Ngày : 25/10/2024
Họ và tên : Huỳnh Hồng Phúc
Lê Đặng Phú Sỹ
Phạm Trung Nghĩa
Nhóm :
MÔN THỰC HÀNH THÍ NGHIỆM KHOA HỌC TỰ NHIÊN 2
(HÓA HỌC)
BÁO CÁO THÍ NGHIỆM
BÀI 2: OXYGEN VÀ KHÔNG KHÍ
NỘI DUNG BÁO CÁO
Phần 1: Câu hỏi chuẩn bị trước khi tiến hành thí nghiệm:
(Không có)
Phần 2: Kết quả thí nghiệm
1. Thí nghiệm 1: Điều chế oxygen
1.1. Hóa chất
KMnO
4
: 15gam
1.2. Dụng cụ thí nghiệm
Tên Số lượng
Cân kĩ thuật 1
Ống nghiệm chịu nhiệt có nút đậy và ống dẫn. 1
Bình tam giác có nút đậy 3
Đèn cồn 1
Giá đỡ ống thí nghiệm 1
Chậu thủy tinh 1
1.3. Kết quả thu được
Cân 15gam KMnO
4
cho vào ống nghiệm khô, chịu nhiệt. Lắp ống nghiệm chứa 15
gam KMnO
4
vào giá đỡ, nghiêng ống nghiệm 1 góc 45 độ, đặt đèn cồn phía dưới đít
ống nghiệm. Gắn nút đậy chứa ống dẫn vào đầu ống nghiệm, đầu còn lại của ống
dẫn gắn vào bình tam giác sau đó úp ngược bình tam giác cho vào chậu thủy tinh
chứa nước. Đốt đèn cồn nóng ống nghiệm sau đó đun nóng. Khi ống nghiệm được
đun nóng, KMnO
4
sẽ phân hủy tạo thành khí oxygen. Khí oxygen sẽ đi qua ống dẫn và
đi vào bình tam giác. Ta tiến hành thu 3 bình khí oxygenvà đậy nắp kín.
Phương trình hóa học:
2KMnO
4
→ K
2
MnO
4
+ MnO
2
+ O
2
2. Thí nghiệm 2: Thử tính chất của khí oxygen
2.1. Hóa chất
Sắt ( dây thắng xe ) Nước cất
Bột lưu huỳnh : hạt đậu Photpho đỏ : hạt đậu
2.2. Dụng cụ thí nghiệm:
Thìa kim loại cán dài 2
Giấy đo pH
Đèn cồn 1
2.3. Kết quả thu được
Đánh số 3 bình chứa khí oxygen đã thu được ở thí nghiệm 1
- Nung đỏ đoạn dây sắt đưa nhanh vào bình chứa oxygen thứ nhất ta thấy sắt cháy
mạnh hơn, sáng chói, khôngngọn lửa, không khói, tạo ra các hạt nhỏ nóng chảy
màu nâu oxit sắt từ. Màu trắng xám của sắt dần chuyển sang màu nâu của oxit sắt
từ.
Phương trình hóa học:
3Fe + 2O
2
Fe
3
O
4
- Lấy một thìa kim loại có cán dài đựng một ít bột S bằng hạt đậu xanh. Đun nóng cho
đến khi bột S bắt đầu cháy thì đưa nhanh thìa chứa S vào bình chứa oxygen thứ 2. Sau
khi bột lưu huỳnh cháy xong, cho vào bình khoảng 10ml nước cất lắc đều. Ta thấy
được khi lưu huỳnh cháy trong không khí thì cháy với ngọn lửa nhỏ, màu xanh nhạt
nhưng khi cho vào bình chứa oxygen thì cháy mãnh liệt hơn. Khi cho nước cất vào
bình thử tính acid bằng giấy thử pH thì ta thấy giấy pH chuyển sang màu hồng.
Vậy nước có phản ứng với SO
2
tạo thành axit H
2
CO
3
, H
2
CO
3
có tính acid yếu.
Phương trình hóa học:
S + O
2
→ SO
2
SO
2
+ H
2
O → H
2
SO
3
- Lấy một ít P đỏ bằng hạt đậu xanh cho vào thìa sắt cán dài. Đưa thìa lên trên ngọn
lửa đèn cồn cho đến khi photpho bắt lửa, đưa ngay thìa vào bình chứa oxygen số 3.
Khi photpho cháy xong, để nguội bình cho vào bình 10ml nước cất. Photpho cháy
tạo ra khói trắng dày đặc bám vào thành lọ dưới dạng bột (P
2
O
5
) tan trong nước tạo
thành dung dịch không màu H
3
PO
4
. Cho giấy pH vào lọ thấy giấy pH chuyển sang
màu đỏ. Vậy nước có phản ứng với P
2
O
5
tạo thành acid H
3
PO
4
, H
3
PO
4
có tính acid.
Phương trình hóa học:
4P + 5O
2
2P
2
O
5
P
2
O
5
+ 3H
2
O 2H
3
PO
4
Xác định thành phần oxygen trong không khí
2.4. Hóa chất
Dung dịch kiềm : Ca(OH)
2
2.5. Dụng cụ thí nghiệm
Tên dụng cụ Số lượng
Cốc thủy tinh 1
Chậu thủy tinh 1
Nến 1
2.6. Kết quả thu được
Đặt cây nến gắn trên đế nhựa vào chậu chứa dung dịch châm lửa cho nến cháy. Úp
cốc thuỷ tinh lên nến. Oxygen trong không khí có trong cốc giúp duy trì sự cháy và sẽ
hết dần. Dung dịch dần dâng lên chiếm chỗ oxygen đã cháy. Khi nến cháy, oxygen
trong không khí được tiêu thụ, dẫn đến giảm thể tích không khí trong cốc. Mực nước
trong cốc thủy tinh sẽ ng lên do sự tiêu thụ oxygen sự hòa tan của khí carbon
dioxide trong dung dịch kiềm loãng.
Khi cây nến tắt lúc oxygen trong cốc đã hết. Chiều cao cột nước dâng lên bằng
khoảng 1/5 chiều cao của cốc, chứng tỏ oxygen chiểm khoảng 1/5 thể tích không khí.
Nến cháy trong oxygen sinh ra khí carbon dioxide hơi nước. Hơi nước sẽ ngưng tụ
lại còn khí carbondioxide sẽ bị nước vôi trong hấp thụ hết. Vậy ta thể thấy oxygen
chiếm 1/5 thể tích không khí.
Phần 3: Câu hỏi mở rộng sau khi làm thí nghiệm: (Không có)
Phần 4: Rút ra lưu ý khi làm thí nghiệm (nếu có)
Thí nghiệm 1: Điều chế oxygen
Đảm bảo khu vực làm việc thông thoáng không nguồn lửa gần
đó, vì O2 có thể làm tăng cường sự cháy. Khi thí nghiệm nên sử dụng
giá đỡ để giữ ng nghiệm thẳng đứng, khi dùng phương pháp đẩy
nước cần tránh để lọt khí lạ vào bình đựng khí.
Thí nghiệm 2: Thử tính chất của oxygen với sắt nung đỏ
Khi thí nghiệm đảm bảo không gian làm việc đủ thông gió. Tránh
làm thí nghiệm nơin gió, khí oxygen thể làm tăng cường sự
cháy. Không để gần các nguồn lửa hoặc vật liệu dễ cháy khác,
oxygen có thể làm tăng nguy cơ cháy nổ.
Sau khi dây sắt đã nung đỏ, đưa nhanh vào bình chứa O2 để tối đa
hóa phản ứng. Sau khi hoàn thành thí nghiệm, đ dây sắt nguội
trong không khí hoặc trong nước (nếu cần) nhưng không để nước
tiếp xúc trực tiếp với dây nóng.
Thí nghiệm 3 : Thử tính chất của oxygen với lưu huỳnh (S)
Lưu ý khi đốt sulfur không để bột sulfur bốc cháy quá mức đ tránh
cháy lan ra ngoài. Thực hiện thí nghiệm trong không gian thoáng
đãng, tránh nơi kín gió, để đảm bảo khí độc không tích tụ. Không để
gần các nguồn lửa khác hoặc vật liệu dễ cháy, q trình cháy có
thể tạo ra nhiệt khói. Khi sulfur đã bắt đầu cháy, nhanh chóng
đưa vào bình chứa O2 để tối đa hóa phản ứng. Sau khi thí nghiệm,
để các dụng cụ nguội tự nhiên. Không sử dụng nước đ làm nguội
nhanh chóng, vì điều này có thể gây nứt hoặc vỡ dụng cụ.

Preview text:

Ngày : 25/10/2024

Họ và tên : Huỳnh Hồng Phúc

Lê Đặng Phú Sỹ

Phạm Trung Nghĩa

Nhóm :

MÔN THỰC HÀNH THÍ NGHIỆM KHOA HỌC TỰ NHIÊN 2 (HÓA HỌC)

BÁO CÁO THÍ NGHIỆM

BÀI 2: OXYGEN VÀ KHÔNG KHÍ

NỘI DUNG BÁO CÁO

Phần 1: Câu hỏi chuẩn bị trước khi tiến hành thí nghiệm: (Không có)

Phần 2: Kết quả thí nghiệm

  1. Thí nghiệm 1: Điều chế oxygen
    1. Hóa chất

KMnO4 : 15gam

    1. Dụng cụ thí nghiệm

Tên

Số lượng

Cân kĩ thuật

1

Ống nghiệm chịu nhiệt có nút đậy và ống dẫn.

1

Bình tam giác có nút đậy

3

Đèn cồn

1

Giá đỡ ống thí nghiệm

1

Chậu thủy tinh

1

    1. Kết quả thu được

Cân 15gam KMnO4 cho vào ống nghiệm khô, chịu nhiệt. Lắp ống nghiệm chứa 15 gam KMnO4 vào giá đỡ, nghiêng ống nghiệm 1 góc 45 độ, đặt đèn cồn phía dưới đít ống nghiệm. Gắn nút đậy có chứa ống dẫn vào đầu ống nghiệm, đầu còn lại của ống dẫn gắn vào bình tam giác sau đó úp ngược bình tam giác cho vào chậu thủy tinh có chứa nước. Đốt đèn cồn hơ nóng ống nghiệm sau đó đun nóng. Khi ống nghiệm được đun nóng, KMnO4 sẽ phân hủy tạo thành khí oxygen. Khí oxygen sẽ đi qua ống dẫn và đi vào bình tam giác. Ta tiến hành thu 3 bình khí oxygenvà đậy nắp kín.

Phương trình hóa học:

2KMnO4 → K2MnO4 + MnO2 + O2

  1. Thí nghiệm 2: Thử tính chất của khí oxygen
    1. Hóa chất

Sắt ( dây thắng xe )

Nước cất

Bột lưu huỳnh : hạt đậu

Photpho đỏ : hạt đậu

    1. Dụng cụ thí nghiệm:

Thìa kim loại cán dài

2

Giấy đo pH

Đèn cồn

1

    1. Kết quả thu được

Đánh số 3 bình chứa khí oxygen đã thu được ở thí nghiệm 1

- Nung đỏ đoạn dây sắt và đưa nhanh vào bình chứa oxygen thứ nhất ta thấy sắt cháy mạnh hơn, sáng chói, không có ngọn lửa, không có khói, tạo ra các hạt nhỏ nóng chảy màu nâu là oxit sắt từ. Màu trắng xám của sắt dần chuyển sang màu nâu của oxit sắt từ.

Phương trình hóa học:

3Fe + 2O2 → Fe3O4

- Lấy một thìa kim loại có cán dài đựng một ít bột S bằng hạt đậu xanh. Đun nóng cho đến khi bột S bắt đầu cháy thì đưa nhanh thìa chứa S vào bình chứa oxygen thứ 2. Sau khi bột lưu huỳnh cháy xong, cho vào bình khoảng 10ml nước cất và lắc đều. Ta thấy được khi lưu huỳnh cháy trong không khí thì cháy với ngọn lửa nhỏ, màu xanh nhạt nhưng khi cho vào bình chứa oxygen thì cháy mãnh liệt hơn. Khi cho nước cất vào bình và thử tính acid bằng giấy thử pH thì ta thấy giấy pH chuyển sang màu hồng. Vậy nước có phản ứng với SO2 tạo thành axit H2CO3, H2CO3 có tính acid yếu.

Phương trình hóa học:

S + O2 → SO2

SO2 + H2O → H2SO3

- Lấy một ít P đỏ bằng hạt đậu xanh cho vào thìa sắt cán dài. Đưa thìa lên trên ngọn lửa đèn cồn cho đến khi photpho bắt lửa, đưa ngay thìa vào bình chứa oxygen số 3. Khi photpho cháy xong, để nguội bình và cho vào bình 10ml nước cất. Photpho cháy tạo ra khói trắng dày đặc bám vào thành lọ dưới dạng bột (P2O5) tan trong nước tạo thành dung dịch không màu là H3PO4. Cho giấy pH vào lọ thấy giấy pH chuyển sang màu đỏ. Vậy nước có phản ứng với P2O5 tạo thành acid H3PO4, H3PO4 có tính acid.

Phương trình hóa học:

4P + 5O2 → 2P2O5

P2O5 + 3H2O → 2H3PO4

Xác định thành phần oxygen trong không khí

    1. Hóa chất

Dung dịch kiềm : Ca(OH)2

    1. Dụng cụ thí nghiệm

Tên dụng cụ

Số lượng

Cốc thủy tinh

1

Chậu thủy tinh

1

Nến

1

    1. Kết quả thu được

Đặt cây nến gắn trên đế nhựa vào chậu chứa dung dịch và châm lửa cho nến cháy. Úp cốc thuỷ tinh lên nến. Oxygen trong không khí có trong cốc giúp duy trì sự cháy và sẽ hết dần. Dung dịch dần dâng lên chiếm chỗ oxygen đã cháy. Khi nến cháy, oxygen trong không khí được tiêu thụ, dẫn đến giảm thể tích không khí trong cốc. Mực nước trong cốc thủy tinh sẽ tăng lên do sự tiêu thụ oxygen và sự hòa tan của khí carbon dioxide trong dung dịch kiềm loãng.

Khi cây nến tắt là lúc oxygen trong cốc đã hết. Chiều cao cột nước dâng lên bằng khoảng 1/5 chiều cao của cốc, chứng tỏ oxygen chiểm khoảng 1/5 thể tích không khí. Nến cháy trong oxygen sinh ra khí carbon dioxide và hơi nước. Hơi nước sẽ ngưng tụ lại còn khí carbondioxide sẽ bị nước vôi trong hấp thụ hết. Vậy ta có thể thấy oxygen chiếm 1/5 thể tích không khí.

Phần 3: Câu hỏi mở rộng sau khi làm thí nghiệm: (Không có)

Phần 4: Rút ra lưu ý khi làm thí nghiệm (nếu có)

Thí nghiệm 1: Điều chế oxygen

Đảm bảo khu vực làm việc thông thoáng và không có nguồn lửa gần đó, vì O2 có thể làm tăng cường sự cháy. Khi thí nghiệm nên sử dụng giá đỡ để giữ ống nghiệm thẳng đứng, khi dùng phương pháp đẩy nước cần tránh để lọt khí lạ vào bình đựng khí.

Thí nghiệm 2: Thử tính chất của oxygen với sắt nung đỏ

Khi thí nghiệm đảm bảo không gian làm việc có đủ thông gió. Tránh làm thí nghiệm ở nơi kín gió, vì khí oxygen có thể làm tăng cường sự cháy. Không để gần các nguồn lửa hoặc vật liệu dễ cháy khác, vì oxygen có thể làm tăng nguy cơ cháy nổ.

Sau khi dây sắt đã nung đỏ, đưa nhanh vào bình chứa O2 để tối đa hóa phản ứng. Sau khi hoàn thành thí nghiệm, để dây sắt nguội trong không khí hoặc trong nước (nếu cần) nhưng không để nước tiếp xúc trực tiếp với dây nóng.

Thí nghiệm 3: Thử tính chất của oxygen với lưu huỳnh (S)

Lưu ý khi đốt sulfur không để bột sulfur bốc cháy quá mức để tránh cháy lan ra ngoài. Thực hiện thí nghiệm trong không gian thoáng đãng, tránh nơi kín gió, để đảm bảo khí độc không tích tụ. Không để gần các nguồn lửa khác hoặc vật liệu dễ cháy, vì quá trình cháy có thể tạo ra nhiệt và khói. Khi sulfur đã bắt đầu cháy, nhanh chóng đưa vào bình chứa O2 để tối đa hóa phản ứng. Sau khi thí nghiệm, để các dụng cụ nguội tự nhiên. Không sử dụng nước để làm nguội nhanh chóng, vì điều này có thể gây nứt hoặc vỡ dụng cụ.