
















Preview text:
lOMoAR cPSD| 61458992
12 câu hỏi ôn tập môn Nhân học Đại Cương
Câu 1: Định nghĩa, đối tượng, nhiệm vụ của Nhân học * Định nghĩa:
- Nhân học là ngành khoa học nghiên cứu tổng hợp về bản chất của con người trên
các phương diện sinh học, xã hội, văn hóa của các nhóm người, các cộng đồng dân
tộc khác nhau cả về quá khứ cho tới hiện tại. * Đối tượng:
- Nhân học nghiên cứu toàn diện con người, về con người tự nhiên và con người xã hội
=> Đối tượng nghiên cứu của Nhân học không chỉ bó hẹp trong nghiên cứu phương
diện sinh học của con người mà cả văn hóa và xã hội của con người *Nhiệm vụ: 1. Nhân học hình thể
- Là chuyên ngành ra đời đầu tiên và sớm nhất của ngành nhân học. Mục đích là
khám phá ra những nét tương đồng và dị biệt của con người và các loài động vật khác.
* Nhân học hình thể tìm kiếm câu trả lời cho hai dạng câu hỏi riêng biệt: + Những
câu hỏi về sự xuất hiện của con người và sự tiến hóa sau này để tìm hiểu nguồn
gốc và quá trình hình thành con người
+ Trả lời về vấn đề như thế nào và tại sao các cư dân đương đại khác nhau về mặt sinh học -
Cổ nhân học có nhiệm vụ nghiên cứu các hóa thạch của con người, tiền thân
của con người để tái hiện lại sự tiến hóa của con người từ người tối cổ đến người khôn ngoan. -
Linh trưởng học chuyên nghiên cứu những động vật có họ hàng gần gũi nhất
với con người – loài linh trưởng từ những hóa thạch của chúng qua các thời kỳ địa
chất cho đến các nhóm linh trưởng còn tồn tại hiện nay: khỉ, vượn, đười ươi… -
Chủng tộc học nghiên cứu các chủng tộc khác nhau trên thế giới khi tiến hành phân
loại cư dân trên thế giới thành bốn đại chủng: Ơrôpôit, Môngôlôit, Nêgrôit,
Otxtralôit và các phân cấp nhỏ hơn như tiểu chủng và các nhóm loại hình khi dựa
vào tổng hợp các đặc trưng nhân học chủ yếu về hình thái sinh lý của con người. *
Nhiệm vụ quan trọng thứ hai của nhân học hình thể là nghiên cứu sự đa dạng của
con người, giải thích tại sao hiện nay ở các vùng trên trái đất con người khác nhau
về đặc điểm sinh học và hình thể ? Tất cả loài người hiện nay đều thuộc một loài
Homo sapiens mà tất cả mọi người có thể lai giống nhau mặc dù về hình dáng cơ
thể, màu da, tóc, mắt khác nhau. lOMoAR cPSD| 61458992 2. Nhân học văn hóa
Nhân học văn hóa được chia ra làm ba chuyên ngành nhỏ hơn: khảo cổ học, nhân
học ngôn ngữ và nhân học văn hóa- xã hội. 2.1: Khảo cổ học -
Khảo cổ học là một chuyên ngành của nhân học văn hóa nghiên cứu về văn
hóa quá khứ của con người. -
Các nhà khảo cổ học không chỉ tái thiết lại đời sống hàng ngày và phong tục
của các dân tộc trong quá khứ mà còn tìm lại những biến đổi văn hóa và đã đưa ra
những câu hỏi trả lời có thể cho những biến đổi này qua nghiên cứu các di vật tìm
được trong các cuộc khai quật khảo cổ học. -
Đa số các nhà khảo cổ học nghiên cứu về thời tiền sử, thời gian trước khi có
những ghi chép lịch sử. Nhờ có những thành tựu nghiên cứu của các nhà khảo cổ
học, lịch sử loài người và nền văn hóa xa xưa của họ được tái hiện góp phần tìm
hiểu lịch sử và văn hóa của các cư dân, các dân tộc trên Trái Đất.
2.2: Nhân học ngôn ngữ -
Ngôn ngữ học nghiên cứu về ngôn ngữ đã có trước nhân học và hai ngành này
cómối quan hệ gần gũi với nhau. -
Các nhà nhân học ngôn ngữ quan tâm chủ yếu đến lịch sử và cấu trúc của các
ngôn ngữ không có chữ viết trước đây. Một số nhà nhân học ngôn ngữ quan tâm tới
sự xuất hiện của ngôn ngữ và sự phân chia của chúng qua hàng ngàn năm , sự biến
đổi qua thời gian cũng như mối quan hệ cội nguồn của chúng gọi là ngôn ngữ học lịch sử.
2.3: Nhân học văn hóa – xã hội -
Do phạm vi của nhân học văn hóa rất rộng, vì vậy các nhà khoa học có khuynh
hướng nghiên cứu chuyên sâu một lĩnh vực nào đó của văn hóa con người. - Các
nhà nhân học văn hóa khi nghiên cứu đã tiến hành so sánh các hình thức khác nhau
về đời sống văn hóa- xã hội của các dân tộc để tìm hiểu tính đa dạng của văn hóa
cũng như nghiên cứu động thái của văn hóa trong tiến trình phát triển và biến đổi
của chúng. 3. Nhân học ứng dụng -
Nhân học ứng dụng là một chuyên ngành của nhân học mới được phát triển trongnhững năm gần đây -
Vai trò của nhà nhân học ứng dụng được thể hiện là người biện hộ cho những
nhóm xã hội và các dân tộc bị thiệt thòi.
VD: Nhà nhân học ngôn ngữ có thể sử dụng kết quả nghiên cứu vào trong các
chương trình đào tạo giáo dục: làm từ điển, chương trình giáo dục song ngữ, đa ngữ. -
Nhân học ứng dụng còn quá mới mẻ và nó liên quan đến nhiều ngành khoa học khác nhau. lOMoAR cPSD| 61458992
Câu 2: Trình bày nội dung của phương pháp quan sát tham dự và phương pháp
phỏng vấn sâu trong điền dã dân tộc học. Khi thực hiện các phương pháp này
thì vấn đề đạo đức nghiên cứu được đặt ra như thế nào? 1. Quan sát tham dự -
Quan sát tham dự là phương pháp mà người nghiên cứu thâm nhập vào nhóm,
cộng đồng thuộc vào đối tượng nghiên cứu và được tiếp nhận như là một thành viên
của nhóm hay cộng đồng. -
Tham dự ở đây được hiểu theo nhiều mức độ khác nhau: từ quan sát tham dự
một phần vào các hoạt động đến sự hòa nhập hoàn toàn của người quan sát vào trong
nhóm người được quan sát.
VD: Ở các lễ hội đâm trâu, lễ hội xuống đồng, khách du lịch chỉ đến chụp ảnh,
ngắm cảnh, và tìm hiểu văn hóa của người khác với sở thích và nhu cầu của họ .
Khác với khách du lịch, người quan sát sẽ thâm nhập, thực hiện, tham dự, ăn ở trong
một thời gian dài đến hàng tháng, hàng năm để chắc chắn những thông tin thu thập
được là tiêu biểu của các ý tưởng được bày tỏ của cộng đồng theo diện rộng.
-Quan sát tham dự có một số ưu điểm là do sự tham gia của người nghiên cứu vào
hoạt động của người được quan sát và khắc phục được những hạn chế do trình độ tri giác thụ động gây ra. -
Phương pháp quan sát tham dự cung cấp cho chúng ta những thông tin mà khi
sử dụng các phương pháp khác khó có thể có được. Đó là những thông tin liên quan
đến hoạt động của nhóm. Khi người quan sát trở thành một thành viên của nhóm thì
sẽ dễ dàng nhận biết những hành vi bình thường, phong tục tập quán theo thói quen
của mỗi người trong nhóm cũng như các quy tắc thông thường của nhóm, nghĩa là
thấy được những gì là thuộc tính vốn có trong bối cảnh văn hóa của mỗi người trong nhóm cộng đồng. 2. Phỏng vấn sâu
- Phỏng vấn là phương pháp trong đó người được phỏng vấn sẽ trả lời một số câu
hỏi người phỏng vấn đặt ra nhằm thu thập thông tin phù hợp với mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu.
- Phỏng vấn là công việc trò chuyện giữa nhà nghiên cứu với người dân, vì vậy nhà
nhân học có kiến thức ngôn ngữ địa phương sẽ gặp nhiều điều kiện thuận lợi hơn
khi tiếp xúc với cộng đồng.
VD: nghiên cứu Trung Hoa phải biết tiếng Trung Hoa, Thái thì phải biết ngôn ngữ của Thái.
Một kĩ thuật thu thập dữ liệu được sử dụng trong nghiên cứu là lập một bảng điều
tra dân tộc học có kèm theo bản liệt kê các câu hỏi phỏng vấn.
- Tùy theo vấn đề nghiên cứu mà chúng ta chọn đối tượng phỏng vấn khác nhau. lOMoAR cPSD| 61458992
Nếu nghiên cứu những vấn đề phong tục tập quán truyền thống, chúng ta phỏng vấn
những người già. Nếu như nghiên cứu hôn nhân gia đình, chúng ta phải phỏng vấn
cả nam và nữ, người già và trẻ.
3.Vấn đề đạo đức khi thực hiện hai phương pháp này -
Do đối tượng nghiên cứu của nhân học là con người, đạo đức trong nghiên
cứu nhân học là rất quan trọng. Trước hết những báo cáo khoa học của chúng ta
không thể bị sử dụng để làm hại đến cộng đồng mà ta điều tra, không được làm xúc
phạm và làm tổn hại đến phẩm chất và lòng tự trọng của những người bản địa được
biết đến. Phải giữ bí mật cho những người cung cấp thông tin, nhất là những thông
tin thuộc về những vấn đề nhạy cảm trong đời sống sinh hoạt của cộng đồng. Phải
đảm bảo tính trong sáng trong tiến trình nghiên cứu và sự trung thức đối với các giá
trị của đề tài để kết quả của công trình nghiên cứu là hợp lí nhằm phục vụ lợi ích
cho những đối tượng được đặt ra. -
Bên cạnh đó, khi quan sát tham dự hay phỏng vấn cần có thái độ tôn trọng đối
tượng nghiên cứu, coi trọng sự khác biệt văn hóa, nhìn các văn hóa như nhau, không
có văn hóa tiến bộ/lạc hậu, cao/thấp...Cần tiếp cận văn hóa với một thái độ khách
quan và trung thực, từ đó đánh giá đúng đắn về đối tượng nghiên cứu.
Câu 3: Trình bày mối quan hệ giữa nhân học với các môn khoa học xã hội khác
1. Nhân học và triết học
- Triết học là khoa học nghiên cứu những quy luật chung nhất của tự nhiên, xã hội
và tư duy. Nhân học là một ngành khoa học cụ thể. Quan hệ giữa nhân học và triết
học là quan hệ giữa một ngành khoa học cụ thể với thế giới quan khoa học. Triết học
là nền tảng thế giới quan, phương pháp luận nghiên cứu của nhân học mácxít. - Các
nhà nhân học vận dụng chủ nghĩa duy vật lịch sử và chủ nghĩa duy vật biện chứng
làm cơ sở lý luận để nghiên cứu con người trong tính toàn diện của nó. Trong mối
quan hệ với triết học, các nhà nhân học cần tránh quan niệm nhân học biệt lập hay
đối lập với triết học. 2. Nhân học và sử học -
Nhân học có mối quan hệ chặt chẽ với sử học bởi vì nhân học nghiên cứu con
người về các phương diện sinh học, văn hóa, xã hội thường tiếp cận từ góc độ lịch
sử. Khi nghiên cứu về lịch sử của các tộc người, các địa phương, các nhà nhân học
phải sử dụng tài liệu sử học. Những vấn đề nghiên cứu của nhân học không thể tách
rời bối cảnh lịch sử cụ thể cả về không gian và thời gian lịch sử. Thiếu tri thức lịch
sử, nhà nhân học không thể tiến hành nghiên cứu có hiệu quả. Ngược lại, các nhà sử
học sử dụng tài liệu của nhân học để soi sáng những vấn đề lịch sử và văn hóa. lOMoAR cPSD| 61458992 -
Mối quan hệ nhân học và sử học là ở chỗ nhân học thường sử dụng những
phương pháp nghiên cứu của sử học. Thí dụ phương pháp so sánh đồng đại và lịch đại. -
Sự khác nhau giữa nhân học và sử học là ở chỗ nhân học sử dụng tư liệu từ
nghiên cứu tham dự sâu tại cộng đồng còn sử học chủ yếu sử dụng tư liệu chữ viết
bằng văn bản để tái tạo lại những sự kiện lịch sử đã diễn ra trong quá khứ.
3. Nhân học và xã hội học
- Theo truyền thống, nhân học chú trọng nghiên cứu xã hội tiền công nghiệp, trong
khi đó xã hội học lại chủ yếu quan tâm đến xã hội công nghiệp hiện đại. Về phương
pháp nghiên cứu, các nhà nhân học hướng tới việc sd phương pháp nghiên cứu tham
dự sâu tại cộng đồng, sưu tập những dữ liệu định tính và tiến hành so sánh đối chiếu
văn hóa. Trong khi đó các nhà xã hội học tiến hành nghiên cứu các dữ liệu khác
nhau và sử dụng bảng hỏi để sưu tập những dữ liệu định lượng. - Nhân học có ảnh
hưởng rõ rệt đến xã hội học. Nhiều khái niệm mang tính lý thuyết của xã hội học
bắt nguồn từ nhân học. Ngược lại, xã hội học cũng có tác động trở lại đối với nhân
học về mặt phương pháp luận nghiên cứu.
VD: quan điểm cơ cấu- chức năng của Emile Durkheim đã ảnh hưởng tới công trình
nghiên cứu của các nhà nhân học.
4. Nhân học với địa lý học -
Nhân học và địa lý học có mối quan hệ gắn bó với nhau hình thành lĩnh vực
nghiên cứu nhân học sinh thái nhằm giải quyết mối quan hệ tương tác giữa con người
với môi trường tự nhiên và hành vi ứng xử của con người với môi trường xã hội nhân văn. -
Nhân học sinh thái liên quan với địa lý kinh tế trong việc phân vùng lãnh thổ
màcác tộc người sinh sống, địa- văn hóa để có cái nhìn tổng thể trong mối quan hệ
đa chiều: tự nhiên- con người- kinh tế- văn hóa và hành vi ứng xử.
5. Nhân học và kinh tế học -
Nghiên cứu liên ngành giữa nhân học và kinh tế học hình thành lĩnh vực
nghiên cứu nhân học kinh tế. Nhân học kinh tế vận dụng một số quan niệm, phạm
trù lý thuyết của kinh tế học và công tác nghiên cứu của mình. VD: lý thuyết về vốn
con người, vốn xã hội, vốn tự nhiên, thị trường.. -
Nhân học không đi sâu nghiên cứu các quy luật của kinh tế học mà tập trung
tiếp cận trên bình diện văn hoá- xã hội của quá trình hoạt động kinh tế : cách thức
chế tạo công cụ, hình thức tổ chức sản xuất, trao đổi, phân phối, tiêu dùng mang yếu
tó văn hóa tộc người, địa phương, nghề nghiệp, phản ánh truyền thống văn hóa tộc
người. Nhân học kinh tế có mối quan hệ mật thiết với ngành kinh tế phát triển trong
nghiên cứu nhân học ứng dụng. lOMoAR cPSD| 61458992
6. Nhân học và tâm lý học -
Mối quan hệ liên ngành giữa nhân học và tâm lý học xuất hiện lĩnh vực nghiên
cứu nhân học tâm lý hay tâm lý tộc người. Trong tâm lý học, sự quan tâm chủ yếu
giành cho việc phân tích những nét tâm lý của cá nhân trong những kinh nghiệm
nghiên cứu xuyên văn hóa. Còn, nhân học tập trung nghiên cứu tính cách dân tộc, ý
nghĩa của tính tộc người với tư cách là tâm lý học cộng đồng tộc người lại có ý nghĩa to lớn. -
Tâm lý dân tộc được hiểu không phải là con số cộng tâm lý các cá nhân lại và
các nhóm xã hội trong lòng dân tộc đó mà là nghiên cứu các đặc điểm tâm lý cũng
như quá trình lịch sử của dân tộc qua các con đường xã hội hóa và chuyển thành
những nhân tố lặp lại tương đối ổn định trong nhân cách các thành viên của dân tộc. -
Mối quan hệ giữa nhân học và tâm lý thể hiện xu hướng tâm lý trong nghiên
cứuvăn hóa và các lý thuyết văn hóa theo xu hướng nhân học tâm lý trong những thập niên gần đây.
7. Nhân học và luật học -
Nghiên cứu liên ngành giữa nhân học và luật học hình thành lĩnh vực nghiên
cứu nhân học luật pháp. -
Khác với luật học nghiên cứu các chuẩn mực và quy tắc hành động do cơ quan
thẩm quyền chính thức của nhà nước đề ra, nhân học luật pháp nghiên cứu những
nhân tố văn hóa- xã hội tác động đến luật pháp trong các nền văn hóa và các tộc người khác nhau. -
Nhân học luật pháp còn nghiên cứu đến luật tục. Các nhà nhân học nghiên
cứu mối quan hệ giữa luật tục và luật pháp để từ đó vận dụng luật tục và luật pháp
trong quản lý xã hội và phát triển cộng đồng.
8. Nhân học và tôn giáo học -
Cộng đồng tộc người và cộng đồng tôn giáo là hai dạng thức khác nhau của
cộng đồng người và có mối quan hệ gắn bó mật thiết với nhau trong quá trình phát
triển. Mối quan hệ liên ngành giữa nhân học và tôn giáo học hình thành lĩnh vực nhân học tôn giáo. -
Khác với triết học tôn giáo và tôn giáo học, nhân học tôn giáo quan tâm tới
việc nghiên cứu các hình thái tôn giáo sơ khai, các tôn giáo dân tộc và tôn giáo thế
giới trong mối quan hệ với văn hóa tộc người. Nhân học tôn giáo đi sâu nghiên cứu
các biểu tượng tôn giáo, các nghi thức, các hành vi, lễ hội và các thiết chế xã hội tôn
giáo khác nhau. Nhân học tôn giáo còn quan tâm nghiên cứu mối quan hệ trong sinh
hoạt tôn giáo và giới tính, các phong trào tôn giáo, xung đột tôn giáo trong mối quan
hệ giữa các dân tộc và các quốc gia.
Câu 4: Đặc trưng của tôn giáo là gì ? Phân tích chức năng tâm lý và chức năng
xã hội của tôn giáo. Lấy ví dụ lOMoAR cPSD| 61458992
* Đặc trưng của tôn giáo
- Tôn giáo bao gồm nhiều nghi thức khác nhau như: cầu nguyện, hát xướng, vũ điệu,
lời thỉnh cầu, hiến tế… Thông qua các nghi thức, con người cố gắng chi phối, tác
động vào các thế lực và các thực thể siêu nhiên.
- Theo nhu cầu tôn giáo của họ, những vật thể và các thế lực này bao gồm các vị
thần, nữ thần, tổ tiên, thượng đế, các linh hồn hoặc các thế lực khác tồn tại độc lập
bên ngoài ý thức của con người và cũng có thể kết hợp đa dạng với nhau. * Chức
năng của tôn giáo - Chức năng tâm lý:
+ Các tôn giáo làm giảm đi sự lo lắng bằng cách lý giải những điều mà con người
chưa biết, cũng như đưa đến một niềm tin rằng sự giúp đỡ, cứu rỗi của các thế lực
siêu nhiên luôn luôn tồn tại trong các giai đoạn khủng hoảng của cuộc đời con người.
+ Thông qua nghi lễ, tôn giáo có thể được sử dụng để thúc đẩy việc học tập, nghiên
cứu các giá trị văn hóa của cộng đồng. Ngoài ra, tôn giáo còn đóng vai trò quan trọng
trong việc duy trì sự gắn kết các thành viên trong xã hội. - Chức năng xã hội:
+ Củng cố các quy tắc, tiêu chuẩn của cộng đồng, phải đưa ra được những chuẩn
mực luân lý đạo đực đối với cách cư xử của mỗi cá nhân, đồng thời cũng trang bị
nền tảng về các giá trị và mục đích chung để cho cộng đồng xã hội được cân bằng và ổn định.
Câu 5: Tôn giáo là gì ? Hãy trình bày một số hình thái tôn giáo phổ biến và còn
tồn tại đến hiện nay. * Khái niệm: -
Tôn giáo là một phức hệ có liên quan đến nhiều vấn đề cần được hiểu một
cách có hệ thống, ví như cần tìm hiểu tôn giáo về phương diện từ nguyên học, về
diễn trình của tôn giáo qua các thời kỳ lịch sử cũng như tiếp cận các định nghĩa về
bản chất tôn giáo, các lý thuyết của các học giả từ khi tôn giáo trở thành một đối
tượng của khoa học… nhất là trong những thập niên sau này, tôn giáo đã diễn biến
và có xu hướng khác với các thời kỳ lịch sử trước đây. -
Tôn giáo là một thực thể khách quan của loài người, thể hiện những sự phức
tạp cả về nội dung lẫn hình thức. Tôn giáo được xem xét dưới góc độ là sản phẩm
tư duy trừu tượng, đồng thời cũng phải tương thích với một xã hội loài người tương
đối ổn định, bởi vì có xã hội loài người mới có văn hóa, có văn hóa mới có tôn giáo.
Tôn giáo mang tính cộng đồng, tính xã hội, tính văn hóa, được cả cộng đồng tuân
theo, đó là điều mà nhiều học giả kinh điển Đông- Tây chấp nhận.
* Một số hình thái tôn giáo phổ biến
Tín ngưỡng vạn vật hữu linh ( Animism )
Một trong những đức tin phổ biến nhất về các vật thể siêu nhiên là quan
niệm vạn vật hữu linh. Quan niệm này cho rằng tự nhiên đầy sức sống lOMoAR cPSD| 61458992
với đủ loại linh hồn. Thực tế thì thuật ngữ này bao hàm hang loạt sự
biến đổi. Động vật và thực vật đều giống con người, đều có linh hồn
như đá, con suối, ngọn núi, cay cối, hay những vật khác trong tự nhiên.
Do người ta quan niệm mọi vật đều có linh hồn nên những vật đó có
thể gây tai họa hoặc đem lại điều tốt lành cho con người, chính vì vậy
mà con người phải thờ và quan tâm đến nó.
Ví dụ: Cho tới nay người Khmer tại Nam Bộ vẫn còn tín ngưỡng Neak
Tà dưới dạng thờ nhuengx hòn đántrong ngôi miếu nhỏ, đó là tín
ngưỡng vạn vật hữu linh và cũng là tục thờ đá cổ xưa của cư dân Đông Nam Á.
Thuyết vạn vật hữu linh điển hình cho những người nhìn nhận bản thân
các động thực vật như là một phần của tự nhiên hơn là người chủ của
tự nhiên. Điều này tồn tại trong các dân tộc chuyên đi tìm kiếm lương
thực (dân du mục) cũng như những dân tộc tự sản xuất lương thực, họ
luôn chấp nhận sự khác biệt giữa đời sống con người và đời sống của
các vật thể khác trong tự nhiên.
Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên
Ở xã hội châu Phi, quan niệm về linh hồn tổ tiên phát triển đặc biệt
mạnh mẽ. Ở đây, một quan niệm thường gặp là linh hồn tổ tiên cư xử
như người sống. Các linh hồn có thể cảm nhận nóng, lạnh, đau, khổ…
và người ta cho rằng các linh hồn tổ tiên đó có thể bị chết lần thứ hai
nếu thi thể bị hỏa táng hay dìm xuống nước. Thậm chí người ta quan
niệm tuy tổ tiên đã qua đời nhưng vẫn có thể tham gia vào các công
việc của gia đình, dòng họ, có vị trí như các thành viên khác trong gia
đình mặc dù là họ vô hình, đặc biệt, linh hồn tổ tiên có thể tái sinh (dầu
thai) thành những thành viên mới của dòng họ.
Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên càng quan trọng hơn ở xã hội Trung Quốc.
Người con trai luôn mang ơn cha mẹ, phải báo hiếu cha mẹ bằng sự
vâng lời, tôn trọng và phụng dưỡng cho cha mẹ có được một tuổi già
thoải mái.Thậm chí sau khi cha mẹ quá vãng, anh ta vẫn phải lien lạc
với họ qua một thế giới tâm linh, tiếp tục cúng dâng thức ăn, tiền bạc
và hương khói đầy đủ vào ngày giỗ. Chính vì quan niệm này mafgia
đình Trung Quốc cần có con trai nối dõi vì điều đó đảm bảo những nhu
cầu của tổ tiên sẽ được tiếp tục chăm lo ngay cả sau khi hiện tại đã qua đời.
Về tôn giáo của người Việt, Léopold Cadière cho rằng: người An Nam
có tinh thần tôn giáo một cách sâu đậm, họ lien kết tôn giáo vào mọi
hành vi của cuộc sống bản thân và thầm tin rằng các hữu thể siêu nhiên lOMoAR cPSD| 61458992
luôn hiện diện bên cạnh họ cũng như chi phối họ, họ tin rằng hạnh phúc
của họ tùy thuộc vào các hữu thể siêu nhiên và các hữu thể siêu nhiên
ấy vẫn can thiệp vào mọi chuyện ở cõi thế này. Ngoài ra, vì gia đình là
một trong những thiết chế được thiết lập vững chai nhất của nền văn
minh An Nam, nên tự nhiên là tôn giáo, dưới các biểu hiện khác nhau
của nó, đã được lien kết chặt chẽ với gia đình.
Như vậy tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên và quan niệm về linh hồn tổ tiên
của nhiều dân tộc đã được quan niệm một các sâu sắc và người ta xem
đó là một trng những hình thái của tôn giáo.
Tóm lại, tri thức bản địa về các hình thái của tôn giáo sơ khai giúp cho
ngành nhân học hiểu biết về sự tồn tại của các hình thức tôn giáo ấy,
nhất là trong xã hội đa văn hóa đa tôn giáo. Gạt bỏ khía cạnh “mê tín
dị đoan”, các hình thái tôn giáo ấy vẫn còn tồn tại và còn hấp dẫn con
người trong xã hội hiện đại, một xã hội mà khoa học được mệnh danh
là đóng vai trò vạn năng.
Câu 6: Thế nào là quá trình tộc người ? Quá trình này diễn ra ở Việt Nam thế nào ?
a) Thế nào là quá trình tộc người
- Qúa trình tộc người là quá trình vận động, biến đổi của tộc người trong những
điều kiện lịch sử- cụ thể và trong toàn bộ tiến trình lịch sử trước sự tác động của các
yếu tố tự nhiên và các nhan tố xã hội.
b) Qúa trình tộc người diễn ra ở Việt Nam -
Qúa trình tộc người ở Việt Nam diễn ra theo xu hướng chung của quá trình
tộcngười trên thế giới, nhưng có những nét đặc thù sau:
+ Cố kết, hoà hợp tộc người là xu hướng chủ đạo diễn ra rộng khắp và mạnh mẽ
trong quá trình hình thành, phát triển của dân tộc Việt Nam. Trong quá trình lịch sử,
các tộc người sớm cố kết, hòa hợp để hình thành nên quốc gia dân tộc từ thưở các
vua Hùng cách đây hàng nghìn năm. Các tộc người phát huy cao độ tính cố kết, hòa
hợp để dựng nước và giữ đất nước. Đoàn kết, hào hợp tộc người trở thành giá trị
truyền thống và sức mạnh để dân tộc Việt Nam tồn tại, phát triển. Chính sách dân
tộc tích cực của nhà nước phong kiến làm cho cố kết, hòa hợp tộc người trở nên bền chặt.
+ Đồng hóa tộc người: là xu hướng đã từng diễn ra ở Việt Nam. Trong các thời kỳ
lịch sử đều có một bộ phận tộc người thiểu số bị đồng hóa tự nhiên vào tộc người lOMoAR cPSD| 61458992
Việt, giữa các tộc người thiểu số cũng có sự đồng hóa lẫn nhau. Có lúc, người Việt
cũng bị đồng hóa vào một số tộc người thiểu số. -
Xu hướng phân tách tộc người đã và đang diễn ra ở Việt Nam. Qúa trình di
cư,phân chia tộc người từ Bắc vào Nam, từ Tây sang Đông đẫn đến sự xé lé, đan
xen tộc người trên phạm vi cả nước.
Câu 7: Thế nào là quá trình hòa hợp giữa các tộc người ? Qúa trình này ở Việt Nam ? *
Là dung hợp giữa các tộc người hoặc một bộ phận của tộc người này vào tộc
người khác để trở thành tộc người có dân số lớn hơn. Qúa trình hòa hợp giữa tộc
người thường diễn ra ở các dân tộc khác nhau về ngôn ngữ văn hóa, nhưng do kết
quả của quá trình giao lưu tiếp xúc văn hóa lâu dài trong lịch sử đã xuất hiện những
yếu tố văn hóa chung bên cạnh đó vẫn giữ lại những văn hóa của tộc người. Qúa
trình này thường diễn ra ở khu vực lịch sử - văn hóa hay trong phạm vi của một quốc gia đa dân tộc. *
Ở Việt Nam quá trình hòa hợp giữa các tộc người diễn ra theo hai khuynh hướng:
1. Sự hòa hợp giữa các tộc người diễn ra trong phạm vi của một vùng lịch sử - văn hóa
- Do cùng chung sống lâu dài trong một vùng địa lý giữa các dân tộc đã diễn ra quá
trình giao lưu tiếp xúc văn hóa dẫn tới hình thành những đặc điểm văn hóa chung
của cả vùng bên cạnh những đặc trưng văn hóa của từng tộc người. Những đặc điểm
văn hóa đó thể hiện qua phương thức mưu sinh, văn hóa vật chất, văn hóa tinh thần
và ý thức cộng đồng khu vực. Qúa trình hòa hợp giữa các tộc người có thể nhận thấy
ở các vùng như: miền núi Việt Bắc, Đông Bắc, miền núi Tây Bắc và
Thanh – Nghệ, Trường Sơn- Tây Nguyên, Nam Bộ…
2. Sự hòa hợp giữa các tộc người diễn ra trong phạm vi cả nước -
Sự tham gia vào quá trình dựng nước và giữ nước của các dân tộc ở nước ta
là cơsở nền tảng cho sự hòa hợp giữa các dân tộc tạo nên tính thống nhất của cộng
đồng các dân tộc Việt Nam. Các dân tộc ở Việt Nam mặc dù có sự khác biệt về
nguồn gốc lịch sử, ngôn ngữ và văn hóa, nhưng do quá trình chung sống lâu dài,
giữa các dân tộc Việt Nam đã diễn ra quá trình giao lưu, tiếp xúc văn hóa tạo nên
một nền văn hóa Việt Nam thống nhất và đa dạng. -
Lòng yêu nước là cơ sở của ý thức và tư tưởng về Tổ Quốc Việt Nam, dân tộc
Việt Nam. Đó là do sự lãnh đạo sáng suốt đúng đắn của Đảng đã đề ra đường lối
chính sách cơ bản trong việc giải quyết vấn đề dân tộc là đoàn kết, bình đẳng và
tương trợ đã củng cố và thúc đẩy mạnh mẽ quá trình xích lại gần nhau giữa các dân tộc. lOMoAR cPSD| 61458992 -
Trong quá trình xây dựng đất nước, Tiếng Việt đã trở thành tiếng phổ thông,
được dùng làm công cụ để giao lưu tiếp xúc giữa các dân tộc. Nhờ có ngôn ngữ
chung đó đã tạo nên tính thống nhất, sự hiểu biết lẫn nhau giữa các dân tộc. Văn
hóa Việt Nam là nền văn hóa thống nhất trong đa dạng bao gồm tất cả tinh hoa văn
hóa của các dân tộc kết hợp lại để xây dựng một nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc.
Câu 8: Chủng tộc là gì? Anh chị hãy trình bày đặc điểm nhân chủng của các
đại chủng. * Chủng tộc là gì?
Chủng tộc là một quần thể ( hoặc tập hợp các quần thể) đặc trưng bởi nhưng đặc
điểm di truyền về hình thái, sinh lý mà nguồn gốc và quá trình hình thành của chủng
liên quan đến vùng địa vực nhất định.
* Đặc điểm nhân chủng của đại chủng
- Những đặc điểm hình thái riêng vốn có của mỗi chủng tộc tạo thành một tập
hợp các đặc trưng cho phép chúng ta căn cứ vào đó để phân biệt chủng tộc này với
chủng tộc khác gọi là các đặc điểm hay dấu hiệu phân biệt chủng tộc. - Các đặc
điểm chủng tộc về mặt phân loại có thể chia làm những loại sau: Chủng tộc
Môngôlôit (đại chủng Á) có màu da từ vàng, sáng đến tối sẫm hay đồng hun (người
da đỏ châu Mĩ). Lông trên mình ít phát triển; tóc đen thẳng, hơi cứng; mặt to bẹt (trừ
người da đỏ); mũi trung bình, sống mũi vừa phải; mắt có mí lót, mí trên rõ; đầu tròn
hoặc ngắn; răng cửa hình xẻng; chiều cao trung bình. Chủng tộc Ốtxtralôit (đại
chủng Úc) còn gọi là thổ dân châu Úc, có đặc điểm: lông trên mình rậm rạp; râu phát
triển mạnh; tóc đen uốn làn sóng; da đen hoặc nâu sẫm; mặt ngắn; lỗ mũi rộng cánh
mũi to, sống mũi gãy và bẹt; tầm vóc trung bình thấp; đầu dài đến rất dài; răng cửa
hình xẻng chiếm 40- 70%; môi dày; hàm trên hơi vâu.
Chủng tộc Ơrôpôit (đại chủng Âu), chủng tộc có lớp lông lần thứ 3 trên cơ thể
rất phát triển, nhất là râu; tóc màu sáng đến nâu đen, thường uốn làn sóng và mềm;
màu da sáng (riêng tiểu chủng phương Nam Ơrôpôit có nước da ngăm đen); mặt hẹp
và dài; sống mũi cao hẹp; đầu tròn; răng có núm phụ chiếm 40-70%; tầm vóc cao
hoặc trung bình cao; vân tay ít. Người Ơrôpôit cư trú chủ yếu ở châu Âu, Trung
Đông, Bắc Phi, Nam Á. Sau các phát kiến địa lý ở thế kỷ XV-XVI, người Ơrôpôít
bành trướng khắp thế giới, đến châu Mỹ, châu Úc. Họ gồm 2 tiểu chủng: Bắc Ơrôpôít
và Nam Ơrôpôit. Bắc Ơrôpôit có màu da, mắt và tóc sáng hơn, tóc dạng sóng, chiều
cao cơ thể lớn hơn. Nam Ơrôpôit phân bố ở Trung Đông, Bắc Phi, Nam Á (Ấn Độ,
Pakitxtan, Ảrập Xêút, Ai Cập...) có màu da, mắt, tóc đen, chiều cao thấp hơn nhóm
Bắc Ơrôpôít. Chủng Ơrôpôit chiếm khoảng 35% dân số thế giới, hơn 2 tỷ người.
Chủng tộc Nêgrôit (đại chủng Phi) chủng tộc lông trên người rất ít; tóc xoăn tít;
da đen sẫm; cánh mũi rộng, bè ngang; môi rộng, to và dày; mặt ngắn; đầu dài; thân lOMoAR cPSD| 61458992
dài (trừ người Pích mê); chiều cao lớn, răng có núm phụ; vân tay ít. Cư trú tập trung
ở châu Phi, một phần di cư bắt buộc sang châu Mỹ (thế kỷ XVI-XVII).
Chủng tộc Nêgrôit có khoảng hơn 700 triệu người.
Câu 9: Anh chị hãy trình bày nội dung cơ bản của các tiêu chí tộc người a)
Các khái niệm Tộc người -
Theo Từ điển nhân học: Nhóm tộc người, tộc người là những thuật ngữ được
dùng lần đầu tiên trong nhân học dùng để chỉ một dân tộc được xem là thuộc veef
cùng một xã hội, chia sẻ cùng một nền văn hóa và đặc biệt, cùng một ngôn ngữ -
một nền văn hóa và ngôn ngữ được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác không thay
đổi. Thuật ngữ này bắ đầu được sử dụng từ sau Chiến tranh thế giới II nhằm thay
thế những từu cổ hơn như “bộ lạc” và “chủng tộc” theo cách dùng của người Anh. -
Ở Pháp, tộc người (ethnos) là một nhóm cá nhân liên kết với nhau bởi một
phức hợp các tính chất chung- về mặt nhân chủng, chính trị - lịch sử..v..v mà sự kết
hợp các tính chất đó làm thành một hệ thống riêng, một cơ cấu mang tính văn hóa
chủ yếu: một nền văn hóa. Như thế tộc người được xem là một tập thể hay đúng hơn
là một cộng đồng gắn bó với nhau bởi nền văn hóa riêng biệt. -
Các nhà nhân tộc học ở Việt Nam: “tộc người là một tập đoàn người ổn định
hoặctương đối ổn định được hình thành trong lịch sử, dựa trên những mối liên hệ
chung về ngôn ngữ, sinh hoạt văn hóa và ý thức tự giác dân tộc thể hiện bằng một tộc danh chung.”
c) Các tiêu chí của tộc người -
Ngôn ngữ tộc người: Trong các tiêu chí, ngôn ngữ là một trong những một
trong những tiêu chí dễ nhận biết nhất. Ngôn ngữ là dấu hiệu cơ bản để người ta
phân biệt các tộc người khác nhau. Ví dụ, nếu chúng ta lắng nghe ai đó nói tiếng
Việt và nói đúng, nói hay thì ta cho đó là người Việt và ngược lại. Như vậy, ngôn
ngữ được xem là tiêu chí rất quan trọng để xác định bất kì tộc người nào. -
Lãnh thổ tộc người: Theo logic bình thường, sự cấu thành 1 tập tể người nói
1 thứtiếng thì lẽ đương nhiên là tất cả các thành viên của họ phải sống với nhau trong
1 khoảng thời gian dài trong mối liên hệ xác định. Các mối liên hệ này chỉ có thể
xuất hiện trong trường hợp các nhóm người ban đầu có tổ chức thành tộc dân sống
trên một lãnh thổ xac định. Có thể nói mỗi tộc dân đều có lãnh thổ tộc người riêng
ban đầu của riêng mình. Như vậy, lãnh thổ là điều kiện bắt buộc cho sự xuất hiện
của bất kì 1 tộc người nào. Tuy nhiên, lãnh thổ tộc người là 1 phạm trù lịch sử đầy
rẫy những biến động phức tạp. Lãnh thổ có thể được mở rộng, bị thu hẹp, bị biến
mất hoặc được khôi phục lại. -
Cơ sở kinh tế tộc người: Ngay từ đầu mỗi 1 tộc người có cơ sở kinh tế nhất
định để tồn tại và phát triển. Trong toàn bộ chiều dài phát triển của nhân loại, các lOMoAR cPSD| 61458992
mối liên hệ kinh tế đó ngày càng phát triển đa dạng hơn. Từ đó xuất hiện 1 lớp người
trung gian và xuất hện chợ ở các trung tâm, những nơi giao thông thuận tiện. Trong
suốt chiều dài lịch sử có những nhóm người tách ra và thiên di đến những khu vực
khác, họ mất đi mối liên hệ cơ sở kinh tế ban đàu của họ và nhập vào mối liên hệ
kinh tế với tộc người láng giềng nới họ sinh sống mới. Tóm lại, ngay từ đầu mối liên
hệ kinh tế là 1 trong những đặc trưng cơ bản của con người, là điều kiện bắt buộc
đối với các tộc dân. Thế nhưng vấn đề này ngày nay không thể coi là dấu hiệu đặc
biệt quan trọng đối với bất cứ 1 tộc dân nào do sự phát triển của KHKT,… - Các đặc
trưng về văn hóa- sinh hoạt và ý thức của tộc người. Trong số những dấu hiệu quan
trọng phân định tộc người có đặc trưng văn hóa đã được các cư dân sáng tạo nên
trong quá trình phát triển lịch sử của mình và được truyền từ thế hệ này sang thế hệ
khác. Sự tổng hòa các mối liên hệ này giữa các đặc trưng tạo thành các “ truyền
thống tộc người”. Chính đặc thù văn hóa cần được xem xét như là 1 dấu hiệu cơ
bản của một tộc người bất kì nào, không có ngoại lệ, phân định họ với các tộc người
khác. Văn hóa có quan hệ chặt chẽ với ngôn ngữ và ngôn ngữ được coi là thuộc tính
cơ bản, có liên hệ chặt chẽ với văn hóa của tộc người nói thứ tiếng đó, đặc biệt là văn hóa tinh thần. -
Ý thức tự giác tộc người: Tất cả các tiêu chí riêng về ngôn ngữ, lãnh thổ, các
mối liên hệ bên trong và đặc biệt là đặc trưng văn hóa hoàn toàn tồn tại trong đặc
tính bất kì tộc người nào. Sự phối hợp yếu tố này, sự tổng hào của chúng trong sự
hình tành và bảo lưu tộc người trở thành cộng đồng có tính lịch sử là hiện tượng xã
hội rất quan trọng. Đó là sự biểu thị ý thức tự giác tộc người. Ý thức đó nhất thiết
cần phải được xem xét trong việc xác định tộc thuộc của mỗi con người riêng biệt
hay à của cả một nhóm người trọn vẹn, nghĩa là trong việc xác định họ thuộc thành
phần của tộc người này hay tộc người khác.
Câu 10: Anh chị hãy trình bày định nghĩa và chức năng của gia đình * Định nghĩa -
Gia đình được thiết lập trên cơ sở gắn bó với nhau bằng quan hệ hôn nhân (
vợ với chồng ), quan hệ sinh thành ( huyết thống ), bố mẹ sinh ra con cái và có một
cấu trúc riêng là sự tổ chức các mối quan hệ giữa các thành viên trong gia đình về
mặt xã hội – sinh học, kinh tế, pháp luật, đạo đức, tâm lí... Đó là mối quan hệ giữa
vợ và chồng, giữa cha mẹ và con cái, giữa những người anh chị em cùng chung sống
và từ đó mở rộng mối quan hệ về cả hai phía, những người thân thuộc của cha và của mẹ. -
Gia đình là một thiết chế xã hội mang tính lịch sử và hết sức đa dạng trong
các nền văn hóa, đặc biệt nó có sự biến đổi rất lớn trong xã hội công nghiệp và hậu
công nghiệp. Để bao quát càng nhiều càng tốt tất cả các hình thức khác nhau đó, có
người lại đưa ra một định nghĩa khác: Gia đình là có từ hai hay nhiều cá nhân tự lOMoAR cPSD| 61458992
xem mình có quan hệ với nhau, phụ thuộc lẫn nhau về kinh tế, và cùng chia sẻ với
nhau trách nhiệm nuôi dạy con cái trong gia đình của mình.
* Chức năng của gia đình:
Gia đình có 3 chức năng cơ bản sau đây:
1. Chức năng tái sản xuất con người
- Việc quan hệ tình dục để tái sản xuất con người là chức năng cơ bản của gia đình.
Chức năng này được thực hiện qua nhiều mối quan hệ hôn nhân, quan hệ thân
tộc, quan hệ dòng họ, quan hệ kinh tế, quan hệ lao động, quan hệ tài sản, quan hệ
xã hội... 2. Chức năng kinh tế
- Gia đình thực hiện chức năng kinh tế, nghĩa là tiến hành hoạt động kinh tế nhằm
chăm lo cuộc sống vật chất cho gia đình. Chức năng kinh tế gồm có hai tiểu chức
năng: chức năng sản xuất và chức năng tiêu dùng.
Trong các xã hội nông nghiệp tiền tư bản, kinh tế gia đình đóng vai trò quan trọng
như là một đơn vị sản xuất. Việc phân công lao động trong gia đình phụ thuộc vào
trình độ phát triển kinh tế và truyền thống văn hóa tộc người.
Trong xã hội nông nghiệp, phân công lao động chủ yếu theo giới tính và tuổi tác.
Trong xã hội công nghiệp và đô thị, sản xuất được chuyên môn hóa theo nghề
nghiệp, gia đình không còn là đơn vị sản xuất mà là đơn vị tiêu dùng. Các thành
viên trong gia đình đóng góp tiền bạc vào việc tiêu dùng chung và mọi người lại có
những khoản tiền tiêu dùng riêng cho cá nhân.
3.Chức năng văn hóa – giáo dục
- Chức năng văn hóa- giáo dục là một chức năng quan trọng của gia đình. Gia
đìnhlà môi trường xã hội đầu tiên hình thành nhân cách. Từ thuở trong nôi, gia
đình đã nuôi dạy cho đứa trẻ, trao truyền cho nó những di sản văn hóa dân tộc:
học ăn, học nói bằng tiếng dân tộc, bắt chước bố mẹ, người thân từ lời nói, cử chỉ
, hành vi và mọi quy tắc trong cuộc sống sinh hoạt hàng ngày. Qua giáo dục gia
trình, trẻ em được xã hội hóa để hình thành nhân cách.
Câu 11: Hôn nhân là gì ? Anh chị hãy trình bày chức năng của hôn nhân a. Hôn nhân - Định nghĩa:
Hôn nhân là sự giao kết giữa nam và nữ được hợp thức hóa bởi các tập quán và luật
pháp của xã hội, nhằm chung sống khác giới tính với nhau để tái sản xuất ra con
người, từ đó sản sinh những quyền hạn và trách nhiệm cảu vợ chồng trong quan hệ
với nhau và với con cháu của họ.
- Các chức năng của hôn nhân:
Hợp thức hóa quan hệ tình dục:
+ Trong các mối quan hệ hôn nhân, quan hệ tình dục là một thành phần quan trọng.
Bởi vì trong nhiều xã hội, hôn nhân là điều kiện tiên quyết và chính thức để có thể lOMoAR cPSD| 61458992
bắt đầu hoạt động tình dục. Sự ham muốn tình dục là một động cơ mạnh mẽ thúc
đẩy tới hôn nhân. Tuy nhiên có các mối quan hệ tình dục có thể tồn tại mà không
cần đến sự thủy chung hay là cam kết gắn bó với nhau lâu dài.
Thiết lập các gia đình hạt nhân mới và xác định quyền lợi nghĩa vụ của các thành viên:
+ Việc kết hôn sẽ tạo ra một gia đình mới vì lợi ích của tất cả các thành viên trong
gia đình. Nhóm mới này thường đáp ứng những nhu cầu cơ bản của mooic thành
viên về ăn, ở, mặc, con cái được nuôi dạy và nhập thân văn hóa từ lúc sinh ra cho
tới lúc trưởng thành và duy trì nòi giống.
+ Trong từng xã hội hôn nhânđã thể chế hóa những quyền lợi và nghĩa vụ cụ thể
cho những thành viên trong gia đình. Hôn nhân sẽ hình thành các ràng buộc xã được
thể chế hóa một cách hợp pháp mối quan hệ giữa vợ và chồng, giữa cha mẹ với con
cái. Người vợ và chồng có toàn quyền hay một phần quyền đối với thành quả lao
động và tài sản cảu người khác, và khối tài sản chung cần được thiết lập vì lợi ích
cảu con cái trong cuộc hôn nhân.
Tạo lập các liên minh họ hàng :
+ Trong các xã hội không thuộc phương Tây, hôn nhân tạo ra các liên minh giữa
những họ hàng của hai vợ chồng. Chúng ta gọi những người có quan hệ với nhau
qua hôn nhân là những người họ hàng thân thích. Thông qua hôn nhân tạo nên các
mối dây ràng buộc này gọi là liên minh thích tộc nhằm thể hiện các chức năng sinh
tồn, chính trị, pháp luật, kinh tế và xã hội vì lợi ích của những người liên quan. +
Một trách nhiệm thường thấy của những người họ hàn thân thích là mang đến cho
họ những thứ cần thiết cho cuộc sống như tặng thức ăn, quà cáp, tiền bạc vào dịp
cưới hỏi, sinh con, tang ma hay các dịp khác. Tập quán này đóng vai trò hữu ích để
giúp đỡ chia sẻ với nhau nhất là trong lúc khó khan.
+ Mối quan hệ họ hàng thân thích không chỉ mang ý nghĩa về mặt xã hội, kinh tế,
chính trị mà còn chi phối phong tục lễ nghi qua việc chuyển giao hàng hóa, dịch vụ
giữa một người chồng , vợ và các thành viên trong gia đình. Nó được phân phối vào
lúc cưới hay như là một phần ké dài suốt cuộc hôn nhân. Các nhà nhân học dung các
thuật ngữ như sính lễ, ở rể, và cảu hồi môn để phân biệt các loại hàng hóa và dịch vụ được phân phối.
Câu 12. Anh (chị) hãy dùng phương pháp nghiên cứu trong nhân học để phân
tích những tác động của dịch Covid đối với Việt Nam. -
Có nhiều phương pháp nghiên cứu trong nhân học: Phương pháp tổng hợp và
phân tích tài liệu thứ cấp, phương pháp biện chứng, lịch sử … Và phương pháp
riêng có của nhân học là điền dã dân tộc học với quan sát tham dự và phỏng vấn sâu. lOMoAR cPSD| 61458992 -
Trong bài này chúng tôi sẽ sử dụng phương pháp quan sát tham dự để phân
tích tác động của đại dịch Covid 19 tới tình hình của Việt Nam.
* Trước hết cần hiểu qua về đại dịch Covid 19 và tác động của nó đối với thế giới:
- Khái niệm về dịch bệnh Covid 19:
+ Là một bệnh đường hô hấp cấp tính truyền nhiễm gây ra bởi một chủng virus corona mới
+ Được cho là có nguồn gốc từ động vật nhưng phương thức lây truyền chủ yếu của
nó hiện nay là lây truyền từ người sang người, thường được truyền thông qua các
giọt dịch hô hấp mà con người hắt hơi, ho hoặc thở ra.
- Nguồn gốc và sự nguy hiểm của nó:
+ Virus được xuất phát từ Vũ Hán, Trung Quốc với ca bệnh đầu tiên được phát hiện
vào ngày 31/12/2019. Đây cũng là tâm điểm vùng dịch của toàn thế giới trong thời gian đầu.
+Từ đây virus covid – 19 lan ra toafnn Trung Quốc, châu Á rồi sang cả châu Mĩ,
châu Âu. Hơn 200 quốc gia và vùng lãnh thổ ghi nhận có cả nhiễm.
+11/3/2020 WHO đã tuyên bố Covid – 19 là một đại dịch toàn cầu, đây là lần thứ 4
WHO tuyên bố đại dihjc và ban bố tính trạng khẩn cấp y tế toàn cầu.
+ Tất cả các quốc gia đều đặt dưới tình trạng y tế khẩn cấp và ban bố lệnh giới
nghiêm để hạn chế lượng người tiếp xúc với nhau.
- Cho đến hiện nay trên thế giới đã có hơn 4 triệu người nhiễm Covid 19 và hơn 280
nghìn người tử vong trong khi dịch bệnh vẫn đang có những diễn biến phức tạp tại nhiều quốc gia.
=> Đây là một đại dịch toàn cầu đặt con người vào tình trạng khẩn cấp, là sự thử
thách đối với con người cũng như là mối nguy cho toàn nhân loại.
* Diễn biến của dịch Covid 19 ở Việt Nam và những biện pháp của chính phủ:
- Tình hình, diễn biến dịch bệnh ở Việt Nam lOMoAR cPSD| 61458992
+ Việt Nam là nước láng giểng của Trung Quốc, nên việc có nhiều người nhiễm là
điều không thể tránh khỏi, quan trọng là sự kiểm soát và những quyết sách quyết liệt
của toàn hệ thống chính trị để dịch bệnh không lây lan ra cộng đồng.
+ 23/1/2020: ca nhiễm Covid – 19 đầu tiên ở Việt Nam.
+ Hiện nay đã có hơn 2800 người nhiễm ở Việt Nam trong đó có hơn 2400 bệnh
nhân được tuyên bố khỏi bệnh và có 35 người tử vong.
- Những hành động quyết liệt của Việt Nam:
+ Những ngàu đầu chống dịch, nạn khẩu trang hoành hành với giá cắt cổ, trưởng ban
chỉ đạo quốc gia về phòng chống Covid – 19, phó thủ tướng chính phủ Vũ Đức Đam
đã nói: “ Bất kì người dân nào có bằng chứng chứng minh cửa hàng thuốc tăng giá
khẩu trang không cần thanh tra, khiểm tra, Bộ y tế sẽ rút giấy phép kinh doanh”.
+ Khi bệnh nhân số 17 nhiễm Covid – 19 và lây lan ra nhiều người thì chính phủ
Việt Nam, chủ tịch UBND thành phố Hà Nội đã họp khẩn và đưa ra những hành
động kịp thời nhằm đẩy lùi nguy cơ lây lan cộng đồng:
● Hạn chế ra ngoài tiếp xúc nơi đông người
● Đeo khẩu trang khi đi ra ngoài
● Thực hiện cách li xã hội
+ Tuy nhiên ở Việt Nam được xem như là một biểu tượng sáng ngời, chính phủ quyết
định không để ai bị bỏ lại phía sau. Tất cả những kiều bào nước ngoài có nhu cầu về
nước, nhà nước ta sẵn sàng tiếp nhận.
+ Hàng loạt các bệnh viện dã chiến được thành lập. Các doanh trại, kí túc xã trở
thành khu cách li tập trung. Các cán bộ đội ngũ y bác sĩ ở tuyến đầu chống dịch
chính là những người anh hùng áo trắng.