



















Preview text:
lOMoARcPSD|61240729 80 câu LHP - lhp
Luật Hiến pháp (Trường Đại học Luật Hà Nội) Scan to open on Studeersnel
Studocu is not sponsored or endorsed by any college or university
Downloaded by HU? BÙI TH? (huebuithi190307@gmail.com) lOMoARcPSD|61240729
1. Phân tích đối tượng điều chỉnh của ngành luật hiến pháp Việt Nam. Lấy ví dụ minh họa. -
Định nghĩa: Đối tượng điều chỉnh của ngành LHP là các QHXH nền tảng, cơ bản nhất và quan trọng nhất trong xã hội. -
ĐTĐC của ngành LHP được chia thành 3 nhóm:
+ Thứ nhất, các QHXH nền tảng, cơ bản và quan trọng nhất trong các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hoá, giáo
dục, khoa học, công nghệ, an ninh, quốc phòng, chính sách đối ngoại.
+ Thứ hai, các QHXH nền tảng, cơ bản và quan trọng nhất trong lĩnh vực quan hệ giữa nhà nước và người dân,
hay nói cách khác là QHXH xác định quyền và nghĩa vụ cơ bản của người dân.
+ Thứ ba, các QHXH nền tảng, cơ bản và quan trọng nhất trong lĩnh vực tổ chức và hoạt động của BMNN: Đây là
các quan hệ xã hội liên quan tới việc xác định các nguyên tắc tổng thể của bộ máy nhà nước Việt Nam, các nguyên tắc tổ
chức và hoạt động, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức và hoạt động của các cơ quan trong bộ máy nhà nước
Việt Nam từ trung ương tới địa phương. Đây là nhóm đối tượng điều chỉnh lớn nhất của ngành LUẬT HIẾN PHÁP. -
Đặc điểm ĐTĐC của ngành LHP: 3 đặc điểm
+ Thứ nhất, ĐTĐC của ngành LHP hiện diện ở hầu khắp các lĩnh vực của đời sống xã hội; hay nói cách khác, đối
tượng điều chỉnh của ngành Luật Hiến pháp có phạm vi rất rộng. Trong khi đó, ĐTĐC của hầu hết các ngành
luật khác thường nằm trong lĩnh vực cụ thể, ví dụ luật môi trường, luật thương mại,. .
+ Thứ hai, dù trải rộng trên nhiều lĩnh vực song ĐTĐC của ngành LHP chỉ bao gồm các QHXH nền tảng, cơ bản
nhất và quan trọng nhất. Còn những QHXH cụ thể hơn của từng lĩnh vực là ĐTĐC của các ngành luật khác.
+ Thứ ba, phạm vi các nhóm QHXH nền tảng, cơ bản và quan trọng nhất không mang tính tuyệt đối, có thể thay
đổi trong từng thời kỳ tùy thuộc vào nhận thức của giới nghiên cứu khoa học pháp lý và các cơ quan có thẩm
quyền trong từng giai đoạn cụ thể. - Ví dụ:
+ Trong lĩnh vực kinh tế, LHP chỉ điều chỉnh những QHXH như các quan hệ xác định loại hình sở hữu, các thành
phần kinh tế, chính sách của nhà nước đối với các thành phần kinh tế, vai trò của nhà nước đối với nền kinh tế.
+ Trong lĩnh vực dân sự, quan hệ sở hữu là một quan hệ nền tảng, nếu không xác định được quan hệ sở hữu thì
không thể thiết lập được các giao dịch dân sự có liên quan => Quan hệ sở hữu là ĐTĐC của ngành LHP.
+ Trong lĩnh vực chính trị, các quan hệ như quan hệ liên quan đến việc xác định nguồn gốc của quyền lực nhà
nước, MTTQ Việt Nam và các tổ chức thành viên của mặt trận, QHXH xác định mối quan hệ giữa nhà nước với
Đảng cộng sản Việt Nam,. . đều là cơ sở để xác định chế độ chính trị của nước CHXHCN Việt Nam. Nên nó là ĐTĐC của ngành LHP.
2. Nêu định nghĩa và phân tích đặc điểm của hiến pháp. -
Định nghĩa: Hiến pháp là hệ thống các QPPL có hiệu lực pháp lý cao nhất quy định những vấn đề cơ bản nhất về
chủ quyền quốc gia, chế độ chính trị, chính sách kinh tế, văn hoá, xã hội, tổ chức quyền lực nhà nước, địa vị pháp
lý của con người và công dân. -
Bốn đặc trưng cơ bản của Hiến pháp:
+ Thứ nhất, Hiến pháp là luật cơ bản, là “luật mẹ”, luật gốc. Nó là nền tảng, là cơ sở để xây dựng và phát triển
toàn bộ hệ thống pháp luật quốc gia. Mọi đạo luật và văn bản quy phạm pháp luật khác dù trực tiếp hay gián tiếp
đều phải căn cứ vào hiến pháp để ban hành.
+ Thứ hai, Hiến pháp là luật tổ chức: Hiến pháp quy định các nguyên tắc tổ chức bộ máy nhà nước, là luật xác
định cách thức tổ chức và xác lập các mối quan hệ giữa các cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp; quy định
cấu trúc các đơn vị hành chính lãnh thổ và cách thức tổ chức chính quyền địa phương.
+ Thứ ba, Hiến pháp là luật bảo vệ: Các quyền con người và công dân bao giờ cũng là một phần quan trọng của
hiến pháp. Do hiến pháp là luật cơ bản của nhà nước nên các quy định về quyền con người và công dân trong
hiến pháp là cơ sở pháp lý chủ yếu để nhà nước và xã hội tôn trọng và bảo đảm thực hiện các quyền con người và công dân.
+ Thứ tư, Hiến pháp là luật có hiệu lực pháp lý tối cao: Tất cả các văn bản pháp luật khác không được trái với hiến
pháp. Bất kì văn bản pháp luật nào trái với hiến pháp đều phải bị hủy bỏ.
3. Tại sao nói hiến pháp là công cụ kiểm soát quyền lực nhà nước?
Downloaded by HU? BÙI TH? (huebuithi190307@gmail.com) lOMoARcPSD|61240729 - Hiến pháp là …. -
Quyền lực nhà nước là… -
Nói HP là công cụ kiểm soát quyền lực nhà nước vì:
+ Bản chất của hiến pháp là dân chủ, vì nó thể hiện quyền lực của nhân dân và phải được thông qua với sự đồng ý của nhân dân.
+ Trong nhà nước dân chủ, HP được xem là “bản khế ước xã hội”. Theo như Thomas Paine đã từng nói: “Hiến
pháp không phải là đạo luật cơ bản của một chính phủ, mà là đạo luật của một dân tộc nhằm cấu thành nên chính
phủ.” Nói cách khác, HP là sự thỏa thuận giữa người dân và chính quyền, xác lập những nguyên tắc cơ bản để
giới hạn quyền lực nhà nước, thiết lập địa vị pháp lý của con người, của công dân làm cơ sở để xác định trách
nhiệm của nhà nước với người dân của mình.
+ Ở Việt Nam hiện nay, theo Điều 8 Hiến pháp 2013 quy định: “Nhà nước được tổ chức và hoạt động theo Hiến
pháp và pháp luật, quản lý xã hội bằng Hiến pháp và pháp luật, thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ.”
+ Bên cạnh đó, Hiến pháp là công cụ phòng chống tham nhũng. Một trong những vai trò quan trọng bậc nhất của
Hiến pháp là phòng, chống tham nhũng, hay nói một cách khác, Hiến pháp là một trong những công cụ để
phòng, chống tham nhũng của quốc gia. Muốn cho Hiến pháp là công cụ của việc phòng, chống tham nhũng,
cũng là việc hiểu Hiến pháp như là công cụ kiểm soát, quyền lực. Nếu quyền lực không kiểm soát được, cũng là
quyền lực đã góp phần gia tăng cho tệ nạn tham nhũng.
4. Tại sao nói hiến pháp là luật bảo vệ? -
Dựa vào nội dung của HP mà ta có thể nói HP là luật bảo vệ. Trong HP ghi nhận các quyền con người, quyền cơ
bản của công dân làm cơ sở để các đạo luật thông thường quy định chi tiết việc thực hiện quyền con người, quyền
công dân trong từng lĩnh vực cụ thể. Việc hiến định nội dung này khẳng định rõ hơn bản chất dân chủ của nhà
nước, các quyền con người, quyền công dân một khi được hiến định sẽ phải được nhà nước và xã hội tôn trọng.
Đồng thời đây cũng là căn cứ pháp lý quan trọng để xác định trách nhiệm của nhà nước trong việc bảo vệ, bảo đảm
các quyền con người, quyền cơ bản của công dân, qua đó người dân có thể đánh giá được tính hiệu quả hoạt động của nhà nước. -
Trong hiến pháp hiện đại thì việc ghi nhận quyền cơ bản của công dân cũng được coi là nội dung không thể thiếu để
cấu thành nên một bản HP. Thậm chí, một số quốc gia ngày càng đề cao nội dung này trong HP của nước mình,
điều này thể hiện ở việc nhiều nước đã hiến định các quyền cơ bản ở những chương đầu tiên. Ở Việt Nam, HP hiện
hành cũng đã đề cao vai trò bảo vệ các quyền cơ bản của con người, của công dân của HP khi điều chỉnh cơ cấu
chương mục so với HP 1992 nhằm đưa chương về các quyền cơ bản lên chương II ngay sau chương Chế độ Chính
trị thay vì quy định tại chương V như HP 1980, HP 1992.
5. Tại sao nói hiến pháp là luật tổ chức? -
Dựa vào nội dung của HP mà ta có thể nói HP là luật tổ chức. Về cơ bản, HP của quốc gia nào cũng đều quy định
nguyên tắc tổ chức BMNN, quy định vị trí, tính chất, chức năng và một số nội dung cơ bản về nguyên tắc hoạt
động, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu, tổ chức của những cơ quan nhà nước nắm giữ quyền lực quan trọng trong
BMNN. Đây là nội dung mang tính kinh điển, cơ bản không thể thiếu để cấu thành nên một bản HP vì những bản
HP đầu tiên trên thế giới ra đời thì nội dung chỉ xoay quanh về vấn đề tổ chức quyền lực nhà nước, thể hiện chủ yếu
qua cách thức tổ chức BMNN. VD: HP Hoa Kỳ năm 1787, tại thời điểm thông qua lần đầu tiên, bản HP này chỉ vẻn
vẹn có 7 Điều và tập trung vào quy định tổ chức BMNN.
6. Tại sao nói hiến pháp là luật có hiệu lực pháp lý tối cao? -
Dựa vào các đặc điểm của HP mà ta có thể nói HP là luật có hiệu lực pháp lý cao nhất. HP là luật cơ bản của một
nước, chứa đựng những nội dung quan trọng, mang tính nền tảng, định hướng cho sự phát triển của một quốc gia,
dân tộc; do đó, HP được xác định là đạo luật có hiệu lực pháp lý cao nhất. Tính cao nhất ở đây được thể hiện trong
mối quan hệ với các đạo luật thông thường. Các văn bản pháp luật khi ban hành phải đảm bảo có nội dung không
được trái với HP, nếu văn bản pháp luật đã thông qua nhưng phát hiện có nội dung trái HP thì sẽ bị bãi bỏ hoặc phải
sửa đổi cho phù hợp. Để đảm bảo tính hiệu lực cao nhất của HP, vấn đề này thường được quy định thành nhiều
khoản ngay trong chính bản hiến pháp đó.
Downloaded by HU? BÙI TH? (huebuithi190307@gmail.com) lOMoARcPSD|61240729 -
Ngoài ra, quy trình ban hành, sửa đổi và thông qua HP ở các nước cũng khác so với các đạo luật thông thường. Cụ
thể là quy trình làm HP sẽ chặt chẽ hơn, khắt khe hơn, đồng thời mức độ tham gia của người dân cũng được rộng
rãi và sâu sắc hơn so với các đạo luật khác. VD việc thông qua HP thường có thủ tục trưng cầu ý dân, trong khi các
luật thì có thể chỉ lấy ý kiến nhân dân… -
Ví dụ: Theo Khoản 1 Điều 119 Hiến pháp 2013 quy định: “Hiến pháp là luật cơ bản của nước Cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam, có hiệu lực pháp lý cao nhất. Mọi văn bản pháp luật khác phải phù hợp với Hiến pháp. Mọi hành
vi vi phạm Hiến pháp đều bị xử lý.”
7. Phân tích quy trình lập hiến theo Hiến pháp năm 2013. -
Hiến pháp là luật cơ bản của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, có hiệu lực pháp lý cao nhất. -
Lập hiến là việc định ra Hiến pháp. Quyền lập hiến là quyền làm Hiến pháp và sửa đổi, bổ sung Hiến pháp hoặc
làm Hiến pháp mới. Ở Việt Nam, theo quy định của Hiến pháp năm 2013, Quốc hội là cơ quan duy nhất có quyền lập hiến và lập pháp. -
Quy trình lập hiến được hiểu là quy trình hoạt động có tính chính trị-pháp lý, gồm nhiều giai đoạn, nhiều hoạt
động khác nhau, do nhiều chủ thể tiến hành, có mối liên hệ chặt chẽ và tuân theo trình tự nhất định; là quy trình
hoạt động mang tính sáng tạo sản phẩm là văn bản hiến pháp. -
Quy trình lập hiến được quy định trong Điều 120 HP 2013
+ (1) Chuẩn bị đề nghị và quyết định ban hành mới HP:
● Cơ quan, tổ chức có đề nghị về việc ban hành HP sẽ trình QH về việc ban hành HP. Dự án này bao gồm tờ
trình QH và dự kiến những vấn đề sửa đổi, bổ sung HP. Để dự án có chất lượng hiệu quả và đúng tiến độ,
một nhóm nghiên cứu giúp việc cho cơ quan, tổ chức có đề nghị được thành lập thường gọi là Ban hoặc Tiểu ban nghiên cứu.
● Một trong những nguyên tắc sửa đổi HP đã được ghi nhận từ HP 1946 đến HP 2013 là việc sửa đổi HP phải
được ít nhất hai phần ba tổng số đại biểu QH biểu quyết tán thành
+ (2) Thành lập Ủy ban dự thảo HP
● Cơ quan, tổ chức, cá nhân đề nghị thành lập Ủy ban dự thảo HP phải làm tờ trình về dự kiến danh sách các
thành viên của UB dự thảo HP để trình cơ quan có thẩm quyền xem xét, quyết định
● Trên cơ sở đề nghị của tổ chức, cá nhân, QH thảo luận và quyết định thành lập UB dự thảo HP. Quyết định
của QH bằng một nghị quyết quy định thành phần UB dự thảo HP bao gồm: Chủ tịch và cách thành viên UB, nhiệm vụ của UB.
+ (3) UB dự thảo HP soạn thảo, tổ chức lấy ý kiến nhân dân và trình QH dự thảo HP
● Giai đoạn soạn thảo dự án HP hoặc dự án sửa đổi, bổ sung HP là giai đoạn quan trọng nhất, chất lượng chuẩn
bị của dự án HP tập trung vào giai đoạn soạn thảo.
● Lấy ý kiến nhân dân, ý kiến các đại biểu QH về dự thảo HP là công đoạn không thể thiếu trong quy trình lập
hiến. Hoạt động này có thể diễn ra trước, trong hoặc sau hoạt động soạn thảo HP hoặc có thể diễn ra tại tất cả các công đoạn
● Mục đích của việc lấy ý kiến ND về dự thảo HP nhằm phát huy quyền làm chủ và trí tuệ nhân dân. Phạm vi
và đối tượng lấy ý kiến là tất cả các đối tượng, tầng lớp nhân dân, các cơ quan TW, địa phương, các đại biểu
QH… Thời gian lấy ý kiến trung bình khoảng 2 tháng
+ (4) Xem xét, thông qua dự thảo HP
● QH thường xem xét, thông qua HP tại hai kỳ họp. Quy trình xem xét, thông qua như sau:
● UB dự thảo HP thuyết trình về dự án HP. QH thảo luận, cho ý kiến tại Tổ hoặc Đoàn đại biểu QH và tại
phiên họp toàn thể về những nội dung cơ bản và những vấn đề lớn còn có nhiều ý kiến khác nhau của dự thảo HP
● Tiếp thu ý kiến của đại biểu QH, chỉnh lý dự thảo HP. Trình QH xem xét, thông qua dự thảo HP khi có ít
nhất hai phần ba tổng số đại biểu QH biểu quyết tán thành
Downloaded by HU? BÙI TH? (huebuithi190307@gmail.com) lOMoARcPSD|61240729 + (5) Công bố HP
● Công bố HP là giai đoạn cuối của quy trình lập hiến nhằm đưa nội dung HP đến toàn xã hội
8. Tại sao quy trình làm hiến pháp được thiết kế với sự tham gia rộng rãi của người dân? -
Hiến pháp do Quốc hội ban hành- cơ quan quyền lực cao nhất của Nhà nước, cơ quan đại diện cho ý chí của nhân
dân (điều 69 hiến pháp năm 2013) => khi ban hành ra một bản Hiến pháp cần có sự tham gia rộng rãi của người dân. -
Nhà nước Việt Nam đi theo con đường XHCN chế độ chính trị dân chủ (dân chủ rộng rãi) nhà nước do nhân dân
làm chủ, nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Chính vì vậy khi ban hành lên một bản hiến pháp một
văn bản có hiệu lực pháp lý tối cao nhân dân phải được tham gia xây dựng cũng như sửa đổi lên hiến pháp -
Khi có sự tham gia đông đảo của quần chúng nhân dân sẽ đảm bảo được tính khách quan, hạn chế được sự duy
chí trong quá trình lập pháp, ghi nhận một cách đầy đủ, chính xác nhất các nguyện vọng chính đáng của người dân. -
Khi có sự tham gia rộng rãi của người dân => phát huy được tính dân chủ rộng rãi người dân có quyền quyết
định các công việc liên quan đến vận mệnh quốc gia, sự phát triển của đất nước( họ thực hiện quyền làm chủ của
mình, tổ chức và hoạt động của BMNN trên cơ sở chủ quyền nhân dân ) -
Nhà nước tạo mọi điều kiện cho nhân dân tham gia rộng rãi , đóng góp ý kiến, bàn bạc thảo luận xây dựng hiến
pháp => cải thiện mối quan hệ giữa Nhà nước với người dân => người dân sẽ tin tưởng, ủng hộ và tuân theo quy định của hiến pháp. -
Khi họ được tham gia xây dựng đồng nghĩa với việc tinh thần trách nhiệm của họ sẽ nâng cao, sống và làm theo
quy định của hiến pháp và luật -
Có sự tham gia rộng rãi của ng dân => nhà nước đang thừa nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm cho quyền và
nghĩa vụ của công dân được thực thi trên thực tế cũng như quyền làm chủ đất nước của họ. -
Sự tham gia rộng rãi của ng dân trong việc xây dựng lên hiến pháp => làm cho bản hiến pháp trở thành văn bản
quy tắc xử sự chung của cộng đồng chứ không phải của riêng một cơ quan tổ chức nào trong xã hội. => sự tham
gia rộng rãi của người dân tạo nên sức mạnh cộng đồng, sức mạnh của tinh thần đoàn kết => phát triển đất
nước ngày càng ổn định dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.
9. Phân tích ý nghĩa của vấn đề bảo vệ hiến pháp. -
Khái niệm: Bảo vệ HP (Bảo hiến) là tổng hợp các hoạt động được tiến hành bởi các cơ quan, cá nhân mà HP quy
định nhiệm vụ và quyền hạn nhằm bảo đảm sự tôn trọng và thi hành HP, ngăn ngừa và xử lý mọi hành vi vi phạm HP. -
Tại sao cần phải bảo vệ Hiến pháp?
+ Xuất phát từ vai trò của Hiến pháp đối với nhà nước và xã hội
+ Xuất phát từ thực tế là có hành vi vi hiến. Do đó, nếu không có cơ chế bảo vệ Hiến pháp thì sẽ không có cách
thức để ngăn chặn hay xử lý những hành vi vi hiến này. -
Ý nghĩa, Bản chất của bảo vệ Hiến pháp: Phải nắm được bản chất của bảo vệ Hiến pháp mới đưa ra được cơ chế
bảo vệ Hiến pháp một cách hiệu quả.
+ Về mặt thuật ngữ: Bảo vệ Hiến pháp là đặt ra những biện pháp ngăn chặn nguy cơ xâm phạm hiến pháp và xử lý
hành vi vi phạm các quy định của Hiến pháp nhằm đảm bảo các quy định của Hiến pháp được thực thi một cách
đầy đủ, nghiêm túc trên thực tế.
+ Hiến pháp có vai trò vô cùng quan trọng không chỉ đối với hệ thống pháp luật quốc gia mà nó còn mang ý nghĩa
về mặt chính trị. Hay nói cách khác, Hiến pháp là minh chứng cho một Nhà nước dân chủ, đánh dấu bước ngoặt
lịch sử của một dân tộc, là căn cứ pháp lý nền tảng để định hướng xây dựng chế độ xã hội ở một quốc gia. Do
đó, bảo vệ Hiến pháp là bảo vệ thành quả của sự thoả thuận giữa một bên là người dân và một bên là chính
quyền. Trong vấn đề thực hiện thoả thuận đó, rõ ràng bên nắm giữ quyền lực nhà nước thường sẽ là bên dễ vi
phạm khế ước bởi Hiến pháp sinh ra phần lớn là để kiểm soát quyền lực của họ. Trong khi đó, với người dân thì
Hiến pháp chính là cơ sở quan trọng để họ yên tâm về sự vận hành của chính quyền, giúp họ bảo vệ quyền lợi
chính đáng của mình. Từ đây ta có thể hiểu được bản chất của bảo vệ hiến pháp chính là ngăn chặn và xử lý các
cơ quan nhà nước, quan chức nhà nước không thực hiện hoặc thực hiện không đúng các cam kết với người dân đã được hiến định.
Downloaded by HU? BÙI TH? (huebuithi190307@gmail.com) lOMoARcPSD|61240729
10. Phân tích quy định về bảo vệ hiến pháp theo Hiến pháp năm 2013. -
Điều 119 Hiến pháp 2013: “1. Hiến pháp là luật cơ bản của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, có hiệu lực
pháp lý cao nhất. Mọi văn bản pháp luật khác phải phù hợp với Hiến pháp. Mọi hành vi vi phạm Hiến pháp đều bị
xử lý. 2. Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ, Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân
dân, các cơ quan khác của Nhà nước và toàn thể Nhân dân có trách nhiệm bảo vệ Hiến pháp. Cơ chế bảo vệ Hiến
pháp do luật định.” -
Theo đó, việc bảo vệ Hiến pháp là trách nhiệm của toàn bộ các cơ quan nhà nước và toàn thể nhân dân. Còn cơ chế
bảo vệ Hiến pháp sẽ do luật định, phải có luật quy định chi tiết. Hiện nay, Quốc hội vẫn chưa ban hành một đạo luật
quy định cơ chế bảo hiến cụ thể mà việc bảo vệ Hiến pháp mới chỉ thông qua những quy định về nhiệm vụ, quyền
hạn của cơ quan nhà nước trong đó có đề cập đến trách nhiệm của các cơ quan nhà nước khi ban hành hay phát hiện
văn bản pháp luật vi phạm hiến pháp và cách thức xử lý các văn bản đó. -
Theo các quy định này thì nguyên tắc bảo vệ Hiến pháp ở nước ta chủ yếu dựa trên cơ chế kiểm tra, giám sát việc
ban hành văn bản pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên với cơ quan nhà nước cấp dưới, giữa cơ quan quyền lực
nhà nước (Quốc hội, Hội đồng nhân dân) với cơ quan chấp hành cùng cấp (Chính phủ, UBNN). -
Dưới góc độ Hiến định chúng ta đề cao tinh thần bảo vệ Hiến pháp khi xác định đó là trách nhiệm của cả Nhà nước
và Nhân dân. Nhưng muốn bảo vệ Hiến pháp hiệu quả thì cần phải sớm có cơ chế bảo hiến cụ thể. Việc lựa chọn
mô hình phi tập chung như hiện nay (không có cơ quan chuyên trách bảo vệ Hiến pháp) sẽ khó đáp ứng các tiêu chí
về một mô hình bảo hiến có hiệu quả như đã đề cập.
11. Tại sao nói Hiến pháp năm 2013 là luật cơ bản của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam? -
Hiến pháp là đạo luật cơ bản của một nước, không chỉ ở Việt Nam mà ở tất cả các nhà nước dân chủ trên thế giới.
Hiến pháp là nền tảng, là cơ sở để xây dựng toàn bộ hệ thống pháp luật của mỗi quốc gia. Các đạo luật khác dù trực
tiếp hay gián tiếp đều phải dựa trên tinh thần và nội dung của Hiến pháp ban hành. Đối tượng điều chỉnh của HP rất
rộng, bao quát hầu hết các lĩnh vực của đời sống xã hội, đó là những QHXH cơ bản liên quan đến các lợi ích cơ bản
của mọi giai cấp, mọi tầng lớp, mọi công dân trong xã hội. -
Hiến pháp 2013 có quy định về cách thức tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước cũng như giới hạn quyền lực
của các cơ quan một cách nền tảng và cơ bản nhất: Chương I (Chế độ chính trị), Chương V (Quốc hội), Chương VI
(Chủ tịch nước), Chương VII (Chính phủ), Chương VIII (TAND, VKSNM), Chương IX (Chính quyền địa
phương). . Hay nó còn quy định về các quyền cơ bản của con người, của công dân được nhà nước và xã hội tôn
trọng, bảo vệ trong Chương II (Quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân). -
Ở Việt Nam, có thời kỳ chúng ta quan niệm hiến pháp là luật cơ bản của Nhà nước. Tuy nhiên để phản ánh đúng vai
trò của hiến pháp đối với nhà nước và xã hội, hiến pháp hiện hành đã sửa quy định trên thành hiến pháp là luật cơ
bản của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Thuật ngữ “nước” thay cho “nhà nước” đã thể hiện hiến pháp
không chỉ là luật cơ bản của Nhà nước - tổ chức quản lý xã hội - mà thực chất Hiến pháp là luật cơ bản của một đất
nước, ở đó, nhân dân mới thực sự là chủ nhân của bản Hiến pháp.
12. Nêu khái niệm và phân tích các đặc trưng cơ bản của quyền con người. - Khái niệm:
+ Quan điểm các quyền tự nhiên: Quyền con người là toàn bộ các quyền, tự do và đặc quyền được công nhận dành
cho con người do tính chất nhân bản của nó, sinh ra từ bản chất con người chứ không phải được tạo ra bởi pháp luật
hiện hành. Đây là các quyền tự nhiên, thiêng liêng và bất khả xâm phạm do đấng tạo hoá ban cho con người mà bất
kỳ chính phủ nào cũng phải bảo vệ.
+ Quan điểm các quyền pháp lý: Quyền con người được hiểu là những đảm bảo pháp lý toàn cầu, có tác dụng bảo vệ
các cá nhân và các nhóm chống lại những hành động hoặc sự bỏ mặc mà làm tổn hại đến nhân phẩm, những sự
được phép và sự tự do cơ bản của con người.
=> Nhìn vào bản chất, quyền con người không thể tách rời khỏi hai quan điểm nói trên. Vì vậy có thể nói: Quyền con
người là những nhu cầu, khả năng, lợi ích tự nhiên, vốn có của con người; được pháp luật quy định và bảo đảm bởi Nhà nước. -
4 đặc trưng của quyền con người:
Downloaded by HU? BÙI TH? (huebuithi190307@gmail.com) lOMoARcPSD|61240729
+ Tính phổ biến: Quyền con người thuộc về tất cả mọi người một cách như nhau, là quyền thiên bẩm vốn có của con
người và được thừa nhận cho tất cả mọi người trên trái đất, không phân biệt chủng tộc, tôn giáo, giới tính, quốc
tịch, địa vị xã hội, giới tính.
+ Tính không thể tước bỏ: Các quyền gắn chặt với phẩm giá con người, Nhà nước cũng như các chủ thể khác không
thể được tuỳ tiện tước bỏ hay cản trở các quyền đó. Tuy nhiên trong một số trường hợp, các quyền con người có thể
bị tước bỏ hoặc hạn chế nhằm khắc phục tình trạng đó. Ví dụ: Trong thời kỳ dịch bệnh hoành hành, quyền tự do đi
lại của người dân sẽ bị hạn chế để đảm bảo an toàn sức khỏe của cộng đồng.
+ Tính không thể phân chia: Các quyền không có thứ tự ưu tiên mà cần phải được tôn trọng ngang bằng nhau. Tuy
nhiên trong một số trường nguy cấp, một số quyền phải chấp nhận đứng dưới quyền khác bởi nếu các quyền đó
không được bảo đảm thì những quyền còn lại cũng không được duy trì. Ví dụ: Khi xảy ra lũ lụt, những người không
có nơi cư trú có thể đến lánh nạn tại bất kỳ nhà người khác an toàn vì quyền được sống của họ sẽ được ưu tiên hơn
quyền bất khả xâm phạm hay quyền sở hữu của người khác.
+ Tính liên hệ và phụ thuộc lẫn nhau: Các quyền không tồn tại một cách độc lập mà có sự liên hệ với nhau. Sở dĩ có
điều này là vì các quyền phản ánh những khía cạnh khác nhau của đời sống con người mà những khía cạnh đó lại có
sự liên hệ với nhau, hỗ trợ nhau. Ví dụ: Quyền có việc làm là tiền đề để thực hiện các quyền khác như quyền học
tập, quyền sở hữu tư nhân,. .
13. Nêu khái niệm quyền con người. Nhà nước Việt Nam có trách nhiệm gì đối với quyền con người? - Khái niệm: … - Cơ sở pháp lý:
+ Khoản 1 Điều 14 Hiến pháp 2013: “Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người, quyền
công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật.”
+ Điều 3 Hiến pháp 2013: “Nhà nước bảo đảm và phát huy quyền làm chủ của Nhân dân; công nhâ ̣n, tôn trọng, bảo
vê ̣ và bảo đảm quyền con người, quyền công dân; thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng,
văn minh, mọi người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện.” -
Trách nhiệm của Nhà nước với quyền con người:
+ Trách nhiệm xây dựng và tổ chức thực thi Hiến pháp, pháp luật và chính sách bảo đảm quyền con người.
+ Trách nhiệm xây dựng và củng cố các thiết chế bảo đảm quyền con người.
+ Trách nhiệm tuyên truyền và giáo dục về quyền con người.
+ Trách nhiệm hợp tác quốc tế trên lĩnh vực quyền con người.
+ Trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ theo nguyên tắc công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm quyền con người:
Công nhận: Thừa nhận và ghi nhận vào văn bản pháp luật
Tôn trọng: Không tuỳ tiện hạn chế quyền
Bảo vệ: Ngăn ngừa và trừng phạt sự xâm phạm quyền
Bảo đảm: Tạo ra các điều kiện đảm bảo để quyền con người được thực hiện
14. Nêu khái niệm quyền cơ bản của công dân. Mối quan hệ giữa quyền cơ bản của công dân với quyền cụ thể của công dân? -
Khái niệm: Quyền cơ bản của công dân là các quyền được xác định trong Hiến pháp trên các lĩnh vực chính trị,
dân sự, kinh tế, xã hội, văn hoá, là cơ sở để thực hiện các quyền và nghĩa vụ cụ thể khác của công dân và cơ sở chủ
yếu để xác định địa vị pháp lý của công dân. - Mối quan hệ:
+ Quyền cơ bản của công dân được ghi nhận trong Hiến pháp là cơ sở chủ yếu để xác định địa vị pháp lý của công dân.
+ Các quyền cơ bản của công dân quy định trong Hiến pháp là cơ sở đầu tiên cho mọi quyền cụ thể khác của công
dân được ghi nhận trong các ngành luật trong hệ thống pháp luật.
+ Quyền cơ bản của công dân có ý nghĩa quan trọng hàng đầu đối với công dân và nhà nước; nó là cơ sở để nhà
nước quy định các quyền cụ thể của công dân.
+ Các quyền cơ bản của công dân là nguồn gốc phát sinh các quyền cụ thể khác.
Downloaded by HU? BÙI TH? (huebuithi190307@gmail.com) lOMoARcPSD|61240729
=> Như vậy, tất cả mọi quyền cụ thể của công dân đều bắt nguồn từ quyền cơ bản của công dân. -
Ví dụ: Các quyền về giáo dục của công dân được ghi nhận trong Luật giáo dục đều xuất phát từ quyền cơ bản là
quyền được học tập của công dân được quy định trong HP.
15. Phân tích nguyên tắc tôn trọng quyền con người được quy định trong khoản 1, Điều 14 Hiến pháp năm 2013. -
Nhà nước ta từ khi thành lập cho đến nay luôn luôn tôn trọng các quyền con người, luôn luôn coi nó là một trong
những nguyên tắc xây dựng pháp luật của Nhà nước. Tuy nhiên, nguyên tắc này chưa được thể chế hoá trong các
Hiến pháp 1946, 1959, 1980. Với Hiến pháp 1992, lần đầu tiên trong lịch sử lập hiến nước ta, nguyên tắc tôn trọng
các quyền con người được thể chế hoá trong đạo luật cơ bản của Nhà nước. Đến Hiến pháp 2013, chế định “Quyền
và nghĩa vụ cơ bản của công dân" đã được thay đổi thành “Quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công
dân”. Lần đầu tiên trong lịch sử lập hiến nước ta các quyền con người được thể chế hóa cụ thể trong 21 điều của
Hiến pháp. Đây là bước phát triển quan trọng trong tư duy pháp lý và nhận thức về quyền con người ở Việt Nam. -
Khoản 1 Điều 14 Hiến pháp 2013 quy định: “. .” Theo đó nguyên tắc tôn trọng quyền con người được hiểu là Nhà
nước được lập nên thông qua sự trao quyền của người dân nhằm tạo dựng một bộ máy có khả năng duy trì trật tự,
bảo đảm tự do cho xã hội. Vì vậy, Nhà nước cần phải tôn trọng quyền con người, không được xâm phạm hay đối xử
một cách tuỳ tiện. Vì Nhà nước là tổ chức mang quyền lực công, nếu Nhà nước không có thái độ tôn trọng hoặc xao
nhãng về quyền con người thì hệ luỵ của nó sẽ rất lớn. Nhà nước không được tuỳ tiện hạn chế quyền, điều này cũng
đã được thể hiện trong nguyên tắc hạn chế quyền con người tại Khoản 2 Điều 14 Hiến pháp 2013. Theo đó, mọi sự
hạn chế quyền con người của Nhà nước đều chỉ được thực hiện trong trường hợp cần thiết và phải dựa theo quy định của luật.
16. Phân tích nguyên tắc công nhận quyền con người được quy định trong khoản 1, Điều 14 Hiến pháp năm 2013. -
Khoản 1, Điều 4 Hiến pháp 2013: “. .” -
Việc Nhà nước công nhận quyền con người được ghi nhận ở Khoản 1, Điều 14 Hiến pháp 2013 cho thấy đây là một
nguyên tắc quan trọng trong tổ chức và hoạt động của BMNN. Nhìn chung, nguyên tắc này phản ánh nghĩa vụ công
nhận của Nhà nước đối với quyền con người. Nghĩa vụ này xuất phát từ quan điểm cho rằng quyền con người là các
quyền tự nhiên, có nguồn gốc từ bản chất vốn có của con người và không phụ thuộc vào các yếu tố xã hội khác. Vì
vậy, quyền con người không phải do nhà nước ban phát mà trái lại Nhà nước phải chấp nhận sự tồn tại khách quan
của quyền này. Do đó, nghĩa vụ công nhận theo Hiến pháp 2013 chính là ở chỗ Nhà nước phải ghi nhận một cách
khách quan các quyền con người. Và để thực hiện tốt nghĩa vụ này, NN cần tham gia một cách tối đa vào các điều
ước quốc tế về quyền con người trên cơ sở phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh của mình; thể chế hóa các quyền con
người quốc tế thành các quyền công dân quy định trong Hiến pháp và pháp luật.
17. Phân tích nguyên tắc bảo đảm quyền con người được quy định trong khoản 1, Điều 14 Hiến pháp năm 2013. -
Khoản 1, Điều 4 Hiến pháp 2013: “. .” -
Việc Nhà nước bảo đảm quyền con người được ghi nhận ở Khoản 1, Điều 14 Hiến pháp 2013 cho thấy đây là một
nguyên tắc quan trọng trong tổ chức và hoạt động của BMNN. Nhìn chung, nguyên tắc này phản ánh nghĩa vụ bảo
đảm của Nhà nước đối với quyền con người. Bảo đảm quyền con người được hiểu là một nghĩa vụ mà ở đó Nhà
nước cung cấp các điều kiện về kinh tế, hạ tầng xã hội, thể chế… để người dân có thể thực hiện quyền của mình
một cách hiệu quả nhất. Nghĩa vụ bảo đảm được coi là nghĩa vụ chủ động nhất bởi Nhà nước phải liên tục đáp ứng
những nhu cầu của người dân trong việc thực hiện quyền con người. Trong khi đó, nhu cầu của họ luôn luôn thay
đổi theo hoàn cảnh kinh tế, lịch sử. Vì vậy, Nhà nước luôn phải có những bước đi nhằm theo kịp những thay đổi đó. -
Ví dụ: Để đáp ứng nhu cầu được học tập của con người, Nhà Nước phải tạo điều kiện về đời sống tinh thần cũng
như vật chất để người dân có thể thực hiện quyền của mình một cách hiệu quả. Nhà nước phải có nghĩa vụ xây
dựng các cơ sở Trường học(đặc biệt là những nơi vùng sâu, vùng xa) , tiến hành thực hiện những chính sách đãi
ngộ như hỗ trợ học phí, học bổng, cộng điểm ưu tiên khi thi vào đại học cho những học sinh miền núi và có hoàn cảnh khó khăn,. .
18. Phân tích nguyên tắc bảo vệ quyền con người được quy định trong khoản 1, Điều 14 Hiến pháp năm 2013.
Downloaded by HU? BÙI TH? (huebuithi190307@gmail.com) lOMoARcPSD|61240729 -
Khoản 1 Điều 14 Hiến pháp 2013: “. .” -
Việc Nhà nước bảo vệ quyền con người được ghi nhận ở Khoản 1, Điều 14 Hiến pháp 2013 cho thấy đây là một
nguyên tắc quan trọng trong tổ chức và hoạt động của BMNN. Nhìn chung, nguyên tắc này phản ánh nghĩa vụ bảo
vệ của Nhà nước đối với quyền con người. Nhà nước được thành lập nhằm bảo vệ quyền con người. Đây là nghĩa
vụ mang tính chất chủ động mà Nhà nước phải tuân thủ và thực hiện. Bất cứ sự xâm phạm quyền con người nào
trong xã hội đều phải được ngăn chặn và trừng phạt. Qua đó, quyền con người của từng cá nhân sẽ được bảo vệ.
Bảo vệ quyền con người có thể được thực hiện thông qua nhiều cơ chế, bao gồm cả các cơ quan lập pháp, tư pháp,
hành pháp lẫn các loại hình cơ quan hiến định độc lập. Trong Hiến pháp 2013, các cơ quan nhà nước, đặc biệt là cơ
quan tư pháp đã được nhấn mạnh hơn vai trò của mình trong việc bảo vệ quyền con người. -
Ví dụ: Mọi người đều có quyền được sống (điều 19 HP 2013). Nếu bất kỳ ai tước đoạt đi mạng sống của người
khác thì đều bị Nhà nước xử phạt. Tùy thuộc vào độ tuổi mà Nhà nước sẽ có những mức tù khác nhau (có thể là 8-
10 năm nhưng cũng có thể là tử hình)
19. Phân tích nguyên tắc “Mọi người đều bình đẳng trước pháp luật” được quy định tại khoản 1 Điều 16 Hiến pháp 2013 -
Khoản 1 Điều 16 Hiến pháp 2013: “Mọi người đều bình đẳng trước pháp luật.” -
Đây là một trong những nguyên tắc cơ bản của chế định quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân.
Mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật, không phân biệt nam, nữ, dân tộc, tín ngưỡng, tôn giáo, thành phần,
địa vị xã hội; bất cứ người nào phạm tội đều bị xử lý theo pháp luật. Chủ nghĩa Mác-Lênin quan niệm rằng bản chất
của bình đẳng thể hiện ở sự công nhận giá trị bình đẳng của tất cả mọi người trong các lĩnh vực của đời sống. Và
Hiến pháp 2013 đã quy định một cách toàn diện và đầy đủ trong Điều 16: “1. Mọi người đều bình đẳng trước pháp
luật. 2. Không ai bị phân biệt đối xử trong đời sống chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội”. Nguyên tắc này rất
quan trọng bởi khi nó được bảo đảm thì xã hội mới có công bằng, pháp luật mới được thi hành nghiêm chỉnh, chống
đặc quyền đặc lợi và sự tham nhũng của một số cán bộ có chức có quyền. Trong cùng một điều kiện như nhau, công
dân được hưởng quyền và nghĩa vụ như nhau, có tư cách pháp lý như nhau. Nhưng mức độ sử dụng các quyền và
nghĩa vụ đó đến đâu phụ thuộc rất nhiều vào khả năng, điều kiện và hoàn cảnh của mỗi người. Nhà nước phải có vai
trò quan trọng trong việc bảo đảm cho công dân thực hiện quyền và nghĩa vụ một cách bình đẳng, công dân cần
thực hiện tốt các nghĩa vụ được Hiến pháp và luật xác định là điều kiện để sử dụng quyền của mình.
20. Theo khoản 1 Điều 14 Hiến pháp năm 2013, trách nhiệm của Nhà nước đối với quyền con người, quyền công
dân được thể hiện như thế nào? -
Khoản 1, Điều 4 Hiến pháp 2013: “. .” -
Quyền con người, quyền công dân gắn liền với bản chất quyền lực của Nhà nước ta là Nhà nước pháp quyền xã hội
chủ nghĩa Việt Nam của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân. Do đó, trách nhiệm của Nhà nước là phải bảo đảm
và không ngừng phát huy quyền làm chủ của Nhân dân, công nhân, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con người,
quyền công dân trong mọi hoàn cảnh phù hợp với mục tiêu xây dựng xã hội dân chủ, công bằng, văn minh và xu
hướng toàn cầu hóa hội nhập quốc tế toàn diện với cơ chế bảo vệ quyền con người, quyền công dân của các quốc gia.
21. Phân tích nội dung, ý nghĩa của nguyên tắc “Quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy
định của luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức
xã hội, sức khỏe của cộng đồng” (Khoản 2, Điều 14 Hiến pháp năm 2013). - Nội dung:
+ Nếu quyền con người mang tính tuyệt đối sẽ tất yếu có xu hướng làm cho con người không thể gắn kết với nhau
thành một xã hội, cuối cùng dẫn tới sự huỷ hoại xã hội. Bởi vậy, mục đích cũng là lý do của sự hạn chế đối với
quyền con người, là bảo đảm quyền tự do của người khác mà cũng để đảm bảo sự yên bình, hài hòa trong xã hội.
Nói cách khác, quyền của người khác và lợi ích của xã hội là giới hạn của các quyền con người. Nhà nước có thể
hạn chế quyền con người nhưng quyền này chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết
vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia,. .
Downloaded by HU? BÙI TH? (huebuithi190307@gmail.com) lOMoARcPSD|61240729
+ “Theo quy định của Luật”: Tức là có sự cho phép của luật, nằm trong phạm vi mà luật quy định, đúng theo trình tự
mà luật đã lập nên. Việc này rất có ý nghĩa bởi luật là văn bản do Quốc hội ban hành và có thể coi là đại diện cho ý
chí của xã hội một cách cao nhất sau Hiến pháp. Vì thế nó sẽ bảo đảm được tính dân chủ và hợp ý nguyện của nhân dân.
+ “Trong trường hợp cần thiết vì lý do": Có nghĩa rằng Nhà nước phải giải thích được tại sao lại có sự hạn chế quyền
và sự hạn chế đó liệu có thực sự là không thể thay thế hay không. -
Ý nghĩa: Nguyên tắc này đặt ra nhằm loại trừ khả năng các cơ quan nhà nước ở trung ương và địa phương có thể
bằng các loại VB QPPL dưới luật làm vô hiệu hoá hoặc hạn chế việc thực hiện các quyền con người và công dân
một các tuỳ tiện và sai trái.
22. Trước tình hình ô nhiễm môi trường ngày càng gia tăng và nghiêm trọng, đặc biệt là ô nhiễm không khí, ô
nhiễm tiếng ồn và tắc đường, thành phố H ban hành quy định cấm xe máy lưu thông ở các quận nội thành.
Dựa trên nguyên tắc hạn chế quyền, hãy bình luận về quy định trên. -
Theo Khoản 2 Điều 14 Hiến pháp 2013: “2. Quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định
của luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội,
sức khỏe của cộng đồng.” - Ủng hộ…
23. Theo quy định của Hiến pháp năm 2013, quyền con người, quyền công dân có thể bị hạn chế trong những
trường hợp nào? Tại sao? -
Theo Khoản 2 Điều 14 Hiến pháp 2013: “. .” - Ví dụ:
1. Khi cháy nhà, những người dân xung quanh căn nhà đó không thể tự do đi lại được. Lúc này, quyền tự do đi
lại sẽ bị hạn chế để đảm bảo việc chữa cháy an toàn. (Hạn chế quyền với lý do trật tự, an toàn xã hội)
2. Trong đại dịch COVID – 19 vừa qua, để phòng chống bệnh thì Nhà nước đã tiến hành giãn cách xã hội. Lúc
này, quyền tự do hội họp, quyền tự do đi lại,. . có thể bị hạn chế để tránh tình trạng lây lan bệnh dịch. (Hạn chế
quyền với lý do sức khỏe cộng đồng)
3. Khi có quốc tang, thì quyền tự do kinh doanh bị hạn chế đối với các dịch vụ giải trí, ca nhạc trong thời gian
nhất định . (Hạn chế quyền vì lý do đạo đức xã hội) -
Vì: Việc quy định về hạn chế quyền là cần thiết để bảo đảm quyền con người, quyền công dân được thực hiện một
cách minh bạch, phòng ngừa sự cắt xén hay hạn chế các quyền này một cách tùy tiện từ phía các cơ quan nhà nước.
Xét về bản chất hạn chế quyền con người là giải quyết sự cân bằng giữa quyền lợi cá nhân và quyền lợi của người
khác và của xã hội. Xét cho cùng vẫn là bảo vệ quyền con người.
24. Trình bày vị trí, vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong hệ thống chính trị theo pháp luật hiện hành. -
Cơ sở pháp lý: Điều 9 Hiến pháp 2013 -
Vị trí: MTTQ Việt Nam là yếu tố thứ ba trong hệ thống chính trị theo pháp luật hiện hành, nó tồn tại và hoạt động
trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật mà Nhà nước ban hành. MTTQ tham gia tích cực vào xây dựng Đảng và
xây dựng BMNN; tuyên truyền, vận động các tầng lớp nhân dân tuân thủ chủ trương, chính sách của Đảng và
đường lối, pháp luật của Nhà nước. -
Vai trò: MTTQ có vai trò vô cùng quan trọng trong hệ thống chính trị, là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân,
nơi thể hiện ý chí, nguyện vọng, tập hợp khối đại đoàn kết toàn dân, phát huy quyền làm chủ của dân
25. Phân tích chức năng giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam theo pháp luật hiện hành. -
Khoản 1 Điều 9 Hiến pháp 2013: “. .” -
Giám sát và phản biện xã hội được xác định là nhiệm vụ quan trọng trong công tác tham gia xây dựng Đảng, xây
dựng chính quyền của Mặt trận Tổ quốc. -
Giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc mang tính nhân dân, tính dân chủ, tính xây dựng, và tính khoa học. + Giám sát:
Downloaded by HU? BÙI TH? (huebuithi190307@gmail.com) lOMoARcPSD|61240729
• Nguyên tắc giám sát: được thực hiện theo nguyên tắc đảm bảo phát huy dân chủ; xuất phát từ yêu cầu, nguyện
vọng của Nhân dân; thực hiện công khai, minh bạch, không chồng chéo, không làm cản trở hoạt động của cơ quan,
tổ chức, cá nhân được giám sát. (Khoản 3 Điều 25 Luật MTTQVN)
• Đối tượng giám sát: CQNN, tổ chức, đại biểu dân cử, cán bộ, công chức, viên chức (Khoản 1 Điều 26 Luật Mặt trận Tổ quốc VN 2015)
• Nội dung giám sát: việc thực hiện chính sách, pháp luật có liên quan đến quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng
của ND, quyền và trách nhiệm của MTTQVN. (Khoản 2 Điều 26 Luật MTTQVN) • Hình thức giám sát:
+ Phản biện xã hội:
• Nguyên tắc phản biện xã hội được thực hiện theo nguyên tắc dân chủ, công khai, minh bạch, bảo đảm sự tham
gia của các thành viên, hội viên, đoàn viên và Nhân dân; tôn trọng các kiến khác nhau nhưng không trái với quyền
lợi hợp pháp chính đáng của ND, lợi ích quốc gia, dân tộc. (Khoản 3 Điều 32 Luật MTTQVN)
• Đối tượng phản biện: dự thảo văn bản của CQNN liên quan trực tiếp đến quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng
của ND, quyền và trách nhiệm của MTTQVN. (K1 Đ33 Luật MTTQVN)
• Nội dung phản biện: (K2 Đ33 Luật MTTQVN) ᴥ
Sự cần thiết, sự phù hợp của chủ trương, đường lối của Đảng; chính sách, pháp luật của NN ᴥ
Tính đúng đắn, khoa học, khả thi ᴥ
Đánh giá tác động hiệu quả về chính trị, kinh tế,. . ᴥ
Bảo đảm hài hòa lợi ích của Nhân dân- NN-tổ chức
26. Phân tích những biểu hiện của nguyên tắc “tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân” trong tổ chức và
hoạt động của bộ máy nhà nước theo pháp luật hiện hành. -
Đây là nguyên tắc rất căn bản của Hiến pháp 2013, nó thể hiện bản chất cốt lõi của chế độ nhà nước Việt Nam. Sự
thể hiện của nguyên tắc trong tổ chức hoạt động của bộ máy nhà nước Việt Nam như sau:
+ Thứ nhất, nguyên tắc này được Nhà nước ghi nhận trong Hiến pháp năm 2013 - văn bản có hiệu lực pháp lý cao
nhất quy định rõ trách nhiệm của Nhà nước là phục vụ Nhân dân bảo đảm và phát huy quyền làm chủ của Nhân
dân; công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con người, quyền công dân; thực hiện mục tiêu dân giàu,
nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, mọi người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát
triển toàn diện (theo Điều 3 Hiến pháp 2013)
+ Thứ hai, Nhân dân hình thành cơ quan đại diện (Quốc hội, Hội đồng nhân dân) theo nguyên tắc phổ thông, bình
đẳng, trực tiếp và bỏ phiếu kín để tham gia hoạt động nhà nước, giám sát hoạt động của cơ quan nhà nước. Đại
biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân bị cử tri hoặc Quốc hội, Hội đồng nhân dân bãi nhiệm khi không còn
xứng đáng với sự tín nhiệm của Nhân dân (theo Điều 7 Hiến pháp 2013)
+ Thứ ba, theo Điều 6 Hiến pháp 2013 Nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước bằng dân chủ trực tiếp, bằng dân
chủ đại diện thông qua Quốc hội, Hội đồng nhân dân và thông qua các cơ quan khác của Nhà nước. Chính vì
vậy, khi ban hành các quyết sách, thực thi công vụ, các cơ quan Bạn đã gửi nhà nước đều không được làm trái
lợi ích của Nhân dân mà phải thực hiện một cách tận tụy nhất, trung thành nhất với lợi ích của Nhân dân. Vì vậy,
cần phải bảo đảm sự thiết lập một cơ chế bầu cử thực chất, phản ánh đúng ý chí, nguyện vọng của Nhân dân khi
bầu ra thành viên các cơ quan dân cử. Người đại biểu dân cử phải trung thành với lợi ích của Nhân dân và khi
không còn xứng đáng với sự tín nhiệm của Nhân dân thì sẽ bị bãi nhiệm (Điều 40 Luật Tổ chức Quốc hội 2014)
+ Thứ tư, theo Khoản 2 Điều 8 Hiến pháp 2013, các cơ quan nhà nước, cán bộ, công chức, viên chức phải tôn
trọng Nhân dân, tận tụy phục vụ Nhân dân, liên hệ chặt chẽ với Nhân dân, lắng nghe ý kiến và chịu sự giám sát
của Nhân dân; kiên quyết đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí và mọi biểu hiện quan liêu, hách dịch, cửa
quyền. Theo tinh thần đó, mọi biểu hiện quan liêu, xa dân, cửa quyền, hách dịch, tệ nạn tham nhũng, lãng phí
đều được coi là vấn đề cần được giải quyết triệt để bằng các phương thức phòng, chống tham nhũng.
27. Phân tích những biểu hiện của nguyên tắc “quyền lực nhà nước là thống nhất” trong tổ chức và hoạt động
của bộ máy nhà nước theo pháp luật hiện hành. -
Ở Việt Nam hiện nay, nguyên tắc quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các
cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp là nguyên tắc được Hiến định tại
Downloaded by HU? BÙI TH? (huebuithi190307@gmail.com) lOMoARcPSD|61240729
Điều 2 Hiến pháp 2013. Đây là nguyên tắc thể hiện rõ rệt sự phát triển về mặt quan niệm trong cách thức tổ chức
quyền lực nhà nước ở Việt Nam. -
Trước hết, với bản chất nhà nước xã hội chủ nghĩa, Hiến pháp vẫn tiếp tục ghi nhận quyền lực nhà nước là thống
nhất. Ta thấy được Quốc hội là biểu tượng của sự thống nhất quyền lực nhà nước, điều đó thể hiện ở chỗ chỉ duy
nhất Quốc hội là cơ quan được toàn bộ cử tri cả nước trực tiếp bầu. các cơ quan nhà nước khác ở Trung ương đều do Quốc hội thành lập. -
Tuy nhiên, xu hướng tập quyền xã hội chủ nghĩa ở mức cao độ không còn tiếp tục duy trì. Hơn thế, quy định này đã
tiếp thu một cách chọn lọc và hợp lý thuyết phân quyền. Đầu tiên là ở việc thừa nhận sự tồn tại và phân định rạch
ròi giữa các quyền lực lập pháp, hành pháp, tư pháp. Các cơ quan nhà nước được phân công rõ ràng về quyền lực,
đặc biệt là quy định về Quốc hội có quyền lập pháp (Điều 69 HP 2013), Chính phủ có quyền hành pháp (Điều 94
HP 2013), Toà án có quyền tư pháp (Điều 102 HP 2013). -
Cả 3 cơ quan này không được phân chia và đối trọng lẫn nhau mà phải có sự phân công, phối hợp nhưng vẫn kiểm
soát nhau lẫn nhau để tránh tình trạng lạm quyền, đảm bảo tính chuyên nghiệp và hiệu quả của mỗi quyền. Nhưng
Quốc hội lại có quyền giám sát tối cao đối với 2 cơ quan còn lại và các cơ quan khác trong BMNN và các cơ quan
khác không có quyền giám sát đối với Quốc hội.
28. Phân tích biểu hiện của nguyên tắc kiểm soát quyền lực nhà nước trong tổ chức và hoạt động của bộ máy
nhà nước theo pháp luật hiện hành. -
Quyền lực nhà nước ra đời, tồn tại, phát triển cùng với sự ra đời , phát triển của nhà nước. -
Kiểm soát quyền lực nhà nước : toàn bộ hoạt động xem xét, đánh giá , theo dõi để ngăn chặn, loại bỏ những
nguy cơ việc làm sai trái của các chủ thể trong quá trình thực hiện qlnn . -
Quyền lực nhà nước ở Vn không có sự kiềm chế, đối trọng mà có sự kiểm tra giám sát giữa các cơ quan trong
việc thực hiện quyền lực nhà nước . -
Kiểm tra, giám sát từ bên ngoài ( bao gồm hoạt động kiểm tra , giám sát của các cơ quan qlnn- QH, HĐND ,
hoạt động giám sát của nhân dân , các tổ chức đoàn thể của XH . Giám sát của Quốc hội là giám sát tối cao đối
với hoạt động của các cơ quan trong bộ máy nhà nước.( đối với các cơ quan hành pháp, tư pháp) Kiểm soát của
nhân dân có thể là trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua các cơ quan đại diện ( QH , HDND, UBND…) Kiểm soát
của MTTQVN , các tổ chức đoàn thể …. -
Kiểm soát trong nội bộ các cơ quan thực hiện QLNN
Đối với hoạt động lập pháp : Quốc hội xem xét, quyết định ,bãi bỏ một phần hay toàn bộ văn bản của chủ tích
nước, thủ tướng chính phủ, toàn án nhân dân tối cao, viện kiểm sát nhân dân tối cao trái với hiến pháp, luật, nghị quyết của QH .
Đối với hoạt động hành pháp :
+ Cơ quan hành chính các cấp có trách nhiệm tự kiểm tra, giám sát, hoạt động của mình đảm bảo tổ chức và
hoạt động tuân theo quy định của hiến pháp và luật.Nếu phát hiện sai trái , vi phạm pháp luật thì lập tức xử lí theo quy định …
+ Cơ quan hành chính cấp trên có trách nhiệm thường xuyên kiểm tra hoạt động của cơ quan hành chính cấp
dưới, bảo đảm phù hợp với hiến pháp, luật nếu phát hiện vi phạm => xử lí, ngăn chặn.
Đối với hoạt động tư pháp:
+ Cơ quan tư pháp có trách nhiệm tự kiểm tra, giám sát hoạt động của mình bảo đảm tuân theo quy định của hiến pháp, pháp luật
+ Cơ chế bảo vệ hiến pháp, pháp luật => tính thượng tôn.
+ Quá trình xét xử tuân theo thủ tục tố tụng ….
=> Kiểm soát quyền lực nhà nước từ trong ra ngoài, ngoài vào trong=> đảm bảo QLNN được thực thi có hiệu quả ,
đạt hiểu quả trong tổ chức và hoạt động của các cơ quan trong BMNN.
29. Phân tích nội dung, yêu cầu của nguyên tắc pháp quyền xã hội chủ nghĩa trong tổ chức và hoạt động của bộ
máy nhà nước theo pháp luật hiện hành. -
Theo Khoản 1 Điều 2 Hiến pháp 2013 khẳng định Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước pháp
quyền xã hội chủ nghĩa. Trong đó, Nhà nước pháp quyền được hiểu là Nhà nước mà ở đó pháp luật được thượng
Downloaded by HU? BÙI TH? (huebuithi190307@gmail.com) lOMoARcPSD|61240729
tôn do nó là sự phản ánh ý chí tối cao cũng như các luật tự nhiên của người dân chứ không phải là công cụ của nhà
nước. (Đây là nguyên tắc mang tính lý tưởng) -
Đặc điểm của Nhà nước pháp quyền chủ nghĩa Việt Nam:
1/ Nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân
2/ Nhà nước được tổ chức và hoạt động trên cơ sở Hiến pháp, tôn trọng và bảo vệ Hiến pháp
3/ Pháp luật có vị trí tối thượng trong đời sống xã hội.
4/ Nhà nước tôn trọng, bảo vệ các quyền con người, quyền công dân.
5/ Nhà nước bảo đảm quyền lực thống nhất, có sự phân công, phối hợp trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp.
6/ Nhà nước do Đảng cộng sản Việt Nam lãnh đạo. -
Nội dung cơ bản của nguyên tắc này là pháp luật phải có vị trí tối thượng hay thượng tôn, tối cao với tất cả mọi
chủ thể mà trước tiên là tất cả các cơ quan nhà nước. Pháp luật là sức mạnh cai trị tối thượng trong xã hội, không
một ai được đứng trên pháp luật và bản thân chính quyền phải chịu sự kiềm chế của pháp luật. Tất cả hoạt động của
các cơ quan nhà nước, người có chức vụ quyền hạn trong bộ máy nhà nước đều phải căn cứ vào pháp luật, chỉ được
làm những gì pháp luật cho phép và trong khuôn khổ pháp luật đã đặt ra. Đây là tư tưởng cốt lõi của nguyên tắc
pháp quyền XHCN và tương ứng với chữ "quyền" trong cụm "nhà nước pháp quyền XHCN", đó là "quyền" của
pháp luật đối với Nhà nước, hay trực tiếp hơn là tất cả các cơ quan nhà nước. -
Yêu cầu mang tính chất cơ sở:
+ (1) Pháp luật phải đáp ứng đủ các tiêu chuẩn về hình thức => Phát huy vai trò thượng tôn đối với NN. •
Pháp luật chỉ được áp dụng đối với các QHXH sau khi PL có hiệu lực hồi tố. Chỉ trong những TH đặc
biệt pháp luật mới có hiệu lực này. •
Pháp luật phải được viết và thể hiện một cách rõ ràng để hạn chế tối đa việc hiểu đa nghĩa đối với một quy định pháp luật. •
Pháp luật phải dễ tiếp cận •
Pháp luật có tính ổn định tương đối
+ (2) Pháp luật phải có một số phẩm chất về nội dung nhất định để đảm bảo pháp luật thống trị là pháp luật tốt. •
Pháp luật thể hiện ý chí phù hợp với toàn thể Nhân dân (số đông) •
Cụ thể hóa các quyền con người, quyền công dân, quyền làm chủ của ND đối với NN (các quyền mà
người dân có thể kiểm tra, giám sát các CQNN). VD: quyền được sống, quyền được học tập, quyền bầu
cử, quyền ứng cử, quyền được tiếp cận các thông tin..
+ (3) Phải bảo đảm sự thượng tôn của pháp luật đối với cơ quan nhà nước. •
Việc ban hành pháp luật phải tuân thủ theo
30. Phân tích nguyên tắc bầu cử phổ thông theo pháp luật hiện hành. - Cơ sở pháp lý:
+ Khoản 1 Điều 7 Hiến pháp 2013: “Việc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân được tiến
hành theo nguyên tắc phổ thông, bình đẳng, trực tiếp và bỏ phiếu kín.”
+ Điều 1 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2025: “Việc bầu cử đại biểu Quốc hội
và đại biểu Hội đồng nhân dân được tiến hành theo nguyên tắc phổ thông, bình đẳng, trực tiếp và bỏ phiếu kín.” - Nội dung:
+ Bầu cử phổ thông là đảm bảo sự tham gia phổ biến, rộng rãi của công dân vào bầu cử, không phân biệt nam nữ,
dân tộc, tôn giáo, tín ngưỡng, địa vị xã hội, trình độ văn hoá… Đảm bảo nguyên tắc bầu cử phổ thông là đảm
bảo cho tính dân chủ trong bầu cử được thể hiện rõ nét. Cuộc bầu cử phải là một cuộc sinh hoạt chính trị rộng
lớn, đảm bảo tính công khai, minh bạch, dân chủ cho đông đảo người dân tham gia.
+ Theo Điều 27 Hiến pháp 2013, công dân từ đủ 18 tuổi trở lên có quyền bầu cử và đủ từ 21 tuổi trở lên có quyền
ứng cử vào Quốc hội, HĐND. Bên cạnh đó vẫn còn những trường hợp không có quyền bầu cử (theo Khoản 1
Điều 30 Luật Bầu cử…)
● Người đang bị tước quyền bầu cử theo bản án, quyết định của Toà án đã có hiệu lực pháp luật.
● Người bị kết án tử hình đang trong thời gian chờ thi hành án
● Người đang chấp hành hình phạt tù mà không được hưởng án treo
Downloaded by HU? BÙI TH? (huebuithi190307@gmail.com) lOMoARcPSD|61240729
● Người mất năng lực hành vi dân sự thì không được ghi tên vào danh sách cử tri.
Những trường hợp không có quyền ứng cử (Điều 37 Luật Bầu cử…)
● Người đang bị tước quyền ứng cử theo bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật, người đang
chấp hành hình phạt tù, người bị hạn chế hoặc mất năng lực hành vi dân sự.
● Người đang bị khởi tố bị can.
● Người đang chấp hành bản án, quyết định hình sự của Tòa án.
● Người đã chấp hành xong bản án, quyết định hình sự của Tòa án nhưng chưa được xóa án tích.
● Người đang chấp hành biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, đưa vào cơ sở cai nghiện
bắt buộc hoặc giáo dục tại xã, phường, thị trấn.
+ Luật Bầu cử Đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015 cũng đã đưa ra một số quy định nhằm
đảm bảo cho đông đảo người dân tham gia bầu cử một cách phổ biến, rộng rãi:
● Hợp nhất ngày bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu HĐND các cấp, tránh lãng phí thời gian, tiền bạc.
● Ngày bầu cử phải là ngày chủ nhật, được Quốc hội ấn định và công bố chậm nhất là 115 ngày trước ngày diễn ra bầu cử
● Thời gian bỏ phiếu được quy định thống nhất trong cả nước từ bảy giờ sáng đến bảy giờ tối cùng ngày. Tuỳ
vào tình hình địa phương, Tổ bầu cử có thể cho bắt đầu việc bỏ phiếu sớm hơn nhưng không được trước 5h
sáng hoặc kết thúc muộn hơn nhưng không được quá 9h tối cùng ngày.
● Trong trường hợp cử tri ốm đau, già yếu, tàn tật, không thể đến bỏ phiếu được thì Tổ bầu cử mang hòm phiếu
phụ và phiếu bầu đến nơi ở của cử tri để cử tri thực hiện quyền bầu cử.
● Cử tri không tự viết phiếu được thì nhờ người khác viết nhưng phải tự bỏ phiếu vào thùng.
● Mọi công dân cư trú thường xuyên hoặc tạm trú đều được ghi tên vào danh sách cử tri.
● Danh sách cử tri được niêm yết công khai chậm nhất là 40 ngày trước ngày diễn ra bầu cử.
● Danh sách ứng viên được lập và niêm yết công khai chậm nhất là 20 ngày trước ngày diễn ra bầu cử để cử tri tìm hiểu và lựa chọn. -
Ý nghĩa: Cuộc bầu cử càng có sự tham gia đông đảo, rộng rãi của Nhân dân càng thể hiện được tính dân chủ bởi nó
thể hiện người dân thực sự quan tâm đến bầu cử và họ tin tưởng vào sự lựa chọn của mình khi được nhà nước tạo
điều kiện thuận lợi nhất để họ tham gia bầu cử. Qua đó thể hiện bản chất của Nhà nước của Nhân dân, do Nhân dân
và vì nhân dân, góp phần xây dựng nhà nước pháp quyền.
31. Phân tích nguyên tắc bầu cử bình đẳng theo pháp luật hiện hành. -
Cơ sở pháp lý: Khoản 1 Điều 7 Hiến pháp 2013, Điều 1 Luật Bầu cử… - Nội dung:
+ Bầu cử bình đẳng được thể hiện ở hai nội dung chính, đó là: Bình đẳng giữa các cử tri và bình đẳng giữa những
người ứng cử. Đây là nguyên tắc nhằm đảm bảo để mọi công dân có cơ hội ngang nhau khi tham gia bầu cử,
nghiêm cấm mọi sự phân biệt dưới bất kỳ hình thức nào.
+ Thứ nhất, mỗi cử tri có một phiếu bầu đối với một cuộc bầu cử và giá trị mỗi lá phiếu trong cùng một đơn vị bầu
cử là như nhau. Mỗi cử tri được ghi tên vào danh sách cử tri ở một nơi cư trú và mỗi ứng cử viên chỉ được ghi
tên ứng cử ở một đơn vị bầu cử.
+ Thứ hai, bầu cử bình đẳng thể hiện trong sự bình đẳng giữa những người ứng cử. Sự bình đẳng này thể hiện ở
chỗ cơ hội của những người được giới thiệu ứng cử/ tự ứng cử là như nhau và những người này được cư xử như
nhau, có quyền và nghĩa vụ như nhau, không phân biệt giới tính, tôn giáo, địa vị xã hội, trình độ văn hoá…
+ Bình đẳng còn được thể hiện trong việc phân bổ số lượng đại biểu phụ thuộc vào số dân. Địa phương có dân số
đông thì có nhiều đại biểu và ngược lại.
+ Việc phân chia đơn vị bầu cử và khu vực bỏ phiếu phụ thuộc vào số dân, địa phương đông dân cư sẽ có nhiều
đơn vị bầu cử, khu vực bỏ phiếu và ngược lại.
+ Việc xác định chế độ bầu cử, người trúng cử là người có quá nửa tổng số phiếu hợp lệ và lấy từ cao xuống thấp.
Trường hợp có số phiếu bằng nhau thì người cao tuổi hơn trúng cử.
+ Luật Bầu cử Đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015 cũng đã đưa ra một số quy định làm cơ
sở đảm bảo sự bình đẳng cho những người ứng cử:
● Theo Khoản 5 Điều 57: Danh sách chính thức những người ứng cử đại biểu Quốc hội phải ghi rõ họ, tên,
ngày, tháng, năm sinh, giới tính, quê quán, nơi thường trú, dân tộc, tôn giáo, trình độ học vấn, chuyên môn,
Downloaded by HU? BÙI TH? (huebuithi190307@gmail.com) lOMoARcPSD|61240729
nghề nghiệp, chức vụ, nơi công tác của người ứng cử. Danh sách những người ứng cử đại biểu Quốc hội theo
từng đơn vị bầu cử được xếp theo vần chữ cái A, B, C…
● Những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử theo Điều 68: “1. Lợi dụng vận động bầu cử để tuyên truyền
trái với Hiến pháp và pháp luật hoặc làm tổn hại đến danh dự, nhân phẩm, uy tín, quyền, lợi ích hợp pháp
khác của tổ chức, cá nhân khác. 2. Lạm dụng chức vụ, quyền hạn để sử dụng phương tiện thông tin đại
chúng trong vận động bầu cử. 3. Lợi dụng vận động bầu cử để vận động tài trợ, quyên góp ở trong nước và
nước ngoài cho tổ chức, cá nhân mình. 4. Sử dụng hoặc hứa tặng, cho, ủng hộ tiền, tài sản hoặc lợi ích vật
chất để lôi kéo, mua chuộc cử tri.” -
Ý nghĩa: Nguyên tắc này giúp đảm bảo sự công bằng trong bầu cử bởi tạo ra được sự bình đẳng không chỉ giữa các
cử tri mà cả đối với những người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp, đảm bảo được
tính đại diện của đại biểu khi có sự bình đẳng giữa các tầng lớp, giai cấp, dân tộc, tôn giáo,. . trong cơ cấu đại biểu.
32. Phân tích nguyên tắc bầu cử trực tiếp theo pháp luật hiện hành. -
Cơ sở pháp lý: Khoản 1 Điều 7 Hiến pháp 2013, Điều 1 & Điều 69 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội -
Nội dung: Nguyên tắc bỏ phiếu
1. Mỗi cử tri có quyền bỏ một phiếu bầu đại biểu Quốc hội và bỏ một phiếu bầu đại biểu Hội đồng nhân dân
tương ứng với mỗi cấp Hội đồng nhân dân.
2. Cử tri phải tự mình, đi bầu cử, không được nhờ người khác bầu cử thay, trừ trường hợp quy định tại khoản 3
và khoản 4 Điều này; khi bầu cử phải xuất trình thẻ cử tri.
3. Cử tri không thể tự viết được phiếu bầu thì nhờ người khác viết hộ, nhưng phải tự mình bỏ phiếu; người viết
hộ phải bảo đảm bí mật phiếu bầu của cử tri. Trường hợp cử tri vì khuyết tật không tự bỏ phiếu được thì nhờ
người khác bỏ phiếu vào hòm phiếu.
4. Trong trường hợp cử tri ốm đau, già yếu, khuyết tật không thể đến phòng bỏ phiếu được thì Tổ bầu cử mang
hòm phiếu phụ và phiếu bầu đến chỗ ở, chỗ điều trị của cử tri để cử tri nhận phiếu bầu và thực hiện việc bầu cử.
Đối với cử tri là người đang bị tạm giam, người đang chấp hành biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ
sở cai nghiện bắt buộc mà trại tạm giam, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc không tổ chức khu
vực bỏ phiếu riêng hoặc cử tri là người đang bị tạm giữ tại nhà tạm giữ thì Tổ bầu cử mang hòm phiếu phụ và
phiếu bầu đến trại tạm giam, nhà tạm giữ, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc để cử tri nhận
phiếu bầu và thực hiện việc bầu cử.
5. Khi cử tri viết phiếu bầu, không ai được xem, kể cả thành viên Tổ bầu cử.
6. Nếu viết hỏng, cử tri có quyền đổi phiếu bầu khác.
7. Khi cử tri bỏ phiếu xong, Tổ bầu cử có trách nhiệm đóng dấu “Đã bỏ phiếu” vào thẻ cử tri.
8. Mọi người phải tuân theo nội quy phòng bỏ phiếu. -
Ý nghĩa: Nguyên tắc này giúp cho cử tri trực tiếp thể hiện được ý chí của mình, phát huy quyền làm chủ của Nhân
dân trong việc hình thành ra Quốc hội và HĐND các cấp. Tuy nhiên trên thực tế vẫn còn xảy ra tình trạng nhờ
người đi bầu hộ, tình trạng cử tri bỏ phiếu nhưng không nắm được thông tin của ứng cử viên và ngay sau khi bỏ
phiếu cũng không nhớ được mình đã bầu cho ai.
33. Phân tích nội dung, ý nghĩa quyền bầu cử của công dân theo pháp luật hiện hành. -
Khoản 1 Điều 14 hiến pháp năm 2013 quy định “ ở nước CHXHCN VN các quyền công dân , quyền con người về
chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được nhà nước công nhận, tôn trọng bảo vệ, bảo đảm”
=> Quyền bầu cử của công dân là quyền công dân được tham gia vào đời sống chính trị, bầu lên cơ quan QLNN cơ
quan đại diện cho quyền và lợi ích của mình.
=> Quyền bầu cử là một phương thức hợp pháp hóa QLNN tồn tại trong mối quan hệ giữa Nhân dân và Nhà nước. -
Mọi người đều có quyền tham gia bầu cử khi đủ điều kiện theo luật định. Công dân từ đủ 18 tuổi trở lên có quyền
tham gia bầu cử không có sự phân biệt. -
Ý nghĩa của quyền bầu cử :
+ Thứ nhất : Quyền bầu cử của công dân tạo lên tính chính danh của Nhà nước.
● Trong nhà nước CHXHCN Vn quyền lực NN thuộc về Nhân dân, Nhà nước nhận được quyền lực từ sự ủy quyền của nhân dân.
● Nhân dân thực hiện quyền lực bằng dân chủ trực tiếp/ dân chủ gián tiếp
Downloaded by HU? BÙI TH? (huebuithi190307@gmail.com) lOMoARcPSD|61240729
=> chủ yếu thực hiện QLNN bằng dân chủ gián tiếp thông qua bầu cử
=> Nhà nước là tổ chức hợp pháp do nhân dân lập lên do nhân dân làm chủ và do nhân dân ủng hộ. Thay mặt nhân
dân thực hiện qlnn quyết định các chính sách đối nội đối ngoại, là tổ chức hợp pháp do nhân dân bầu lên thông qua con đường bầu cử .
+ Thứ hai : Quyền bầu cử là cơ sở để kiểm soát , giới hạn QLNN
● Nếu như không giới hạn QLNN đồng thời kiểm soát nó
=> Lạm quyền, thiếu trách nhiệm trong việc thực hiện QLNN.
● Thông qua bầu cử Nhân dân sẽ được trực tiếp biết đến danh sách ứng cử viên có thể trở thành người đại diện cho
quyền lợi ích của mình/ kiểm soát, giám sát việc thực hiện QL của họ / Thực hiện ntn thực hiện bằng cách nào….
=> Quyền lực NN sẽ được đảm bảo thực hiện một cách hiệu quả…
+ Thứ ba : Quyền bầu cử của công dân tạo lên môi trường chính trị lành mạnh (Chìa khóa cho đồng thuận xã hội,
giải quyết các mâu thuẫn bằng biện pháp hòa bình )
● Quyền bầu cử phải tuân thủ theo 4 nguyên tắc
=> Bình đẳng, công bằng giữa các cử tri và các ứng cử viên ( không có sự phân biệt cao thấp….)
● Cử tri sẽ có trách nhiệm và nghĩa vụ hơn trong quyết định của mình .
● Ứng cử viên đều có cơ hội làm việc trong các cơ quan nhà nước không dẫn đến tình trạng tranh chấp, tranh danh
kết quả dựa trên số phiếu bầu của cử tri…..
34. Phân tích nội dung, ý nghĩa quyền ứng cử của công dân theo pháp luật hiện hành.
35. Cho biết các điều kiện để một người được có tên trong danh sách người ứng cử đại biểu Quốc hội theo pháp
luật hiện hành. Các điều kiện này đã đáp ứng nguyên tắc bầu cử phổ thông, nguyên tắc bầu cử bình đẳng chưa? -
Quyền ứng cử: Mọi người đều có quyền ứng cử khi đủ điều kiện theo luật định
+ Thứ nhất : để một người có tên trong danh sách ứng cử viên phải đảm bảo về ĐỘ TUỔI : công dân từ đủ 21 tuổi
trở lên mới có quyền ứng cử .
+ Thứ hai : Về QUỐC TỊCH : có quốc tịch của một Quốc Gia
=> đảm bảo tính trách nhiệm của công dân trong nn của mình .
+ Thứ ba : Không trong những trường hợp bị tước quyền ứng cử
● Không bị tước quyền ứng cử theo quyết định của tòa án khi đã có hiện lực .
● Không bị mất hay hạn chế hành vi dân sự
● Đang trong thời gian chờ thi hành án hình sự
● Chấp hành xong bản án nhưng chưa được xóa án tích theo quyết định của tòa án .
● Đang bị khởi tố bị can / biện pháp giáo dục, cơ sở cai nghiện ….
+ Công dân có tên trong danh sách ứng cử viên bằng hai hình thức: ● Được đề cử ● Tự ứng cự
=> Đều phải trải qua ba lần Hội nghị hiệp thương và phải được Hội Đồng Bầu Cử Qgia công bố danh sách chính thức .
=> Quy định của PL về trình tự thủ tục để một người có tên trong danh sách ứng cử viên rất chặt chẽ, để đảm bảo
người được đưa vào làm việc trong cơ quan nhà nước đủ năng lực, trách nhiệm, đội ngũ vừa chuyên vừa hồng… -
Các điều kiện trên đáp ứng nguyên tắc bầu cử phổ thông và nguyên tắc bình đẳng mọi người đều có có cơ hội,
quyền được ghi tên trong danh sách ứng cử viên khi đủ điều kiện do luật định đáp ứng đầy đủ các điều kiện trên và
không có sự phân biệt ……
=> Quyền và nghĩa vụ như nhau …..
36. Phân tích các điều kiện để một người trúng cử đại biểu Quốc hội theo pháp luật hiện hành. -
Sau khi danh sách ứng cử viên được HĐBCQG công bố chính thức thì các ứng cử viên sẽ tiếp xúc cử tri, vận động
bầu cử. Tại đây các ứng cử viên sẽ phát biểu dựa trên năng lực khả năng của mình và mục tiêu hoạt động nhằm thu
hút phiếu bầu. Có hai hình thức vận động bầu cử:
+ Vận động bầu cử do MTTQVN cấp tỉnh tổ chức
Downloaded by HU? BÙI TH? (huebuithi190307@gmail.com) lOMoARcPSD|61240729
+ Vận động bầu cử qua việc trả lời trên các phương tiện truyền thông đại chúng
=> Công bằng, công khai, đảm bảo kết quả bầu cử khách quan lựa chọn đúng người có tài có đức bầu vào các vị trí
quan trọng trong các cơ quan nhà nước . -
Điều kiện để một người trúng cử
+ Căn cứ vào Điều 78 Luật bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu HĐND năm 2015
● Người trúng cử là người đạt quá nửa số phiếu bầu hợp lệ (có quá nửa số cử tri đi bầu cử theo danh sách cử tri đã
được công bố tại một đơn vị bầu cử)
● Trường hợp nếu số phiếu bầu hợp lệ lớn hơn số đại biểu quốc hội quy định tại một đơn vị bầu cử thì người có số
phiếu cao nhất tương ứng với số Đại biểu Quốc hội sẽ trúng cử .
● Trường hợp mà có số phiếu ngang bằng nhau thì người lớn tuổi hơn sẽ trúng cử.
+ Để trở thành đại biểu QH, đại biểu HĐND chính thức khi đã được HĐBCQH xem xét thẩm tra tư cách => cấp giấy chứng nhận …
=> Điều kiện để một người trúng cử đại biểu qh , đb hđnd trong bầu cử được quy định rất rõ ràng, cụ thể trong pháp
luật. Đáp ứng đủ các điều kiện do pháp luật quy định => mới trả thành đại biểu QH, ĐBHĐND chính thức .
=> Đảm bảo sự công bằng giữa các ứng cử viên, đều có cơ hội làm việc trong các cơ quan nhà nước.
37. Phân tích vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong bầu cử đại biểu Quốc hội theo pháp luật hiện hành.
38. Phân tích vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân theo pháp luật hiện hành. -
MTTQ Việt Nam là một thành tố có vai trò đặc biệt quan trọng trong hệ thống chính trị Việt Nam, được quy định
tại Khoản 1 Điều 9 Hiến pháp 2013: “. .” -
Với vai trò, vị trí đặc biệt đó trong HTCT, MTTQ Việt Nam cũng có vai trò rất quan trọng trong bầu cử. Khoản 5
Điều 4 Luật Bầu cử… quy định: “Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tổ chức hiệp thương lựa chọn, giới thiệu người ứng
cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp; tham gia giám sát việc bầu cử đại biểu Quốc hội và
đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp.” -
Điều 19 Luật Mặt trận tổ quốc Việt Nam năm 2015 cũng quy định về vai trò của MTTQ trong bầu cử, theo đó:
“Mặt trận Tổ quốc Việt Nam theo quy định của pháp luật tổ chức hiệp thương, lựa chọn, giới thiệu người ứng cử
đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân; tham gia các tổ chức phụ trách bầu cử; phối hợp với cơ quan nhà
nước hữu quan tổ chức hội nghị cử tri ở cấp xã, các cuộc tiếp xúc giữa cử tri với người ứng cử; tham gia tuyên
truyền, vận động cử tri thực hiện pháp luật về bầu cử.”
39. Phân biệt bầu cử lại, bầu cử thêm, bầu cử bổ sung theo pháp luật hiện hành. Tiêu Bầu cử thêm Bầu cử lại Bầu cử bổ sung chí Cơ sở
- điều 79 luật bầu cử đại -điều 80, 81, 82 luật bầu cử -Điều 89 tới điều 94 luật bầu cử
pháp lí biểu QH, đại biểu Hđ nhân ĐHQH, ĐBHĐND năm 2015 ĐBQH,ĐBHĐND năm 2015. dân năm 2015
Downloaded by HU? BÙI TH? (huebuithi190307@gmail.com) lOMoARcPSD|61240729 Điều
-đối với bầu cử ĐBQH :
- số lượng cử tri đi bầu cử -đối với bầu cử ĐBQH : kiện
+ số đại biểu QH trúng cử không đạt quá nửa so với + nhiệm kỳ còn hơn 2 năm khuyết trên
không đủ so với số đb QH danh sách số cử tri đã được 10% tổng số đại biểu quốc hội đã bầu ở
đã được ấn định cho đơn vị công bố . nhiệm kỳ đầu . bầu cử .
- có vi phạm nghiêm trọng -đối với bầu cử ĐBHĐND
-đôi với bầu cử HĐND : trong bầu cử.
+ Nhiệm kỳ còn hơn 18 tháng khuyết trên
+ số ng trúng cử không đủ
1/3 số đb đã bầu ở nhiệm kỳ đầu .
2/3 số đb đã được ấn định
- các đơn vị hành chính có số lượng đb
cho đơn vị bầu cử.
không đủ 2/3 tổng số đb được bầu theo
quy định của luật tổ chức chính quyền địa phương. Thời
-tiến hành chậm là 15 ngày -tiến hành chậm nhất là 15 - trong nhiệm kỳ gian
sau ngày bầu cử đầu tiên
ngày sau ngày bầu cử đầu tiên . Thủ
- cử tri lựa chọn ứng cử viên -cử tri lựa chọn ứng cử viên -QH quyết định và công bố ngày bầu cử
tục tiến trong danh sách ứng cử viên trong danh sách các ứng cử đb QH, UBTVQH quyết định và công bố hành
đã được công bố trong lần viên đã được công bố trong ngày bầu cử ĐBHĐND cấp tỉnh .
bầu cử đầu tiên mà không lần bầu cử đầu tiên mà không -TT HĐNN cấp tỉnh quyết định và công bố trúng cử. trúng cử .
ngày bầu cử ĐB HĐND cấp huyện , xã .
-nếu bầu cử thêm mà vẫn -nếu bầu cử lại mà số số cử -ngày bầu cử bổ sung phải là ngày CN
không đủ số đb đã được ấn tri đi bầu không đạt quá nửa công bố chậm nhất là 30 ngày trước ngày
định thì không tiến hành số cử tri trong danh sách cử bầu cử . bầu cử lần 2
tri thì công nhận kết quả và
không tiến hành bầu cử lần 2. Danh
- danh sách cử tri trong - danh sách cử tri trong cuộc -Do uy ban ND cấp xã thành lập theo quy
sách cử cuộc bầu cử đầu tiên theo bầu cử đầu tiên theo quy định tại chương IV tri
quy định của luật bầu cử đb định của luật bầu cử ĐBQH -Công bố chậm nhất 15 ngày trước ngày qh và đbhđnd năm 2015 và ĐBHĐND năm 2015 bầu cử . Danh
- danh sách ng ứng cử viên -danh sách người ứng cử - việc ứng cử, và hồ sơ ứng cử đb qh sách
trong danh sách ứng cử viên trong danh sách ứng cử viên đbhđnd trong bầu cử bổ sung được thực
ứng cử trong lần bầu cử đầu tiên .
trong lần bầu cử đầu tiên . hiện. viên
40. Phân tích các hình thức vận động bầu cử theo pháp luật hiện hành. Chị Nguyễn Thị A là ứng cử viên đại
biểu Quốc hội muốn tổ chức vận động bầu cử thì có hợp pháp không? Vì sao? -
Vận động bầu cử được tiến hành từ ngày công bố danh sách chính thức những người ứng cử và kết thúc trước thời
điểm bắt đầu bỏ phiếu 24 giờ với hai hình thức theo Điều 64, 65 Luật Bầu cử…:
+ Gặp gỡ, tiếp xúc với cử tri tại hội nghị tiếp xúc cử tri ở địa phương nơi mình ứng cử.
+ Thông qua phương tiện thông tin đại chúng. -
Vận động bầu cử phải tuân thủ theo các nguyên tắc được quy định trong Điều 63 Luật Bầu cử…:
1. Việc vận động bầu cử được tiến hành dân chủ, công khai, bình đẳng, đúng pháp luật, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội.
2. Người ứng cử đại biểu Quốc hội, ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân ở đơn vị bầu cử nào thì thực hiện vận
động bầu cử tại đơn vị bầu cử đó.
3. Các tổ chức phụ trách bầu cử và thành viên của các tổ chức này không được vận động cho người ứng cử. -
Trong vận động bầu cử, cần đặc biệt lưu ý những hành vi bị cấm được quy định tại Điều 68:
Downloaded by HU? BÙI TH? (huebuithi190307@gmail.com) lOMoARcPSD|61240729
1. Lợi dụng vận động bầu cử để tuyên truyền trái với Hiến pháp và pháp luật hoặc làm tổn hại đến danh dự, nhân
phẩm, uy tín, quyền, lợi ích hợp pháp khác của tổ chức, cá nhân khác.
2. Lạm dụng chức vụ, quyền hạn để sử dụng phương tiện thông tin đại chúng trong vận động bầu cử.
3. Lợi dụng vận động bầu cử để vận động tài trợ, quyên góp ở trong nước và nước ngoài cho tổ chức, cá nhân mình.
4. Sử dụng hoặc hứa tặng, cho, ủng hộ tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất để lôi kéo, mua chuộc cử tri. -
Tại hội nghị tiếp xúc cử tri, từng người ứng cử báo cáo với cử tri về chương trình hành động của mình nếu được
bầu làm đại biểu Quốc hội, đại biểu HĐND và cử tri nêu ý kiến, đề đạt nguyện vọng của mình với những người ứng
cử. Người ứng cử và cử tri trao đổi dân chủ, thẳng thắn và cởi mở những vấn đề cùng quan tâm (theo Điểm c, d
Khoản 2 Điều 66 Luật Bầu cử…)
41. Phân tích vị trí, tính chất “Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân” theo pháp luật hiện hành. -
Trong BMNN ta, Quốc hội chiếm vị trí đặc biệt quan trọng. Theo Điều 2 Hiến pháp 2013, ở nước Cộng hoà xã hội
chủ nghĩa Việt Nam tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân. Nhân dân có thể thực hiện quyền lực của mình
bằng các biện pháp dân chủ trực tiếp, bán trực tiếp và gián tiếp. Bằng biện pháp dân chủ gián tiếp, nhân dân bầu ra
các cơ quan đại diện (Quốc hội và HĐND) để thực hiện quyền lực của mình. -
Trong BMNN CHXHCN Việt Nam, Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân. Nguyên tắc này đã được
quy định qua Điều 4 Hiến pháp 1959. Đến Hiến pháp năm 1980, Hiến pháp 1992 và đặc biệt là Hiến pháp 2013 thì
vai trò của Quốc hội được tăng cường và phát triển hơn nữa trong việc quy định cơ cấu tổ chức Nhà nước
CHXHCN Việt Nam, nhất là trong việc quy định vị trí và tính chất của Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân (Điều 69). -
Các đại biểu Quốc hội là những công nhân, nông dân, trí thức và những người lao động thuộc mọi dân tộc trong cả
nước được nhân dân cả nước bầu cử ra và chịu trách nhiệm trước nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân và phải
giải trình với nhân dân. Họ có mối liên hệ chặt chẽ với quần chúng, nắm vững tâm tư, nguyện vọng của nhân dân và
hoạt động vì lợi ích của những người mà họ làm đại diện. Nhiệm kỳ của Quốc hội là 5 năm, việc tuyển cử các đại
biểu Quốc hội mới bảo đảm cho nhân dân có thể lựa chọn và bổ sung những đại diện mới vào cơ quan quyền lực
nhà nước cao nhất của mình. Nguyên tắc hoạt động của Quốc hội là hoạt động theo chế độ hội nghị và quyết định
theo đa số (Điều 3 Luật Tổ chức Quốc hội 2014). Thể hiện rằng những quyết định của Quốc hội cần nhận được sự
đồng ý của đa số các đại biểu Quốc hội - những người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân. Đại biểu
Quốc hội cũng có thể bị cử tri bãi nhiệm nếu không còn xứng đáng với niềm tin và kỳ vọng của Nhân dân.
42. Phân tích vị trí, tính chất “Quốc hội là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam” theo pháp luật hiện hành. -
Trong BMNN ta, Quốc hội chiếm vị trí đặc biệt quan trọng. Theo Điều 2 Hiến pháp 2013, ở nước Cộng hoà xã hội
chủ nghĩa Việt Nam tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân. Nhân dân có thể thực hiện quyền lực của mình
bằng các biện pháp dân chủ trực tiếp, bán trực tiếp và gián tiếp. Bằng biện pháp dân chủ gián tiếp, nhân dân bầu ra
các cơ quan đại diện (Quốc hội và HĐND) để thực hiện quyền lực của mình. -
Trong BMNN CHXHCN Việt Nam, Quốc hội là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất. Nguyên tắc này đã được
quy định qua Điều 22 Hiến pháp 1946 và Điều 4 Hiến pháp 1959. Đến Hiến pháp năm 1980, Hiến pháp 1992 và
đặc biệt là Hiến pháp 2013 thì vai trò của Quốc hội được tăng cường và phát triển hơn nữa trong việc quy định cơ
cấu tổ chức Nhà nước CHXHCN Việt Nam, nhất là trong việc quy định vị trí và tính chất của Quốc hội là cơ quan
quyền lực nhà nước cao nhất của nước Cộng hoà XHCN Việt Nam (Điều 69). Quốc hội có quyền lập hiến, lập
pháp; quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước; giám sát tối cao hoạt động của BMNN. -
Quốc hội có quyền quyết định những vấn đề quan trọng nhất của đất nước như thông qua Hiến pháp, các đạo luật,
quyết định những chính sách cơ bản về đối nội và đối ngoại , mục tiêu phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội, tổ chức và
hoạt động của bộ máy nhà nước; giám sát tối cao hoạt động của bộ máy nhà nước; Quốc hội biểu hiện tập trung ý
chí và quyền lực của nhân dân trong phạm vi toàn quốc.
43. Phân tích chức năng lập hiến của Quốc hội theo pháp luật hiện hành -
Trong nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam, cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân được Hiến pháp trao cho
chức năng lập hiến, lập pháp (Theo điều 69 Hiến pháp 2013). Chức năng lập hiến của Quốc hội được hiểu đơn giản
Downloaded by HU? BÙI TH? (huebuithi190307@gmail.com) lOMoARcPSD|61240729
là Quốc hội giữ quyền làm hiến pháp thì cũng có quyền sửa đổi Hiến pháp. Để đảm bảo cho hoạt động này của
Quốc hội được tiến hành thuận lợi có hiệu quả, pháp luật đã quy định cụ thể các bước chuẩn bị và quy trình thực hiện. -
Quốc hội là cơ quan duy nhất có quyền lập hiến. Quốc hội làm Hiến pháp và sửa đổi Hiến pháp. Việc soạn thảo,
thông qua, công bố Hiến pháp, sửa đổi Hiến pháp và thủ tục, trình tự giải thích Hiến pháp do Quốc hội quy định.
Căn cứ vào Hiến pháp, Quốc hội ban hành luật, nghị quyết. Căn cứ vào Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội,
Uỷ ban thường vụ Quốc hội ban hành pháp lệnh, nghị quyết. -
Theo Điều 120 Hiến pháp 2013 và Điều 4 Luật Tổ chức Quốc hội:
1. Chủ tịch nước, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ hoặc ít nhất một phần ba tổng số đại biểu Quốc hội có
quyền đề nghị Quốc hội xem xét, quyết định việc làm Hiến pháp hoặc sửa đổi Hiến pháp. Quốc hội quyết định
làm Hiến pháp, sửa đổi Hiến pháp khi có ít nhất hai phần ba tổng số đại biểu Quốc hội biểu quyết tán thành.
2. Quốc hội thành lập Ủy ban dự thảo Hiến pháp. Thành phần, số lượng thành viên, nhiệm vụ và quyền hạn của
Ủy ban dự thảo Hiến pháp do Quốc hội quyết định theo đề nghị của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
3. Ủy ban dự thảo Hiến pháp soạn thảo, tổ chức lấy ý kiến Nhân dân và trình Quốc hội dự thảo Hiến pháp.
4. Hiến pháp được Quốc hội thông qua khi có ít nhất hai phần ba tổng số đại biểu Quốc hội biểu quyết tán thành.
Quốc hội quyết định trưng cầu ý dân về Hiến pháp trong các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 19 của Luật
này: “Quốc hội quyết định trưng cầu ý dân về Hiến pháp hoặc về những vấn đề quan trọng khác theo đề nghị
của Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ hoặc ít nhất một phần ba tổng số đại biểu Quốc hội.”
44. Phân tích chức năng lập pháp của Quốc hội theo pháp luật hiện hành. -
Trong nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam, cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân được Hiến pháp trao cho
chức năng lập hiến, lập pháp (Theo điều 69 Hiến pháp 2013). Chức năng lập pháp của Quốc hội được hiểu đơn giản
là Quốc hội giữ quyền làm luật thì cũng có quyền sửa đổi luật. Để đảm bảo cho hoạt động này của Quốc hội được
tiến hành thuận lợi có hiệu quả, pháp luật đã quy định cụ thể các bước chuẩn bị và quy trình thực hiện. -
Chức năng lập pháp được trao cho QH để đảm bảo tính quyền lực tối cao của văn bản Luật khi được QH ban hành.
Các văn bản cá biệt khác, các cơ quan NN ban hành phải đảm bảo không được trái với luật phải phù hợp thì mới
được thực thi . Việc trao chức năng lập pháp cho QH nhằm mục đích giúp cho người dân dễ dàng hơn trong việc
kiểm tra giám sát hoạt động ban hành của QH sao cho phù hợp với lợi ích của cộng đồng, của NN, bảo vệ, bảo đảm
được quyền lợi ích hợp pháp của các cá nhân, tổ chức trong xã hội… -
Theo Điều 5 Luật tổ chức Quốc hội về Làm luật và sửa đổi luật:
1. Quốc hội quyết định chương trình xây dựng luật, pháp lệnh theo đề nghị của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
2. Các dự án luật trước khi trình Quốc hội phải được Hội đồng dân tộc hoặc Ủy ban của Quốc hội thẩm tra, Ủy
ban thường vụ Quốc hội cho ý kiến.
3. Quốc hội thảo luận, xem xét, thông qua dự án luật tại một hoặc nhiều kỳ họp Quốc hội căn cứ vào nội dung của dự án luật.
45. Phân tích chức năng giám sát tối cao của Quốc hội theo pháp luật hiện hành. -
Điều 69 Hiến pháp 2013 quy định “Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực nhà
nước cao nhất của nước CHXHCNVN. Quốc hội thực hiện quyền lập hiến, quyền lập pháp, quyền quyết định các
vấn đề quan trọng của đất nước và quyền giám sát tối cao đối với hoạt động của nhà nước.” -
QH là cơ quan duy nhất được trao quyền giám sát tối cao, đây là một trong những chức năng quan trọng của Quốc
hội. Giám sát tối cao là việc Quốc hội theo dõi, xem xét, đánh giá hoạt động của các cơ quan , tổ chức, cá nhân chịu
sự giám sát trong việc tuân theo Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội và xử lý theo thẩm quyền hoặc yêu cầu
cơ quan có thẩm quyền xử lý. Giám sát tối cao được thực hiện tại kỳ họp Quốc hội (theo Khoản 3 Điều 2 Luật Hoạt
động giám sát của Quốc hội và HĐND năm 2015) -
Đối với nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, chức năng giám sát tối cao của Quốc hội đối với hoạt
động của nhà nước để bảo đảm cho Hiến pháp, luật và nghị quyết của Quốc hội được các cơ quan ở cấp Trung ương
tuân thủ và thực hiện một cách thống nhất; ngăn chặn sự lạm quyền trong tổ chức và thực hiện quyền lực nhà nước
bảo đảm cho mọi hoạt động của các cơ quan và các cá nhân đứng đầu các cơ quan nói trên hoạt động vì lợi ích của
Downloaded by HU? BÙI TH? (huebuithi190307@gmail.com)