



















Preview text:
lOMoARcPSD|37858314
Ôn tập CNXH giữa kỳ - đề cương giữa kỳ
Chủ nghĩa xã hội khoa học (Trường Đại học Ngoại thương) Scan to open on Studeersnel
Studocu is not sponsored or endorsed by any college or university
Downloaded by Hà Anh (haanh23042006@gmail.com) lOMoARcPSD|37858314 CNXH GIỮA KỲ
1. Sự khác biệt giữa GCCN xưa và nay? Có ý kiến cho rằng sự khác biệt tiến bộ của GCCN
hiện nay khiến họ không cần phải thực hiện sứ mệnh lịch sử nữa, em có đồng ý không?
● Trước hết cần phân tích khái niệm đặc điểm của GCCN như sau:
Theo Chủ nghĩa Mác-Lênin, GCCN là một tập đoàn xã hội ổn định, hình thành và phát
triển cùng với quá trình phát triển của nền công nghiệp hiện đại; họ lao động bằng
phương thức ngày càng hiện đại gắn với quá trình sản xuất vật chất hiện đại, là đại biểu
cho phương thức sản xuất mang tính xã hội hóa cao. Họ là người làm thuê không có tư
liệu sản xuất, buộc phải bán sức lao động để sống và bị giai cấp tư sản bóc lột giá trị
thặng dư, vì vậy lợi ích cơ bản của họ đối lập với lợi ích cơ bản của GCTS. Đó là giai cấp
có sứ mệnh phủ định chế độ TBCN, xây dựng thành công CNXH và CNCS trên toàn thế giới.
→ Những đặc điểm ấy chính là những phẩm chất cần thiết để GCCN có vai trò lãnh đạo CM.
● Điểm giống nhau giữa GCCN xưa và nay:
- Đều bị GCTS bóc lột giá trị thặng dư trong quá trình sản xuất và làm việc
- Tồn tại mâu thuẫn lợi ích giữa GCCN và GCTS.
- Đều là những người làm thuê và bán sức lao động cho giai cấp tư sản
- Vẫn đang là lực lượng sản xuất hàng đầu của toàn xã hội, là chủ thể của nền SXCN hiện đại.
- Phong trào cộng sản và công nhân ở nhiều nước vẫn luôn là lực lượng đi đầu
trong các cuộc đấu tranh vì hòa bình hợp tác và phát triển.
- Đều mang trong mình sứ mệnh lịch sử đó là xoá bỏ chế độ TBCN, xoá bỏ chế độ
bóc lột con người, giải phóng GCCN, nhân dân lao động và toàn thể nhân loại
khỏi mọi sự áp bức, bóc lột, nghèo nàn lạc hậu, xây dựng xã hội cộng sản dân
chủ, văn minh. → GCCN vẫn đang tiếp tục thực hiện sứ mệnh lịch sử của mình,
giá trị học thuyết lý luận của CN Mác - Lênin vẫn giữ nguyên giá trị cho đến ngày nay.
● Điểm khác biệt giữa GCCN xưa và nay: GCCN thời Các Mác GCCN thời nay
Bị GCTS bóc lột một cách trần trụi
Bị GCTS bóc lột một cách tinh vi hơn
Xuất thân chủ yếu từ nông dân, đặc biệt là Xuất thân đa dạng mọi tầng lớp, từ nông dân đến tri những nông dân nghèo.
thức, mọi thành phần trong xã hội. (thêm 1 số K/N
mới: công nhân tri thức, công nhân áo trắng,..)
Đến từ nông thôn là chủ yếu
Đến từ cả nông thôn và thành thị
Đa số có trình độ thấp như nhau, không
Trình độ cao hơn nhiều (giờ muốn xin việc phải tốt
được học hành tử tế (vì là nông dân nghèo, nghiệp cấp 2 cấp 3, phải có kiến thức cơ bản để vận
Downloaded by Hà Anh (haanh23042006@gmail.com) lOMoARcPSD|37858314
lên thành thị kiếm sống, tiền đâu mà học). hành máy móc. Một số ngành nghề đòi hỏi trình độ cao
Tính chất công việc cũng đơn giản.
lên đến bậc đại học thì còn yêu cầu cao hơn nữa). Do
đó tính chất công việc cũng phức tạp hơn.
Không có nhiều tài sản riêng quý giá, đa
Cuộc sống đầy đủ hơn, ổn định hơn, bắt đầu có tài sản
số đều bị GCTS bóc lột.
riêng, thậm chí còn có tư liệu sản xuất.
Bị bóc lột sức lao động chân tay là chủ
Bị bóc lột về sức lao động và chất xám trong quá trình yếu. làm việc
Lao động chân tay là chủ yếu
Có cả lao động chân tay và lao động trí óc
Có sự đoàn kết và thống nhất chặt chẽ hơn, Sự đoàn kết, thống nhất không được vững chắc. Trình
do họ đều bị bóc lột một cách trần trụi và
độ khác nhau dẫn đến tính chất công việc cũng khác không có gì trong tay cả
nhau. Từ đó một bộ phận GCCN có tài sản riêng (bác
sĩ, kỹ sư) và tự coi mình là tầng lớp trung lưu, không thuộc vào GCCN)
● Sự tiến bộ khác biệt của GCCN hiện nay khiến họ không cần phải thực hiện sứ
mệnh lịch sử nữa, ý kiến đó là sai bởi vì:
Sự vận động và phát triển của thế giới trong ¼ thế kỷ qua chính là bằng chứng chân thực
để phủ nhận ý kiến đó. CNXH hiện thực vẫn luôn tồn tại, phát triển trong sự cải cách, đổi mới;
GCCN vẫn không ngừng phát triển cả về số lượng lẫn chất lượng và khẳng định sứ mệnh lịch sử của họ.
- GCCN ngày nay vẫn có những nét tương đồng nêu trên so với GCCN trên thế giới.
- Về nội dung sứ mệnh lịch sử của GCCN trên thế giới hiện nay: Nội dung kinh tế:
+ GCCN hiện nay vẫn đang tiếp tục thực hiện quá trình SXVC và CN hiện đại,
năng suất chất lượng cao; bảo đảm cho sự phát triển bền vững của xã hội.
+ GCCN hiện nay là nhân tố kinh tế xã hội quan trọng thúc đẩy sự chín muồi các tiền đề của XHCN.
+ Mâu thuẫn lợi ích giữa GCCN và GCTS ngày càng sâu sắc, mặt trái của toàn cầu
hóa với bất công và bất bình đẳng xã hội đã thúc đẩy cuộc đấu tranh chống chế độ
bóc lột GTTD, phấn đấu xác lập trật tự xã hội mới công bằng, bình đẳng.
Nội dung chính trị - xã hội:
+ Các nước tư bản chủ nghĩa: mục tiêu đấu tranh trực tiếp của GCCN và nhân dân
lao động là chống bất công và bất bình đẳng xã hội ( lâu dài; dành CQ về tay GCCN và NDLĐ)
+ Ở các nước XHCN, nơi các Đảng CS giữ vai trò lãnh đạo, sứ mệnh lịch sử: lãnh
đạo thành công sự nghiệp đổi mới, giải quyết thành công nhiệm vụ của thời kỳ quá độ.
Nội dung văn hóa - tư tưởng:
+ Đấu tranh giữa CNXH và CNTB
Downloaded by Hà Anh (haanh23042006@gmail.com) lOMoARcPSD|37858314
+ Củng cố niềm tin cho GCCN: giá trị công bằng, lao động sáng tạo, bình đẳng tự
do, giá trị do nhân loại thừa nhận phấn đấu thực hiện.
+ Thực hiện cuộc đấu tranh, giáo dục nhận thức, củng cố niềm tin khoa học đối với
mục tiêu, lý tưởng của CNXH.
2. Thế là nào một giai cấp mang sứ mệnh lịch sử? Cho những ví dụ cụ thể, chi tiết?. Hãy
nêu trách nhiệm của thanh niên, sinh viên Việt Nam trong việc xây dựng nền dân chủ XHCN?
- Giai cấp mang sứ mệnh lịch sử: Một giai cấp mang sứ mệnh lịch sử là một giai cấp xã
hội được cho là có vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy sự phát triển của xã hội, đặc biệt
là trong các giai đoạn chuyển đổi lịch sử. Giai cấp này thường được tin rằng đại diện cho
những lực lượng sản xuất tiến bộ nhất và có khả năng lãnh đạo các cuộc cách mạng xã hội.
- Đặc điểm của một giai cấp mang sứ mệnh lịch sử:
● Đại diện cho lực lượng sản xuất tiến bộ: Giai cấp này thường gắn liền với các công cụ
sản xuất mới, các quan hệ sản xuất tiên tiến và các hình thức tổ chức xã hội mới.
● Có ý thức về sứ mệnh lịch sử của mình: Thành viên của giai cấp này nhận thức được vai
trò quan trọng của mình trong việc thay đổi xã hội và sẵn sàng đấu tranh để đạt được mục tiêu đó.
● Có khả năng tổ chức và lãnh đạo: Giai cấp này có khả năng tập hợp và tổ chức quần
chúng nhân dân, đưa ra các đường lối, chính sách đúng đắn và lãnh đạo các cuộc đấu tranh cách mạng.
- Từ đặc điểm của Giai cấp mang sứ mệnh lịch sử trên, có thể thấy:
● Trong xã hội có giai cấp, đầu tiên là xã hội chiếm hữu nô lệ, tồn tại mâu thuẫn chủ yếu
chủ nô >< nô lệ - hai giai cấp chính trong xã hội, đồng thời là hai giai cấp đối kháng trực
tiếp với nhau. Tuy nhiên, lịch sử đã lựa chọn một giai cấp khác, đó là giai cấp địa chủ
(lãnh chúa) đó là tầng lớp địa chủ (lãnh chúa) tiến bộ
● Trong xã hội phong kiến, mâu thuẫn chủ yếu là phong kiến >< nông dân. Tuy nhiên, lịch
sử cũng không lựa chọn nông dân làm người đứng lên làm cách mạng, mà lựa chọn
GCTS mà tiền thân là tầng lớp tư sản tiến bộ đương thời.
● Trong thời đại tư bản chủ nghĩa, mặc dù đã đạt được những thành tựu nhất định, tuy
nhiên vẫn còn tồn tại mâu thuẫn. Hai giai cấp chính, chủ yếu, đối lập với nhau và mâu
thuẫn trực tiếp, gay gắt nhất là GCTS >< GCCN.
Sứ mệnh lịch sử của GCCN: GCCN là một tập đoàn xã hội ổn định, hình thành và phát
triển cùng với quá trình phát triển của nền công nghiệp hiện đại; họ lao động bằng
phương thức ngày càng hiện đại gắn với quá trình sản xuất vật chất hiện đại, là đại biểu
cho phương thức sản xuất mang tính xã hội hóa cao. Họ là người làm thuê không có tư
liệu sản xuất, buộc phải bán sức lao động để sống và bị giai cấp tư sản bóc lột giá trị
thặng dư, vì vậy lợi ích cơ bản của họ đối lập với lợi ích cơ bản của GCTS. Đó là giai cấp
có sứ mệnh phủ định chế độ TBCN, xây dựng thành công CNXH và CNCS trên toàn thế giới.
+ Chính trị - xã hội: lật đổ sự thống trị của giai cấp tư sản, thiết lập nhà nước của GCCN và nhân dân lao động.
Downloaded by Hà Anh (haanh23042006@gmail.com) lOMoARcPSD|37858314
+ Kinh tế - xã hội: cải tạo QHSX tư nhân TBCN, xây dựng QHSX mới: quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa.
+ Văn hóa - xã hội: xây dựng nền văn hóa mới trên nền tảng quan hệ tư tưởng chính trị của GCCN.
- Trách nhiệm của sinh viên Việt Nam trong việc xây dựng nền dân chủ XHCN:
Trong bối cảnh thời đại công nghiệp hóa, hiện đại hóa ngày nay, sinh viên Việt Nam là những
tầng lớp trẻ giàu trí thức, nhiệt huyết, nhanh nhạy, là lực lượng nòng cốt trong việc xây dựng và
phát triển đất nước. Để xây dựng một nền dân chủ XHCN cho Việt Nam, sinh viên cần phải:
● Nghiên cứu, học tập và làm chủ khoa học, công nghệ: Để đóng góp vào sự phát triển
kinh tế - xã hội của đất nước, thanh niên, sinh viên cần không ngừng học hỏi và nâng cao kiến thức.
● Sáng tạo, đổi mới: Các bạn cần có tinh thần đổi mới, dám nghĩ dám làm để tìm ra những
giải pháp mới cho các vấn đề của xã hội.
● Tham gia các hoạt động xã hội: Tích cực tham gia các hoạt động tình nguyện, các
phong trào thanh niên để rèn luyện kỹ năng sống, góp phần xây dựng cộng đồng.
● Bảo vệ tổ quốc: Luôn sẵn sàng bảo vệ Tổ quốc, giữ gìn truyền thống văn hóa dân tộc.
● Nâng cao ý thức trách nhiệm công dân: Thực hiện tốt các nghĩa vụ của công dân, tuân
thủ pháp luật, sống có đạo đức.
● Nâng cao bản lĩnh chính trị: Hiểu rõ đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước, có
bản lĩnh chính trị vững vàng để không bị các thế lực thù địch lợi dụng.
● Rèn luyện phẩm chất đạo đức: Có lối sống lành mạnh, giản dị, trung thực, đoàn kết.
● Học hỏi kinh nghiệm của thế hệ đi trước: Tiếp thu những kinh nghiệm quý báu của các
thế hệ đi trước để rút ra bài học cho bản thân.
3. Tại sao nói Đảng là nhân tố tiên quyết quan trọng gì đó cho việc thực hiện thắng lợi sứ
mệnh lịch sử của gc công nhân. Liên hệ Việt Nam
Đảng cộng sản là nhân tố chủ quan quan trọng nhất để GCCN thực hiện thắng lợi
sứ mệnh lịch sử của mình vì:
+ Đảng cộng sản là lãnh tụ chính trị, là hình thức tổ chức cao nhất, bộ phận tiên tiến nhất
của GCCN, đại biểu trung thành cho lợi ích của GCCN và NDLĐ, lấy CN Mác-lênin làm
Downloaded by Hà Anh (haanh23042006@gmail.com) lOMoARcPSD|37858314
nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động, lấy nguyên tắc tập trung dân chủ làm
nguyên tắc tổ chức cơ bản.
+ ĐCS là sản phẩm của sự kết hợp giữa CNXHKH (chủ nghĩa Mác-Lênin nói chung) với
phong trào công nhân. Sự ra đời của ĐCS là một tất yếu lịch sử của phong trào đấu tranh
GCCN. Khi lý luận khoa học và cách mạng của CN Mác thâm nhập vào thực tiễn phong
trào công nhân thì đã được một bộ phân công nhân tiên tiến tiếp thu. Từ đó bộ phận này
đã thành lập ra ĐCS. Ta cũng có thể nói rằng, ĐCS là một bộ phận của GCCN. Và điều
này đã trở thành một quy luật chung cho sự ra đời của ĐCS trên nhiều nước thế giới.
+ GCCN là cơ sở xã hội của đảng cộng sản, là nguồn bổ sung lực lượng phong phú cho
đảng cộng sản. Những đảng viên của đảng là những người công nhân giác ngộ lý tưởng
cách mạng, được trang bị lý luận cách mạng, tự giác gia nhập đảng và được các tổ chức
chính trị - xã hội của GCCN giới thiệu cho đảng. Sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản cũng
chính là sự lãnh đạo của GCCN. GCCN thực hiện vai trò lãnh đạo của mình thông qua Đảng Cộng sản.
+ Đảng Cộng sản đóng một vai trò quan trọng nhất để GCCN thực hiện thắng lợi sứ mệnh
lịch sử của chính mình vì:
- Nhờ có Đảng Cộng sản mà bản chất mục đích của phong trào công nhân được thay đổi phù hợp
hơn Trên thực tế, phong trào công nhân đã nhiều lần nổ ra khi chủ nghĩa tư bản hình thành và
phát triển. Ban đầu công nhân đứng lên đấu tranh chỉ vì mục đích như: tăng lương, giảm giờ làm,
nâng cao điều kiện lao động,... Mặc dù phong trào công nhân có thể phát triển về số lượng, quy
mô đấu tranh có thể được mở rộng nhưng cuối cùng đều bị thất bại vì thiếu một lý luận khoa học
và cách mạng soi đường. Khi nào GCCN tiếp thu lý luận khoa học và cách mạng thì lúc đó
phong trào đấu tranh của giai cấp này mới trở thành phong trào mang tính chất chính trị với mục
đích là giành lại độc lập chính quyền.
-Đảng Cộng sản làm thay đổi hình thức đấu tranh của phong trào công nhân từ đấu tranh tự phát
thành tự giác. Những cuộc đấu tranh đầu tiên của GCCN nổ ra dưới nhiều hình thức khác nhau
như: đình công, biểu tình, đập phá máy móc,... Các phong trào này diễn ra với quy mô nhỏ,
không có tổ chức và đường lối chiến lược rõ ràng. Nhưng từ khi phong trào công nhân được đặt
dưới sự lãnh đạo của Đảng, được Đảng vạch ra đường lối, đề ra cương lĩnh đấu tranh cách mạng
thì hình thức đấu tranh của GCCN có sự thay đổi lớn. Họ biết kết hợp đấu tranh chính trị với đấu
Downloaded by Hà Anh (haanh23042006@gmail.com) lOMoARcPSD|37858314
tranh vũ trang, phong trào diễn ra với quy mô lớn hơn, công nhân biết hoạt động một cách có tổ
chức và đoàn kết chặt chẽ với nhau.
-Đảng đóng vai trò là lãnh tụ chính trị Đ
⇒ ảng cộng sản là tập hợp đội ngũ những người ưu tú nhất trong GCCN và các quần chúng lao
động khác. Đó là tập hợp đội ngũ những người có trình độ nhận thức chính trị, học vấn, chuyên
môn cao; lập trường giai cấp vững vàng; những người tiên tiến trong GCCN, được trang bị lý
luận khoa học, cách mạng và là những người được tôi luyện từ trong thực tiễn phong trào cách mạng.
-Đảng cộng sản trở thành bộ tham mưu chiến đấu của GCCN Đ
⇒ ảng cộng sản là đại biểu trung thành cho quyền lợi, ý chí, nguyện vọng của không chỉ GCCN
mà còn cho đại đa số quần chúng lao động khác (bao gồm cả giai cấp nông dân và các tầng lớp
lao động khác), nhờ đó, Đảng có thể tập hợp, giác ngộ, huy động được quần chúng tham gia các phong trào cách mạng.
-Đảng cộng sản là hạt nhân quy tụ lực lượng cách mạng, xây dựng khối liên m ⇒ inh giữa các lực
lượng cách mạng. Đảng trở thành đội tiên phong chiến đấu, lãnh tụ chính trị và bộ tham mưu chiến đấu của GCCN.
Liên hệ thực tiễn với Việt Nam
● Giai đoạn trước năm 1930 (Đảng chưa ra đời):
+Đặc biệt vào năm 1925: cuộc bãi công của thợ máy sửa chữa tàu thuỷ của xưởng Ba Son (Sài
Gòn) đã ngăn không cho tàu Pháp đưa lính sang tham gia đàn áp cuộc đấu tranh cách mạng của
nhân dân Trung Quốc và các thuộc địa Pháp ở Châu Phi.
+Trong hai năm 1926 - 1927: ở nước ta đã liên tiếp nổ ra nhiều cuộc bãi công: cuộc bãi công của
1000 công nhân nhà máy sợi Nam Định, của 500 công nhân đồn điền cao su Cam Tiêm, tiếp đến
là bãi công của công nhân đồn điền cà phê Rayna
+Trong hai năm 1928 - 1929: có khoảng 40 cuộc bãi công của công nhân nổ ra từ Bắc chí Nam.
Tiêu biểu là: bãi công của công nhân nổ ra ở mỏ than Mạo Khê, nhà máy nước đá La - ruy (Sài
Gòn), đồn điền Lộc Ninh, nhà máy cưa Bến Thuỷ, nhà máy xi măng Hải Phòng,...
Downloaded by Hà Anh (haanh23042006@gmail.com) lOMoARcPSD|37858314
+Ở Bắc kì giai đoạn này phong trào công nhân cũng diễn ra mạnh mẽ. Đặc biệt là phong trào
công nhân đấu tranh trong ngành đường sắt Cá
⇒ c cuộc đấu tranh của công nhân ở giai đoạn này còn phụ thuộc vào phong trào yêu nước
song dần dần đã xuất hiện các cuộc đấu tranh riêng lẻ và bước đầu đã có lãnh đạo, có tổ chức.
Các cuộc đấu tranh đã có sự phối hợp và có sự lãnh đạo khá chặt chẽ, khẩu hiệu đấu tranh được
nâng lên. Phong trào đấu tranh với nhiều hình thức, ngoài mục tiêu kinh tế, phong trào thời kỳ
này mang hình thức đấu tranh chính trị, mang tính tự giác.
● Giai đoạn sau 1930 (Đảng ra đời):
+1930 - 1931: Cuộc diễn tập lần I. Trong Cao trào cách mạng 1930-1931, trí thức đã sát cánh
cùng công - nông trong các cuộc đấu tranh. Điển hình là sự tham gia của thanh niên, học sinh các
trường học, các phong trào đấu tranh của công - nông Nghệ Tĩnh.
+1936 - 1939: cuộc diễn tập lần thứ II, chuẩn bị cho Tổng khởi nghĩa tháng Tám năm
1945+1939 - 1945: tất cả nhiệm vụ tập trung vào mục đích cao nhất là giải phóng dân tộc; thành
lập Mặt trận Việt Minh; Đảng thực hiện chủ trương “phá kho thóc của người Nhật”; Cách mạng
tháng 8 thành công miền Bắc hoàn thành cuộc cách mạng.
+1953 - 1954: Đảng đề ra đường lối chiến tranh nhân dân “toàn dân kháng chiến”, “trường kỳ
kháng chiến”; chiến dịch Điện Biên Phủ thành công, miền Bắc hoàn toàn độc lập tiến lên xây dựng xã hội chủ nghĩa.
+1954 - 1975: miền Nam thực hiện cuộc cách mạng giải phóng dân tộc và chống Mỹ, độc lập
thống nhất toàn vẹn lãnh thổ
+1975 - nay: Đảng ta tập trung lãnh đạo đẩy mạnh công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đưa
nước ta phát triển nhanh, bền vững và sớm đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại.
⇒Từ khi ra đời đến nay, Đảng cộng sản Việt Nam đã thể hiện vai trò nhân tố chủ quan hàng đầu
đảm bảo cho cuộc cách mạng của GCCN Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác, từ
hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân đến công cuộc xây dựng đất nước theo định
hướng XHCN vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh.
5. So sánh bản chất của hình thức nhà nước XHCN so với các hình thức nhà nước trước
đó. Liên hệ với việc xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN ở Việt Nam.
Downloaded by Hà Anh (haanh23042006@gmail.com) lOMoARcPSD|37858314
Bản chất của hình thức nhà nước XHCN
Nhà nước xã hội chủ nghĩa (XHCN) được coi là một bước tiến mới trong quá trình phát triển của
xã hội loài người, với những đặc trưng cơ bản sau:
● Bản chất giai cấp: Nhà nước XHCN mang bản chất của giai cấp công nhân, đại diện cho
lợi ích của đa số nhân dân lao động.
● Mục tiêu: Xây dựng một xã hội công bằng, dân chủ, trong đó mọi người được hưởng
cuộc sống ấm no, hạnh phúc.
● Phương thức tổ chức: Dựa trên nguyên tắc dân chủ xã hội chủ nghĩa, quyền lực thuộc về nhân dân.
● Quan hệ giữa nhà nước và xã hội: Nhà nước XHCN là công cụ để nhân dân thực hiện
quyền làm chủ, phục vụ lợi ích của nhân dân.
So sánh với các hình thức nhà nước trước đó
● Nhà nước tư bản chủ nghĩa: Khác với nhà nước tư bản, nơi quyền lực tập trung vào tay
giai cấp tư sản và phục vụ lợi ích của họ, nhà nước XHCN đặt lợi ích của nhân dân lên hàng đầu.
● Nhà nước phong kiến: Nhà nước phong kiến có tính chất giai cấp, tập quyền, và dựa trên
sự bóc lột của giai cấp thống trị đối với nông dân. Nhà nước XHCN hoàn toàn đối lập với mô hình này.
Liên hệ với việc xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN ở Việt Nam
Việt Nam đã lựa chọn con đường xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN. Điều này có nghĩa là:
● Nhà nước của dân, do dân, vì dân: Quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân, được thực
hiện bằng các hình thức dân chủ.
● Nhà nước pháp quyền: Mọi hoạt động của nhà nước đều phải tuân theo pháp luật, không
ai được vượt lên trên pháp luật.
● Xây dựng xã hội công bằng, dân chủ, văn minh: Mục tiêu cuối cùng là xây dựng một xã
hội mà ở đó mọi người được bình đẳng trước pháp luật, được hưởng đầy đủ các quyền tự do dân chủ.
Để xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN ở Việt Nam, chúng ta cần:
- Hoàn thiện hệ thống pháp luật: Xây dựng một hệ thống pháp luật hoàn chỉnh, chặt chẽ,
phù hợp với thực tiễn đất nước.
- Nâng cao ý thức chấp hành pháp luật: Tuyên truyền, giáo dục để mọi người hiểu rõ và chấp hành pháp luật.
- Chống tham nhũng, lãng phí: Xây dựng một chính quyền trong sạch, vững mạnh.
- Bảo vệ quyền con người: Bảo đảm quyền tự do, dân chủ của công dân.
6. Phân tích đặc điểm sau theo quan điểm của Mac Lenin: "CNXH do nhân dân làm chủ,
có nền kinh tế phát triển cao dựa trên LLSX hiện đại và chế độ về công hữu TLSX chủ
yếu". Liên hệ với Việt Nam trong quá trình xây dựng CNXH.
Downloaded by Hà Anh (haanh23042006@gmail.com) lOMoARcPSD|37858314 Cụ thể:
Câu nói trên đã giải thích những đặc điểm cơ bản, chủ yếu của chủ nghĩa xã hội.
Trước hết, Các Mác khẳng định “CNXH do nhân dân làm chủ"
➔ Đây là đặc trưng thể hiê ̣n thuô ̣c tính bản chất của chủ nghĩa xã hô ̣i, xã hô ̣i vì con người
và do con người; nhân dân mà nòng cốt là nhân dân lao đô ̣ng là chủ thể của xã hô ̣i thực
hiê ̣n quyền làm chủ ngày càng rô ̣ng rãi và đầy đủ trong quá trình cải tạo xã hô ̣i cũ, xây dựng xã hô ̣i mới.
- Chủ nghĩa xã hô ̣i là mô ̣t chế đô ̣ chính trị dân chủ, nhà nước xã hô ̣i chủ nghĩa với hê ̣ thống
pháp luâ ̣t và hê ̣ thống tổ chức ngày càng ngày càng hoàn thiê ̣n sẽ quản lý xã hô ̣i ngày
càng hiê ̣u quả. C.Mác và Ph.Ăngghen đã chỉ rõ: “… bước thứ nhất trong cách mạng công
nhân là giai cấp vô sản biến thành giai cấp thống trị là giành lấy dân chủ”1. V.I.Lênin, từ
thực tiễn xây dựng chủ nghĩa xã hô ̣i ở nước Nga Xô viết đã coi chính quyền Xô viết là
mô ̣t kiểu Nhà nước chuyên chính vô sản, mô ̣t chế đô ̣ dân chủ ưu viê ̣t gấp triê ̣u lần so với
chế đô ̣ dân chủ tư sản: “Chế đô ̣ dân chủ vô sản so với bất kỳ chế đô ̣ dân chủ tư sản nào
cũng dân chủ hơn gấp triê ̣u lần; chính quyền Xô viết so với nước cô ̣ng hoà dân chủ nhất
thì cũng gấp triê ̣u lần”2.
Thứ hai, Các Mác khẳng định: “chủ nghĩa xã hội có nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực
lượng sản xuất hiê ̣n đại và chế độ công hữu về tư liê ̣u sản xuất chủ yếu”
Đây là đặc trưng về phương diê ̣n kinh tế của chủ nghĩa xã hô ̣i. Mục tiêu cao nhất của chủ nghĩa
xã hô ̣i là giải phóng con người trên cơ sở điều kiê ̣n kinh tế - xã hô ̣i phát triển, mà xét đến cùng
là trình đô ̣ phát triển cao của lực lượng sản xuất. Chủ nghĩa xã hô ̣i là xã hô ̣i có nền kinh tế phát
triển cao, với lực lượng sản xuất hiê ̣n đại, quan hê ̣ sản xuất dựa trên chế đô ̣ công hữu về tư liê ̣u
sản xuất, được tổ chức quản lý có hiê ̣u quả, năng suất lao đô ̣ng cao và phân phối chủ yếu theo lao
đô ̣ng. V.I.Lênin cho rằng: “từ chủ nghĩa tư bản, nhân loại chỉ có thể tiến thẳng lên chủ nghĩa xã
hô ̣i, nghĩa là chế đô ̣ công hữu về các tư liê ̣u sản xuất và chế đô ̣ phân phối theo lao đô ̣ng của mỗi người”3.
Tuy nhiên, trong giai đoạn đầu của xã hô ̣i cô ̣ng sản chủ nghĩa, chủ nghĩa xã hô ̣i, theo
Ph.Ăngghen không thể ngay lâ ̣p tức thủ tiêu chế đô ̣ tư hữu. Trả lời câu hỏi: Liê ̣u có thể thủ tiêu
chế đô ̣ tư hữu ngay lâ ̣p tức được không? Ph.Ăngghen dứt khoát cho rằng: “Không, không thể
được cũng y như không thể làm cho lực lượng sản xuất hiê ̣n có tăng lên ngay lâ ̣p tức đến mức
cần thiết để xây dựng nền kinh tế công hữu. Cho nên cuô ̣c cách mạng của giai cấp vô sản đang
có tất cả những triê ̣u chứng là sắp nổ ra, sẽ chỉ có thể cải tạo xã hô ̣i hiê ̣n nay mô ̣t cách dần dần,
và chỉ khi nào đã tạo nên mô ̣t khối lượng tư liê ̣u cần thiết cho viê ̣c cải tạo đó là khi ấy mới thủ
tiêu được chế đô ̣ tư hữu”4.
Cùng với viê ̣c từng bước xác lâ ̣p chế đô ̣ công hữu về tư liê ̣u sản xuất, để nâng cao năng suất lao
đô ̣ng cần phải tổ chức lao đô ̣ng theo mô ̣t trình đô ̣ cao hơn, tổ chức chặt chẽ và kỷ luâ ̣t lao đô ̣ng
nghiêm., nghĩa là phải tạo ra quan hê ̣ sản xuất tiến bô ̣, thích ứng với trình đô ̣ phát triển của lực
Downloaded by Hà Anh (haanh23042006@gmail.com) lOMoARcPSD|37858314
lượng sản xuất. V.I. Lê ̣nin cho rằng: “thiết lâ ̣p mô ̣t chế đô ̣ xã hô ̣i cao hơn chủ nghĩa tư bản,
nghĩa là nâng cao năng suất lao đô ̣ng và do đó (và nhằm mục đích đó) phải tổ chức lao đô ̣ng theo
mô ̣t trình đô ̣ cao hơn”5. Đối với những nước chưa trải qua chủ nghĩa tư bản di lên chủ nghĩa xã
hô ̣i, để phát triển lực lượng sản xuất , nâng cao năng suất lao đô ̣ng, V.I.Lênin chỉ rõ tất yếu phải
“bắc những chiếc cầu nhỏ vững chắc” xuyên qua chủ nghĩa tư bản nhà nước: “Trong mô ̣t nước
tiểu nông, trước hết các đồng chí phải bắc những chiếc cầu nhỏ vững chắc, đi xuyên qua chủ
nghĩa tư bản nhà nước, tiến lên chủ nghĩa xã hô ̣i”1. “dưới chính quyền xô- viết thì chủ nghĩa tư
bản nhà nước sẽ có thể là ¾ chủ nghĩa xã hô ̣i”2. Đồng thời, V.I.Lênin chỉ rõ, những nước chưa
trải qua chủ nghĩa tư bản di lên chủ nghĩa xã hô ̣i cần thiết phải học hỏi kinh nghiê ̣m tử các nước
phát triển theo cách thức: “Dùng cả hai tay mà lấy những cái tốt của nước ngoài: Chính quyền
xô-viết + trâ ̣t tự ở đường sắt Phổ + kỹ thuâ ̣t và cách tổ chức các tơ-rớt ở Mỹ + ngành giáo dục
quốc dân Mỹ etc. etc. + + = ∑ (tổng số) = chủ nghĩa xã hô ̣i”.
Ngày nay, chủ nghĩa tư bản hiện đại bước sang giai đoạn mới là chủ nghĩa tư bản toàn cầu hóa,
có nhiều thành tựu trong giải phóng, phát triển lực lượng sản xuất, phát triển khoa học và công
nghệ, nên đã đạt được năng suất lao động cao. Song, chủ nghĩa tư bản vẫn không thể khắc phục
được những mâu thuẫn cơ bản vốn có của nó; các cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội, các tệ nạn
xã hội, nhất là khi đại dịch COVID-19 diễn ra lại càng làm bộc lộ rõ bản chất chế độ chính trị -
xã hội của các nước này không vì sức khỏe, hạnh phúc của đại đa số nhân dân lao động. Các
phong trào đấu tranh phản kháng xã hội đã bùng nổ mạnh mẽ, với những nội dung và hình thức
mới ở nhiều nước tư Từ những nội dung đã phân tích, chúng ta liên hệ quá trình xây dựng xã hội
chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay như sau: ● Phương hướng:
- Đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, gắn với phát triển tri thức, bảo vệ tài nguyên môi trường.
- Phát triển kinh tế thị trường, xã hội chủ nghĩa.
- Xây dựng nền văn hoá VN tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.
- Xây dựng con người, nâng cao đời sống nhân dân, thực hiện tiến bộ công bằng xã hội.
- Đảm bảo vững chắc quốc phòng và an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội.
- Thực hiện đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, hoà bình hữu nghị hợp tác và phát triển,
chủ động tích cực hội nhập quốc tế.
- Xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, thực hiện đoàn kết đại dân tộc, tăng cường mở
rộng mặt trận dân tộc thống nhất.
- Xây dựng nhà nước pháp quyền, xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân.
- Xây dựng Đảng trong sạch vững mạnh
bản phát triển trong thời gian qua, càng làm bộc lộ rõ sự thật về những mâu thuẫn mang tính bản
chất không thể hóa giải của chế độ tư bản chủ nghĩa.
Downloaded by Hà Anh (haanh23042006@gmail.com) lOMoARcPSD|37858314
Công cuộc đổi mới, kết hợp phát huy sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại cùng các nguồn
lực khác, như phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, chuyển đổi cơ cấu
sản xuất theo hướng đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và chủ động, tích cực tăng cường
hợp tác, mở rộng hội nhập quốc tế đã đem lại những thay đổi to lớn, thành tựu có ý nghĩa lịch sử
cho đất nước trong 35 năm thực hiện đường lối đổi mới. Đại hội XIII của Đảng đã khẳng định:
“Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”…
Việt Nam kiên định đi theo con đường xã hội chủ nghĩa, là một hình mẫu đặc thù của chủ nghĩa
xã hội với điểm xuất phát thấp và phải gánh chịu hậu quả chiến tranh nặng nề. Mỗi nhiệm kỳ đại
hội của Đảng là một chặng đường, xác định đúng mục tiêu, nhiệm vụ và kết quả đạt được của
nhiệm kỳ trước tạo tiền đề phát triển cho nhiệm kỳ sau. Những thành tựu to lớn ấy có được là do
sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng - nhân tố hàng đầu quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam.
Đại hội XIII của Đảng xác định tầm nhìn và định hướng phát triển đất nước trong những mốc lịch sử quan trọng:
Một là, đến năm 2025, kỷ niệm 50 năm giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước,
Việt Nam phấn đấu trở thành nước đang phát triển, có công nghiệp theo hướng hiện đại, vượt
qua mức thu nhập trung bình thấp. Đảng ta đã đề ra các chỉ tiêu chủ yếu về phát triển kinh tế - xã
hội 5 năm 2021 - 2025, trong đó: “Tốc độ tăng trưởng GDP bình quân 5 năm đạt khoảng 6,5 -
7%/năm. Đến năm 2025, GDP bình quân đầu người khoảng 4.700 - 5.000 USD”(4).
Hai là, đến năm 2030, kỷ niệm 100 năm thành lập Đảng, Việt Nam trở thành nước đang phát
triển, có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao. Định hướng phát triển đất nước giai đoạn
2021 - 2030, Đảng ta xác định 12 định hướng trên các lĩnh vực của đời sống xã hội, trong đó về
lĩnh vực kinh tế là: “Bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô, đổi mới mạnh mẽ mô hình tăng trưởng…;
nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế”(5).
Ba là, đến năm 2045, kỷ niệm 100 năm thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nay là
nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Việt Nam trở thành nước phát triển, thu nhập cao:
“Khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc, phát huy ý chí và sức mạnh đại
đoàn kết toàn dân tộc kết hợp với sức mạnh thời đại; đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi
mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa; xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc, giữ vững môi
trường hòa bình, ổn định; phấn đấu đến giữa thế kỷ XXI, nước ta trở thành một nước phát triển,
theo định hướng xã hội chủ nghĩa”(6).
Hiện nay, chúng ta đang ở chặng đường “đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” và
phấn đấu trở thành “nước phát triển, thu nhập cao”, thực hiện nhiệm vụ xây dựng cơ sở vật chất
kỹ thuật hiện đại cho chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Đó vừa là tính phổ biến, vừa mang tính đặc
thù của quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở một nước có điểm xuất phát thấp từ nền sản xuất lạc hậu như Việt Nam.
Downloaded by Hà Anh (haanh23042006@gmail.com) lOMoARcPSD|37858314
Đảng ta đã khẳng định: “Tình hình thế giới và trong nước có cả thuận lợi, thời cơ và khó khăn,
thách thức đan xen, đặt ra nhiều vấn đề mới, yêu cầu mới nặng nề, phức tạp hơn đối với sự
nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đòi hỏi toàn Đảng phải tiếp tục đổi mới mạnh mẽ tư duy, có
quyết tâm chính trị cao… đưa đất nước vững bước tiến lên, phát triển nhanh và bền vững”(7).
Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng cho rằng, điều hết sức quan trọng là phải luôn luôn kiên định và
vững vàng trên nền tảng tư tưởng lý luận của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh,
bám sát thực tiễn của đất nước để làm rõ tính đặc thù của con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở
Việt Nam. Chúng ta cần tiếp thu, bổ sung một cách có chọn lọc trên tinh thần phê phán và sáng
tạo những thành tựu mới nhất về tư tưởng và khoa học để chủ nghĩa, học thuyết của chúng ta
luôn luôn tươi mới, luôn luôn được tiếp thêm sinh lực mới, mang hơi thở của thời đại, không rơi
vào xơ cứng, trì trệ, lạc hậu so với cuộc sống.
7. Phân tích đặc trưng của Chủ nghĩa xã hội. Là 1 sinh viên, em cần phải làm gì để đóng
góp cho công cuộc xây dựng đất nước trong bối cảnh hội nhập quốc tế hiện nay.
Trước hết, cùng phân tích những đặc trưng bản chất của chủ nghĩa xã hội như sau:
Một là: chủ nghĩa xã hội giải phóng giai cấp, giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội, giải phóng
con người, tạo điều kiê ̣n để con người phát triển toàn diê ̣n. => Tổng quát
Hình thái XHCN khác với các hình thái xã hội đời trước là nó thể hiện ở bản chất nhân
văn, nhân đạo, vì sự nghiệp giải phóng giai cấp, giải phóng xã hội và cao nhất là giải phóng con người.
V.I.Lênin, trong điều kiê ̣n mới của đời sống chính trị - xã hô ̣i thế giới đầu thế kỷ XX, đồng thời
từ thực tiễn của công cuô ̣c xây dựng chủ nghĩa xã hô ̣i ở nước Nga xô - viết đã cho rằng, mục
đích cao nhất, cuối cùng của những cải tạo xã hô ̣i chủ nghĩa là thực hiê ̣n nguyên tắc: làm theo
năng lực, hưởng theo nhu cầu.
V.I.Lênin cũng khẳng định mục đích cao cả của chủ nghĩa xã hô ̣i cần đạt đến là xóa bỏ sự phân
chia xã hô ̣i thành giai cấp, biến tất cả thành viên trong xã hô ̣i thành người lao đô ̣ng, tiêu diê ̣t cơ
sở của mọi tình trạng người bóc lô ̣t người. V.I.Lênin còn chỉ rõ trong quá trình phấn đấu để đạt
mục đích cao cả đó, giai cấp công nhân, chính Đảng Cô ̣ng sản phải hoàn thành nhiều nhiê ̣m vụ
của các giai đoạn khác nhau, trong đó có mục đích, nhiê ̣m vụ cụ thể của thời kỳ xây dựng chủ
nghĩa xã hô ̣i - tạo ra các điều kiê ̣n về cơ sở vâ ̣t chất - kỹ thuâ ̣t và đời sống tinh thần để thiết lâ ̣p xã hô ̣i cô ̣ng sản.
Hai là, chủ nghĩa xã hội có nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và
chế độ công hữu về các chế độ sản xuất tư liệu chủ yếu => Kinh tế
Đây là đặc trưng về phương diê ̣n kinh tế của chủ nghĩa xã hô ̣i. Mục tiêu cao nhất của chủ nghĩa
xã hô ̣i là giải phóng con người trên cơ sở điều kiê ̣n kinh tế - xã hô ̣i phát triển, mà xét đến cùng
là trình đô ̣ phát triển cao của lực lượng sản xuất.
Chủ nghĩa xã hô ̣i là xã hô ̣i có nền kinh tế phát triển cao, với lực lượng sản xuất hiê ̣n đại, quan hê ̣
sản xuất dựa trên chế đô ̣ công hữu về tư liê ̣u sản xuất, được tổ chức quản lý có hiê ̣u quả, năng
Downloaded by Hà Anh (haanh23042006@gmail.com) lOMoARcPSD|37858314
suất lao đô ̣ng cao và phân phối chủ yếu theo lao đô ̣ng. V.I.Lênin cho rằng: “từ chủ nghĩa tư bản,
nhân loại chỉ có thể tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hô ̣i, nghĩa là chế đô ̣ công hữu về các tư liê ̣u sản
xuất và chế đô ̣ phân phối theo lao đô ̣ng của mỗi người”3.
Ba là, chủ nghĩa xã hội là xã hội do nhân dân lao động làm chủ. => Chính trị
Đây là đặc trưng thể hiê ̣n thuô ̣c tính bản chất của chủ nghĩa xã hô ̣i, xã hô ̣i vì con người và do con
người; nhân dân mà nòng cốt là nhân dân lao đô ̣ng là chủ thể của xã hô ̣i thực hiê ̣n quyền làm
chủ ngày càng rô ̣ng rãi và đầy đủ trong quá trình cải tạo xã hô ̣i cũ, xây dựng xã hô ̣i mới.
Chủ nghĩa xã hô ̣i là mô ̣t chế đô ̣ chính trị dân chủ, nhà nước xã hô ̣i chủ nghĩa với hê ̣ thống pháp
luâ ̣t và hê ̣ thống tổ chức ngày càng ngày càng hoàn thiê ̣n sẽ quản lý xã hô ̣i ngày càng hiê ̣u quả.
Bốn là, chủ nghĩa xã hội có nhà nước kiểu mới mang bản chất giai cấp công nhân, đại biểu cho
lợi ích, quyền lực và ý chí của nhân dân lao động. => Chính quyền
Các nhà sáng lâ ̣p chủ nghĩa xã hô ̣i khoa học đã khẳng định trong chủ nghĩa xã hô ̣i phải thiết lâ ̣p
nhà nước chuyên chính vô sản, nhà nước kiểu mới mang bản chất của giai cấp công nhân, đại
biểu cho lợi ích, quyền lực và ý chí của nhân dân lao đô ̣ng.
Theo V.I.Lênin, chuyên chính cách mạng của giai cấp vô sản là mô ̣t chính quyền do giai cấp vô
sản giành được và duy trì bằng bạo lực đối với giai cấp tư sản. Chính quyền đó chính là nhà
nước kiểu mới thực hiê ̣n dân chủ cho tuyê ̣t đại đa số nhân dân và trấn áp bằng vũ lực bọn bóc lô ̣t,
bọn áp bức nhân dân, thực chất của sự biến đổi của chế đô ̣ dân chủ trong thời kỳ quá đô ̣ từ chủ
nghĩa tư bản lên chủ nghĩa cô ̣ng sản
Năm là, chủ nghĩa xã hội có nền văn hóa phát triển cao, kế thừa và phát huy những giá trị của
văn hóa dân tộc và tinh hoa văn nhân loại. => Văn hoá
Tính ưu viê ̣t, sự ổn định và phát triển của chế đô ̣ xã hô ̣i chủ nghĩa không chỉ thể hiê ̣n ở lĩnh vực
kinh tế, chính trị mà còn ở lĩnh vực văn hóa - tinh thần của xã hô ̣i.
Trong chủ nghĩa xã hô ̣i, văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hô ̣i, mục tiêu, đô ̣ng lực của phát
triển xã hô ̣i, trọng tâm là phát triển kinh tế; văn hóa đã hun đúc nên tâm hồn, khí phách, bản lĩnh
con người, biến con người thành con người chân, thiê ̣n mỹ.
Đồng thời, V. I. Lênin cũng cho rằng, trong xã hô ̣i xã hô ̣i chủ nghĩa, những người cô ̣ng sản sẽ
làm giàu tri thức của mình bằng tổng hợp các tri thức, văn hóa mà loài người đã tạo ra: “Người ta
chỉ có thể trở thành người cô ̣ng sản khi biết làm giàu trí óc của mình bằng sự hiểu biết tất cả
những kho tàng tri thức mà nhân loại đã tạo ra”2. Do vâ ̣y, quá trình xây dựng nền văn hóa xã hô ̣i
chủ nghĩa phải biết kế thừa những giá trị văn hóa dân tô ̣c và tinh hoa văn nhân loại, đồng thời,
cần chống tư tưởng, văn hóa phi vô sản, trái với những giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tô ̣c và
của loài người, trái với phương hướng đi lên chủ nghĩa xã hô ̣i.
Thứ sáu, chủ nghĩa xã hội bảo đảm bình đẳng, đoàn kết giữa các dân tộc và có quan hê ̣ hữu nghị,
hợp tác với nhân dân các nước trên thế giới.
Downloaded by Hà Anh (haanh23042006@gmail.com) lOMoARcPSD|37858314
=> Mối quan hệ quốc tế
Vấn đề giai cấp và dân tô ̣c, xây dựng mô ̣t cô ̣ng đồng dân tô ̣c, giai cấp bình đẳng, đoàn kết, hợp
tác, hữu nghị với nhân dân các nước trên thế giới luôn có vị trí đặc biê ̣t quan trọng trong hoạch
định và thực thi chiến lược phát triển của mỗi dân tô ̣c và mỗi quốc gia.
Theo quan điểm của các nhà sáng lâ ̣p ra chủ nghĩa xã hô ̣i khoa học, vấn đề giai cấp và dân tô ̣c
có quan hê ̣ biê ̣n chứng, bởi vâ ̣y, giải quyết vấn đề dân tô ̣c, giai cấp trong chủ nghĩa xã hô ̣i có vị
trí đặc biê ̣t quan trọng và phải tuân thủ nguyên tắc: “xóa bỏ tình trạng người bóc lôt người thì
tình trạng dân tô ̣c này bóc lô ̣t dân tô ̣c khác cũng bị xóa bỏ”3
Bảo đảm bình đẳng, đoàn kết giữa các dân tô ̣c và có quan hê ̣ hợp tác, hữu nghị với nhân dân tất
cả các nước trên thế giới, chủ nghĩa xã hô ̣i mở rô ̣ng được ảnh hưởng và góp phần tích cực vào
cuô ̣c đấu tranh chung của nhân dân thế giới vì hòa bình, đô ̣c lâ ̣p dân tô ̣c, dân chủ và tiến bô ̣ xã hô ̣i.
Từ những nội dung vừa phân tích, sau đây là những việc làm của sinh viên để đóng góp cho công
cuộc xây dựng đất nước trong bối cảnh hội nhập quốc tế hiện nay.
Sinh viên là lực lượng kế tục, phát huy nguồn trí tuệ nước nhà, là nguồn lực chủ yếu trong thời
đại kinh tế tri thức, khoa học công nghệ, đóng vai trò then chốt trong phát triển đất nước, là lực
lượng to lớn trong việc giữ gìn và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta hiện nay.
Trong bất cứ giai đoạn lịch sử nào, thanh niên, sinh viên cũng là lực lượng xã hội quan trọng,
một trong những nhân tố quyết định tương lai,xây dựng và bảo vệ tổ quốc. Không có thanh niên,
các nhiệm vụ trọng đại của đất nước thật khó hoàn thành.
Kế thừa những giá trị của Chủ nghĩa Mác – Lênin, trong quá trình tìm đường cứu nước và lãnh
đạo cách mạng, Hồ Chí Minh luôn đề cao vị trí, vai trò của thanh niên trong sự nghiệp cách
mạng của Đảng và của dân tộc. Người biểu lộ niềm tin vững chắc vào thế hệ trẻ, là lớp người
“xung phong trong công cuộc phát triển kinh tế và văn hóa, trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa
xã hội” và khẳng định, thanh niên là lực lượng cách mạng hùng hậu, bộ phận quan trọng của dân
tộc, là lớp người kế tục sự nghiệp cách mạng của cha anh.
Hiện nay, đất nước ta đang trong quá trình thực hiện công cuộc đổi mới (từ năm 1986); tiến hành
sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa; thực hiện kinh tế tri thức; tham gia sâu rộng vào hội
nhập quốc tế và quá trình toàn cầu hóa; mở rộng quan hệ đối ngoại theo phương châm đa phương
hóa, đa dạng hóa, làm cho thế và lực của nước ta được củng cố vững chắc hơn, kinh tế có sự phát
triển và tương tối bền vững, đời sống về vật chất và tinh thần của nhân dân không ngừng được
cải thiện, quốc phòng và an ninh, trật tự an toàn xã hội được bảo đảm.
Công cuộc đổi mới do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng và lãnh đạo đã thu được những
thành tựu to lớn và có ý nghĩa lịch sử, đưa nước ta ra khỏi khu vực kém phát triển, tạo tiền đề
quan trọng để tiếp tục đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, phấn đấu đến năm 2020
cơ bản thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại, làm tiền đề quan trọng để đưa nước ta trở
thành nước công nghiệp hiện tại vào những năm tiếp theo. Tuy nhiên, sự phát triển kinh tế - xã
hội nước ta trong những năm tới còn gặp những khó khăn thách thức. Thách thức chung lớn nhất
mà Đảng ta đã xác định đó là phải vượt qua nguy cơ tụt hậu về kinh tế.
Downloaded by Hà Anh (haanh23042006@gmail.com) lOMoARcPSD|37858314
Trên thế giới, hòa bình, hợp tác và phát triển vẫn là xu thế chủ đạo, tạo điều kiện cho các nước
phát triển kinh tế. Kinh tế các nước trên thế giới đã dần dần phục hồi sau cuộc khủng hoảng kinh
tế toàn cầu, nhưng vẫn tiềm ẩn những yếu tố bất trắc khó lường. Hợp tác quốc tế và toàn cầu hóa
kinh tế là xu thế tất yếu, tạo ra nhiều cơ hội phát triển nhưng cũng chứa dựng nhiều yếu tố bất
bình đẳng, gây ra những thử thách không nhỏ cho các quốc gia, nhất là các nước đang phát triển
trong đó có Việt Nam. Cạnh tranh kinh tế - thương mại, tranh giành các nguồn tài nguyên, năng
lượng, thị trường, nguồn vốn, công nghệ, nhất là công nghệ sinh học, công nghệ thông tin, công
nghệ nano sẽ phát triển mạnh mẽ và sẽ có những bước nhảy vọt, thời gian từ phát minh đến ứng
dụng ngày càng thu hẹp. Kinh tế tri thức sẽ được nhiều nước, trong đó có Việt Nam, ứng dụng và thực hiện.
Khoảng cách chênh lệch giữa các nhóm nước giàu và nghèo ngày càng lớn, sự gia tăng dân số và
cùng việc di cư tự do, khủng hoảng năng lượng, khủng hoảng lương thực, bảo vệ môi trường và
biến đổi khí hậu toàn cầu, các dịch bệnh lớn, các tội phạm xuyên quốc gia và khủng bố quốc tế
đòi hỏi phải có sự hợp tác nước trong khu vực và trên thế giới cùng tham gia giải quyết.
Thanh niên Việt Nam cần có 3 nhóm phẩm chất là: Trình độ chuyên môn và tay nghề cao, đạo
đức và lối sống trong sáng, sức khỏe thể chất và sức khỏe tâm thần cường tráng mới đáp ứng
được yêu cầu của thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp, hóa hiện đại hóa, thời kỳ kinh tế tri thức, thời
kỳ hội nhập quốc tế. Để đạt được tiêu chí và phẩm chất trên đòi hỏi bản thân thanh niên phải tự
học, tự rèn luyện, tự tu dưỡng, tự tin, tự chịu trách nhiệm để trở thành nguồn lao động chất lượng
cao, trở thành người thừa kế trung thành sự nghiệp của Đảng và dân tộc.
- Thứ nhất, thanh niên phải tích cực tham gia học tập nâng cao trình độ lý luận chính
trị, bồi đắp lý tưởng cách mạng trong sáng. Bối cảnh trong nước và quốc tế đang tác
động lên tất cả các đối tượng thanh niên, tác động một cách toàn diện lên tư tưởng, tình
cảm, lối sống, nhu cầu của từng thanh niên. Do đó, thanh niên phải rèn luyện để có lập
trường tư tưởng vững vàng, có lòng yêu nước, có niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng và
sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, có đạo đức trong sáng và lối sống lành mạnh; tích
cực tham gia vào các cuộc đấu tranh bảo vệ Đảng, Nhà nước và bảo vệ cương lĩnh,
đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; đấu tranh chống lại âm mưu
“Diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch và các tiêu cực, tệ nạn xã hội, tham nhũng…
- Thứ hai, thanh niên cần tích cực học tập và tự học tập để nâng cao trình độ văn hóa,
chuyên môn, khoa học, kỹ thuật và tay nghề. Trong thời kỳ phát triển kinh tế - xã hội trong
nước và hội nhập quốc tế, thanh niên nước ta cần nâng cao trình độ học vấn, tay nghề khả năng
thực tế, kỹ năng lao động để thích ứng với thị trường lao động trong nước và thị trường lao động
quốc tế. Thanh niên phải tích cực tham gia xây dựng xã hội học tập với phương châm: người
thanh niên nào cũng phải học ở đâu, làm gì, thời gian nào cũng phải học, người thanh niên nào
cũng phải xác định tham gia học tập thường xuyên, suốt đời là quyền và nghĩa vụ của bản thân.
- Thứ ba, thanh niên phải tích cực tham gia xây dựng Đảng, Nhà nước. Mặt trận Tổ quốc
Việt Nam và các đoàn thể nhân dân. Thanh niên phải tích cực tham gia bảo vệ và xây dựng hệ
thống chính trị ở các cấp vững mạnh và tham gia xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc vững
Downloaded by Hà Anh (haanh23042006@gmail.com) lOMoARcPSD|37858314
chắc. Các đối tượng thanh niên tự nguyện, tự giác tham gia vào các hội của thanh niên, phấn đấu
trở thành đoàn viên, đảng viên của Đảng và hội viên của các quần chúng nhân dân.
- Thứ tư, thanh niên phải tích cực tham gia vào việc xây dựng môi trường xã hội lành
mạnh và môi trường sinh thái trong lành, sạch đẹp. Tích cực tham gia phòng chống ô nhiễm
môi trường, suy thoái môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu toàn cầu.
- Thứ năm, thanh niên phải xung kích đi đầu trong sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội,
bảo đảm quốc phòng an ninh. Tích cực tham gia các chương trình, dự án của địa phương; tự
nguyện, tự giác tham gia thực hiện nghĩa vụ quân sự, tham gia các hoạt động bảo vệ Tổ quốc và
giữ gìn an ninh trật tự an toàn xã hội.
- Thứ sáu, thanh niên cần chủ động tham gia vào quá trình hội nhập quốc tế; tham gia
giải quyết các vấn đề toàn cầu; tham gia vào công tác ngoại giao nhân dân để nâng tầm ảnh
hưởng của Việt Nam trên trường quốc tế; chủ động và tham gia có hiệu quả vào giải quyết các
vấn đề toàn cầu như: giữ gìn hòa bình, đẩy lùi nguy cơ chiến tranh, chống khủng bố, bảo vệ môi
trường và ứng phó với biến đổi khí hậu toàn cầu, hạn chế sự bùng nổ dân số, phòng ngừa và đẩy
lùi các dịch bệnh hiểm nghèo…
Cách mạng nước ta đang chuyển sang thời kỳ mới, thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại
hóa với mục tiêu sớm đưa đất nước ra khỏi tình trạng kém phát triển, phấn đấu đến năm 2020
nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại. Mục tiêu đó đã và đang đặt ra
những yêu cầu, trọng trách lớn lao đối với thế hệ trẻ hôm nay. Để kế tục xứng đáng sự nghiệp
cách mạng vẻ vang của Đảng và dân tộc ta, mỗi thanh niên Việt Nam hãy ra sức học tập, trau dồi
lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; ra sức thi đua lao động và rèn luyện để hình thành
một thế hệ thanh niên tân tiến, xứng tầm đồi hỏi của đất nước và thời đại
8. Phân tích tính tất yếu của thời kỳ quá độ lên XHCN của VN. Tại sao nói đi lên CNXH ở
VN là 1 sự lựa chọn đúng đắn của Đảng và dân tộc ta?/ Tại sao nói đi lên CNXH ở VN là một tất yếu lịch sử?
Trước hết, Tính tất yếu khách quan của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội được thể hiện:
Theo quan điểm chủ nghĩa Mác Lênin, giữa chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa xã hội, tất yếu có 1
thời kỳ quá độ. Các Mác khẳng định: “ Giữa xã hội tư bản chủ nghĩa và xã hội cộng sản chủ
nghĩa, là 1 thời kỳ cải biến cách mạng từ xã hội nọ sang xã hội kia…”
Lênin cũng từng khẳng định: “ Về lý luận, không thể nghi ngờ gì được rằng giữa chủ nghĩa tư
bản và chủ nghĩa cộng sản có 1 thời kỳ quá độ nhất định.”
- Tính tất yếu của thời kỳ quá độ được thể hiện ở những lý do sau:
1. CNXH và CNTB khác nhau về mặt bản chất. Nếu CNTB được xây dựng trên chế độ tư
hữu, dựa trên áp bức bóc lột, thì CNXH dựa trên chế độ công hữu về các tư liệu sản xuất
chủ yếu, không còn áp bức bóc lột. Muốn có 1 xã hội như vậy cần 1 thời kỳ quá độ nhất định.
2. Sự phát triển của CNTB đã tạo những tiền đề vật chất, kỹ thuật nhất định cho CNXH,
nhưng muốn tiền đề vật chất, kỹ thuật ấy phục vụ cho CNXH cần có thời gian tổ chức, sắp xếp lại.
3. Các quan hệ xã hội của chủ nghĩa xã hội không tự phát ra đời ra đời trong lòng chủ nghĩa
tư bản, chúng là kết quả của quá trình xây dựng và cải tạo XHCN
Downloaded by Hà Anh (haanh23042006@gmail.com) lOMoARcPSD|37858314
4. Xây dựng CNXH là công cuộc mới mẻ, khó khăn và phức tạp, vì vậy cần có thời gian để
giai cấp công nhân làm quen với những công việc đó.
Sau đây là những đặc điểm của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội:
● Đặc điểm cơ bản của thời kỳ quá độ lên CNXH: là thời kỳ cải biến cách mạng sâu sắc và
triệt để trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội: từ kinh tế, xã hội, chính trị,... ● Đặc điểm cụ thể: - Về kinh tế:
+> Thời kỳ quá độ lên CNXH là thời kỳ tất yếu, còn tồn tại nền kinh tế nhiều thành phần trong 1
hệ thống kinh tế quốc dân thống nhất
+> Nền kinh tế nhiều thành phần được xác lập trên cơ sở khách quan của sự tồn tại nhiều loại
hình sở hữu với tổ chức kinh tế đa dạng , và nhiều hình thức phân phối khác nhau. - Về chính trị:
+> Thời kỳ quá độ lên CNXH là thời kỳ xác lập chính quyền của giai cấp công nhân và nhân dân
lao động, tiếp đó giai cấp công nhân sẽ sử dụng chính quyền nhà nước để xây dựng 1 xã hội mới không có giai cấp.
+> Thời kỳ này tiếp tục diễn ra cuộc đấu tranh giai cấp giữa vô sản-tư sản.
- Về tư tưởng, văn hoá:
+> Thời kỳ quá độ lên CNXH còn tồn tại nhiều yếu tố tư tưởng và văn hoá khác nhau, bên cạnh
tư tưởng XHCN còn tồn tại tư tưởng tư sản, tiểu tư sản, tâm lý tiểu nông,... - Về xã hội:
+> Do kết cấu kinh tế của thời kỳ quá độ lên CNXH đa dạng, phức tạp nên cơ cấu xã hội, giai
cấp cũng đa dạng, phức tạp. Và thời kỳ này bao gồm nhiều giai cấp: tư nhân, tiểu tư sản,... Trong
xã hội còn sự khác biệt giữa thành thị và nông thôn, giữa tri thức và lao động chân tay.
Viê ̣t Nam tiến lên chủ nghĩa xã hô ̣i trong điều kiê ̣n vừa thuâ ̣n lợi vừa khó khăn đan xen, có
những đặc trưng cơ bản:
- Xuất phát từ mô ̣t xã hô ̣i vốn là thuô ̣c địa, nửa phong kiến, lực lượng sản xuất rất thấp. Đất
nước trải qua chiến tranh ác liê ̣t, kéo dài nhiều thâ ̣p kỷ, hâ ̣u quả để lại còn nặng nề. Những tàn dư
thực dân, phong kiến còn nhiều. Các thế lực thù địch thường xuyên tìm cách phá hoại chế đô ̣ xã
hô ̣i chủ nghĩa và nền đô ̣c lâ ̣p dân tô ̣c của nhân dân ta.
- Cuô ̣c cách mạng khoa học và công nghê ̣ hiê ̣n đại đang diễn ra mạnh mẽ, cuốn hút tất cả các
nước ở mức đô ̣ khác nhau. Nền sản xuất vâ ̣t chất và đời sống xã hô ̣i đang trong quá trình quốc tế
hoá sâu sắc, ảnh hưởng lớn tới nhịp đô ̣ phát triển lịch sử và cuô ̣c sống các dân tô ̣c. Những xu thế
đó vừa tạo thời cơ phát triển nhanh cho các nước, vừa đặt ra những thách thức gay gắt.
- Thời đại ngày nay vẫn là thời đại quá đô ̣ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hô ̣i, cho dù chế
đô ̣ xã hô ̣i chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu sụp đổ. Các nước với chế đô ̣ xã hô ̣i và trình đô ̣ phát
triển khác nhau cùng tồn tại, vừa hợp tác vừa đấu tranh, cạnh tranh gay gắt vì lợi ích quốc gia,
dân tô ̣c. Cuô ̣c đấu tranh của nhân dân các nước vì hoà bình, đô ̣c lâ ̣p dân tô ̣c, dân chủ, phát triển
và tiến bô ̣ xã hô ̣i dù gặp nhiều khó khăn, thách thức, song theo quy luâ ̣t tiến hoá của lịch sử, loài
Downloaded by Hà Anh (haanh23042006@gmail.com) lOMoARcPSD|37858314
người nhất định sẽ tiến tới chủ nghĩa xã hô ̣i.
Quá đô ̣ lên chủ nghĩa xã hô ̣i bỏ qua chế đô ̣ tư bản chủ nghĩa là sự lựa chọn duy nhất đúng, khoa
học, phản ánh đúng qui luâ ̣t phát triển khách quan của cách mạng Viê ̣t Nam trong thời đại ngày
nay. Cương lĩnh năm 1930 của Đảng đã chỉ rõ: Sau khi hoàn thành cách mạng dân tô ̣c, dân chủ
nhân dân, sẽ tiến lên chủ nghĩa xã hô ̣i. Đây là sự lựa chọn dứt khoát và đúng đắn của Đảng, đáp
ứng nguyê ̣n vọng thiết tha của dân tô ̣c, nhân dân, phản ánh xu thế phát triển của thời đại, phù
hợp với quan điểm khoa học, cách mạng và sáng tạo của chủ nghĩa Mác - Lênin.
Quá đô ̣ lên chủ nghĩa xã hô ̣i bỏ qua chế đô ̣ tư bản chủ nghĩa, như Đại hô ̣i IX của Đảng Cô ̣ng sản
Viê ̣t Nam xác định: Con đường đi lên của nước ta là sự phát triển quá đô ̣ lên chủ nghĩa xã hô ̣i bỏ
qua chế đô ̣ tư bản chủ nghĩa, tức là bỏ qua viê ̣c xác lâ ̣p vị trí thống trị của quan hê ̣ sản xuất và
kiến trúc thượng tầng tư bản chủ nghĩa, nhưng tiếp thu, kế thừa những thành tựu mà nhân loại đã
đạt được dưới chế đô ̣ tư bản chủ nghĩa, đặc biê ̣t về khoa học và công nghê ̣, để phát triển nhanh
lực lượng sản xuất, xây dựng nền kinh tế hiê ̣n đại.
Đây là tư tưởng mới, phản ánh nhâ ̣n thức mới, tư duy mới của Đảng ta về con đường đi lên chủ
nghĩa xã hô ̣i bỏ qua chế đô ̣ tư bản chủ nghĩa. Tư tưởng này cần được hiểu đầy đủ với những nô ̣i dung sau đây:
Thứ nhất, quá đô ̣ lên chủ nghĩa xã hô ̣i bỏ qua chế đô ̣ tư bản chủ nghĩa là con đường cách mạng
tất yếu khách quan, con đường xây dựng đất nước trong thời kỳ quá đô ̣ lên chủ nghĩa xã hô ̣i ở nước ta.
Thứ hai, quá đô ̣ lên chủ nghĩa xã hô ̣i bỏ qua chế đô ̣ tư bản chủ nghĩa, tức là bỏ qua viê ̣c xác lâ ̣p
vị trí thống trị của quan hê ̣ sản xuất và kiến trúc thượng tầng tư bản chủ nghĩa. Điều đó có nghĩa
là trong thời kỳ quá đô ̣ còn nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, song sở hữu tư
nhân tư bản chủ nghĩa và thành phần kinh tế tư nhân tư bản tư bản chủ nghĩa không chiếm vai
trò chủ đạo; thời kỳ quá đô ̣ còn nhiều hình thức phân phối, ngoài phân phối theo lao đô ̣ng vẫn là
chủ đạo còn phân phối theo mức đô ̣ đóng góp và quĩ phúc lợi xã hô ̣i; thời kỳ quá đô ̣ vẫn còn
quan hê ̣ bóc lô ̣t và bị bóc lô ̣t, song quan hê ̣ bóc lô ̣t tư bản chủ nghĩa không giữ vai trò thống trị.
Thứ ba, quá đô ̣ lên chủ nghĩa xã hô ̣i bỏ qua chế đô ̣ tư bản chủ nghĩa đòi hỏi phải tiếp thu, kế
thừa những thành tựu mà nhân loại đã đạt được dưới chủ nghĩa tư bản, đặc biê ̣t là những thành
tựu về khoa học và công nghê ̣, thành tựu về quản lý để phát triển xã hô ̣i, quản lý phát triển xã
hô ̣i, đặc biê ̣t là xây dựng nền kinh tế hiê ̣n đại, phát triển nhanh lực lượng sản xuất.
Thứ tư, quá đô ̣ lên chủ nghĩa xã hô ̣i bỏ qua chế đô ̣ tư bản chủ nghĩa là tạo ra sự biến đổi về chất
của xã hô ̣i trên tất cả các lĩnh vực, là sự nghiê ̣p rất khó khăn, phức tạp, lâu dài với nhiều chặng
đường, nhiều hình thức tổ chức kinh tế, xã hô ̣i có tính chất quá đô ̣ đòi hỏi phái có quyết tâm
chính trị cao và khát vọng lớn của toàn Đảng, toàn dân.
9. Phân tích đặc trưng của CNXH theo học thuyết Mác-Lênin: "xã hội xã hội
chủ nghĩa là giải phóng giai cấp, giải phóng xã hội, giải phóng con người, tạo
điều kiện để con người phát triển toàn diện." và liên hệ với quá trình xây
Downloaded by Hà Anh (haanh23042006@gmail.com) lOMoARcPSD|37858314 dựng CNXH ở Việt Nam.
Câu nói trên đã khái quát một trong những đặc trưng cơ bản của chủ nghĩa xã hội
khi nhân mạnh “CNXH giải phóng giai cấp, giải phóng xã hội, giải phóng con
người, tạo điều kiện để con người phát triển toàn diện.”
Trong tác phẩm Tuyên ngôn của Đảng Cô ̣ng sản, khi dự báo về xã hô ̣i tương lai, xã hô ̣i cô ̣ng
sản chủ nghĩa, C.Mác và Ph.Ăngghen đã khẳng định: “Thay cho xã hô ̣i tư bản cũ, với những
giai cấp và đối kháng giai cấp của nó, sẽ xuất hiê ̣n mô ̣t liên hợp, trong đó sự phát triển tự do
của mỗi người là điều kiê ̣n phát triển tự do của tất cả mọi người”1; khi đó “con người, cuối
cùng làm chủ tồn tại xã hô ̣i của chính mình, thì cũng do đó làm chủ tự nhiên, làm chủ cả bản
thân mình trở thành người tự do”2.. Đây là sự khác biê ̣t về chất giữa hình thái kinh tế - xã hô ̣i
cô ̣ng sản chủ nghĩa so với các hình thái kinh tế - xã hô ̣i ra đời trước, thể hiê ̣n ở bản chất nhân
văn, nhân đạo, vì sự nghiê ̣p giải phóng giai cấp, giải phóng xã hô ̣i, giải phóng con người.
Đương nhiên, để đạt được mục tiêu tổng quát đó, C.Mác và Ph.Ăngghen cho rằng, cách
mạng xã hô ̣i chủ nghĩa phải tiến hành triê ̣t để, trước hết là giải phóng giai cấp, xóa bỏ tình
trạng giai cấp này bóc lô ̣t, áp bức giai cấp kia, và mô ̣t khi tình trạng người áp bức, bọc lô ̣t
người bị xóa bỏ thì tình trạng dân tô ̣c này đi bóc lô ̣t dân tô ̣c khác cũng bị xóa bỏ”3.
V.I.Lênin, trong điều kiê ̣n mới của đời sống chính trị - xã hô ̣i thế giới đầu thế kỷ XX, đồng
thời từ thực tiễn của công cuô ̣c xây dựng chủ nghĩa xã hô ̣i ở nước Nga xô - viết đã cho rằng,
mục đích cao nhất, cuối cùng của những cải tạo xã hô ̣i chủ nghĩa là thực hiê ̣n nguyên tắc:
làm theo năng lực, hưởng theo nhu cầu: “khi bắt đầu những cải tạo xã hô ̣i chủ nghĩa, chúng
ta phải đặt rõ cái mục đích mà những cải tạo xã hô ̣i chủ nghĩa đó rút cục nhằm tới, cụ thể là
thiết lâ ̣p mô ̣t xã hô ̣i cô ̣ng sản chủ nghĩa, mô ̣t xã hô ̣i không chỉ hạn chế ở viê ̣c tước đoạt các
công xưởng, nhà máy, ruô ̣ng đất và tư liê ̣u sản xuất, không chỉ hạn chế ở viê ̣c kiểm kê, kiểm
soát mô ̣t cách chặt chẽ viê ̣c sản xuất và phân phối sản phẩm, mà còn đi xa hơn nữa, đi tới
viê ̣c thực hiê ̣n nguyên tắc: làm theo năng lực, hưởng theo nhu cầu.
Vì thế cái tên gọi “Đảng Cô ̣ng sản là duy nhất chính xác về mặt khoa học”4 V.I.Lênin cũng
khẳng định mục đích cao cả của chủ nghĩa xã hô ̣i cần đạt đến là xóa bỏ sự phân chia xã hô ̣i
thành giai cấp, biến tất cả thành viên trong xã hô ̣i thành người lao đô ̣ng, tiêu diê ̣t cơ sở của
mọi tình trạng người bóc lô ̣t người. V.I.Lênin còn chỉ rõ trong quá trình phấn đấu để đạt mục
đích cao cả đó, giai cấp công nhân, chính Đảng Cô ̣ng sản phải hoàn thành nhiều nhiê ̣m vụ
của các giai đoạn khác nhau, trong đó có mục đích, nhiê ̣m vụ cụ thể của thời kỳ xây dựng
chủ nghĩa xã hô ̣i - tạo ra các điều kiê ̣n về cơ sở vâ ̣t chất - kỹ thuâ ̣t và đời sống tinh thần để
thiết lâ ̣p xã hô ̣i cô ̣ng sản.
10. Trình bày sự ra đời và bản chất, chức năng của Nhà nước chủ nghĩa xã
hội. Liên hệ với xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN ở Việt Nam
a. Sự ra đời của nhà nước XHCN:
Downloaded by Hà Anh (haanh23042006@gmail.com)