưng của nền kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Các quan hệ lợi ích kinh tế cơ bản và nội
dung đảm bảo hài hoà các quan hệ lợi ích kinh tế trong phát triển ở Việt Nam.
Khái niệm: Kinh tế thị trường định hướng hội chủ nghĩa nền kinh tế
vận hành theo các quy luật của thị trường đồng thời góp phần hướng tới từng bước
thiết lập một hội đó dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh;
có sự điều tiết của nhà nước và do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo.
Tính tất yếu của việc phát triển kinh tế thị trường định hướng hội
chủ nghĩa ở Việt Nam.
- Phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN phù hợp với quy
luật phát triển khách quan (về mặt xã hội) : Việt Nam vốn đã hình thành kinh tế
hàng hóa từ lâu, hơn nữa ta còn sẵn những điều kiện thúc đẩy kinh tế hàng hóa
phát triển như thị trường cung – cầu, thị trường lao động, vị trí địa lý.... Mà kinh tế
thị trường giai đoạn phát triển cao của kinh tế hàng hóa, việc kinh tế hàng hóa
phát triển đến một mức độ nào đó và trở thành kinh tế thị trường là một quy luật tất
yếu khách quan. Việt Nam đang theo định hướng XHCN nên đi theo KTTT định
hướng XHCN là phù hợp với xu thế thời đại và đặc điểm phát triển của dân tộc.
- Kinh tế thị trường định hướng hội chủ nghĩa tính ưu việt, thúc
đẩy phát triển kinh tế (về mặt kinh tế): Kinh tế thị trường phương thức phân
bổ nguồn lực hiệu quả mà loài người đã đạt được so với các mô hình kinh tế phi thị
trường, động lực thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển nhanh hiệu quả cao.
Dưới tác động của các quy luật thị trường nền kinh tế luôn phát triển theo hướng
năng động, kích thích tiến bộ kỹ thuật công nghệ, nâng cao năng suất lao động,
chất lượng sản phẩm hạ giá thành sản phẩm. Xét trên góc độ đó, sự phát triển
kinh tế thị trường không hề mâu thuẫn mà còn sở vật chất tạo điều kiện thực
hiện những mục tiêu XHCN.
- hình kinh tế thị trường định hướng hội chủ nghĩa phù hợp với
nguyện vọng của nhân dân mong muốn một hội dân giàu, nước mạnh, dân
chủ, công bằng, văn minh: Nhà nước Việt Nam được hình thành từ cách mạng vô
sản do dân thực hiện và là nhà nước của dân do dândân, còn cuộc cách mạng tư
sản của cácớc bản chủ nghĩa do giai cấp sản thực hiện đảm bảo quyền
lợi cho giai cấp sản. đặc đểm bản chất nhà nước này, ta không thể lựa chọn
hình kinh tế thị truờng bản chủ nghĩa chỉ KTTT định hướng XHCN
mới phù hợp với nguyện của nhân dân.
Những đặc trưng của nền kinh tế thị trường định hướng hội chủ
nghĩa ở Việt Nam.
- Về mục tiêu: Kinh tế thị trường định hướng hội chủ nghĩa phương
thức để phát triển lực lượng sản xuất, xây dựng sở vật chất- kỹ thuật của chủ
nghĩa xã hội, nâng cao đời sống nhân dân. Đồng thời, từng bước xây dựng quan hệ
sản xuất tiến bộ phù hợp với trình độ lực lượng sản xuất, từ đó thực hiện mục tiêu “
dân giàu, nước mạnh, dân chủ, văn minh”.
- : Kinh tế thị trường định hướng XHCN Việt Nam Về quan hệ sở hữu
nền kinh tế nhiều hình thức sở hữu (sở hữu nhà nước, sở hữu tập thể, sở hữu
nhân, sở hữu hỗn hợp,...) nhiều thành phần kinh tế, trong đó kinh tế nhà nước
| 1/22

Preview text:

VẤN ĐỀ ÔN TẬP MÔN KINH TẾ CHÍNH TRỊ MÁC – LÊNIN
1. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu của kinh tế chính trị Mác.
Phân biệt quy luật kinh tế và chính sách kinh tế. Ý nghĩa của việc nghiên cứu
kinh tế chính trị Mác - Lênin đối với hoạt động sản xuất kinh doanh và quản trị quốc gia. TRẢ LỜI:
Đối tượng nghiên cứu của kinh tế chính trị Mác- Lênin là các quan hệ xã
hội của sản xuất và trao đổi mà các quan hệ này được đặt trong sự liên hệ biện
chứng với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất và kiến trúc thượng tầng
tương ứng của phương thức sản xuất nhận định. Phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp biện chứng duy vật: Biện chứng là đặt một hiện tượng, sự vật
trong mối quan hệ với các hiện tượng quá trình khác mà trong sự vận động phát
triển không ngừng, duy vật là trên cơ sở thực tiễn kinh tế và xã hội.
- Phương pháp trừu tượng hóa khoa học là phương pháp nghiên cứu dùng tư
duy trừu tượng để gạt bỏ khỏi đối tượng nghiên cứu những yếu tố ngẫu nhiên tạm
thời không bản chất (phương pháp chủ yếu).
- Ngoài ra kinh tế chính trị Mác- Lênin còn yêu cầu sử dụng nhiều phương
pháp nghiên cứu thích hợp như: logic kết hợp lịch sử, thống kê, so sánh, phân tích,
tổng hợp, quy nạp diễn dịch, hệ thống hóa, mô hình hóa, khảo sát, tổng kết thực tiễn...
PHÂN BIỆT QUY LUẬT KINH TẾ VÀ CHÍNH SÁCH KINH TẾ
- Quy luật kinh tế tồn tại khách quan, không phụ thuộc vào ý chí của con
người, con người không thể thủ tiêu quy luật kinh tế, nhưng có thể nhận thức và
vận dụng quy luật kinh tế để phục vụ lợi ích của mình. Khi vận dụng không phù
hợp, con người phải thay đổi hành vi của mình chứ không thay đổi được quy luật.
- Chính sách kinh tế là sản phẩm chủ quan của con người được hình thành
trên cơ sở vận dụng các quy luật kinh tế. Chính sách kinh tế vì thế có thể phù hợp,
hoặc không phù hợp với quy luật kinh tế khách quan. Khi chính sách không phù
hợp, chủ thể ban hành chính sách có thể ban hành chính sách khác để thay thế.
- Mối liên hệ giữa quy luật kinh tế và chính sách kinh tế:
+ Quy luật kinh tế là cơ sở của chính sách kinh tế.
+ Quy luật kinh tế và chính sách kinh tế
phụ thuộc vào các điều kiện khách quan.
Ý nghĩa của việc nghiên cứu kinh tế chính trị Mác - Lênin đối với hoạt
động sản xuất kinh doanh và quản trị quốc gia.
Ý nghĩa của việc nghiên cứu KTCT- Mác Lênin là: Kinh tế chính trị có ý
nghĩa quan trọng trong đời sống xã hội. Nghiên cứu môn kinh tế chính trị giúp các
doanh nhân, nhà tư bản hiểu được bản chất của các hiện tượng và quá trình kinh tế,
nắm được các quy luật kinh tế chi phối sự vận động và phát triển kinh tế; phát triển
lý luận kinh tế và vận dụng lý luận đó vào thực tế, hành động theo quy luật, tránh
bệnh chủ quan, giáo điều, duy ý chí. Nghiên cứu kinh tế chính trị Mác –Lênin cung
cấp các luận cứ khoa học làm cơ sở cho Nhà nước hình thành đường lối, chiến lược
phát triển kinh tế, xã hội và các chính sách, biện pháp kinh tế cụ thể phù hợp với
yêu cầu của các quy luật khách quan và điều kiện cụ thể của đất nước ở từng thời
kỳ nhất định. Nắm được các phạm trù và quy luật kinh tế là cơ sở cho ta hình thành
tư duy kinh tế, không những cần thiết cho các nhà quản lý vĩ mô mà còn rất cần
cho quản lý sản xuất kinh doanh ở các doanh nghiệp của mọi tầng lớp dân cư, ở tất
cả các thành phần kinh tế. Kĩ năng này sẽ tạo điều kiện cho các nhà quản lý nâng
cao chất lượng hoạt động sản xuất kinh doanh, tăng doanh thu lợi nhuận, giảm giá
thành sản phẩm. Người tiêu dùng khi nghiên cứu kinh tế chính trị Mác – Lênin sẽ
hình thành tư duy tiêu dùng thông thái
Nếu Nhà nước nắm bắt rõ quy luật kinh tế sẽ ban hành được những chính
sách kinh tế có lợi cho nước nhà, khắc phục được những khuyết tật của nền kinh tế,
từ đó kinh tế cả nước sẽ đi lên, đời sống nhân dân được cải thiện.
2. Khái niệm, điều kiện ra đời của sản xuất hàng hóa. Hai thuộc tính của
hàng hóa và tính hai mặt của lao động sản xuất hàng hóa. Các nhân tố ảnh
hưởng đến lượng giá trị của hàng hóa. Nguồn gốc, bản chất, chức năng của tiền tệ.
Sản xuất hàng hóa là kiểu tổ chức sản xuất mà trong đó, sản phẩm làm ra
không phải để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của chính người trực tiếp sản xuất ra nó mà
để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của người khác thông qua trao đổi, mua bán. Sản xuất
hàng hóa chỉ ra đời khi có đủ hai điều kiện đó là có phân công lao động xã hội và có
sự tách biệt tương đối về mặt kinh tế của những người sản xuất. VD:
Hai thuộc tính của hàng hóa là:
- Khái niệm hàng hóa: là sản phẩm của lao động thỏa mãn nhu cầu nào đó của
con người được đưa vào tiêu dùng thông qua trao đổi, mua bán.
- Giá trị sử dụng: là công dụng thỏa mãn như cầu nào đó của con người. Giá
trị sử dụng có đặc điểm: là phạm trù vĩnh viễn (tính có ích không thay đổi theo thời
gian), số lượng và chất lượng tăng và là vật mang giá trị trao đổi, nhận thức tăng thì
giá trị sử dụng cũng tăng.
- Giá trị: là hao phí lao động của người sản xuất hàng hóa kết tinh trong hàng
hóa. Giá trị mang đặc điểm: mang phạm trù lịch sử, bộc lộ ra ngoài thành giá trị trao
đổi, giá cả, mang quan hệ giữa người sản xuất hàng hóa. VD:
Tính hai mặt của lao động sản xuất hàng hóa:
- Lao động cụ thể là lao động có ích dưới một hình thức cụ thể của những
nghề nghiệp chuyên môn nhất định. Mỗi lao động cụ thể có mục đích lao động riêng,
đối tượng lao động riêng, công cụ lao động riêng, phương pháp lao động riêng và kết
quả riêng. Lao động cụ thể tạo ra giá trị sử dụng của hàng hóa. Lao động cụ thể khác
nhau tạo ra sản phẩm khác nhau có giá trị sử dụng riêng. Phân công lao động xã hội
tăng thì nhiều ngành nghề xuất hiện, hình thức lao động cụ thể cũng phong phú đa dạng hơn.
- Lao động trừu tượng là lao động xã hội của người sản xuất hàng hoá không
kể đến hình thức cụ thể của nó. Đó là sự hao phí sức lao động nói chung của người
sản xuất hàng hóa với cơ bắp, thần kinh, trí óc. Lao động trừu tượng tạo ra giá trị của hàng hóa.
- Không có 2 hình thức lao động khác nhau mà là do lao động người sản xuất hàng hóa mang tính 2 mặt.
Các nhân tố ảnh hưởng đến lượng giá trị hàng hóa:
- Năng suất lao động: Là sức sản xuất của lao động được đo bằng lượng sản
phẩm tạo ra trong một đơn vị thời gian để sản xuất một đơn vị sản phẩm. Năng suất
lao động tỷ lệ nghịch với giá trị của hàng hóa. Những yếu tố ảnh hưởng đến năng suất
lao động là: kỹ năng và sự thành thạo của người lao động, mức độ phát triển của khoa
học – kỹ thuật, quy mô và trình độ tổ chức, quản lý, các điều kiện tự nhiên.
- Cường độ lao động: là đại lượng chỉ mức độ hao phí sức lao động trong một
đơn vị thời gian. Nó cho thấy mức độ khẩn trương, căng thẳng, nặng nhọc của lao động.
- Mức độ giản đơn hay phức tạp của lao động: lao động đơn giản là công việc
không đòi hỏi kiến thức chuyên môn, huấn luyện cũng có thể làm được, lao động
phức tạp là lao động người lao động cần được đào tạo huấn luyện mới có thể thực hiện được.
Nguồn gốc, bản chất, chức năng của tiền tệ.
- Nguồn gốc: Tiền tệ là kết quả phát triển lâu dài của sản xuất và trao đổi hàng
hóa sau khi trải qua bốn hình thái giá trị của hàng hóa: Hình thái giản đơn, hình thái
mở rộng, hình thái chung, hình thái tiền.
- Bản chất: Tiền là một hình thái giá trị của hàng hóa và là một hàng hóa đặc
biệt, là kết quả của quá trình sản xuất và trao đổi hàng hóa. Tiền là vật ngang giá
chung cho tất cả các hàng hóa. Tiền là hình thái biểu hiện giá trị hàng hóa. - Chức năng: + Thước đo giá trị + Phương tiện lưu thông + Phương tiện cất trữ + phương tiện thanh toán + tiền tệ thế giới.
3. Thị trường, cơ chế thị trường và nền kinh tế thị trường. Ưu thế và
những khuyết tật của kinh tế thị trường.
Thị trường là tổng hòa những quan hệ kinh tế bao gồm cung, cầu, giá cả;
quan hệ hàng – tiền; quan hệ giá trị, gia trị sử dụng, quan hệ hợp tác, cạnh tranh;
quan hệ trong nước, ngoài nước…., là nơi diễn ra hành vi trao đổi mua bán giứa
các chủ thể kinh tế với nhau. - Vai trò:
+ Thị trường thực hiện giá trị hàng hóa, là điều kiện, môi trường cho sản
xuất phát triển. Vì vậy, thị trường có vai trò thông tin, định hướng cho mọi nhu cầu sản xuất kinh doanh.
+ Thị trường kích thích sự sáng tạo của mọi thành viên trong xã hội, tạo ra
cách thức phân bổ nguồn lực hiệu quả trong nền kinh tế.
+ Thị trường gắn kết nền kinh tế thành một chỉnh thể, gắn kết nền kinh tế
quốc gia với nền kinh tế thế giới.
Cơ chế thị trường là hệ thống các quan hệ mang tính tự điều chỉnh tuân theo
yêu cầu của các quy luật kinh tế. Cơ chế thị trường là phương thức cơ bản để phân
phối, sử dụng các nguồn vốn, tài nguyên, công nghệ, sức lao động, thông tin, trí
tuệ... trong nền kinh tế thị trường.
Nền kinh tế thị trường là nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường, là nền
kinh tế hàng hóa phát triển cao, ở đó mọi quan hệ sản xuất và trao đổi đều được
thông qua thị trường, chịu sự tác động, điều tiết của các quy luật thị trường.
Ưu thế của nền kinh tế thị trường:
- Một là, nền kinh tế thị trường luôn tạo ra động lực cho sự sáng tạo của các chủ thể kinh tế.
- Hai là, nền kinh tế thị trường luôn phát huy tốt nhất tiềm năng của mọi chủ
thể. Các vùng miền cũng như lợi thế quốc gia.
- Ba là, nền kinh tế thị trường luôn tạo ra các phương thức để thỏa mãn tối
đa nhu cầu của con người. Từ đó thúc đẩy sự tiến bộ văn minh của xã hội.
Khuyết tật của nền kinh tế thị trường:
- Một là, trong nền kinh tế thị trường luôn tiềm ẩn những rủi ro khủng hoảng.
- Hai là, nền kinh tế thị trường không tự khắc phục được xu hướng cạn kiệt
tài nguyên nên không thể tái tạo, suy thoái môi trường tự nhiên, môi trường xã hội.
- Ba là nền kinh tế thị trường không tự khắc phục được hiện tượng phân hóa sâu sắc trong xã hội.
4. Các quy luật trong nền kinh tế thị trường. Vị trí, nội dung và tác
động của quy luật giá trị. Ý nghĩa của việc nghiên cứu.
Một số quy luật kinh tế chủ yếu của nền kinh tế thị trường:
- Quy luật giá trị: Là quy luật kinh tế cơ bản của sản xuất hàng hóa, ở đâu có
sản xuất và trao đổi hàng hoá thì ở đó có sự hoạt động của quy luật giá trị. Quy luật
giá trị yêu cầu việc sản xuất và trao đổi hàng hóa phải được tiến hành trên cơ sở
của hao phí lao động xã hội cần thiết. Lượng giá trị của một hàng hóa cá biệt phải
phù hợp với thời gian lao động xã hội cần thiết. Trong lĩnh vực trao đổi, tiến hành
theo nguyên tắc ngang giá, lấy giá trị xã hội làm cơ sở, không dựa trên giá trị cá biệt.
Quy luật giá trị phát huy tác dụng thông qua sự vận động của giá cả xung
quanh giá trị, dưới sự tác động của quan hệ cung - cầu. Trong nền kinh tế hàng
hoá, quy luật giá trị có những tác động cơ bản sau:
+ Thứ nhất, điều tiết sản xuất và lưu thông hàng hóa. Quy luật giá trị điều
tiết hàng hóa từ nơi có giá cả thấp đến nơi có giá cả cao, từ nơi cung lớn hơn cầu
đến nơi cung nhỏ hơn cầu, góp phần làm cung cầu hàng hóa giữa các vùng được
cân bằng, phân phối lại thu nhập giữa các vùng miền, điều chỉnh sức mua của thị trường.
+ Thứ hai, kích thích cải tiến kỹ thuật, hợp lý hóa sản xuất nhằm tăng năng
suất lao động. Trong lưu thông, để bán được nhiều hàng hóa, người sản xuất phải
không ngừng tăng chất lượng phục vụ quảng cáo, tổ chức tốt khâu bán hàng, làm
cho quá trình lưu thông được hiệu quả hơn, nhanh chóng thuận tiện với chi phí thấp nhất.
+ Thứ ba, phân hóa những người sản xuất thành người giàu, người nghèo
một cách tự nhiên. Người có năng lực giỏi, nhạy bén với thị trường, sản xuất hao
phí cá biệt thấp hơn hao phí chung của xã hội sẽ giàu có. Ngược lại, người hạn chế
về vốn, kinh nghiệm sản xuất thấp, giá trị cá biệt sẽ cao hơn giá trị xã hội và dễ thua lỗ.
- Quy luật cung - cầu: là quy luật điều tiết quan hệ giữa cung (bên bán) và
cầu (bên mua) hàng hóa trên thị trường. Quy luật này đòi hỏi cung cầu phải có sự
thống nhất. Quy luật cung - cầu có tác dụng điều tiết quan hệ giữa sản xuất và lưu
thông hàng hóa, làm thay đổi cơ cấu và quy mô thị trường.
- Quy luật lưu thông tiền tệ: Quy luật lưu thông tiền tệ yêu cầu việc lưu
thông tiền tệ phải căn cứ trên yêu cầu phải lưu thông hàng hóa và dịch vụ.
- Quy luật cạnh tranh: là quy luật kinh tế, điều tiết một cách khách quan mối
quan hệ ganh đua kinh tế giữa các chủ thể trong sản xuất và trao đổi hàng hóa.
Cạnh tranh là ganh đua giữa những chủ thể kinh tế với nhau nhằm có được ưu thế
về sản xuất cũng như tiêu thụ, thông qua đó thu được lợi ích tối đa.
Ý nghĩa việc nghiên cứu:
Chỉ khi hiểu và nghiên cứu các quy luật này thì mới đưa ra được các chính
sách kinh tế sao cho hợp lý. Nếu không hiểu quy luật kinh tế sẽ có những chính
sách chủ quan, duy ý chí. Khi đó, nền kinh tế của một quốc gia hay một khu vực sẽ
bị ảnh hưởng xấu. Nói tóm lại, doanh nghiệp nếu hiểu biết, tôn trọng và áp dụng
đúng các quy luật kinh tế sẽ thu về hiệu quả kinh tế cao, góp phần phát triển mạnh
mẽ nền kinh tế của quốc gia.
5. Khái niệm, điều kiện để sức lao động trở thành hàng hoá và hai thuộc
tính của hàng hoá sức lao động. Nguồn gốc, bản chất của giá trị thặng dư và
tiền công. Các phương pháp sản xuất giá trị thặng dư. Ý nghĩa của việc
nghiên cứu lý luận giá trị thặng dư của C. Mác.
Khái niệm sức lao động: Sức lao động là năng lực lao động của con người.
Nó bao hàm toàn bộ trí lực và thể lực tồn tại trong cơ thể người để tiến hành quá trình sản xuất.
Điều kiện để sức lao động trở thành hàng hóa:
- Người có sức lao động phải được tự do về thân thể
- Người lao động không có đủ tư liệu sản xuất cần thiết và không có của cải,
muốn sống phải bán sức lao động. VD:
Hai thuộc tính của hàng hóa sức lao động:
- Giá trị của hàng hóa sức lao động do thời gian lao động xã hội cần thiết để
sản xuất và tái sản xuất sức lao động quyết định. Đề sản xuất và tái sản xuất, người
lao động cần một lượng tư liệu sinh hoạt nhất định phục vụ nhu cầu ăn, mặc, ở, học
nghề… Như vậy, giá trị của hàng hóa sức lao động được quyết định bởi toàn bộ giá
trị các tư liệu sinh hoạt cần thiết duy trì đời sống của công nhân làm thuê và gia
đình họ cả về vật chất lẫn tinh thần và cả những chi phí đào tạo người công nhân
Giá trị sức lao động khác với hàng hóa thông thường ở chỗ nó bao hàm cả
yếu tinh thần và yếu tố lịch sử, phụ thuộc vào hoàn cảnh lịch sử của từng nước,
từng thời kì, phụ thuộc vào trình độ văn minh đã đạt được, vào điều kiện lịch sử
hình thành giai cấp và điều kiện địa lý khí hậu. VD: Yếu tố tinh thần: Yếu tố lịch sử:
Giá trị hàng hóa sức lao động bao gồm: giá trị các tư liệu sinh hoạt để suy trì
sức lao động của công nhân trong trạng thái sinh hoạt bình thường, chi phí đào tạo
tùy theo tính chất phức tạp của sức lao động, giá trị các tư liệu sinh hoạt cho những người thay thế.
- Giá trị sử dụng của hàng hóa sức lao động thể hiện ra trong quá trình tiêu
dùng sức lao động, tức quá trình lao động của người công nhân. Hàng hóa sức lao
động có giá trị sử dụng đặc biệt, khi sử dụng nó có thể tạo ra một giá trị lớn hơn
giá trị bản thân nó. Đặc điểm này là chìa khóa giải quyết mâu thuẫn trong công thức chung của tư bản.
Nguồn gốc, bản chất của giá trị thặng dư và tiền công
Nguồn gốc giá trị thặng dư là bộ phận giá trị mới dôi ra ngoài giá trị sức lao
động do công nhân tạo ra, là kết quả của lao động không công của công nhân cho
nhà tư bản. Có thể hiểu rằng, nhà tư bản mua tư liệu sản xuất và hàng hóa sức lao
động để sản xuất. Người công nhân được mua sức lao động dùng lao động cụ thể
để chuyển nguyên vẹn giá trị tư liệu sản xuất vào giá trị sản phẩm, dùng lao động
trừu tượng để tạo ra giá trị mới lớn hơn giá trị sức lao động, phần lớn hơn đó là giá trị thặng dư.
VD: Tư liệu sinh hoạt nuôi sống và duy trì sức lao động của người công
nhân trong một tháng là 500$ nhưng khi làm việc cho nhà tư bản, người công nhân
có thể tạo ra giá trị gia tăng vào sản phẩm là 800$. Sự chênh lệch 300$ chính là giá
trị thặng dư nhà tư bản chiếm doạt.
Bản chất của giá trị thặng dư:
- Giá trị thặng dư là kết quả của sự hao phí lao động.
- Mục đích của nhà tư bản là giá trị thặng dư, người lao động làm thuê phải
bán sức lao động cho nhà tư bản. Nhà tư bản bóc lột sức lao động của công nhân
để tạo ra thặng dư cho bản thân. Xét về bản chất kinh tế xã hội, giá trị thặng dư
phản ánh quan hệ giai cấp, quan hệ bóc lột giữa một bên là người sở hữu tư liệu
sản xuất với bên kia là người sở hữu hàng hóa sức lao động, giữa nhà tư bản với
người lao động làm thuê.
- Trong điều kiện ngày nay, quan hệ đó vẫn diễn ra những với trình độ và mức độ rất khác.
Tiền công: Tiền công là giá cả của hàng hóa sức lao động. Đó là bộ phận
của giá trị mới do chính hao phí sức lao động của người lao động làm thuê tạo ra.
Nhưng thường được hiểu là do người mua sức lao động trả cho người lao động làm thuê.
Bản chất của tiền công: Tiền công là giá cả của hàng hóa sức lao động
nhưng biểu hiện ra bên ngoài như là giá cả của lao động vì: công nhân bán quyền
sử dụng sức lao động, không phải sở hữu sức lao động; công nhân phải lao động
mới có tiền công, công nhân chỉ nhận được tiền công sau khi lao động.
Các phương pháp sản xuất giá trị thặng dư: Mục đích của các nhà tư bản
là sản xuất ra giá trị thặng dư tối đa, vì vậy các nhà tư bản đã dùng nhiều phương
pháp để tăng tỷ suất và khối lượng giá trị thặng dư.
- Sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối: Giá trị thặng dư tuyệt đối là giá trị
thặng dư thu được do kéo dài ngày lao động vượt quá thời gian lao động tất yếu,
trong khi năng suất lao động, giá trị sức lao động và thời gian lao động tất yếu không thay đổi.
VD: Thời gian lao động tất yếu là 4h, thời gian lao động thặng dư là 4h, tỷ
suất giá trị thặng dư là 100%. Để bóc lột giá trị thặng dư tuyệt đối, thời gian lao
động thặng dư tăng thêm 2h, tỷ suất giá trị thặng dư tăng lên 150%.
Để có được nhiều giá trị thặng dư nhà tư bản sẽ tìm cách kéo dài thời gian và
cường độ lao động. Tuy nhiên, sức lao động và thời gian lao động của con người
có giới hạn nên không thể vượt qua. Ưu điểm tăng năng suất và giá trị thặng dư,
nhược điểm là bóc lột sức lao động của công nhân.
- Sản xuất giá trị thặng dư tương đối: Giá trị thặng dư tương đối là giá trị
thặng dư thu được nhờ rút ngắn thời gian lao động tất yếu; do đó kéo dài thời gian
lao động thặng dư trong khi độ dài ngày lao động không thay đổi hoặc thậm chí rút ngắn.
VD: Thời gian lao động tất yếu là 4h, thời gian lao động thặng dư là 4h, tỷ
suất giá trị thặng dư là 100%. Nhờ máy móc hiện đại, thời gian lao động tất yếu
giảm xuống 2h, thời gian lao động thặng dư là 6h, từ đó tỷ suất lao động tăng lên 300%.
Ưu điểm là Tăng năng suất lao động trong các ngành sản xuất tư liệu sinh
hoạt và cải tiến kỹ thuật.
Ý nghĩa của việc nghiên cứu lý luận giá trị thặng dư của C. Mác.
Nghiên cứu Học thuyết giá trị thặng dư của C.Mác sẽ giúp chúng ta thấy rõ
rằng trong một chừng mực nào đó, quan hệ bóc lột chưa thể bị xóa bỏ ngay. Chừng
nào quan hệ bóc lột còn có tác dụng giải phóng sức sản xuất và thúc đẩy lực lượng
sản xuất phát triển thì chừng đó chúng ta còn phải chấp nhận sự hiện diện của nó.
Vì vậy, nhà nước phải có chính sách bảo vệ quyền chính đáng của người lao động
lẫn người sử dụng lao động bằng luật, bằng các chế tài, bảo đảm công khai, minh
bạch, bền vững. Những mâu thuẫn về lợi ích trong quá trình sử dụng lao động là
một thực tế, việc phân xử các mâu thuẫn ấy như thế nào để tránh xung đột không
cần thiết cũng là một yêu cầu cấp thiết. Hiểu rõ lý luận về giá trị thặng dư của
C.Mác, người lao động sẽ biết cách bảo vệ những quyền lợi lao động chính đáng
của mình, người sử dụng lao động sẽ biết tối ưu hóa giá trị thặng dư mình có được
theo cách hợp lý nhất. Nghiêm cứu giá trị thặng dư sẽ thúc đẩy các nhà tư bản phát
triển khoa học, công nghệ và thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển. Nếu biết vận
dụng học thuyết một cách thông minh, sáng tạo vào điều kiện thực tiễn của đất
nước thì đất nước sẽ đi lên, nền kinh tế sẽ thêm phát triển.
6. Bản chất và các nhân tố làm tăng quy mô tích lũy tư bản. Các quy
luật chung của tích lũy tư bản.
Để chỉ ra bản chất của tích lũy tư bản thì cần nghiên cứu về tái sản xuất. Tái
sản xuất có 2 hình thức là tái sản xuất giản đơn và tái sản xuất mở rộng.
- Tái sản xuất giản đơn là sự lặp lại quá trình sản xuất với quy mô như cũ. Ví
dụ: tư bản đầu tư 100 triệu, thu về 120 triệu, giá trị thặng dư là 20 triệu. Chu kỳ sau
anh ta đầu tư 100 triệu tái sản xuất, 20 triệu dư ra thì dùng để mua tư liệu sinh hoạt.
Quy trình tái sản xuất được gặp lại với quy mô như cũ.
- Tái sản xuất mở rộng là quy trình sản xuất được lặp lại với quy mô và quá
trình tăng lên. Để có tái sản xuất mở rộng, một phần thặng dư được trích ra đầu tư
trở lại mở rộng sản xuất, biến một phần giá trị thặng dư thành tư bản phụ thêm.
Bản chất của tích lũy tư bản là quá trình tái sản xuất mở rộng tư bản chủ
nghĩa thông qua việc biến giá trị thặng dư thành tư bản phụ thêm để mở rộng quy
mô sản xuất hay nói cách khác, nhà tư bản không sử dụng hết giá trị thặng dư thu
được cho tiêu dùng cá nhân mà biến nó thành tư bản phụ thêm.
Các nhân tố làm tăng quy mô tích lũy tư bản
- Trình độ khai thác sức lao động: Khi tăng cường độ lao động, kéo dài ngày
lao động, cắt giảm lương.... Tỷ suất giá trị thặng dư tăng, từ đó tạo tiền đề để tăng
quy mô giá trị thặng dư và tạo điều kiện để tăng quy mô tích lũy.
- Tăng năng suất lao động xã hội làm cho giá trị tư liệu sinh hoạt giảm
xuống, giá trị sức lao động giảm giúp nhà tư bản thu được nhiều giá trị thặng dư
hơn, từ đó làm tăng quy mô tích lũy.
- Sử dụng hiệu quả máy móc: Để tiến hành sản xuất, nhà tư bản phải bỏ ra tư
bản mua máy móc thiết bị nhà xưởng. Bộ phận tư bản này tham gia vào toàn bộ
quá trình sản xuất, nhưng giá trị thì chuyển dần vào sản phẩm. Mặc dù đã chuyển
một phần vào sản phẩm nhưng bộ phận tư bản này vẫn hoạt động với tư cách còn
đầy đủ giá trị. Giá trị của tư bản cố định đã chuyển vào sản phẩm được nhà tư bản
thu hồi có thể được đầu tư để mở rộng sản xuất kinh doanh và trở thành tích lũy tư bản.
- Tư bản ứng trước càng lớn thì càng là tiền đề tăng quy mô tích lũy.
Các quy luật chung của tích lũy tư bản.
- Tích lũy tư bản làm tăng cấu tạo hữu cơ của tư bản: Cấu tạo hữu cơ là cấu
tạo giá trị do cấu tạo kỹ thuật quyết định và phản ánh sự thay đổi của cấu tạo kỹ
thuật. Với tiến bộ khoa học, cấu tạo kỹ thuật tăng nên cấu tạo giá trị tăng dẫn đến cấu tạo hữu cơ tăng.
- Tích lũy tư bản làm tăng tích tụ và tập trung tư bản: Tích tụ tư bản là sự
tăng thêm quy mô của tư bản cá biệt bằng cách tư bản hóa giá trị thặng dư. Tích tụ
tư bản là kết quả trực tiếp của tích lũy tư bản. Tập trung tư bản là sự tăng lên của
quy mô tư bản cá biệt mà không làm tăng quy mô tư bản xã hội do hợp nhất các tư
bản cá biệt tạo thành một tư bản cá biệt lớn hơn.
- Tích lũy tư bản làm bần cùng hóa lao động làm thuê: Quá trình tích lũy tư
bản có tính hai mặt: Một mặt là thể hiện tích lũy sự giàu sang về phía giai cấp tư
sản, mặt khác tích lũy sự bần cùng về phía giai cấp công nhân làm thuê. Bần cùng
hóa có 2 hình thức: bần cùng hóa tuyệt đối và bần cùng hóa tương đối.
+ Bần cùng hóa tương đối là tỷ lệ thu nhập của người công nhân trong thu
nhập quốc dân ngày càng giảm còn tỉ lệ thu nhập của giai cấp tư bản ngày càng
tăng. Khoảng cách giàu nghèo ngày càng tăng.
+ Bần cùng hóa tuyệt đối thể hiện ở sự suy giảm tuyệt đối trong mức sống
của công nhân làm thuê, thể hiện với những người thất nghiệp hoặc với toàn bộ
giai cấp công nhân làm thuê trong điều kiện kinh tế khó khăn, khủng hoảng kinh tế.
7. Bản chất và nguồn gốc của lợi nhuận thương nghiệp, lợi tức, địa tô
trong nền kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa.
Bản chất và nguồn gốc của lợi nhuận thương nghiệp
Nguồn gốc: Lợi nhuận thương nghiệp là một phần giá trị thặng dư được tạo
ra trong quá trình sản xuất mà tư bản công nghiệp nhường cho tư bản thương
nghiệp, để tư bản thương nghiệp bán hàng hóa cho mình. Lợi nhuận thương
nghiệp là hình thức biến tướng của giá trị thặng dư.
Bản chất: Sau khi bán hàng hóa, nhà tư bản không những bù đắp đủ số chi
phí đã ứng ra mà còn thu được số chênh lệch bằng giá trị thặng dư. Số chênh
lệch này gọi là lợi nhuận. Lợi nhuận thương nghiệp phản ánh mối quan hệ
giữa tư bản công nghiệp và tư bản thương nghiệp trong phân chia và bóc lột giá trị thặng dư.
Bản chất và nguồn gốc của lợi tức
Nguồn gốc: Lợi tức là số tiền mà tư bản đi vay phải trả cho nhà tư bản cho vay
ngoài số tiền vay (tiền gốc) để sản xuất kinh doanh. Lợi tức là một phần giá trị
thặng dư do công nhân tạo ra trong sản xuất.
Bản chất: Lợi tức chỉ là 1 phần của giá trị thặng dư mà nhà tư bản hoạt động thu
được nhờ sử dụng tư bản đi vay trả cho chủ sở hữu tư bản cho vay, tức là 1 phần
của lợi nhuận bình quân mà các nhà tư bản công thương nghiệp thu được khi sử
dụng tư bản đi vay vào hoạt động sản xuất kinh doanh trả cho nhà tư bản cho vay.
Lợi tức phản ánh mối quan hệ bóc lột giữa tư bản và lao động
Bản chất và nguồn gốc của địa tô
Nguồn gốc: Địa tô là số tiền mà nhà tư bản kinh doanh trong nông nghiệp phải trả
cho địa chủ để được sử dụng ruộng đất trong một thời gian nhất định. Địa tô là một
phần của lợi nhuận siêu ngạch bên ngoài lợi nhuận bình quân do công nhân làm
thuê trong nông nghiệp tạo ra mà nhà tư bản thuê đất bóc lột được đem trả cho địa chủ.
Bản chất: Địa tô phản ánh mối quan hệ bóc lột của giai cấp tư bản và địa chủ đối
với công nhân làm thuê trong lĩnh vực nông nghiệp.
8. Đặc điểm kinh tế cơ bản của chủ nghĩa tư bản độc quyền và độc
quyển nhà nước. Những biểu hiện mới về đặc điểm kinh tế của chủ nghĩa tư
bản độc quyền và độc quyền nhà nước trong giai đoạn hiện nay.
Có 5 đặc điểm kinh tế cơ bản của chủ nghĩa tư bản độc quyền:
- Các tổ chức độc quyền có quy mô tích tụ và tập trung tư bản lớn:
Do sự tích tụ, tập trung sản
xuất tăng cao trực tiếp dẫn đến hình thành tổ chức độc quyền. Doanh nghiệp lớn ít
nên dễ thỏa hiệp với nhau. Những doanh nghiệp quy mô lớn ấy dễ đối chọi, đấu
tranh gay gắt với nhau nên lựa chọn liên kết với nhau để giữ địa vị độc quyền.
VD: Cuộc khủng hoảng kinh tế năm 1873 làm phá sản hàng loạt xí nghiệp
vừa và nhỏ, thúc đẩy nhanh chóng quá trình tích tụ và tập trung tư bản.
+ Các hình thức tổ chức độc quyền:
Ban đầu hình thành liên kết ngang: Là loại liên kết giữa các nhà tư bản trong
cùng một ngành, sản xuất ra cùng một loại sản phẩm. Gồm 3 hình thức cácten, xanhđica, tờrớt.
Tiếp đó, xuất hiện sự liên kết dọc: Là loại liên kết giữa các tổ chức độc
quyền tạo ra những sản phẩm có thể thay thế cho nhau được. Liên kết này
liên kết không chỉ những xí nghiệp lớn mà cả những xanhđica, tờrớt… thuộc
các ngành khác nhau nhưng có liên quan với nhau về kinh tế và kỹ thuật.
Từ giữa thế kỷ XX phát triển một kiểu liên kết mới – liên kết đa ngành: Là
liên kết giữa các Cartel, Sydicate, Trust trong các ngành có tính chất kinh tế
kỹ thuật rất khác nhau, đồng thời bao gồm cả vận tải, thương mại, ngân hàng
và các dịch vụ khác, v.v..
- Những biểu hiện mới: Do tác động của các đạo luật chống độc quyền hay luật
chống hạn chế cạnh tranh đã làm xuất hiện phổ biến các hình thức tổ chức độc
quyền lớn hơn, cao hơn: hình thức ôlygôpôly (oligopoly - độc quyền của một vài
công ty) hay pôlypôly (polypoly - độc quyền của một số khá nhiều công ty trong
mỗi ngành). Cách mạng khoa học và công nghệ dường như biểu lộ thành hai xu
hướng đối lập nhau nhưng thực ra là thống nhất với nhau: xu hướng tập trung và
xu hướng phi tập trung hóa.
- Sức mạnh của các tổ chức độc quyền do tư bản tài chính và hệ thống tài phiệt chi
phối: trong ngân hàng cũng diễn ra quá trình tích tụ, tập trung dẫn đến hình thành
các tổ chức độc quyền trong ngân hàng. Quy luật tích tụ, tập trung trong ngân hàng
cũng giống như trong công nghiệp: các ngân hàng vừa và nhỏ có sự cạnh tranh +
cần ngân hàng lớn để phục vụ công việc kinh doanh của doanh nghiệp lớn -> sát
nhập thành ngân hàng lớn để tránh phá sản -> tổ chức độc quyền ngân hàng ra đời.
+ Độc quyền công nghiệp liên kết chặt chẽ với độc quyền ngân hàng sinh ra tư bản
tài chính. Tư bản tài chính phát triển dẫn đến sự ra đời của tài phiệt (hay đầu sỏ tài
chính, trùm tài chính) là một nhóm tư bản tài chính lớn nhất có tiềm lực tài chính
lớn mạnh. Về mặt kinh tế, tài phiệt chi phối toàn bộ đời sống kinh tế của một quốc
gia. Về mặt chính trị, tài phiệt chi phối kinh tế dẫn đến chi phối mọi hoạt động của
cơ quan nhà nước, các chính sách đối nội, đối ngoại của, biến nhà nước thành công
cụ phục vụ lợi ích. Tư bản tài chính thống trị bằng “chế độ tham dự”: nhà/tập đoàn
tài chính mua cổ phiếu khống chế “công ty mẹ” -> “công ty mẹ” thống trị các
“công ty con” -> “công ty con” lại chi phối “công ty cháu”...
- Những biểu hiện mới: Có sự thay đổi trong quá trình liên kết và thâm nhập vào
nhau giữa tư bản ngân hàng và tư bản công nghiệp. Ngày nay, phạm vi liên kết
được mở rộng ra nhiều ngành, do đó các tập đoàn tài chính thường tồn tại dưới
hình thức những tổ hợp đa dạng kiểu công - nông - thương - tín - dịch vụ hay công
nghiệp - quân sự - dịch vụ quốc phòng. Nội dung của sự liên kết cũng đa dạng hơn,
tinh vi hơn, phức tạp hơn. Vai trò kinh tế và chính trị của tư bản tài chính ngày
càng lớn, không chỉ trong khuôn khổ quốc gia mà còn ảnh hưởng mạnh mẽ tới các
nước khác trên thế giới. Trùm tài chính không chỉ tăng cường địa vị thống trị về
kinh tế mà còn tăng cường sự khống chế và lợi dụng chính quyền nhà nước. Các
ngân hàng đa quốc gia và xuyên quốc gia tạo điều kiện cho các công ty xuyên quốc
gia thâm nhập vào các nước khác, đặc biệt là Ngân hàng Thế giới (WB) và Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF).
- Xuất khẩu tư bản trở thành phổ biến: Xuất khẩu tư bản là xuất khẩu giá trị ra
nước ngoài (đầu tư tư bản ra nước ngoài) nhằm mục đích thu được giá trị thặng dư
và các nguồn lợi nhuận khác ở các nước nhập khẩu tư bản. Xuất khẩu tư bản xuất
hiện khi các nước tư bản phát triển có “tư bản thừa”, nhiều nước nghèo nhưng giàu
nguồn lợi hấp dẫn đầu tư tư bản. Một nguyên nhân khác là do phong trào xâm lược
thuộc địa. Có hai hình thức xuất khẩu tư bản: đầu tư trực tiếp và đầu tư gián tiếp.
+ Đầu tư trực tiếp: hình thức biến các xí nghiệp ở nước nhận đầu tư trở thành một
chi nhánh của “công ty mẹ” ở chính quốc.
+ Đầu tư gián tiếp: hình thức đầu tư mà nhà đầu tư không trực tiếp tham gia quản
lý hoạt động đầu tư mà cho vay để thu lợi tức, mua cổ phần, cố phiếu....
- Những biểu hiện mới: Do cuộc cách mạng khoa học và công nghệ mới đã thúc
đẩy sự phát triển của việc phân công quốc tế, việc quốc tế hóa sản xuất và việc
tăng nhanh tư bản "dư thừa" trong các nước; mặt khác là do sự tan rã của hệ thống
thuộc địa cũ sau chiến tranh, quy mô xuất nhập khẩu tư bản ngày càng lớn. Từ đầu
những năm 70 của thế kỷ XX, đại bộ phận dòng tư bản lại chảy qua chảy lại giữa
các nước tư bản chủ nghĩa phát triển với nhau.
- Cạnh tranh để phân chia thị trường thế giới là tất yếu giữa các tập đoàn độc
quyền: Xuất hiện do sự mở rộng không ngừng của các tổ chức độc quyền, tích tụ
và tập trung vốn, nhu cầu khai thác nguyên liệu và tìm kiếm khách hàng và do sự
đụng độ về lợi ích thị trường.Về bản chất, đặc điểm này là sự củng cố địa vị độc
của các tổ chức độc quyền ở những lĩnh vực, hoặc thị trường nhất định. Những
cuộc đụng độ trên trường quốc tế giữa các tổ chức độc quyền có sức mạnh kinh tế
hùng hậu, những cuộc cạnh tranh khốc liệt tất yếu dẫn đến xu hướng:
Liên kết thỏa hiệp với nhau Ký kết các hiệp định Liên kết với nhà nước
- Những biểu hiện mới: Sức mạnh và phạm vi bành trướng của các công ty độc
quyền xuyên quốc gia tăng lên thúc đẩy xu hướng quốc tế hóa đời sống kinh tế và
sự phân chia phạm vi ảnh hưởng giữa chúng với nhau, đồng thời thúc đẩy việc
hình thành chủ nghĩa tư bản độc quyền nhà nước quốc tế. Cùng với xu hướng quốc
tế hóa, toàn cầu hóa đời sống kinh tế lại diễn ra hiện tượng khu vực hóa, hình thành
ngày càng nhiều liên minh kinh tế khu vực như: Liên minh châu Âu (EU), Hiệp hội
các nước Đông Nam Á (ASEAN), Tổ chức Hợp tác kinh tế châu Á - Thái Bình
Dương (APEC)... Ngày càng có nhiều nước tham gia vào các liên minh Mậu dịch
tự do (FTA) hoặc các Liên minh Thuế quan (CU).
- Lôi kéo, thúc đẩy các chính phủ vào việc phân định khu vực lãnh thổ ảnh hưởng
là cách thức để bảo vệ lợi ích độc quyền: Về bản chất là thiết lập vị trí độc quyền
của các tổ chức độc quyền và nhà nước tư sản ở các quốc gia và vùng lãnh thổ,
biểu hiện bằng các cuộc chiến xâm lược thuộc địa như Pháp chiếm Đông Dương,
Anh chiếm Hồng Kông,.. Do chủ nghĩa tư bản phát triển càng cao, nguyên liệu
thiếu thốn và cạnh tranh, tìm kiếm nguyên liệu gay gắt nên các cuộc đấu tranh
chiếm thuộc địa càng quyết liệt hơn. Từ đó dẫn đến hậu quả thiể hại về người của
các nước thuộc địa, thiệt hệ về kinh tế, xã hội và những tài nguyên của các nước
thuộc địa bị vơ vét cạn kiệt.
- Những biểu hiện mới: Tuy chủ nghĩa thực dân cũ đã hoàn toàn sụp đổ và chủ
nghĩa thực dân mới đã suy yếu, nhưng các cường quốc tư bản chủ nghĩa, khi ngấm
ngầm, lúc công khai, vẫn tranh giành nhau phạm vi ảnh hưởng bằng cách thực hiện
"Chiến lược biên giới mềm", ra sức bành trướng "biên giới kinh tế" rộng hơn biên
giới địa lý, ràng buộc, chi phối các nước kém phát triển từ sự lệ thuộc về vốn, công
nghệ đi đến sự lệ thuộc về chính trị vào các cường quốc
=> Năm đặc điểm kinh tế cơ bản của độc quyền dưới chủ nghĩa tư bản có quan hệ
chặt chẽ với nhau, nói lên bản chất sự thống trị của tư bản độc quyền. Đó cũng là
biểu hiện của phương thức thực hiện lợi ích của các tập đoàn độc quyền trong giai
đoạn phát triển độc quyền của chủ nghĩa tư bản.
9. Tính tất yếu của việc phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội
chủ nghĩa ở Việt Nam. Những đặc trưng của nền kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Các quan hệ lợi ích kinh tế cơ bản và nội
dung đảm bảo hài hoà các quan hệ lợi ích kinh tế trong phát triển ở Việt Nam.
Khái niệm: Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là nền kinh tế
vận hành theo các quy luật của thị trường đồng thời góp phần hướng tới từng bước
thiết lập một xã hội mà ở đó dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh;
có sự điều tiết của nhà nước và do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo.
Tính tất yếu của việc phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.
- Phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN là phù hợp với quy
luật phát triển khách quan (về mặt xã hội) : Việt Nam vốn đã hình thành kinh tế
hàng hóa từ lâu, hơn nữa ta còn có sẵn những điều kiện thúc đẩy kinh tế hàng hóa
phát triển như thị trường cung – cầu, thị trường lao động, vị trí địa lý.... Mà kinh tế
thị trường là giai đoạn phát triển cao của kinh tế hàng hóa, việc kinh tế hàng hóa
phát triển đến một mức độ nào đó và trở thành kinh tế thị trường là một quy luật tất
yếu khách quan. Việt Nam đang theo định hướng XHCN nên đi theo KTTT định
hướng XHCN là phù hợp với xu thế thời đại và đặc điểm phát triển của dân tộc.
- Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa có tính ưu việt, thúc
đẩy phát triển kinh tế (về mặt kinh tế): Kinh tế thị trường là phương thức phân
bổ nguồn lực hiệu quả mà loài người đã đạt được so với các mô hình kinh tế phi thị
trường, là động lực thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển nhanh và hiệu quả cao.
Dưới tác động của các quy luật thị trường nền kinh tế luôn phát triển theo hướng
năng động, kích thích tiến bộ kỹ thuật – công nghệ, nâng cao năng suất lao động,
chất lượng sản phẩm và hạ giá thành sản phẩm. Xét trên góc độ đó, sự phát triển
kinh tế thị trường không hề mâu thuẫn mà còn là cơ sở vật chất tạo điều kiện thực
hiện những mục tiêu XHCN.
- Mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa phù hợp với
nguyện vọng của nhân dân mong muốn một xã hội dân giàu, nước mạnh, dân
chủ, công bằng, văn minh: Nhà nước Việt Nam được hình thành từ cách mạng vô
sản do dân thực hiện và là nhà nước của dân do dân vì dân, còn cuộc cách mạng tư
sản của các nước tư bản chủ nghĩa do giai cấp tư sản thực hiện và đảm bảo quyền
lợi cho giai cấp tư sản. Vì đặc đểm bản chất nhà nước này, ta không thể lựa chọn
mô hình kinh tế thị truờng tư bản chủ nghĩa mà chỉ có KTTT định hướng XHCN
mới phù hợp với nguyện của nhân dân.
Những đặc trưng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.
- Về mục tiêu: Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là phương
thức để phát triển lực lượng sản xuất, xây dựng cơ sở vật chất- kỹ thuật của chủ
nghĩa xã hội, nâng cao đời sống nhân dân. Đồng thời, từng bước xây dựng quan hệ
sản xuất tiến bộ phù hợp với trình độ lực lượng sản xuất, từ đó thực hiện mục tiêu “
dân giàu, nước mạnh, dân chủ, văn minh”.
- Về quan hệ sở hữu: Kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam là
nền kinh tế có nhiều hình thức sở hữu (sở hữu nhà nước, sở hữu tập thể, sở hữu tư
nhân, sở hữu hỗn hợp,...) và nhiều thành phần kinh tế, trong đó kinh tế nhà nước