Vị thế hội gì? Vai trò hội gì? Các
thành tố bản cấu thành cơ cấu hội
1. Tổng quan chung về vị thế hội
1.1 Khái niệm vị thế
Theo quan điểm của Robertsons: Vị thế một vị trí hội. Mỗi vị thế quyết
định chỗ đứng của một nhân hay một nhóm hội trong kết cấu hội
cũng như quan h của nhân nhóm hội đó với hội xung quanh.
Quan điểm của H. Fischer: vị thế vị trí của một người đứng trong cấu tổ
chức hội theo sự thẩm định, đánh giá của hội. V thế hội là vị trí (địa
vị) hay thứ bậc những người đang sổng chung với một người đó dành
cho anh ta một cách khách quan.
Như vậy, vị thế một vị trí hội của một người hay một nhóm người trong
kết cấu hội, được sắp xếp, thẩm định hay đánh giá của hội nơi người
đó sinh sống. Khi nói đến vị thế nói đến vị trí, thứ bậc cao, thấp gắn với
những trách nhiệm những quyền lợi, nghĩa vụ tương ứng với vị t đó.
1.2 Đặc điểm của vị thế
+ Vị thế không nhất thiết phải gắn với những người uy tín địa vị cao
+ Vị thế không thuần túy phụ thuộc vào ý kiến chủ quan của mỗi người về
chính mình.
+ Vị thế của mỗi người cần đối chiếu hay gắn với những tiêu chuẩn khách
quan của hội
+ Vị thể của mỗi người tính ổn định tương đối, không đơn giản phụ
thuộc vào những ý kiến đánh giá thay đổi thất thường của những người xung
quanh.
1.3 Những yếu tố cấu thành nên vị thế
nhiều yếu tố cấu thành nên vị thế cùa mỗi con người như:
- Dòng dõi, nguồn gốc giai tầng hội, đẳng cấp, chủng tộc, dân tộc, sắc tộc...
một trong những yếu tổ quan trọng cấu thành vị thế cho con người.
+ Của cải: Địa vị kinh tế cũng tham gia vào cấu thành nên địa vị của con
người. Tuy nhiên, nh thức của cải khác nhau thì mức độ tham gia vào việc
câu thành vị thế cũng khác nhau.
+ Nghề nghiệp: Những nghề nghiệp khác nhau ý nghĩa khác nhau trong
việc cấu thành vị thể cho con người. Đương nhiên, cũng được biến đổi
theo thời gian, tùy theo ý nghĩa thiết thực lợi ích những nghề đó mang
lại.
+ Chức vụ quyền lợi do chức vụ mang lại: Chức vụ khác nhau tiếng nói
quyền lợi cũng khác nhau. Ví dụ: Ông giám đốc ngân hàng, được hội suy
tôn, kính trọng hơn một nhân viên.
+ Trình độ học vấn: Người trình độ học vấn càng cao thì vị thế hội ng
cao. dụ: Ông giáo vị thế hội cao hơn một y .
+ Các cấp bậc, chức sắc trong n giáo, dòng họ, làng, bản..., cũng tham gia
tạo ra vị thế hội.
+ Những đặc điểm về sinh lý, giới nh: Cũng những yếu t quan trọng đóng
góp vào cấu tạo vị thế của con người.
+ Một số tập họp những thuộc nh khác như: Sắc đẹp sức mạnh thể chất,
trí thông minh, sắc sảo, sự táo bạo, gan dạ, ý chí dám mạo hiểm, dám nghĩ,
dám làm, khả năng tế nhị trong giao tiếp, ý chí biết kiềm chế những thỏa mãn
nhất thời, tuổi kết hôn, địa vị người bạn đời... ng góp phần tạo nên vị thế
của con người trong hội.
th nói, những yếu tố cấu thành vị thế nói trên không đứng riêng rẽ, tách
bạch với nhau được phối hợp, sắp xếp theo những cách khác nhau. Tùy
theo từng người, từng thời gian, hoàn cảnh hoặc sự hiện diện của h thống
những giá tr chuẩn mực hay tập quán truyền thống của từng giai đoạn lịch sử
cụ thể, từng vùng, từng địa phương, từng quốc gia một số vị thế của
những người nào đó được nh thành.
Các vị thế thường sự tác động tương hỗ, củng cố bổ sung cho nhau song
vị thế then chốt luôn vai trò chi phối chế ước chính lên toàn bộ nhân cách
hội của nhân.
Mỗi nhân nhiều vị trí hội khác nhau tham gia vào nhiều mối quan
hệ hội khác nhau, do đó nhiều vị thế tương ứng. Tuy nhiên, trong số
các vị thế của nhân, vị thế nghề nghiệp vai trò chủ đạo trong các loại vị
thế bời nghề nghiệp hoạt động bản nhất trong đời sổng hội của con
người.
Tóm lại: Vị thế hội vị trí của một nhân hay nhóm người trong hệ thống
cấu trúc hội. Vị thế hội quy định “thế lực” cách ứng xử a
nhân, nhóm người trong mối liên hệ, quan hệ với những người xung quanh.
2. Tổng quan chung về vai trò hội
2.1 Khái niệm vai trò hội
Theo Robertson, vai trò một tập hợp các chuẩn mực, hành vi, nghĩa vụ
quyền lợi gắn với một vị thế nhất định
tác giả lại cho rằng: vai trò hội kiểu hành vi, hoạt động hội
mong đợi nhân hay nhóm người cần phải thực hiện một cách tương ứng
với vị thế của họ.
Vai trò hội một tập họp những khuôn mẫu tác phong hành vi đ thực
hiện nhiệm vụ nhất định. Vai trò hội của một người nghĩa người đó
phải đảm nhận hay th hiện đầy đủ các hành vi, nghĩa vụ, hệ thống chuẩn
mực trên sở vị thế của người đó, đồng thời họ cũng nhận được những
quyền lợi hội xứng đáng với những đóng góp của mình.
Định nghĩa này cho thấy, tương ứng với các vị thế sẽ một hình hành vi
được hội mong đợi chính vai trò của vị thế hội đó. Vị thế của một
nhân luôn xác định một cách khách quan với vai trò của nhân đó. Đồng
thời vị thế của nhân ấy chỉ thể được củng cố khi nhân đó thực hiện
đúng vai t của mình.
2.2 Những nội dung nghiên cứu vai t hội
Khi nghiên cứu về vai trò cần chú ý một số nội dung sau:
Thứ nhất: Một vai t hội thể nhiều mức độ biểu hiện khác nhau hay
những sắc thái khác nhau về khuôn mẫu tác phong.
Thứ hai: Vai trò không bao gồm những khuôn mẫu tác phong biểu hiện ra bên
ngoài còn bao hàm cả những khuôn mẫu nội dung tinh thần bên trong.
Thứ ba: Nội dung của bất cứ vai trò nội nào cũng luôn được liên hệ đến
những vai t hội khác. Khi một người nào đó thực hiện vai trò của mình
thì đồng thời họ đã hành động trong sự ơng quan với vai trò của người
khác.
Thứ tư: Mức độ thực hiện vai t cỏ sự co giãn nhất định, song mức độ của
sự co giãn chỉ được chấp nhận đến một giới hạn nhất định, vượt khỏi giới
hạn đó thì sẽ dẫn đến sai lệch, nghĩa người đó không đóng đúng vai trò.
Thứ nãm: Mức độ nhiều hay ít các vai trò phụ thuộc vào mức độ tham gia
nhiều hay ít của một người vào các đoàn thể, tổ chức hội.
Thứ sáu: Căng thẳng vai trò xảy ra khi nhân thấy rằng vai trò không thích
hợp họ thấy khó khăn trong việc thực hiện vai trò đỏ, nhất những vai trò
được nhiều người mong đợi, kỳ vọng quá nhiều.
2.3 Các loại vai trò
Khi nghiên cứu về vai trò người ta phân ra thành các loại sau:
Vai trò chỉ định
Vai trò chỉ định vai trò gán cho một người nào đó từ bên ngoài mang tính
chất tự nhiên mà người đó muốn hay không muốn cũng không thể tự mình
lựa chọn được.
Nhưng cũng thể vai trò chỉ định những vai trò được tạo ra do sự bàri
bạc, thoả thuận, ngã giá của những người khác đối với một người nào đó.
Vai trò lựa chọn:
vai trò do một người nào đó chủ động tự mình nắm lấy vai trò bằng những
nỗ lực quyết định nhân của mình.
Vai trò then chốt:
Trong cuộc sổng công việc một người nhiều vai trò khác nhau nhưng
một vai t luôn nổi lên được gọi vai trò then chốt.
Những vai trò chính, then chốt không phải cố định, bất biến thay đổi theo
từng thời gian
dụ: Khi đi làm vai trò then chốt của anh kiếm tiền, tạo thu nhập nuôi gia
đình, nhưng khi về hưu, anh đóng vai t là người nội trợ thì đây lại vai trò
then chốt.
Vai trò tổng quát:
Sự phối hợp các vai trò khác nhau trong một con người tạơ ra bộ mặt chung -
đặc trưng cho người đó.
dụ: Giáo trong một trường đại học một loại vị thế tổng quát, tương
ứng với vị thế này người giáo phải thực hiện một loạt các vai trò vừa phải
giảng dạy, vừa làm nghiên cửu khoa học, vừa người hướng dẫn nghiên
cứu sinh, cũng thể nhà quản lý.
3. Phân biệt giữa vị thế vai trò
Vị thế một vị trí hội, chỗ đứng của một người hay một nhóm người
trong cấu hội. Vai trò một tập hợp các chuẩn mực, hành vi, nghĩa vụ
quyền lợi của một người trên sở vị thế của người đó.
Nói đến vị thế là nói đến sự đánh giá cao thấp, sự so sánh với người khác.
Trong khi đó, vai trò liên quan trước hết đến công việc của một người o đó,
trả lời cầu hỏi anh ta làm hay anh ta đóng vai trò gì?
Vị thế liên quan trực tiếp đến địa vị hội của một giai cấp, một tầng lớp, một
thứ hạng trong hội; vai trò liên quan đến nhân cách của một người nhất
định. những yếu t tạo ra nhân cách.
Vị thế như kết quả của sự phổi hợp áp dụng những tiêu chuẩn về giá tr
đang hiện diện thịnh hành ưong hội.
Tóm lại: Trong cuộc sống mỗi nhân, nhóm, tập đoàn hội đứng vị thế
nào t sẽ phải thực hiện c vai trò khác nhau tưong ứng với từng vị thế đó.
Qua đó thấy được vai trò của các nhân, các nhóm, các tập đoàn, tổ chức
hội đối với sự vận động phát triển của đất nước.
4. Nhóm hội
4.1. Khái niệm nhóm hội
Nhóm hội một kiểu quan hệ giữa người với người tạo nên một hệ thống
hội nhất định.
Hay nói cách khác: nhóm hội tập hợp người quan hệ với nhau về vị
thế, vai trò, những nhu cầu lợi ích những định hướng giá trị nhất định.
Như vậy, cả hai khái niệm trên đều đ cập đến vị thể, vai trò những nhu
cầu lợi ích, mục tiêu hội. định nghĩa thứ nhất nhấn mạnh c kiểu quan
hệ tương tác giữa thành viên với nhau trong nhóm, định nghĩa thứ 2 lại
nhấn mạnh tới các mối liên hệ giữa các thành viên trong nhóm dựa trên sự
khác nhau về vị trí, vai trò trên sở chia sẻ những nhu cầu, lợi ích của mỗi
thành viên.
4.2. Phân loại nhóm hội
Nhóm những bộ phận hữu để cấu thành nên hội. Tùy theo ch phân
chia, hội học phân nhóm theo nhiều loại hình, cấp đ khác nhau như:
Theo quy mô, chúng ta các nhóm lớn, nhóm nhỏ.
Nhóm nhỏ (hay nhóm theo nghĩa hẹp) một tập hợp ít người trong đó
các thành viên quan h trực tiếp tương đối ổn định với nhau. Những
quan hệ hội trong nhóm nh được thể hiện dưới hình thức tiếp xúc
nhân sở để nảy sinh những quan hệ tình cảm ng n các giá trị đặc
thù những chuẩn mực của cách ứng xử.
Nhóm lớn (hay nhóm theo nghĩa rộng) tập hợp các cộng đồng nhóm, được
hình thành trên sở các dấu hiệu hội chung liên quan trước hết đến
đời sống trên sở của một hệ thống quan niệm trong hội hiện có. Đặc
trưng của nhóm lớn các mối quan hệ giữa các nhân thể gián tiếp
bởi số lượng các thành viên quá lớn một nhân khó thể gặp gỡ
trực tiếp từng người trong nhóm. Mối quan hệ trong nhóm lớn thường được
ràng buộc bởi các qui chế, điều lệ của tổ chức.
Theo tính chất nh vực hoạt động thể phân biệt những nhóm nghề
nghiệp, học vấn, lứa tuổi, giới tính lãnh thổ, dân tộc, sắc tộc, tôn giáo, hiệp
hội; nhóm bản không bản; nhóm chính thức thứ yếu; nhóm chỉ
huy, lãnh đạo, nhóm bị chỉ huy; nhóm quyền uy nhóm phục tùng.
Trong thực tế các nhà hội học còn tiến hành phân loại nhóm thành nhóm
“quy ước” nhóm tổ chức. Nhóm quy ước nhóm không nhất thiết phải
được tổ chức kết cấu một ch chặt chẽ, xác định chủ yếu được người
chủ định lựa chọn, sắp xếp theo một dấu hiệu nhất định nào đó.
Đặc trưng quan trọng nhất của tất cả các loại nhóm nhóm lớn hay nhỏ,
nhóm chính thức hay nhóm không chính thức đều phải người đứng đầu
(thủ lĩnh) để lãnh đạo, người đứng đầu nhóm đòi hỏi phải uy tín, năng lực,
phẩm chất được các thành viên trong nhóm suy tôn. Người đứng đầu thể
do tự phát, hoặc thông qua các thủ tục, chế bầu cử, đ bạt, bổ nhiệm từ
trong nhóm hoặc từ ngoài nhóm. Chính vậy, nhóm một vị trí hết sức
quan trọng trong quá trình nghiên cứu cấu hội để thấy được sự đóng
vai trò của nhóm đổi với sự phát triển của hội.
Tóm lại: Nghiên cứu nhóm hội nghiên cứu các thành phần, cấu trúc, quá
trình hình thành của nhóm, các chuẩn mực giá trị nhóm cùng mối quan hệ
giữa các thành viên trong nhóm.
5. Thiết chế hội
5.1 Khái niệm thiết chế hội
Theo Robertsons: Thiết chế một tập hợp bền vững c giá trị, chuẩn mực,
vị thế, vai trò nhóm vận động xung quanh một nhu cầu bản của hội.
Theo G.v. Oxipon, thiết chế tổ chức nhất định của hoạt động hội các
quan h hội được thực thi bằng hệ thống phối hợp của nhưng quy chuẩn
về hành vi, chuẩn mực giá trị, được định hướng một cách hợp lý.
Trên sở kế thừa phát triển một số n khoa học đã đưa ra định
nghĩa: Thiết chế hội một hệ thong các cách thức, các quy tắc chính thức
phi chính thức được con người tạo ra đ điều chỉnh hành vi, hoạt động của
các nhăn, các nhóm, các tổ chức nhằm đáp ưng những nhu cầu nhất định
của hội
theo cách hiểu nào thì thiết chế hội cũng bao gồm các giá trị chuẩn
mực, vị thế, vai t được quy định thành các quy tắc, các luật lệ các hình
thức kiểm soát nhằm duy trì tổ chức của các hoạt động hội các quan h
hội. Thiết chế hội một thành tố đặc thù đảm bảo tính kế thừa tính
ổn định tương đối của những mối liên hệ trong khuôn kh của một tổ chức
hội nhất định. Tất cả c thiết chế đều c quy tăc chuân mực, điểu luật
cả chế vật chất cùa các thiết chế của hội do con người tạo ra,
sản phẩm, phương tiện con người sáng tạo ra. Do đó, con người
thể thay đổi, bổ sung, phát triển sao cho phù hợp để đáp ứng nhu cầu của
mình
5.2 Các đặc điểm của thiết chế hội
- Các thiết chế hội thể hiện tính bền vững tương đối của các chuẩn mực
các quy phạm hội trong khuôn khổ của một trật tự hội khả
năng tổ chức các lợi ích hội, làm cho hội phát triển nề nếp.
Mỗi thiết chế hội thường một đối ợng điều chỉnh riêng nhằm thỏa
mãn những nhu cầu riêng biệt của hội.
Các thiết chế xu hướng phụ thuộc bổ sung vào nhau, duy trì những
giá trị chuẩn mực chung, phản ánh mục tiêu chung được hội thừa nhận.
Các thiết chế xu hướng trở thành tiêu điểm của những vấn đề hội chủ
yếu. Các thiết chế được thiết lập trên sở của những nhu cầu hội
bản nhằm duy trì sự n định hội.
5.3 Các loại thiết chế
nhiều loại thiết chế tham gia vào đ đảm bảo sự ổn định phát triển
hội, các nhà hội học đã đưa ra một số thiết chế bản sau:
Thiết chế chính trị nhàm bảo đảm việc thiết lập giữ vững quyền hạn
chính trị của gia cấp lãnh đạo được đặc trưng bằng nhà nước với chức
năng quản hành chính, gồm những quan lập pháp, hành pháp, pháp
ranh giới địa nhất định trong toàn bộ hệ thống chính trị.
- Thiết chế kinh tế các quy chế hoạt động sản xuất kinh doanh tương ứng
với các thành phần kinh tế; thực hiện chức năng: sản xuất, trao đổi, phân
phối tiêu dùng của cải vật chất, hàng a dịch vụ cần thiết cho đời sổng.
Thiết chế này đóng vai trò quan trọng đối với sự phát triển của các thiết chế
khác cũng như toàn hội.
Thiết chế giáo dục chịu trách nhiệm hội hóa c thành viên mới trở thành
những người trường thành, khả năng thích ứng đáp ứng được các
yêu cầu khác nhau của hội. Thiết chế này thực hiện năm chức năng:
+ Chuẩn bị nghề nghiệp hội cho nhân
+ Chuyển giao di sản văn hóa qua các thế hệ
+ Giúp cho nhân làm quen dần với các giá trị hội
+ Thực hiện các vai trò hội của nhân
+ Tham gia điều chỉnh kiểm soát nh vi quan hệ hội của nhân.
Thiết chế tôn giáo nhằm đáp ứng những nhu cầu tín ngưỡng, về niềm tin
sự giao cảm với các thế lực siêu nhiên thần thánh, đồng thời còn điều
chỉnh các nh vi, hoạt động của các tín đồ tôn giáo.
Thiết chế gia đình hệ thống các quy định về hôn nhân gia đình, điều
tiết hành vi tình cảm, tình dục nuôi dạy con cái của các thành viên trong
gia đình. Thiết chế y thực hiện các chức năng: Điều chỉnh hành vi tình
dục; Duy trì sự tái sản sinh/ duy trì nòi giống; Chăm sóc. nuôi dưỡng c
thành viên trong gia đình; đơn vị kinh tế tiêu dùng.
Thiết chế đạo đức các quy tắc chuẩn mực giá trị về các đối xử của mọi
người trong hội...
Thiết chế văn hóa các quy định về các hoạt động văn hóa, khoa học,
nghệ thuật.
Với các thiết chế thuộc nhiều phương diện khác nhau như thế, mỗi nền văn
hóa không chỉ cung cấp cho từng nhân những phương thức phương
tiện làm thỏa mãn các nhu cạu ăn, mặc, ở, đi lại, nương tựa lẫn nhay, sự an
toàn, duy trì nòi giống, xoa dịu nhưng lo âu sợ hãi, quan trọng hơn còn
giúp cho con người xác định được ý nghĩa cuộc sống sự vận hành ổn định
của toàn hội.
Mỗi thiết chế hội đều được đặc trưng bởi những mục đích hành động,
chức năng hội, h thống chế tài đảm bảo cho cái đang ngăn chặn
cái lệch lạc. Sự tồn tại của mọi hội, tính ổn định sự phát triển của hội
không th được nếu không quản hội kiểm soát hội. S rối
loạn của thiết chế sẽ dẫn đến sự rối loạn hội, không thế chế hội t
cũng không kỷ cương hội. Do vậy thiết chế hội phải chức năng
quản hội kiểm soát hội. được quyền sử dụng những biện pháp
thưởng phạt các thành viên trong hội khi những hành vi sai lệch không
đúng các quy tắc, chuẩn mực, yêu cầu do hội đặt ra hoặc khen thưởng khi
những thành viên làm những việc tốt, ích cho hội.
6. Một số yếu tố cấu thành cấu hội
- Nhóm hội (social group)
Nhóm hội một tập hợp người mối quan hệ tương trong đó các
nhân quan hệ trực tiếp tương đối ốn định. Những quan hệ trong nhóm
được thể hiện dưới hình thức giao tiếp nhân. Đó sở làm nảy sinh
những quan hệ tình cảm gắn bó, thân thiện các giá trị đặc thù. Chẳng hạn
như nhóm gia đình, hội nghề nghiệp, đơn vị, cộng đồng dân cư.
Nhóm thứ cấp (secondary group) nhóm bao gồm số lượng người đông đảo
(các tổ chức quốc tế, các quan nhà nước, đảng phái, công đoàn, đoàn
thanh niên, tập đoàn hội, trường học, doanh nghiệp,...). Trong nhóm th
cấp, các mối quan hệ hội được thiết chế hóa, thành lập theo một quy trình
chặt chẽ các thành viên của nhóm ý thức được nhóm của h tồn tại để đạt
được một mục đích nào đó. Các mối quan hệ giữa các thành viên được thể
hiện cụ thể qua các quan hệ quyền lực hội, tức quan hệ lãnh đạo -
phục tùng, những nhân khả năng điều chỉnh hành vi, thái độ của
người khác thuộc nấc thang quyền lực thấp hơn. Hay nói cách khác, trong
nhóm này, quan hệ quyền lực được phân bố trong mạng lưới theo thứ bậc từ
trên xuống dưới.
Cùng với hệ thống các quan hệ quyền lực, nhóm bao gồm một tập hợp các vị
thế vai trò được xác lập theo quy định của pháp luật. Mỗi thành viên vị
thế xác định trong nhóm, tức khi đã thành viên của nhóm, họ được trao
những trách nhiệm quyền hạn cho dù họ những người đứng thấp nhất
trong thang bậc quyền lực. Để đảm bảo ổn định nhóm, các nhân phải thực
hiện đúng các quy định của nhóm, quy định của pháp luật, ý thức được
những hành vi được phép những hành vi không được phép.
hội khi công việc đó phù hợp với các chuẩn mực hội không phụ thuộc
tính đặc thù thể của nhân, vai trò hội xuất phát từ các quan hệ trên
nhân sự ràng buộc giữa nhân trong quá trình hoạt động song. Yeu tố
định hướng hành vi nào đúng đắn, phù họp với vai trò đó chính các giá
trị chung của hội như: công lý, công bằng, tôn trọng tài sản nhân, bảo
vệ cuộc sống gia đình... Những giá trị đó các nhân tiếp thu được thông
qua quá trình hội hóa.
- Thiết chế xã hội (social institution)
Thiết chế hội một tập hợp bền vững của các giá trị, chuẩn mực, vị thế,
vai trò, nhóm hội lập ra chủ định vận động xung quanh nhu cầu bản
của hội.
Phần trên đã chỉ ra, nhóm hội một tập hợp người được liên kết với nhau
bởi các quan hệ hội. Các quan hệ này được hình thành từ những tương
tác thường xuyên, ổn định, u dài, định hướng. Trong quá trình tương tác
này khuôn mẫu hành vi, vai trò được thiết chế hóa, tức biến thành c thiết
chế hội. Các nhóm hội, các nhân thực chất chỉ tập hợp người thực
hiện các thiết chế hội. Thiết chế hội nảy sinh, tồn tại phát triển do
đáp ứng nhu cầu hội. Những yếu tố tạo thành thiết chế hội
khuynh hướng kết hợp ng cường lẫn nhau.
Mỗi thiết chế hội đều một đối tượng riêng hướng tới nhằm đáp ứng nhu
cầu hội chuyên biệt liên quan đến đối
Sự vận động phát triển của cấu hội - nhân khẩu tác động lớn đến sự
vận động phát triển của hội. Sự thay đổi về quy dân số, cấu dân
số, phân bố dân ảnh hưởng đến quá trình tiêu thụ hàng hóa dịch vụ
như lương thực, chăm sóc sức khỏe, giáo dục, n ở, tiết kiệm đầu tư, sử
dụng nguồn nhân lực, nguồn lực về vốn, đất đai, ng nghệ. Các tham số
bản của dân số n mức sinh, tỉ l tử vong, di dân quyết định quy mô, thành
phần nguồn lao động trong tương lai. Do đó, việc nghiên cứu xu hướng thay
đổi của cấu dân số yếu tố trọng tâm trong nghiên cứu hội học pháp
luật nhằm phát hiện những mối liên hệ phụ thuộc lẫn nhau giữa các yếu tố
cấu thành cấu hội - nhân khẩu với những thay đổi về kinh tế - hội, từ
đó đánh giá về hiệu quả của các chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng
Nhà nước đến việc ổn định quy dân số nâng cao chất lượng dân số.
Dân số nước ta xu hướng tăng lên hàng năm. Theo số liệu của Tổng cục
thống kê, ngày 01/4/2019 dân số đạt 96,2 triệu người, mỗi năm tăng thêm
khoảng 1 triệu người, nghĩa là bằng dân số một tỉnh trung bình. So với các
nước trên thế giới trong khu vực ASEAN, dân số Việt Nam đứng thứ 15
thế giới đứng thứ 3 trong khu vực sau Indonesia (248,8 triệu người)
Philippines (99,4 triệu người). Năm tỉnh, thành phố số dân đông nhất cả
nước bao gồm: thành phố H Chí Minh 8.993.082 người, tiếp đến Hà
Nội với 8.053.663 người, Thanh Hóa 3.640.128 người, Nghệ An 3.327.791
người Đồng Nai 3.097.107 người. Bắc Kạn tỉnh dân số thấp hướng
này cứ tiếp tục diễn ra thì trong tương lai không xa đất nước ta sẽ đứng trước
khó khăn rất lớn, thậm chí những nguy nhiều mặt”. Do đó, vào thời này
“sinh đẻ kế hoạch” hay “kế hoạch a gia đình” được coi một trong
những vấn đề kinh tế - hội hàng đầu của đất nước. Đây cũng quan điểm
xuyên suốt nhất quán của Đảng Nhà nước ta trong những năm qua.
Pháp lệnh dân số được ban hành năm 2003 với quan điểm: Dân số là một
trong những yếu tố quyết định sự phát triển bền vững của đất nước. Pháp
lệnh được sửa đổi năm 2008 Quốc hội sẽ ban hành Luật Dân số. Năm
2011, Quyết định số 2013/QĐ-TTg về Chiến lược Dân số Sức khỏe sinh
sản Việt Nam giai đoạn 2011 - 2020 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt.
Đây nội dung quan trọng của Chiến lược phát triển kinh tế - hội của đất
nước, góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, nâng cao chất lượng
cuộc sống của từng người, từng gia đình toàn hội.
7. Câu hỏi thường gặp về vị thế, thiết chế hội
7.1 Chức năng của thiết chế?
Thứ nhất, thiết chế hội chức năng khuyển khích, điều chỉnh, điều hòa
hành vi của con người p hợp với quy phạm chuẩn mực của thiết chế
tuân thủ thiết chế.
Thứ hai, thiết ché hội chức năng ngăn chặn, kiểm soát, giám sát những
hành vi lệch lạc.
7.2 Hãy phân loại vị thế?
Dựa vào các tiêu chí khác nhau để phân chia các loại vị thế hội
- Dựa o nguồn gốc tự nhiên hội, chia thành vị thế tự nhiên (v thế
sẵn) vị thế đạt được (giành được)
Vị thế tự nhiên/ vị thế sẵn: vị thế nhân sinh ra đã có, tự nhiên mà có,
bị chỉ định, bị gán cho bởi những thiên chức, những đặc điểm bản
nhân không tự kiểm soát hay mong muốn.
Vị thế hội/ đạt được: vị thế phụ thuộc vào những đặc điểm nhân
hay nhóm người thể kiểm soát được, phụ thuộc o sự nỗ lực, ý chí
phấn đấu vươn lên của nhân để đạt được.
- Dựa vào tính chất, vai trò vị thế then chốt vị thế không then chốt:
Vị thế then chốt vị thế bản vai trò quyết định đối với các vị thế khác.
Vị thế không then chốt: vị thế không giữ vai trò chủ đạo trong việc quy định
đặc điểm hành vi hội của nhân.
7.3 Mối quan hệ giữa vị thế vai trò?
- Vai trò ph thuộc vào vị thế: Vị thế nào thì phải thực hiện vai trò đó, con
người vị thế nào thì phải ứng xử theo vị ưí hội của họ.
- Một vị thế thể nhiều vai trò. Sự biến đổi của vai t phụ thuộc vào sự
biến đổi của vị xhế. Khi vị thế thay đồi thì vai trò cũng sẽ phải thay đổi theo
từng thời gian.
-Vai trò vị thế thường thống nhất với nhau song đôi khi cũng gặp phải
những mâu thuẫn.

Preview text:

Vị thế xã hội là gì? Vai trò xã hội là gì? Các
thành tố cơ bản cấu thành cơ cấu xã hội
1. Tổng quan chung về vị thế xã hội 1.1 Khái niệm vị thế
Theo quan điểm của Robertsons: Vị thế là một vị trí xã hội. Mỗi vị thế quyết
định chỗ đứng của một cá nhân hay một nhóm xã hội trong kết cấu xã hội
cũng như quan hệ của cá nhân và nhóm xã hội đó với xã hội xung quanh.
Quan điểm của H. Fischer: vị thế là vị trí của một người đứng trong cơ cấu tổ
chức xã hội theo sự thẩm định, đánh giá của xã hội. VỊ thế xã hội là vị trí (địa
vị) hay thứ bậc mà những người đang sổng chung với một người đó dành
cho anh ta một cách khách quan.
Như vậy, vị thế là một vị trí xã hội của một người hay một nhóm người trong
kết cấu xã hội, được sắp xếp, thẩm định hay đánh giá của xã hội nơi người
đó sinh sống. Khi nói đến vị thế là nói đến vị trí, thứ bậc cao, thấp gắn với
những trách nhiệm và những quyền lợi, nghĩa vụ tương ứng với vị trí đó.
1.2 Đặc điểm của vị thế
+ Vị thế không nhất thiết phải gắn với những người có uy tín và địa vị cao
+ Vị thế không thuần túy phụ thuộc vào ý kiến chủ quan của mỗi người về chính mình.
+ Vị thế của mỗi người cần đối chiếu hay gắn với những tiêu chuẩn khách quan của xã hội
+ Vị thể của mỗi người có tính ổn định tương đối, nó không đơn giản phụ
thuộc vào những ý kiến đánh giá thay đổi thất thường của những người xung quanh.
1.3 Những yếu tố cấu thành nên vị thế
Có nhiều yếu tố cấu thành nên vị thế cùa mỗi con người như:
- Dòng dõi, nguồn gốc giai tầng xã hội, đẳng cấp, chủng tộc, dân tộc, sắc tộc...
Là một trong những yếu tổ quan trọng cấu thành vị thế cho con người.
+ Của cải: Địa vị kinh tế cũng tham gia vào cấu thành nên địa vị của con
người. Tuy nhiên, hình thức của cải khác nhau thì mức độ tham gia vào việc
câu thành vị thế cũng khác nhau.
+ Nghề nghiệp: Những nghề nghiệp khác nhau có ý nghĩa khác nhau trong
việc cấu thành vị thể cho con người. Đương nhiên, nó cũng được biến đổi
theo thời gian, tùy theo ý nghĩa thiết thực và lợi ích mà những nghề đó mang lại.
+ Chức vụ và quyền lợi do chức vụ mang lại: Chức vụ khác nhau tiếng nói và
quyền lợi cũng khác nhau. Ví dụ: Ông giám đốc ngân hàng, được xã hội suy
tôn, kính trọng hơn một nhân viên.
+ Trình độ học vấn: Người có trình độ học vấn càng cao thì vị thế xã hội càng
cao. Ví dụ: Ông giáo sư có vị thế xã hội cao hơn một cô y tá.
+ Các cấp bậc, chức sắc trong tôn giáo, dòng họ, làng, bản..., cũng tham gia tạo ra vị thế xã hội.
+ Những đặc điểm về sinh lý, giới tính: Cũng là những yếu tố quan trọng đóng
góp vào cấu tạo vị thế của con người.
+ Một số tập họp những thuộc tính khác như: Sắc đẹp và sức mạnh thể chất,
trí thông minh, sắc sảo, sự táo bạo, gan dạ, ý chí dám mạo hiểm, dám nghĩ,
dám làm, khả năng tế nhị trong giao tiếp, ý chí biết kiềm chế những thỏa mãn
nhất thời, tuổi kết hôn, địa vị người bạn đời... cũng góp phần tạo nên vị thế
của con người trong xã hội.
Có thể nói, những yếu tố cấu thành vị thế nói trên không đứng riêng rẽ, tách
bạch với nhau mà được phối hợp, sắp xếp theo những cách khác nhau. Tùy
theo từng người, từng thời gian, hoàn cảnh hoặc sự hiện diện của hệ thống
những giá trị chuẩn mực hay tập quán truyền thống của từng giai đoạn lịch sử
cụ thể, từng vùng, từng địa phương, từng quốc gia mà một số vị thế của
những người nào đó được hình thành.
Các vị thế thường có sự tác động tương hỗ, củng cố bổ sung cho nhau song
vị thế then chốt luôn có vai trò chi phối chế ước chính lên toàn bộ nhân cách xã hội của cá nhân.
Mỗi cá nhân có nhiều vị trí xã hội khác nhau vì tham gia vào nhiều mối quan
hệ xã hội khác nhau, do đó có nhiều vị thế tương ứng. Tuy nhiên, trong số
các vị thế của cá nhân, vị thế nghề nghiệp có vai trò chủ đạo trong các loại vị
thế bời nghề nghiệp là hoạt động cơ bản nhất trong đời sổng xã hội của con người.
Tóm lại: Vị thế xã hội là vị trí của một cá nhân hay nhóm người trong hệ thống
cấu trúc xã hội. Vị thế xã hội quy định “thế và lực” và cách ứng xử cùa cá
nhân, nhóm người trong mối liên hệ, quan hệ với những người xung quanh.
2. Tổng quan chung về vai trò xã hội
2.1 Khái niệm vai trò xã hội

Theo Robertson, vai trò là một tập hợp các chuẩn mực, hành vi, nghĩa vụ và
quyền lợi gắn với một vị thế nhất định
Có tác giả lại cho rằng: vai trò xã hội là kiểu hành vi, hoạt động mà xã hội
mong đợi cá nhân hay nhóm người cần phải thực hiện một cách tương ứng với vị thế của họ.
Vai trò xã hội là một tập họp những khuôn mẫu tác phong và hành vi để thực
hiện nhiệm vụ nhất định. Vai trò xã hội của một người có nghĩa là người đó
phải đảm nhận hay thể hiện đầy đủ các hành vi, nghĩa vụ, hệ thống chuẩn
mực trên cơ sở vị thế của người đó, đồng thời họ cũng nhận được những
quyền lợi xã hội xứng đáng với những đóng góp của mình.
Định nghĩa này cho thấy, tương ứng với các vị thế sẽ có một mô hình hành vi
được xã hội mong đợi chính là vai trò của vị thế xã hội đó. Vị thế của một cá
nhân luôn xác định một cách khách quan với vai trò của cá nhân đó. Đồng
thời vị thế của cá nhân ấy chỉ có thể được củng cố khi cá nhân đó thực hiện đúng vai trò của mình.
2.2 Những nội dung nghiên cứu vai trò xã hội
Khi nghiên cứu về vai trò cần chú ý một số nội dung sau:
Thứ nhất: Một vai trò xã hội có thể có nhiều mức độ biểu hiện khác nhau hay
những sắc thái khác nhau về khuôn mẫu tác phong.
Thứ hai: Vai trò không bao gồm những khuôn mẫu tác phong biểu hiện ra bên
ngoài mà còn bao hàm cả những khuôn mẫu nội dung tinh thần ở bên trong.
Thứ ba: Nội dung của bất cứ vai trò xã nội nào cũng luôn được liên hệ đến
những vai trò xã hội khác. Khi một người nào đó thực hiện vai trò của mình
thì đồng thời họ đã hành động trong sự tương quan với vai trò của người khác.
Thứ tư: Mức độ thực hiện vai trò cỏ sự co giãn nhất định, song mức độ của
sự co giãn chỉ được chấp nhận đến một giới hạn nhất định, vượt khỏi giới
hạn đó thì sẽ dẫn đến sai lệch, có nghĩa là người đó không đóng đúng vai trò.
Thứ nãm: Mức độ nhiều hay ít các vai trò phụ thuộc vào mức độ tham gia
nhiều hay ít của một người vào các đoàn thể, tổ chức xã hội.
Thứ sáu: Căng thẳng vai trò xảy ra khi cá nhân thấy rằng vai trò không thích
hợp và họ thấy khó khăn trong việc thực hiện vai trò đỏ, nhất là những vai trò
được nhiều người mong đợi, kỳ vọng quá nhiều. 2.3 Các loại vai trò
Khi nghiên cứu về vai trò người ta phân ra thành các loại sau: 
Vai trò chỉ định
Vai trò chỉ định là vai trò gán cho một người nào đó từ bên ngoài mang tính
chất tự nhiên mà người đó dù muốn hay không muốn cũng không thể tự mình lựa chọn được.
Nhưng cũng có thể vai trò chỉ định là những vai trò được tạo ra do sự bàri
bạc, thoả thuận, ngã giá của những người khác đối với một người nào đó. 
Vai trò lựa chọn:
Là vai trò do một người nào đó chủ động tự mình nắm lấy vai trò bằng những
nỗ lực và quyết định cá nhân của mình. 
Vai trò then chốt:
Trong cuộc sổng và công việc một người có nhiều vai trò khác nhau nhưng
có một vai trò luôn nổi lên được gọi là vai trò then chốt.
Những vai trò chính, then chốt không phải cố định, bất biến mà thay đổi theo từng thời gian
Ví dụ: Khi đi làm vai trò then chốt của anh là kiếm tiền, tạo thu nhập nuôi gia
đình, nhưng khi về hưu, anh đóng vai trò là người nội trợ thì đây lại là vai trò then chốt. 
Vai trò tổng quát:
Sự phối hợp các vai trò khác nhau trong một con người tạơ ra bộ mặt chung -
đặc trưng cho người đó.
Ví dụ: Giáo sư trong một trường đại học là một loại vị thế tổng quát, tương
ứng với vị thế này người giáo sư phải thực hiện một loạt các vai trò vừa phải
giảng dạy, vừa làm nghiên cửu khoa học, vừa là người hướng dẫn nghiên
cứu sinh, cũng có thể là nhà quản lý.
3. Phân biệt giữa vị thế và vai trò
Vị thế là một vị trí xã hội, là chỗ đứng của một người hay một nhóm người
trong cơ cấu xã hội. Vai trò là một tập hợp các chuẩn mực, hành vi, nghĩa vụ
và quyền lợi của một người trên cơ sở vị thế của người đó.
Nói đến vị thế là nói đến sự đánh giá cao thấp, là sự so sánh với người khác.
Trong khi đó, vai trò liên quan trước hết đến công việc của một người nào đó,
trả lời cầu hỏi anh ta làm gì hay anh ta đóng vai trò gì?
Vị thế liên quan trực tiếp đến địa vị xã hội của một giai cấp, một tầng lớp, một
thứ hạng trong xã hội; vai trò liên quan đến nhân cách của một người nhất
định. Nó là những yếu tố tạo ra nhân cách.
Vị thế như là kết quả của sự phổi hợp và áp dụng những tiêu chuẩn về giá trị
đang hiện diện và thịnh hành ưong xã hội.
Tóm lại: Trong cuộc sống mỗi cá nhân, nhóm, tập đoàn xã hội đứng ở vị thế
nào thì sẽ phải thực hiện các vai trò khác nhau tưong ứng với từng vị thế đó.
Qua đó thấy được vai trò của các cá nhân, các nhóm, các tập đoàn, tổ chức
xã hội đối với sự vận động và phát triển của đất nước. 4. Nhóm xã hội
4.1. Khái niệm nhóm xã hội
Nhóm xã hội là một kiểu quan hệ giữa người với người tạo nên một hệ thống xã hội nhất định.
Hay nói cách khác: nhóm xã hội là tập hợp người có quan hệ với nhau về vị
thế, vai trò, những nhu cầu lợi ích và những định hướng giá trị nhất định.
Như vậy, cả hai khái niệm trên đều đề cập đến vị thể, vai trò và những nhu
cầu lợi ích, mục tiêu xã hội. Ở định nghĩa thứ nhất nhấn mạnh các kiểu quan
hệ tương tác giữa thành viên với nhau trong nhóm, ở định nghĩa thứ 2 lại
nhấn mạnh tới các mối liên hệ giữa các thành viên trong nhóm dựa trên sự
khác nhau về vị trí, vai trò trên cơ sở chia sẻ những nhu cầu, lợi ích của mỗi thành viên.
4.2. Phân loại nhóm xã hội
Nhóm là những bộ phận hữu cơ để cấu thành nên xã hội. Tùy theo cách phân
chia, xã hội học phân nhóm theo nhiều loại hình, cấp độ khác nhau như:
Theo quy mô, chúng ta có các nhóm lớn, nhóm nhỏ.
Nhóm nhỏ (hay nhóm theo nghĩa hẹp) là một tập hợp ít người mà trong đó
các thành viên có quan hệ trực tiếp và tương đối ổn định với nhau. Những
quan hệ xã hội trong nhóm nhỏ được thể hiện dưới hình thức tiếp xúc cá
nhân là cơ sở để nảy sinh những quan hệ tình cảm cũng như các giá trị đặc
thù và những chuẩn mực của cách ứng xử.
Nhóm lớn (hay nhóm theo nghĩa rộng) là tập hợp các cộng đồng nhóm, được
hình thành trên cơ sở các dấu hiệu xã hội chung có liên quan trước hết đến
đời sống trên cơ sở của một hệ thống quan niệm trong xã hội hiện có. Đặc
trưng của nhóm lớn là các mối quan hệ giữa các cá nhân có thể là gián tiếp
bởi vì số lượng các thành viên quá lớn mà một cá nhân khó có thể gặp gỡ
trực tiếp từng người trong nhóm. Mối quan hệ trong nhóm lớn thường được
ràng buộc bởi các qui chế, điều lệ của tổ chức.
• Theo tính chất và lĩnh vực hoạt động có thể phân biệt những nhóm nghề
nghiệp, học vấn, lứa tuổi, giới tính lãnh thổ, dân tộc, sắc tộc, tôn giáo, hiệp
hội; nhóm cơ bản và không cơ bản; nhóm chính thức và thứ yếu; nhóm chỉ
huy, lãnh đạo, và nhóm bị chỉ huy; nhóm quyền uy và nhóm phục tùng.
Trong thực tế các nhà xã hội học còn tiến hành phân loại nhóm thành nhóm
“quy ước” và nhóm có tổ chức. Nhóm quy ước là nhóm không nhất thiết phải
được tổ chức kết cấu một cách chặt chẽ, xác định mà chủ yếu được người
chủ định lựa chọn, sắp xếp theo một dấu hiệu nhất định nào đó.
Đặc trưng quan trọng nhất của tất cả các loại nhóm là nhóm lớn hay nhỏ,
nhóm chính thức hay nhóm không chính thức đều phải có người đứng đầu
(thủ lĩnh) để lãnh đạo, người đứng đầu nhóm đòi hỏi phải có uy tín, năng lực,
phẩm chất được các thành viên trong nhóm suy tôn. Người đứng đầu có thể
là do tự phát, hoặc thông qua các thủ tục, cơ chế bầu cử, đề bạt, bổ nhiệm từ
trong nhóm hoặc từ ngoài nhóm. Chính vì vậy, nhóm có một vị trí hết sức
quan trọng trong quá trình nghiên cứu cơ cấu xã hội để thấy được sự đóng
vai trò của nhóm đổi với sự phát triển của xã hội.
Tóm lại: Nghiên cứu nhóm xã hội là nghiên cứu các thành phần, cấu trúc, quá
trình hình thành của nhóm, các chuẩn mực và giá trị nhóm cùng mối quan hệ
giữa các thành viên trong nhóm. 5. Thiết chế xã hội
5.1 Khái niệm thiết chế xã hội
Theo Robertsons: Thiết chế là một tập hợp bền vững các giá trị, chuẩn mực,
vị thế, vai trò và nhóm vận động xung quanh một nhu cầu cơ bản của xã hội.
Theo G.v. Oxipon, thiết chế là tổ chức nhất định của hoạt động xã hội và các
quan hệ xã hội được thực thi bằng hệ thống phối hợp của nhưng quy chuẩn
về hành vi, chuẩn mực giá trị, được định hướng một cách hợp lý.
Trên cơ sở kế thừa và phát triển một số nhà khoa học đã đưa ra định
nghĩa: Thiết chế xã hội là một hệ thong các cách thức, các quy tắc chính thức
và phi chính thức được con người tạo ra để điều chỉnh hành vi, hoạt động của
các cá nhăn, các nhóm, các tổ chức nhằm đáp ưng những nhu cầu nhất định của xã hội
Dù theo cách hiểu nào thì thiết chế xã hội cũng bao gồm các giá trị chuẩn
mực, vị thế, vai trò được quy định thành các quy tắc, các luật lệ và các hình
thức kiểm soát nhằm duy trì tổ chức của các hoạt động xã hội và các quan hệ
xã hội. Thiết chế xã hội là một thành tố đặc thù đảm bảo tính kế thừa và tính
ổn định tương đối của những mối liên hệ trong khuôn khổ của một tổ chức xã
hội nhất định. Tất cả các thiết chế đều có các quy tăc chuân mực, điểu luật và
cả cơ chế vật chất cùa nó mà các thiết chế của xã hội là do con người tạo ra,
nó là sản phẩm, là phương tiện con người sáng tạo ra. Do đó, con người có
thể thay đổi, bổ sung, phát triển sao cho phù hợp để đáp ứng nhu cầu của mình
5.2 Các đặc điểm của thiết chế xã hội
- Các thiết chế xã hội thể hiện tính bền vững tương đối của các chuẩn mực
và các quy phạm xã hội trong khuôn khổ của một trật tự xã hội và có khả
năng tổ chức các lợi ích xã hội, làm cho xã hội phát triển nề nếp. 
Mỗi thiết chế xã hội thường có một đối tượng điều chỉnh riêng nhằm thỏa
mãn những nhu cầu riêng biệt của xã hội. 
Các thiết chế có xu hướng phụ thuộc và bổ sung vào nhau, duy trì những
giá trị chuẩn mực chung, phản ánh mục tiêu chung được xã hội thừa nhận. 
Các thiết chế có xu hướng trở thành tiêu điểm của những vấn đề xã hội chủ
yếu. Các thiết chế được thiết lập trên cơ sở của những nhu cầu xã hội cơ
bản nhằm duy trì sự ổn định xã hội.
5.3 Các loại thiết chế
Có nhiều loại thiết chế tham gia vào để đảm bảo sự ổn định và phát triển xã
hội, các nhà xã hội học đã đưa ra một số thiết chế cơ bản sau: 
Thiết chế chính trị nhàm bảo đảm việc thiết lập và giữ vững quyền hạn
chính trị của gia cấp lãnh đạo được đặc trưng bằng nhà nước với chức
năng quản lý hành chính, gồm những cơ quan lập pháp, hành pháp, tư pháp
và ranh giới địa lý nhất định trong toàn bộ hệ thống chính trị.
- Thiết chế kinh tế là các quy chế hoạt động sản xuất kinh doanh tương ứng
với các thành phần kinh tế; thực hiện chức năng: sản xuất, trao đổi, phân
phối và tiêu dùng của cải vật chất, hàng hóa và dịch vụ cần thiết cho đời sổng.
Thiết chế này đóng vai trò quan trọng đối với sự phát triển của các thiết chế
khác cũng như toàn xã hội. 
Thiết chế giáo dục chịu trách nhiệm xã hội hóa các thành viên mới trở thành
những người trường thành, có khả năng thích ứng và đáp ứng được các
yêu cầu khác nhau của xã hội. Thiết chế này thực hiện năm chức năng:
+ Chuẩn bị nghề nghiệp xã hội cho cá nhân
+ Chuyển giao di sản văn hóa qua các thế hệ
+ Giúp cho cá nhân làm quen dần với các giá trị xã hội
+ Thực hiện các vai trò xã hội của cá nhân
+ Tham gia điều chỉnh và kiểm soát hành vi và quan hệ xã hội của cá nhân. 
Thiết chế tôn giáo nhằm đáp ứng những nhu cầu tín ngưỡng, về niềm tin và
sự giao cảm với các thế lực siêu nhiên và thần thánh, đồng thời còn điều
chỉnh các hành vi, hoạt động của các tín đồ tôn giáo. 
Thiết chế gia đình là hệ thống các quy định về hôn nhân và gia đình, nó điều
tiết hành vi tình cảm, tình dục và nuôi dạy con cái của các thành viên trong
gia đình. Thiết chế này thực hiện các chức năng: Điều chỉnh hành vi tình
dục; Duy trì sự tái sản sinh/ duy trì nòi giống; Chăm sóc. nuôi dưỡng các
thành viên trong gia đình; Là đơn vị kinh tế và tiêu dùng. 
Thiết chế đạo đức là các quy tắc chuẩn mực giá trị về các đối xử của mọi người trong xã hội... 
Thiết chế văn hóa là các quy định về các hoạt động văn hóa, khoa học, nghệ thuật.
Với các thiết chế thuộc nhiều phương diện khác nhau như thế, mỗi nền văn
hóa không chỉ cung cấp cho từng cá nhân những phương thức và phương
tiện làm thỏa mãn các nhu cạu ăn, mặc, ở, đi lại, nương tựa lẫn nhay, sự an
toàn, duy trì nòi giống, xoa dịu nhưng lo âu sợ hãi, mà quan trọng hơn còn
giúp cho con người xác định được ý nghĩa cuộc sống và sự vận hành ổn định của toàn xã hội.
Mỗi thiết chế xã hội đều được đặc trưng bởi những mục đích hành động,
chức năng xã hội, hệ thống chế tài đảm bảo cho cái đang có và ngăn chặn
cái lệch lạc. Sự tồn tại của mọi xã hội, tính ổn định và sự phát triển của xã hội
không thể có được nếu không có quản lý xã hội và kiểm soát xã hội. Sự rối
loạn của thiết chế sẽ dẫn đến sự rối loạn xã hội, không có thế chế xã hội thì
cũng không có kỷ cương xã hội. Do vậy thiết chế xã hội phải có chức năng
quản lý xã hội và kiểm soát xã hội. Nó được quyền sử dụng những biện pháp
thưởng phạt các thành viên trong xã hội khi có những hành vi sai lệch không
đúng các quy tắc, chuẩn mực, yêu cầu do xã hội đặt ra hoặc khen thưởng khi
những thành viên làm những việc tốt, có ích cho xã hội.
6. Một số yếu tố cấu thành cơ cấu xã hội
- Nhóm xã hội (social group)
Nhóm xã hội là một tập hợp người có mối quan hệ tương trong đó các cá
nhân có quan hệ trực tiếp và tương đối ốn định. Những quan hệ trong nhóm
được thể hiện dưới hình thức giao tiếp cá nhân. Đó là cơ sở làm nảy sinh
những quan hệ tình cảm gắn bó, thân thiện và các giá trị đặc thù. Chẳng hạn
như nhóm gia đình, hội nghề nghiệp, đơn vị, cộng đồng dân cư.
Nhóm thứ cấp (secondary group) là nhóm bao gồm số lượng người đông đảo
(các tổ chức quốc tế, các cơ quan nhà nước, đảng phái, công đoàn, đoàn
thanh niên, tập đoàn xã hội, trường học, doanh nghiệp,.. ). Trong nhóm thứ
cấp, các mối quan hệ xã hội được thiết chế hóa, thành lập theo một quy trình
chặt chẽ và các thành viên của nhóm ý thức được nhóm của họ tồn tại để đạt
được một mục đích nào đó. Các mối quan hệ giữa các thành viên được thể
hiện cụ thể qua các quan hệ quyền lực xã hội, tức là có quan hệ lãnh đạo -
phục tùng, có những cá nhân có khả năng điều chỉnh hành vi, thái độ của
người khác thuộc nấc thang quyền lực thấp hơn. Hay nói cách khác, trong
nhóm này, quan hệ quyền lực được phân bố trong mạng lưới theo thứ bậc từ trên xuống dưới.
Cùng với hệ thống các quan hệ quyền lực, nhóm bao gồm một tập hợp các vị
thế và vai trò được xác lập theo quy định của pháp luật. Mỗi thành viên có vị
thế xác định trong nhóm, tức là khi đã là thành viên của nhóm, họ được trao
những trách nhiệm và quyền hạn cho dù họ là những người đứng thấp nhất
trong thang bậc quyền lực. Để đảm bảo ổn định nhóm, các cá nhân phải thực
hiện đúng các quy định của nhóm, quy định của pháp luật, ý thức được
những hành vi được phép và những hành vi không được phép.
hội khi công việc đó phù hợp với các chuẩn mực xã hội mà không phụ thuộc
tính đặc thù cá thể của cá nhân, vì vai trò xã hội xuất phát từ các quan hệ trên
cá nhân và sự ràng buộc giữa cá nhân trong quá trình hoạt động song. Yeu tố
định hướng hành vi nào là đúng đắn, phù họp với vai trò đó chính là các giá
trị chung của xã hội như: công lý, công bằng, tôn trọng tài sản cá nhân, bảo
vệ cuộc sống gia đình. . Những giá trị đó các cá nhân tiếp thu được thông
qua quá trình xã hội hóa.
- Thiết chế xã hội (social institution)
Thiết chế xã hội là một tập hợp bền vững của các giá trị, chuẩn mực, vị thế,
vai trò, nhóm xã hội lập ra có chủ định vận động xung quanh nhu cầu cơ bản của xã hội.
Phần trên đã chỉ ra, nhóm xã hội là một tập hợp người được liên kết với nhau
bởi các quan hệ xã hội. Các quan hệ này được hình thành từ những tương
tác thường xuyên, ổn định, lâu dài, có định hướng. Trong quá trình tương tác
này khuôn mẫu hành vi, vai trò được thiết chế hóa, tức là biến thành các thiết
chế xã hội. Các nhóm xã hội, các cá nhân thực chất chỉ là tập hợp người thực
hiện các thiết chế xã hội. Thiết chế xã hội nảy sinh, tồn tại và phát triển là do
nó đáp ứng nhu cầu xã hội. Những yếu tố tạo thành thiết chế xã hội có
khuynh hướng kết hợp và tăng cường lẫn nhau.
Mỗi thiết chế xã hội đều có một đối tượng riêng hướng tới nhằm đáp ứng nhu
cầu xã hội chuyên biệt liên quan đến đối
Sự vận động và phát triển của cơ cấu xã hội - nhân khẩu tác động lớn đến sự
vận động và phát triển của xã hội. Sự thay đổi về quy mô dân số, cơ cấu dân
số, phân bố dân cư có ảnh hưởng đến quá trình tiêu thụ hàng hóa và dịch vụ
như lương thực, chăm sóc sức khỏe, giáo dục, nhà ở, tiết kiệm đầu tư, sử
dụng nguồn nhân lực, nguồn lực về vốn, đất đai, công nghệ. Các tham số cơ
bản của dân số như mức sinh, tỉ lệ tử vong, di dân quyết định quy mô, thành
phần nguồn lao động trong tương lai. Do đó, việc nghiên cứu xu hướng thay
đổi của cơ cấu dân số là yếu tố trọng tâm trong nghiên cứu xã hội học pháp
luật nhằm phát hiện những mối liên hệ phụ thuộc lẫn nhau giữa các yếu tố
cấu thành cơ cấu xã hội - nhân khẩu với những thay đổi về kinh tế - xã hội, từ
đó đánh giá về hiệu quả của các chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng
và Nhà nước đến việc ổn định quy mô dân số và nâng cao chất lượng dân số.
Dân số nước ta có xu hướng tăng lên hàng năm. Theo số liệu của Tổng cục
thống kê, ngày 01/4/2019 dân số đạt 96,2 triệu người, mỗi năm tăng thêm
khoảng 1 triệu người, nghĩa là bằng dân số một tỉnh trung bình. So với các
nước trên thế giới và trong khu vực ASEAN, dân số Việt Nam đứng thứ 15
thế giới và đứng thứ 3 trong khu vực sau Indonesia (248,8 triệu người) và
Philippines (99,4 triệu người). Năm tỉnh, thành phố có số dân đông nhất cả
nước bao gồm: thành phố Hồ Chí Minh có 8.993.082 người, tiếp đến là Hà
Nội với 8.053.663 người, Thanh Hóa 3.640.128 người, Nghệ An 3.327.791
người và Đồng Nai 3.097.107 người. Bắc Kạn là tỉnh có dân số thấp hướng
này cứ tiếp tục diễn ra thì trong tương lai không xa đất nước ta sẽ đứng trước
khó khăn rất lớn, thậm chí những nguy cơ nhiều mặt”.
Do đó, vào thời kì này
“sinh đẻ có kế hoạch” hay “kế hoạch hóa gia đình” được coi là một trong
những vấn đề kinh tế - xã hội hàng đầu của đất nước. Đây cũng là quan điểm
xuyên suốt nhất quán của Đảng và Nhà nước ta trong những năm qua.
Pháp lệnh dân số được ban hành năm 2003 với quan điểm: Dân số là một
trong những yếu tố quyết định sự phát triển bền vững của đất nước. Pháp
lệnh được sửa đổi năm 2008 và Quốc hội sẽ ban hành Luật Dân số. Năm
2011, Quyết định số 2013/QĐ-TTg về Chiến lược Dân số và Sức khỏe sinh
sản Việt Nam giai đoạn 2011 - 2020 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt.
Đây là nội dung quan trọng của Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của đất
nước, góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, nâng cao chất lượng
cuộc sống của từng người, từng gia đình và toàn xã hội.
7. Câu hỏi thường gặp về vị thế, thiết chế xã hội
7.1 Chức năng của thiết chế?
Thứ nhất, thiết chế xã hội có chức năng khuyển khích, điều chỉnh, điều hòa
hành vi của con người phù hợp với quy phạm và chuẩn mực của thiết chế và tuân thủ thiết chế.
Thứ hai, thiết ché xã hội có chức năng ngăn chặn, kiểm soát, giám sát những hành vi lệch lạc.
7.2 Hãy phân loại vị thế?
Dựa vào các tiêu chí khác nhau để phân chia các loại vị thế xã hội
- Dựa vào nguồn gốc tự nhiên và xã hội, chia thành vị thế tự nhiên (vị thế có
sẵn) và vị thế đạt được (giành được)
Vị thế tự nhiên/ vị thế có sẵn: là vị thế cá nhân sinh ra đã có, tự nhiên mà có,
bị chỉ định, bị gán cho bởi những thiên chức, những đặc điểm cơ bản mà cá
nhân không tự kiểm soát hay mong muốn.
Vị thế xã hội/ đạt được: là vị thế phụ thuộc vào những đặc điểm mà cá nhân
hay nhóm người có thể kiểm soát được, nó phụ thuộc vào sự nỗ lực, ý chí
phấn đấu vươn lên của cá nhân để đạt được.
- Dựa vào tính chất, vai trò có vị thế then chốt và vị thế không then chốt:
Vị thế then chốt là vị thế cơ bản có vai trò quyết định đối với các vị thế khác.
Vị thế không then chốt: là vị thế không giữ vai trò chủ đạo trong việc quy định
đặc điểm và hành vi xã hội của cá nhân.
7.3 Mối quan hệ giữa vị thế và vai trò?
- Vai trò phụ thuộc vào vị thế: Vị thế nào thì phải thực hiện vai trò đó, con
người ở vị thế nào thì phải ứng xử theo vị ưí xã hội của họ.
- Một vị thế có thể có nhiều vai trò. Sự biến đổi của vai trò phụ thuộc vào sự
biến đổi của vị xhế. Khi vị thế thay đồi thì vai trò cũng sẽ phải thay đổi theo từng thời gian.
-Vai trò và vị thế thường thống nhất với nhau song đôi khi cũng gặp phải những mâu thuẫn.
Document Outline

  • Vị thế xã hội là gì? Vai trò xã hội là gì? Các thà
    • 1. Tổng quan chung về vị thế xã hội
      • 1.1 Khái niệm vị thế
      • 1.2 Đặc điểm của vị thế
      • 1.3 Những yếu tố cấu thành nên vị thế
    • 2. Tổng quan chung về vai trò xã hội
      • 2.1 Khái niệm vai trò xã hội
      • 2.2 Những nội dung nghiên cứu vai trò xã hội
      • 2.3 Các loại vai trò
    • 3. Phân biệt giữa vị thế và vai trò
    • 4. Nhóm xã hội
      • 4.1. Khái niệm nhóm xã hội
      • 4.2. Phân loại nhóm xã hội
    • 5. Thiết chế xã hội
      • 5.1 Khái niệm thiết chế xã hội
      • 5.2 Các đặc điểm của thiết chế xã hội
      • 5.3 Các loại thiết chế
    • 6. Một số yếu tố cấu thành cơ cấu xã hội
    • 7. Câu hỏi thường gặp về vị thế, thiết chế xã hội
      • 7.1 Chức năng của thiết chế?
      • 7.2 Hãy phân loại vị thế?
      • 7.3 Mối quan hệ giữa vị thế và vai trò?