BÀI 3
VĂN HOÁ CHÍNH TRỊ
A. MC TIÊU
V kiến thc: Cung cp cho hc viên nhng nội dung bản v văn hóa chính trị, bao
gm: khái nim, cu trúc, chc năng, cách phân loi văn hóa chính tr; đc đim và nhng
vấn đề đặt ra đối với văn hóa chính trị Vit Nam hin nay mt s gii pháp nâng cao
văn hóa chính tr trong thi gian ti.
V k năng:Giúp hc vn y dng k năng khi phân tích s tác đng ca văn hóa
chính tr đến hành vi cá nhân, nhóm trong nhng tình hung c th.
V tưởng: Giúp hc viên nhn thc được vai trò của văn hóa chính trị trong đời
sng chính tr, s ảnh hưởng của đối vi hành vi ca tng nhân, tng nhóm hi
khi các ch th y tham gia vào đời sng chính trị; qua đó giúp họ ý thc đưc bn phn
và trách nhim ca mình trong việc thúc đẩy nhng giá tr dân ch tiến b trong chính
tr.
B. NI DUNG
3.1. CÁC VẤN ĐỀ CHUNG VỀ VĂN HÓA CHÍNH TRỊ
3.1.1. Khái niệm văn hóa và văn hóa chính tr
Văn hóa chính trị mt b phn, một phương diện của văn hóa nói chung. Để hiu
biết sâu sc v văn hóa chính trị, cn thiết phi làm rõ khái nim văn hóa.
3.1.1.1. Khái niệm văn hóa
Cho đến nay, đã có rất nhiu định nghĩa khác nhau v n hóa, cho thấy s phc tp và
đa dạng ca đối ng nghiên cu. Mỗi người nghiên cu, t mc đích và cách tiếp cn ca
nh, th đưa ra quan niệm riêng v văn hóa. Do vậy, các định nghĩa v n hóa thường có
xu hưng nghng v mt khía cạnh nào đó và bỏ qua c khía cnh khác. Nói ch khác, mt
trong nhng lý do dn đến s khác bit trong ch định nghĩa về văn hóa chính là cách tiếp
cn của các trường phái, các thuyết khác nhau.
Văn hóa có th được hiu theo mt s cách bản sau:
Th nhất, văn hóa toàn bộ các giá tr vt cht tinh thần do con người sáng to
ra. Theo cách hiu này, tt c nhng gì không có sn trong t nhiên là kết qu ca s sáng
to của con người, đều được coi là mt sn phẩm văn hóa. bao gm c hai khía cnh:
khía cnh tinh thn ca hội như ngôn ngữ, tưởng, giá tr các khía cnh vt cht
như nhà ca, quần áo, các phương tiện,...
H Chí Minh đã từng đưa ra cách hiểu v văn hóa theo nghĩa này như sau: “Vì lẽ sinh
tồn cũng như mục đích ca cuc sống, loài người mi sáng to và phát minh ra ngôn ng,
ch viết, đạo đc, pháp lut, khoa hc, tôn giáo, văn học, ngh thut, nhng công c cho
sinh hot hàng ngày v mặc, ăn, các phương thức s dng. Toàn b nhng sáng to
và phát minh đó tức là văn hóa”
1
.
Th hai, văn hóa toàn bộ tri thc, hiu biết của con người v thế gii khách quan. ch
hiu này đồng nhất văn a với s hiu biết, vi trình đ hc vn ca con người.
1
Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, H.2011, t.3, trang.458.
Th ba, văn hóa là hệ thng các giá tr, nim tin và các dng thức hành vi được các
thành viên trong mt cộng đồng chia s. Theo cách hiu y, văn hóa cái định ng
cho các la chọn, cách suy nghĩ, hành xử ca các thành viên trong cộng đồng theo mt
chun mc đã đưc cng đồng chp nhn.
Nói ti ki nim văn hóa phi nhn mnh hai đc trưng cơ bn:
- Tính tp thể, tính nhóm: Văn hóa không phải là sn phm ca tng cá nhân riêng l
i với nhân, người ta gi nhân cách, phong cách), mà sn phm ca mt nhóm,
mt tp th, mt cng đồng.
- Tính ổn đnh: Nói tới văn hóa nói ti c giá tr đã tồn ti trong mt thi gian
tương đối dài, đã đưc xác lập tương đối ổn định, ch không phi là những cái có ý nghĩa
nht thi, hoặc đang trong quá trình định hình. Văn hóa thế được xem “mẫu gen”,
bn sc, là tính cách ca mt cộng đồng, mt dân tc, mt quc gia. Nó là cái để phân bit
cộng đồng y vi cng đồng khác, dân tc này vi dân tc khác. Do đó, để y dng,
hoặc thay đổi các giá tr văn hóa cần phi có thi gian, thông qua các bin pháp mang tính
h thống, đồng b.
3.1.1.2. Khái niệm văn hóa chính trị
Trong nghiên cu v văn hóa chính trị hin có nhiu cách tiếp cận khác nhau, do đó,
tùy thuc vào mc tiêu nghiên cứu, người ta có th đưa ra các khái niệm khác nhau. Trong
phn này s đề cập đến mt s cách hiểu văn hóa chính trị cơ bản hiện nay như sau:
- Văn hóa chính tr toàn b các giá tr vt cht và tinh thần do con ngưi sáng to
ra trong hoạt động chính tr. th bao gồm lĩnh vực ng chính tr, các tưởng
và nim tin chính tr, h thng các th chế và thiết chế chính tr...v.v.
- Văn hóa chính tr là s hiu biết ca con ngưi v đời sng chính tr, là nhng kinh
nghim mà các ch th chính tr được trong quá trình tham gia vào đời sng chính tr.
Trong bài y, văn a chính trị đưc hiểu như sau: Văn hóa chính tr h thng
các giá tr, chun mực được hình thành trong thc tin chính trị, được cộng đồng chia s
th chi phối, định hướng hot động ca các nhân t chc khi các ch th
này tham gia vào đời sng chính tr.
3.1.2. Các thành t và biu hin của văn hóa chính tr
3.1.2.1. Các thành t của văn hóa chính trị
Tùy thuc vào cách tiếp cận, định nghĩa về văn hóa chính trị người ta xác định
các thành t của văn hóa chính trị s khác nhau.
Trong bài này, c thành t ca văn hóa chính trị đưc c định gm các yếu t sau:
- Tri thc chính tr: Đây là yếu t thm thu, bao trùm lên tt c các thành t của văn
hóa chính tr. Tri thc chính tr s thng nht hữu giữa tri thc lun chính tr vi
tri thc kinh nghim chính tr. Tri thc lun càng đạt ti tính khoa hc, khách quan thì
càng tm quan trng to ln. Tri thc kinh nghim gm nhng tri thc đưc t chc,
cộng đồng đúc rút từ trong lch s và nhng kinh nghiệm được tích y từ chính hoạt đng
chính tr ca các ch th. Xét v bn chất và xu hướng, thì tri thc lý lun có v trí đặc bit
quan trng, vì t nhng kinh nghim chính tr thc tin, có th khái quát thành nhng vn
đề mang tính lý lun, vch ra đưc bn cht và các quy lut ca đi sng chính tr.
Ch nhng t chc, ch th chính tr nào nm bắt đưc lun tiên tiến ca thời đại
và vn dng lý luận đó một cách sáng tạo vào điều kin c th ca t chức mình, đất nưc
mình, thì t chức đó, chủ th đó mi có th đóng vai trò là đội tiên phong chính tr ca giai
cp, ca dân tộc. Trong đời sng chính tr, tri thc chính tr đóng vai trò đặc bit quan
trọng. Đây chính s để nhn thc la chn các mc tiêu chính trị, cũng ncác
cách thc và con đường đi đến mc tiêu.
- Hệ tư tưởng chính trị
H tư tưởng chính trmt h thng các tư tưởng to thành các mục tiêu, đường li,
chiến lược, sách lược chính tr ca mt ch th. cũng một tm nhìn toàn din, mt
cách thc nhìn nhn s vt do các giai cp trong xã hội đưa ra.
Theo C.Mác, trong mt hi, h tưởng thng tr hi bao gi cũng hệ
ng ca giai cp cm quyn. H ng chính tr phn ánh khái quát li ích ca giai
cấp cũng như phương thức, con đường để hin thc hóa li ích ca mi giai cp. Giai cp
nào cm quyn thì h tư tưởng ca giai cấp đó sẽ được truyn bá trong xã hi, tr thành h
tư tưởng chính thng.
Trong tác phm H tư tưởng Đức (1846), C.Mác và Ănghen đã ch : “Hệ tư tưng
ca giai cp thng tr chính là tư tưng thng tr, giai cp gi địa v thng tr v lc lượng
sn xut ca xã hi s gi địa v thng tr v mt tinh thần”. Theo quan điểm ca các ông,
tư tưởng và văn hoá là mt phn ca kiến trúc thượng tng xã hội. Nó được quyết định bi
cơ sở kinh tế, phương thức sn xut ca xã hi.
Tư tưởng này đã đem lại cho C.Mác hai góc nhìn khác nhau v văn hoá:
Th nht, C.Mác cho rằng, văn hoá mang tính giai cấp. Khi các thành viên ca mt
giai cp chia s vi nhau các kinh nghim chính tr, li ích kinh tế chung, h s s
tương đồng v các tư tưởng, giá tr và nim tin.
Th hai, C.Mác nhn mnh yếu t h tưởng ca giai cp thng tr có tác động lan
to trong xã hi và tr thành h tưởng thng tr ca thời đại. Trong quan điểm này, văn
hoá chính tr, hoc ngay c văn hóa công dân, trong hội sản không gì khác hơn
chính là s th hin h tư tưởng ca giai cấp tư sản.
Trong cách tiếp cn mácxít, h tưởng là ht nhân của văn hóa chính trị. Thông qua
công tác ng b y tuyên truyn, giai cp thng tr s truyền cho người dân
các giá tr mà h tinng, t đó giúp ngưi dân nhn thức được s đúng đắn ca các giá
tr mà giai cp cm quyền đang theo đuổi.
- Các giá tr và chun mc chính tr
Giá tr là những điều được tin là đúng đắn, có ý nghĩa, được cộng đồng tha nhn và
chia s mt cách rng rãi. Các giá tr chính nhng nim tin được chia s gia các thành
viên trong mt cng đồng, mt hi v nhng được cho đúng đn, tốt đẹp; điều
gì nên tìm kiếm và điu gì nên tránh.
Các giá tr chính tr thưng mang nh ch quan, được tiếp nhn t truyn thng, hoc
được đnh hình thông qua thc tin chính tr. Các giá tr có tính ổn đnh và bn vng, có ý
nghĩa chi phối hành vi ca các cá nhân, các nhóm trong cộng đồng.
Các giá tr chính tr cơ sở để định hình các mẫu hình văn hóa lý ng, nhng dng
thc hành vi mt xã hi mong mun. Nhưng các giá trị chính tr chưa chỉ ra cho mi
người biết phải hành động như thế nào trong mi tình hung c th. Chính chun mc
chính tr mi thc hin chức năng đó. giá tr chun mực hay đi liền vi nhau nên
người ta thưng nói lin mch là h giá tr và chun mc.
2
Chun mc chính tr h thống các quy định c th v phương thức hành x trong
thc tin hoạt đng chính tr. Trong mối tương quan giữa giá tr chun mc thì chun
mc b quy định bi các giá tr. Nói cách khác, các giá tr chính tr được “phiên dịch” thành
các chun mc (quy tc) chính tr nhm ng dẫn hành động cho mọi người. S phân bit
gia giá tr và chun mc thường mang tính quy ước, đôi khi chúng chuyn hóa ln nhau.
th chun mc chính thc chun mc phi chính thc. Chun mc chính thc
nhng quy tắc được viết thành văn, chẳng hạn như các quy định ca pháp lut mà các
công dân phi tuân th. Các chun mc chính thức thường được công b mt cách rõ ràng
và c th.
Bên cnh các chun mc chính thc còn có các chun mc phi chính thc. mc
độ quan trng thp hơn, nhưng vẫn chi phi hành vi ca tng thành viên trong hi.
Các chun mc chính tr phi chính thc gm: các tp quán, truyn thng chính tr được lưu
truyn theo thi gian.
3.1.2.2.Các biu hin của văn hóa chính trị
Như đã phân tích, văn hóa chính trị h thng các giá tr đưc mt t chc, cng
đồng chia s. Các giá tr chính tr thưng nhng khái niệm tương đối trừu tượng. Các
giá tr không ch được thm thấu trong ng, nhn thc của con người, còn được
biu hin thông qua hành vi, thông qua các nghi thc và truyn thng chính tr, các biu
ng chính tr, các truyn thuyết và nhân vt anh hùng.
- Hành vi chính trị
Hành vi chính tr th hin trong hoạt động, qua hoạt động chính tr. Hành vi chính tr
là hành đng, vic làm, là s giao tiếp, ng x ca con ngưi trong quá trình tham gia vào
đời sng chính tr. Hành vi chính tr của c cá nhân thưng b chi phi bi các giá tr
chun mc mỗi nhân theo đuổi. Hành vi biu hin ra bên ngoài ca các giá tr
ngm n bên trong.
- Các nghi thc và truyn thng chính tr
Các nghi thc, truyn thng cnh tr c yếu t hu hình của văn hóa chính trị,
mt phn ca bn sc văn hóa quc gia. Nghi thc chào c hát quc ca ti mt s
kin th thao hay trong ngày khai tờnglà nhng nh đng được người dân tng
xuyên thc hin. Vic Ch tịch c đc li chúc Tết trong thi khc giao tha Vit
Nam, hay th tục đọc li tuyên th trong l nhm chc đưc áp dng nhiu quốc gia
là nhng nghi thc chính tr khá quen thuc.
Các truyn thng chính tr nhng tp quán, các l hi truyn thng đưc truyn
t đời này qua đời kc. Vit Nam,c l hi đền Hùng, l hi đền Gng,c s kin
đưc t chc trong các ngày l ln của đất ớc như các cuc mít tinh, diu binh, diu
hành... là nhng biu hin ca các truyn thng chính tr.
- Các biểu tượng chính tr
2
Xem NĐức Thịnh (Chủ biên): Giá trị văn hóa Việt Nam - Truyền thống biến đổi, Nxb.Chính trị quốc
gia, H.2014, tr.65.
Biểu tượng chính tr nhng cái chứa đựng các ý nghĩa, các giá trị nhất định. Nói
cách khác, nhng chứa đựng giá tr thì mi th tr thành biểu tượng vân hóa. Biu
ng có th nhng vt th, hình khi, sc màu, ký hiu, ký tự, nhưng nó cũng có thể
những cái vô hình,… đi din cho mt quc gia, mt dân tc, cộng đồng, t chc hoc mt
đảng phái. Mi biểu ng chuyn ti một ý nghĩa, một thông điệp chính tr. Các biểu ng
có th giúp hiểu được lch s ca mt quc gia. Chng hn, lá c thường tượng trưng cho
tinh thần đấu tranh vì t do, dân ch, hoc các giá tr ca mt quc gia, dân tc. Mt s biu
ợng đại diện cho các tôn giáo cũng đồng thi là nhng biểu tượng chính tr: cây thánh giá
biểu tượng cho Thiên Chúa giáo, ngôi sao David đại diện cho Do Thái giáo, và hình trăng
i lim đi din cho Hi giáo.
- Các truyn thuyết, danh nhân văn hóa và các nhân vt anh hùng
Các truyn thuyết chính tr là nhng câu chuyn v lch s, v con người được người
dân truyn t đời y qua đời khác. Các truyn thuyết th chứa đựng nhng ni dung
thật, được ờng điệu hóa; nhưng cũng th nhng câu chuyện mang tính cấu
nhm chuyn tải các thông điệp, các giá tr ca cộng đồng. Chuyện Âu Lc Long
Quân vi cái bọc trăm trứng thông điệp kêu gi s đoàn kết dân tc. S tích h Hoàn
Kiếm là thông điệp của hòa bình…
Các danh nhân văn hóa, xét về bn cht, chính là hin thân, là s kết tinh văn hóa của
mt cộng đồng, mt dân tộc. Các danh nhân n hóa đại diện cho văn hóa của dân tc trong
mi thi k nhất đnh, chng hạn như Nguyễn Trãi thế k XV, Nguyn Du thế k
XVIII, và H Chí Minh thế k XX. Ngoài s th hin tm cao trí tu như học vấn, trước
tác, thì đạo đức, hành vi ng x, hoạt động xã hi ca h là chun mc, là tấm gương cho
mi ngưi noi theo.
Các nhân vt anh hùng cũng hin thân ca các phm cht tính cách mt
quc gia t hào. n hóa chính trị ca mt quc gia mt phần được định v bi các nhân
vt anh hùng - những người đại din cho cái tốt đẹp, đáng tự hòa nht ca mt quc gia
trong mỗi giai đoạn lch s. Theo truyn thng, các anh hùng nhng ngưi có công vi
đất nước, được người dân kính trng, tôn th do nhng phm chất cá nhân như: dũng cm,
tài năng, có khả năng lãnh đạo, sn sàng hy sinh vì cộng đồng, vì đất nước… Các nhân vật
anh hùng nhng nhân tiêu biu cho thời đại h sng. Nhắc đến các anh hùng,
Vit Nam phi k đến các danh ớng như: Thưng Kit, Trần Hưng Đo, Quang
Trung...
Những thay đổi trong nhn thc của người dân v các đặc trưng phẩm cht tính cách
của các anh hùng (người hùng) phn ánh s thay đổi trong các giá tr văn hóa của mt quc
gia. Trước đây, người hùng ca mt quc gia ch yếu các anh hùng gii phóng dân tc,
các danh nhân văn hóa, thì ngày nay, người hùng có th xut hin trên nhiều lĩnh vực khác
nhau ca đời sng hi. H có th c nhà khoa hc nhiu đóng góp cho quốc gia,
cho nhân loi, các doanh nhân thành đạt, các nhà chính tr những đóng góp nổi bt cho
quc gia.
3.1.3. Chức năng của văn hóa chính trị
Trong đi sng xã hội, văn hóa chính trị thc hin mt s chức năng bn sau:
- Giáo dc chính tr: Thông qua quá trình xã hi hóa chính trị, văn hóa chính trị trang
b cho công dân nhng tri thức, năng lực cn thiết cho hoạt động chính tr, giúp h hiu
biết v phương thức t chc và vn hành ca h thng chính trị, qua đó mỗi cá nhân ý thc
rõ hơn vai trò cũng như nghĩa vụ và bn phn của mình trong đời sng chính tr.
Không ch gp trang b cho ng dân nhng giá tr truyn thng đã ơng đi n
định, văn hóa chính tr còn góp phn bi đắp cho các cá nhân nhng giá tr chính tr đang
hình thành. Các giá try to thành mt h thng chun mựccon ngưi hưng ti.
- Giao tiếp liên kết cộng đồng: Văn hóa chính trị giúp gìn gi trao truyn các
giá tr chính tr t các thế h đi trước cho thế h sau, kết ni gia quá kh vi hin ti, duy
trì và cng c bn sc chính tr ca các cộng đng, dân tc.
Văn hóa chính trị cũng là cơ sở để liên kết các công dân trong xã hi vi nhau. Trong
mt cộng đồng, khi người dân có s chia s v nim tin và giá trị, trong đó có c niềm tin
và giá tr chính tr, thì mt cách t nhiên, h đã trở thành mt khi thng nht. Chính các
nim tin giá tr được chia s cht keo dính kết các thành viên trong cộng đồng vi
nhau, góp phần định hình s c kết xã hi.
- Định hướng và điều chnh hành vi:
Yếu t ct lõi định ớng cho đời sng chính tr ca mi thi k lch s h tưởng
thng tr, h thng các giá tr chính tr ca thi k đó. Hệ tưởng có th đóng vai trò định
hướng cho c mt dân tc, mt quc gia trong một giai đoạn nht đnh ca lch s. Nếu h
tư tưởng mang tính khoa hc và cách mng, thì các ch th chính tr s tạo ra được các giá
tr chính tr hướng s phát trin ca xã hi theo chiều ng tiến bộ. Lúc đó, văn hóa chính
tr thc hin chức năng “soi đường cho quốc dân đi”; ngược li, s la chn h ng
không phù hp có th s kìm hãm s phát trin ca xã hi.
Văn hóa chính trị là môi trường trong đó các hoạt động chính tr din ra. Khi là thành
viên ca mt t chc, ca mt cộng đồng, các cá nhân luôn xu ớng điều chnh hành
vi ca mình cho phù hp vi các giá tr, chun mc ca t chc, ca cộng đồng đó. Các
nim tin, giá tr chính tr được cộng đồng chia s s tr thành yếu t quan trọng để các
thành viên cộng đồng cân nhc trước khi đưa ra các quyết định, các hành động chính tr.
- D báo hành vi chính tr: T nghn cu n hóa chính trị ca mt cng đng, mt
quốc gia, trên cơ sở nm bt được “gen” di truyn ca cộng đồng đó, người ta có th do
nh vi ca các n chính tr ca cộng đồng trong nhng tình hung c th. Bi vì, văn hóa
chính tr nhng khuôn mu, dng thc hành vi ca mt cộng đồng đưc lặp đi, lp li trong
lch s. T nhng cộng đồng đã thc hin trong quá kh, có th d o được nhng hành
động cng đồng đó thể trong hin ti và tương lai.
3.1.4. Phân loại văn hóa chính trị
Tùy thuc vào mục đích nghiên cứu, người ta có th đưa ra các tiêu chí khác nhau để
phân loại văn hóa chính trị. Có th có my cách phân loi sau:
3.1.4.1. Phân loại dựa trên yếu tố hệ tư tưởng
T c đ h tư ng, có th chia văn a chính tr thành hai loi: văn hóa chính
tr xã hi ch nghĩa và n hóa chính tr bn ch nghĩa:
- Văn hóa chính trịhi ch nghĩa: văn hóa chính trị các quc gia có nn chính
tr đưc y dng da trên nn tảng tưởng ca ch nghĩa Mác - Lênin. Văn hóa chính
tr hi ch nghĩa đề cao các giá tr như: nh cộng đồng, s hp tác hi, s bình
đẳng. T các giá tr này, tưởng mà các quốc gia theo định hướng hi ch nghĩa hướng
ti xây dng mt hi không còn chế độ người bóc lột người, không còn áp bc, bt
bình đẳng xã hi.
- Văn hóa chính trị tư bản ch nghĩa: là văn hóa chính tr các quc gia nn chính
tr được xây dng ch yếu da trên nn tng ca ch nghĩa tự do. Các giá tr ch đạo mà
h ng ti là: ch nghĩa nhân, tự do chính tr s cnh tranh gia các nhân, các
nhóm trong xã hi.
3.1.4.2. Phân loại dựa theo cấp độ của chủ thể
- Văn hóa chính trị ca quc gia dân tc: mi quc gia dân tộc, ngưi dân th
có cùng ci ngun lch s, cùng chia s phương thức sống. Nói đến mi quốc gia, ngưi ta
có th k ra nhng giá tr chính tr đặc trưng ca quốc gia đó.
- Văn hóa chính trị ca các t chc chính tr: Mi loi hình t chc chính tr cũng có
h thng giá tr riêng tùy thuc vào tôn ch, mục đích, mô hình tổ chc và hoạt đng. Các
giá tr đưc các thành viên trong t chc chia s được gọi là văn hóa chính trị ca t chc
đó.
- Văn hóa chính trị ca các nhóm, cộng đồng: Trong mt quc gia th nhiu
nhóm khác nhau cùng chung sng. Các nhóm ch yếu được xác định bi các yếu t như:
vùng min, dân tộc, tôn giáo. Người dân các vùng min khác nhau ca mt quc gia, bên
cnh nhng giá tr chung cùng chia s với người dân c nước, h cũng có thể chia s nhng
nim tin, hay nhng giá tr riêng ca vùng miền mình. Ngưi dân thuc v các dân tc,
theo các n giáo khác nhau th cũng định hình các giá tr, niềm tin khác nhau đối vi
nn chính tr ca quc gia mình, t đó chi phối cách thc tham gia ca h vào đời sng
chính tr.
- Văn hóa chính trị ca các cá nhân: Văn hóa chính trị là h thng các giá tr, nim
tin mang tính tp th, tính nhóm. Tuy nhiên, các tp th, các nhóm lại được hình thành bi
các cá nhân. Văn hóa chỉth được biu hin thông qua các cá nhân, được “hiện thân” ở
các nhân. Nhưng không phải tt c các nhân đều là hin thân của văn hóa chính tr.
S biu hin của văn hóa chính trị trong từng nhân tính không đồng đều. Có nhng
nhân kết tinh văn hóa chính tr do nhân cách chính trị, tưởng chính tr ca h
ảnh hưởng lớn đến đời sng chính tr ca mt quc gia, ca cộng đồng. Nhưng ng
nhng cá nhân ít thy, hoc không thy nhng biu hin ca nhng giá tr chính tr chung
mà cộng đồng chia s.
3.1.4.3. Phân loi dựa trên thái đ ca ngưi dân đối vi đời sống cnh tr
Khi nghiên cu s tham gia của người dân, G.Almond S.Verba
3
đã chia văn hóa
chính tr thành ba loida trên thái độ ca h đối vi đời sng chính trị: văn hóa chính trị
tham gia, văn hóa chính trị tuân th và văn hóa chính tr th ơ.
- Văn hóa chính tr tham gia
Ngưi dân sng trong nền văn hóa chính trị tham gia có mt s đặc trưng nổi bt: H
t hào v h thng chính tr của đất nước mình. Đặc bit, khi tiếp xúc với người nước
ngoài, tranh lun v các vấn đề chính tr, h tin rằng, đất c hmt nn chính tr tuyt
3
Xem Gabriel Almond Sidney Verba: The civic culture: Political Attitutes and Democracy in five nations,
Princeton University Press, 1963.
vi, thc s dân ch và công bng. T s t tin đó, họ cm thy hãnh din vì công dân
ca đt nưc mình.
Ngưi dân trong nền văn hóa chính trị tham gia rt quan tâm ti chính tr, theo dõi
các s kin chính tr hàng ngày. Không nhng thế, bn thân h cũng những người tích
cực tham gia vào đi sng chính tr. H tham d đầy đủ các cuc hp ca t dân ph, các
hoạt động ca cộng đng; tham gia vào các diễn đàn thảo lun v các vấn đề chính sách.
H cũng sẵn sàng ký đơn kiến ngh chính ph v mt vấn đề nào đó. Trong các cuộc bu
c, h tích cực đi bầu tin rng phiếu ca bn thân th ảnh ởng đến kết qu bu
c.
Do hiu biết v chính trị, nên nhìn chung ngưi dân trong nền văn hóa chính trị
tham gia thành viên tích cc ca nhiu hi, nhóm hi. H tin rng, mi loi hi, nhóm
s một kênh khác nhau đ tác động vào đời sng cộng đồng. Do vy, nhng nước có nn
văn hóa chính trị tham gia smảnh đất tt đ nuôi dưỡng và duy trì nn dân ch.
- Văn hóa chính tr tuân th
Trong nền văn hóa chính trị tuân thủ, người dân có mt s đim đặc trưng: Họ hiu
v vai trò của mình trong đời sng chính trị, nhưng chỉ tham gia mt cách th động. H
ch yếu quan m đến các yếu t “đầu ra” của h thng chính trị, đó các quyết định,
chính sách, hơn là các yếu t “đầu vào”.
Trong mt cng đng, mt quc gia văn a chính tr tn thủ, ni dân có
th theo dõi các q tnh chính tr hàng ny trên các pơng tin truyn thông đi
chúng, nhưng h luôn t thái độ kngi lòng. H thưng ch tríchc chínhch ca
chính ph, hoc chê bai c nhà cnh trị, nhưng không mun tham gia o các din
đàn, c t chc đ y t thái đ ca bn thân. H cũng là thành viên kng thưng
xuyên ca c nm, hi khác nhau; có th tham gia vào các hoạt đng cnh tr ca
cng đng, có th đi b phiếu nng t thái đ không my hào hng.
Trong nn văn a chính tr tuân th, tính hiu qu ca nn dân ch s không cao,
đa s ni dân ch nhng ni tuân theo mnh lnh, th động trông ch vào các
quyết đnh ca chính quyn.
- Văn hóa chính tr th ơ
Trong nền văn hóa y, người dân ch biết đến môi trường xung quanh mình
s hiu biết rt hn chế v chính tr. H không quan tâm đến chính tr, hoc không có kh
năng tham gia vào đi sng chính tr. Dù sng trong chế độ nào thì những người này đều
có cm giác không quyn lc trong th chế hin tn. H tin rng, tiếng nói ca bn thân
không có ý nghĩa đối vi các quyết đnh chính tr ca quc gia. Do vy, h thưng t chi
tham gia vào các hoạt động chính tr ca cộng đồng như: bầu c, tranh lun c vấn đề
chính sách...
Vi những đặc trưng k trên, đ y dng mt nn dân ch trong i trưng này
rt khó khăn, vì hu hết ngưi dân là nhng ngưi thiếu kiến thc chính tr, hoc
không quan tâm đến chính tr. Thc tế này đòi hi phi y dng mt ý thc công dân
mi cho nin để phát huy tính trách nhim và s tham gia cac cá nhâno đi
sng cng đng.
Trên thc tế, không có quc gia nào ch tn ti thun túy mt mẫu hình văn hóa chính
tr duy nhất, mà thường là s pha trn mức độ khác nhau ca c ba loại văn hóa chính tr
k trên.
3.1.5. hia chính trc ch th ca quá trình hi hóa chính tr
3.1.5.1. Xã hội hóa chính trị
Trong cuc sng hàng ngày, mỗi người định hình các quan đim, nim tin giá tr
chính tr thông qua quá trình hc hi, quan sát, lng nghe bắt chưc t người khác. S
hc hỏi đó có thể bắt đầu t gia đình, nhà trường, bn bè nhng người mà h kính trng.
Đó chính là quá trình xã hi hóa chính tr.
Xã hi hóa chính tr là quá trình các cá nhân hc hi, tiếp nhn các giá tr, chun mc
và hành vi đưc h thng chính tr chp nhn thc hành. Bn cht ca quá trình hi
hóa chính tr quá trình hc dy, quá trình các nhân hc hi các giá tr chun
mc của các nhóm, cũng là quá trình các nhóm truyền dy các giá tr ca mình ti các
cá nhân.
Mục đích ca hi hóa chính tr đào tạo, phát trin các nhân tr thành các
thành viên tích cc ca xã hi chính trị. Đó là những con người chp nhn các chun mc
chính tr ca hội sau đó, đến lượt mình, h s truyn dy các giá tr y cho các thế
h tiếp theo.
Trong quá trình xã hi hóa chính trị, người dân cũng được dy cách tham gia vào đời
sng chính tr, phân bit những hành vi được phép và hành vi không được phép, cách thc
để gây ảnh hưởng đến các nhà chính trị, đến nhà nước. Xã hi hóa chính tr thc hin mt
s chc năng đi vi cá nhân và toàn b h thng chính tr nói chung:
- Đào tạo các cá nhân: Xã hi hóa chính tr làm cho mi cá nhân thm nhun các giá
tr ca h thng chính tr. Nó cho phép các cá nhân gn kết vi h thng, đặt ra nhng yêu
cầu đối với nhà nước và d đoán đưc hành vi ca các công dân khác. Thông qua quá trình
xã hi hóa chính tr ca mt cá nhân, có th d đoán đưc mức độ tuân th lut pháp, mc
độ tham gia ca h vào các hot đng chính tr như: bầu c, tho lun v các vấn đề chính
sách, hoc tham gia vào các t chc chính tr.
- ng h cho h thng chính tr: hi hóa chính tr giúp duy trì s ổn định tính
chính đáng của h thng chính tr bng cách giáo dc các công dân phi tuân th các quy
định, lut l của nhà c thc hin vai trò, trách nhim công dân của mình. cũng
trang b cho công dân các kiến thc v đời sng chính tr quc gia, v thm quyn ca tng
ch th quyn lc trong xã hội cũng như quyền và nghĩa vụ ca công dân.
3.1.5.2. Các chủ thể của quá trình xã hội hóa chính trị
Tham gia vào quá trình xã hi hóa chính tr rt nhiu ch th khác nhau, i
đây là một s ch th chính:
a) Gia đình
Trong suốt hàng ngàn năm, các nhà khoa hc chính tr đã coi gia đình những
p trứng” để cho ra đi những con ngưi chính trị. Gia đình nơi giáo dc chính tr đầu
tiên và lâu dài nhất. Gia đình trang bị cho tr em các thông tin, các giá trchun mc
chúng khc sâu trong ký c ca tr em.
Vic hc hi nhng vn đề liên quan đến chính tr đu tiên din ra trong các gia đình.
Phn ln q trình này din ra mtch không chính thc.
Gia đình là nơi cung cấp mi th cho tr em đ cng th tn ti phát trin - t
thức ăn, chỗ , s yêu thương cho đến các tương táchội. Tuy nhiên, gia đình cũng định v
cho tr em mt ch đứng v giai cp, dân tc, tôn giáo - nhng yếu t nh hưởng quan trng
đến nim tin và hot đng chính tr của con người trong mi hội. Vì lý do này, gia đình tác
động mnh m đến s phát trin nhân cách ca tr em. Kh ng hợp c vi các thành viên
khác trong xã hi, lòng tin đối với con người ng đưc đnh hình và pt trin t gia đình.
c ý tưởng các giá tr liên quan đến chính tr, chng hạn như thái độ đi vi quyn lc, s
tuân th pp lut, ng được truyn dy t gia đình. Các đặc trưng của từng gia đình n tính
gia trưng, haynh th bc có th ng ảnhởng đến c cá nn khi h trưng tnh.
Các nghiên cu ch ra rng, những gia đình khuyến khích con cái tham gia vào các
quyết định của gia đình cũng to tiền đề để những đứa tr y tham gia vào đời sng chính
tr khi chúng đã trưởng thành. Tr em được sinh ra trong các gia đình có cha m tham gia
tích cực vào đi sng chính tr, hoặc có địa v kinh tế - hội cao cũng thường xu hướng
tham gia tích cực vào đi sng chính tr khi trưng thành. Tr em sinh ra trong nhng gia
đình cha mẹ ty chay chính tr, hoc hiếm khi tham gia tho lun v các vấn đề chính
trị, cũng ít được khuyến khích tham gia vào các s kin này. Khi ln lên, chúng xu
hướng th ơ với chính tr.
Gia đình một tác động đáng kể đến quan đim ca các thành viên v các vấn đề
chính tr c th nào đó. Tình yêu Tổ quốc, các quan đim v vấn đề chng tc, dân tộc, đảng
phái... cũng được định hình t trong gia đình. Ở những nước có h thng đa đảng tương đối
ổn định, thông thường b m ng h đảng o, thì con cái h cũng sẽ ng h đảng đó khi
chúng trưng thành.
b) Trưng hc
hi hóa chính tr tại các trường hc mt quá trình chính thc ý thc.
Trưng hc mt công c hội để chuyn ti các giá tr chun mc hội đến vi
thế h tr. Các nghiên cu cho thy, mc th tác động không trc tiếp đến thái độ
chính tr của người trưởng thành, nhưng trình độ hc vn ca một người mối tương quan
cht ch với thái độ, vi mc độ tham gia ca h o đời sng chính tr. Chng hn, nhng
người hc vấn cao hơn thưng có nhn thc ràng hơn về các vấn đề chính tr; quan
tâm đến chính tr nhiu hơn, tích cc hơn trong các cuc tho lun chính tr. Mt ngưi
hc vn cao thường có cm giác trách nhim mnh m hơn đi vi cng đng
h đang sng và biết cách đ tác đng đến chính ph hiu qu hơn so vi nhng ngưi
có hc vn thp.
Trưng hc mức độ ảnh hưởng lớn hơn nhiu so với gia đình. Trưng hc th
giúp cho học sinh vượt qua nhng khác bit v v thế hi bng cách trang b cho hc
sinh nhng giá tr, chun mc hành vi chung ca công dân, cũng như nhng kiến thc căn
bn v cách thc t chc và vn hành ca h thng chính tr.
Bên cạnh đó, hội hóa tình yêu đi vi quê ơng, đất c cũng là một chc
năng cùng quan trng của trưng hc. Các trưng học thường các chương trình
ging dy nhm to ra s gn kết ca tr em đối với đất nước, đặc bit nhng lớp đầu
tiên. Trưng hc thc hin điu y thông qua các nghi thức như: chào c, t quc ca
c i hát th hiện tình yêu đối vi quê ơng, đất c, nhng câu truyn v lòng
trung tnh đối vi T quc, v các nhân vt anh hùng, các đa danh lch s gn vi s
hình thành quc gia, dân tc.
Trưng hc ng đt tr em vào mt i trưng đ chúng th nhn thc đưc
mi quan h, s ph thuc và trách nhim của chúng đối vi xã hi và h thng chính tr.
Với cách làm như vậy, trường hc thc hin vic truyn dy cho tr em tình yêu T quc
và trách nhim công dân.
c) Các nhóm đồng đẳng
Nhóm đồng đẳng là những nhóm người có địa v xã hội tương đương nhau và thường
là có li ích ging nhau. H là những người quan h cá nhân gần gũi, có sự hiu biết và
tôn trng ln nhau. Chng hạn, đó là những người bạn thân, các đồng nghip, nhng ngưi
hàng xóm, nhng thành viên cùng sinh hot trong các t chc, các câu lc b.
Mt cách không chính thc, c người ln và tr em đều hc hi rt nhiu t nhng
người cùng nhóm k trên. Thông qua s ơng tác một cách thưng xuyên, mi người li
hc hi các giá trị, thái độ và hành vi t những người khác. Các nhóm đồng đẳng giúp con
người phát trin s cm nhn v các giá tr chung. Đây một nhân t quan trng trong
việc định hình nhân cách ca mi cá nhân. Khi mt ngưi tham gia vào một nhóm nào đó,
h thường có xu ng hc hi các giá tr của nhóm điều chnh hành vi ca mình cho
phù hp vi hành vi ca nhóm. Nhng giao tiếp của nhóm đồng đẳng đc bit quan trng
khi có s xung đột thế h trong mt gia đình.
V mt chính tr, nhng giao tiếp của nhóm đồng đẳng có vai trò quan trng nếu các
nhóm ng h các giá tr chính tr đang giữ v trí thng tr trong xã hi.
S nh hưởng của các nhóm đồng đng có xu hưng ngàyng tăng so với gia đình
trưng hc trong xã hi hiện đại. Đó là kết qu ca s thay đi trong hi, khi các
bc cha m không th nào dy cho con cái ca nh tt c nhng kiến thc k ng
cn thiết đ h tham gia o đi sng cnh tr. Cui cùng, tr em cũng ny càng nh
nhiu thi gian n cho các hot động trưng, bên ngoài vi bn bè cùng la và nh
ít thi gian hơn cho gia đình. Do vy, c trưng hc c nhóm đồng đng ngày càng
ảnh hưởng hơn so với gia đình trong quá tnh hi a cnh tr.
d) Các phương tiện truyn thông đi chúng
Các phương tiện truyền thông đại chúng có mt vai trò quan trng trong quá trình xã
hi hóa chính tr. Nếu toàn b các phương tin truyền thông do nhà c kim soát, thì
việc đo lường s tác đng ca ch th này là tương đối rõ. hu hết các quc gia trên thế
giới, các chương trình truyền hình tác động tới quan điểm chính tr của người dân ch
yếu với tư cách là những thông tin không chính thc. Truyn hình có th tác động đến quá
trình xã hi hóa chính tr của người dân nếu chúng góp phn cng c các ni dung hi
hóa ca các ch th khác. Nếu các phương tiện truyn thông đại chúng đưa ra các thông
điệp trái với thông điệp ca các ch th khác, nó có th to ra s xung đột. Thông thường,
nếu quá trình hi hóa trưng hc trang b cho hc sinh mt bức tranh tưởng v t
chc vn hành ca h thng chính trị, thì các phương tin truyền thông đại chúng li
nhn mnh nhng vấn đề mà h thống đang phải gii quyết. Điều đó có thể mâu thun vi
nhng gì mà học sinh được dy trưng hc.
Mt s nghiên cu cho thy, những người thường xuyên theo dõi các chương trình
tin tc trên truyn hình và có s hiu biết v đi sng chính tr tng tích cc ng h
các đng chính tr và t l đi bu c cũng cao hơn so vi các đi tưng khác.
e) Các đảng chính tr
Các đảng chính tr luôn có mc tiêu giành được các v trí quyn lc trong b máy nhà
nước. Để làm được điều đó, các đảng thường tuyên truyn cho ch trương, đưng li ca
mình, nhằm huy động s ng h của người dân. các quc gia h thống đa đng cnh
tranh, hoạt động xã hi hóa của các đảng chính tr cũng không giống nhau. Chiến lược tác
động ti ngưi dân ca mi đng có th cũng khác nhau. Nhằm giành được s ng h ca
người dân, các đảng có th tp trung vào các nhóm c tri c th (theo khu vc cư trú, ngôn
ng, tôn giáo, hoc nhóm sc tc ..v.v).
Các hoạt động xây dng hình nh của đảng, hoc các chiến dch vận động tranh c,
các đảng chính tr cung cp các thông tin v tình hình đất nước, nhng vấn đề mà quc gia
ca h đang phải đối mt, cũng như những đề xuất chính sách các đảng đưa ra để gii
quyết vn đề. Thông qua quá trình này, người dân có s hiu biết sâu sc thêm v tình hình
ca đt nưc mình.
f) Các t chc tôn giáo
Trong mt quc gia các tôn giáo, thì bn thân mi tôn giáo mt ch th truyn
bá các giá tr đạo đức và giá tr xã hi. mt mức độ nhất định, các vấn đề y cũng liên
quan đến chính tr. Trên thc tế, gii chc sc tôn giáo ảnh ng khá quan trọng đối
với các tín đ ca mình. Mức độ ảnh hưởng ca gii chc tôn giáo ph thuc vào tng tôn
giáo và tng quốc gia khác nhau. Thông thường, các tín đồ tôn giáo s định ng xã hi
hóa cho con em mình thông qua các bài ging và các nghi l tôn giáo.
Mức độ hin din ca các t chc tôn giáo trong đời sng chính tr các quc gia
cũng có sự khác bit. Chng hn, trong những năm gần đây, vai trò của các phong trào Hi
giáo ti các quc gia khu vực Trung Đông đã tr thành mt nhân t quan trọng định hình
nn chính tr khu vc này.
những nơi các tổ chc tôn giáo truyn dy các giá tr ng h cho h thng chính
tr thì mi quan h gia tôn giáo và chính tr, gia nhà nưc và nhà th s tương đối thun
lợi. Trong trường hợp ngược li, quá trình hi hóa chính tr quốc gia đó thể s rt
phc tp.
Tóm li, hi hóa chính tr mt phn ca cuộc đấu tranh chính tr din ra mi
quc gia. Trong sut chiu dài lch s, các nhà nưc và các nhóm quan trng trong xã hi
luôn đề cao vai trò của quá trình này. Văn hóa chính trị hi hóa chính tr giúp định
hình cho người dân các giá tr, các chun mc hành vi chính tr hp lý trong mt h thng
chính tr c th.
Quá trình hi hóa chính tr nhìn chung có xu hưng duy trì nhng giá tr hin ti,
nhưng bên cạnh đó cũng có thể xut hin nhng yếu t mi, nhng giá tr mi, m tiền đề
dn ti những thay đổi v mt chính tr.
3.2. VĂN HÓA CHÍNH TRỊ VIỆT NAM
3.2.1. Các giá tr đặc trưng của văn hóa chính trị Vit Nam
n a hệ thng các giá tr chun mực chung được cộng đồng chia s tha
nhận. Trong văn hóa (khác với n minh) không sự phân bit cao - thp. Bn thân giá tr
n a cũng mang tính ơng đi. Vì vậy, đ đánh giá mt s vật nào đó giá tr hay phi giá
tr, giá tr cao hay thp, phải đt nó trong ta độ không gian, thi gian ch th văn hóa c
th. Bi suy cho cùng, g tr hay chân lý đều phi mang tính c th.
Nhân loi th cùng chia s nhng h thng giá tr chung, nhưng mi quc gia, mc
độ ưu tiên trong xếp loi các gtr th khác nhau, tùy thuc vào hoàn cnh c th ca
từng nước. Các giá tr ưu tiên làm nên đặc trưng văn hóa nói chung, n hóa chính trị i
riêng ca tng quốc gia. Theo đánh giá của các nhà nghiên cu, mt s giá tr ới đây được
cho là đặc trưng của văn hóa chính trị Vit Nam.
- Ch nghĩa yêu nước
Ch nghĩa yêu c Việt Nam đã phát triển qua các thi k lch s khác nhau, t thi
vua Hùng dựng nước cho ti tn ngày nay. Trong mỗi giai đoạn lch s, ch nghĩa yêu
nước li nhng biu hin khác nhau. Thi k trung đại, yêu nước “trung quân, ái
quốc”, nhưng đến thi k cách mng hi ch nghĩa, yêu c li mang một ý nghĩa
khác, đó là yêu nhân dân, yêu dân tộc.
Mi thi k phát trin ca ch nghĩa yêu nước li ni lên nhng nhân vt quan trng.
H anh hùng gii phóng dân tc, danh nhân văn hóa. Tinh thần yêu nước ca h đại
din cho dân tc trong mt giai đoạn phát trin ca lch s.
Ch nghĩa yêu c biu hin vic luôn đặt li ích ca T qucn trên, sn sàng
hy sinh độc lp, t do ca T quc. th nói, ít mt dân tc nào trên thế gii thi
gian dành để chng thiên tai và chng gic ngoi m nhiều như n tộc Vit Nam. T khi
có quốc gia, ngưi Việt đã liên tục phải đối mt vi các cuc chiến tranh xâm lược ca k
thù. Theo thng ca các nhà s hc, tính t cuc kháng chiến chống xâm c ca phong
kiến phương Bắc năm 179 trưc công nguyên đến năm 1979, sau 22 thế kỷ, người Việt đã
phải đương đầu vi 14 cuc chiến tranh xâm lược vi quy ln t bên ngoài, trong đó
11 ln chiến thng, thi gian chiến tranh kéo dài ti 1.200 năm
4
. Tri qua các biến thiên
ca lch sử, lòng yêu nước, tinh thn dân tc của người Vit vn tn ti mt cách bn b
theo thi gian.
Ch nghĩa yêu c Vit Nam n đưc m linh hóa thành mt th tín nng.
Lòng yêu nước không đơn gin là mt th tình cm thun túy,còn tr thành th đưc
ngưi dân th phng. Nhiều gia đình Vit Nam vùng nông thôn trong nhng năm trưc
đây tng lpn th T quc vi lá c đỏ sao vàng và nh Ch tch H Chí Minh đt
phía trên bàn th t tiên. H thng thành hng ng các tnh khu vực đồng bng Bc
B ch yếu th phng các anh ng dân tc, c danh nhân văn a, những ngưi khi
còn sng đã công giúp dân, cứu c
5
.
Kế tha nhng giá tr truyn thng, trong các giai đon cách mng thi k hin đại,
Ch tch H Chí Minh đã nêu khẩu hiệu: “Không có gì quý hơn độc lp t do”. Khẩu hiu
này đáp ứng đúng tâm tư, nguyện vng của ngưi dân Việt Nam nên đã có sc lan ta rng
ln. mt giá tr chính tr được c hội đề cao, nên qua năm tháng, tr thành mt
đạo lý chính tr của người Vit Nam.
4
Xem Nguyễn Văn Huyên, Nguyễn Hoài Văn, Nguyễn Văn Vĩnh: Bước đầu tìm hiểu những giá trị văn hóa chính trị
truyền thống Việt Nam, Nxb.Chính trị quốc gia, H.2009, tr.66.
5
Xem: NĐức Thịnh (Chủ biên): Giá trị văn hóa Việt Nam - Truyền thống biến đổi, Nxb.Chính trquốc gia,
H.2014, tr.72.
- Tính cộng đồng
Tính cộng đồng th hin tinh thn tương trợ, ý thc tp th của người Vit. Tính cng
đồng được hình thành trong quá trình dựng c gi nước ca dân tc. hi Vit Nam
hi nông nghip, con ngưi gn với nhau trong địa vc làng xã. Lch s đã
chng minh, ngay t khi thành lập Nhà nước Văn Lang, điều kin quan trng nhất để nhà
nước đó hình thành công cuộc đắp đê ngănđể sn xut, ch không phi do phân hóa
giai cp trong xã hi. Chính công cuộc đắp đê, tr thy đòi hỏi phi có s đoàn kết, tính c
kết cộng đồng.
T mt chiu cnh khác, tính cộng đồng của người Việt được hình thành dựa trên cơ
s t chc ca các thiết chế xã hi, th hin rõ nét qua trc: nhà - làng - c, trong đó nhà
bao gm c gia đình, dòng tộc là hình thc t chc theo nguyên tc huyết thng; còn làng t
chc theo nguyên tắc địa vc, láng ging. Do vy, nói ti làng xã phi nói ti tính cng
đồng. Làng là mt đim cộng cư, mt cộng đng s hu, mt cng đồng “cộng mệnh” và là
mt cộng đồng “cộng cm”
6
.
c là yếu t bao tm c nhà và làng. Làng là thành trì chng ngoi xâm t phương Bc
xung, cưỡng li s đồng hóa ca Trung Quc, c th tinh thn dân tc. Trong các cng đng y,
các t chc phi quan pơng như phe, gp hình tnh c kết con ngưi vi nhau. Làng s m
rng tính cng đng ca n nước s m rng tính cộng đồng ca làng.
Sống trong môi trường ca quan h làng xã sut mấy nghìn năm, dần dn, nhng tp
quán ng x đó cũng trở thành đạo lý, thành chun mc trong giao tiếp hội. Để duy trì
tính cộng đồng, người Vit Nam mt chun mc quyn li nhân phi phc tùng
quyn li ca cộng đồng, quyn li ca các cộng đồng nh phi phc tùng quyn li ca
cộng đồng ln, quyn li ca c dân tc. Nếu mt ch th chính tr nào đưa ra các quyết định
chính tr đi ngược li chun mc trên s b cộng đng lên án.
- Tinh thần đoàn kết
Tinh thần đoàn kết s gn kết bn cht gia các nhân trong mt cộng đồng để
đạt được mt mục tiêu chung nào đó. Đoàn kết là cht keo dính kết các cá nhân vi nhau,
to ra sc mạnh vượt tri ca cộng đồng. nhiu do khác nhau, trong lch sử, người
Vit nhiu ln phải đương đầu vi gic ngoi xâm hùng mạnh. Đứng trưc k thù ln mnh
hơn mình gp nhiu lần, để bo v quyn t ch, s tn ti ca mình, chtinh thần đoàn
kết mi có th giúp người Vit to nên sc mnh chiến thng k thù. H Chí Minh đã tổng
kết t trong lch s dựng nước và gi nước ca dân tộc: “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết.
Thành công, thành công, đại thành công”.
T khi Đảng Cng sn Việt Nam ra đời và lãnh đo cách mạng, Đảng luôn xác định:
đại đoàn kết toàn dân tộc đường li chiến lược, ngun sc mnh nhân t ý
nghĩa quyết định thng li ca cách mng Vit Nam. Chính nh phát huy được tinh thn
đoàn kết toàn dân tộc, Đảng đã lãnh đạo nhân dân giành thng li trong hai cuc kháng
chiến chng Pháp Mỹ, giành độc lp cho dân tc. Trong công cuc xây dng CNXH
hin nay, bài hc kinh nghim này vn còn nguyên giá tr cn tiếp tc phát huy nhm
khơi dậy ý chí, khát vng phát trin to nên sc mnh ca toàn dân tc.
- Trng dng nhân tài
6
Ngô Đức Thịnh, Sđd, tr.287-293
Hin tài là tinh hoa ca dân tc. Có th nói, mt dân tc t hào v nền n hiến ca
mình thì dân tộc đó phải trng dng hin tài. T xa xưa, nhân tài luôn gn vi vn mnh
ca quc gia, ca dân tc Vit Nam. Thân Nhân Trung, mt danh thân thời đã viết:
“Hin tài nguyên kca quc gia, nguyên khí thnh thì thế c mnh lên cao;
nguyên khí suy thì thế nước yếu và xung thấp”. Với ý thc tôn vinh và tôn trng hin tài,
các vương triều trong xã hi phong kiến Vit Nam đều có những chính sách đối x vi tài
năng khá mềm do, linh hot, có tính hiu qu cao. Trong bn hng người ca hi
“sĩ, nông, công, thương” thì đưc coi trọng hơn cả. Nhà nước phong kiến Vit Nam c
vài năm lại t chc các k thi đ chn ra những ngưi tài. Những người tài gii, bt k
già hay tr, xut thân t tng lp giàu sang thay thp hèn, đều được la chọn đ b vào các
v trí quyn lc. Hu hết quan chc trong b máy nhà nước đều là người có học, trong đó
nhiều ni n rt tr. Nời tài thi đỗ cao đưc trao quyn chức cao, người phn đấu trưởng
tnh trong thc nghiệp t được ct nhc o c chc v cao, phm hàm ln.
Chính sách trng dụng và đãi ngộ nhân tài ca các triều đại phong kiến đưc th hin
thông qua các nh thc vinh danh. Nhng người đỗ tiến sĩ đưc triều đình tôn vinh bằng
nhiu hình thức như: xướng danh trước Ng Môn, ghi tên vào bng vàng, khc tên o bia
đá, đãi yến vườn thưng uyn, vinh quy bái t. Khi những người này v địa phương, Nhà
nước lệnh cho địa phương phải đón ớc linh đình, nghênh tiếp long trng. H được ct
đất công làm lc đin, hương hỏa…
7
Trong dân gian, những người tài đức cao c, công danh s nghip lớn lao thưng
được tôn vinh như nhng bc khai khoa, m li cho s hc ca dân, khai nguyên cho dòng
h. Tôn trng hin tài, tôn trng vic hc hành, khoa c tr thành mt truyn thng tốt đẹp
ca dân tc.
Trong thi hin đại, trng dng và thu hút nhân tài là ch trương nhất quán của Đảng
Nhà nước ta. nhiều chính sách đã được ban nh trong thời gian qua để hin thc
hóa các ch trương nói trên. Không chỉ cp Trung ương, nhiều địa phương trên cả nước
cũng ban hành các chính sách “tri thm đỏ” thu hút nhân tài vào làm vic trong b y
ca h thng chính trị. Để đảm bo chính sách trng dụng nhân tài được thc thi mt cách
hiu quả, trong định ng phát triển đất nước giai đoạn 2021 - 2030, Đảng ta đã xác đnh,
cn phải đi mi mnh m chế phát hin, la chn, thu hút, trng dụng người tài và
chế đánh giá cán bộ
8
.
3.2.2. Mt s vấn đề đặt ra đối với văn a chính trị của đội ngũ cán bộ
lãnh đạo, qun lý hin nay và các gii pháp nâng cao văn hóa chính trị của đội
ngũ cán bộ lãnh đạo, qun lý Vit Nam trong thi gian ti
3.2.2.1. Một số vấn đề đặt ra đối vớin hóa cnh trị của đội nn bộ lãnh
đạo, quản lý hiện nay
Nhìn vào đời sng chính tr Vit Nam hin nay, t góc độ văn hóa chính trị, chúng ta
có th nhn din mt s vấn đề đang đặt ra đối vi đội ngũ cán b lãnh đạo qun lý:
7
Xem Ngô Đức Thịnh, Sđd, tr.196-199.
8
Đảng Cộng sản Việt Nam (2021),Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII (tập II), Nxb Chính trị quốc gia,
Hà Nội, trang 244.
- S lch lc trong nhn thc ca mt b phn cán b v các giá tr và chun mc
hi
Quan t đi sng xã hi nói chung, đi sng chính tr hin nay Vit Nam nói
riêng cho thy, mt b phn n b lãnh đạo, quản đã chy theo các giá tr chun
mc mang tính hình thc. Các chun mc này gm c chính thcphi chính thc, đưc
th hin việc đánh giá các cá nhân, t chc còn da vào các yếu t mang tính hình thc
như: trng bng cp, danh hiu, s ng…. Các vn đ như: trách nhim, bn phn đo
đức, lương tâm của ngưi cán b còn ca đưc coi trọng đúng mc. Nhng yếu t trên
dn ti hu qu mt s thang bc giá tr hi b đảo ln. Thc tế này làm pt sinh
các căn bệnh n: chạy theo thành tích, gian di... Xét cho ng, đó các nh vi "lch
chun", đi ngưc li với lý tưởng, vi các giá tr và chun mc Đảng theo đuổi,
đi ngược li vi li ích ca nhân dân.
- Tính cc b trong hot đng nh đạo, qun lý ca mt s cá nhân và t chc
Trong đời sng chính tr, tính cc b đưc th hin ba chiu cnh: cc b ngành,
cc b địa phương và cc b gia đình. Tính cục ngành và cc b địa phương thể hiện dưới
nhiu hình thức khác nhau, nhưng về căn bản, các cán b lãnh đạo, qun khi la chn
quyết định hành động đã không xut phát t li ích toàn cc, dài hn ca quc gia, ca tp
th lớn hơn, mà chỉ quan tâm đến li ích của ngành mình, địa phương mình, gia đình mình.
Thm chí, dù biết các quyết định đó có thy hi cho quc gia, cho t chc, h vn thc
hin. Hin ng này không phi hiếm trên thc tế. mức độ ngành, đó tâm ‘ăn
cây nào, rào y đó’, thể hin trong quá trình hoạch định chính ch quc gia. Các b,
ngành động tối đa hóa lợi ích ca b mình, ngành mình không tính đến li ích
ca các b khác, ngành khác, không tính đến li ích của ngưi dân và doanh nghiệp. Đó
hiện tượng không ít địa phương tìm cách vận động để nhận được ngun vn quc gia v
đầu vào các công trình chưa thc s cn thiết cho địa phương mình, y ra tình trạng
ng phí trong đầu công. Nhiều tnh v trí khá gần nhau, nhưng cùng lập đề án xây
dng sân bay, cng biển, nhưng khi thc hiện xong đề án không th phát huy tác dng.
Trong các quan, tổ chức, tưởng cc b địa phương, gia đình trong công tác
cán b cũng khá phổ biến. Đã có thời, tư tưởng ‘một người làm quan, c h được nhờ’ trở
thành mt chun mc, giá tr trong giao tiếp, ng xhội. Nhưng trong nn chính tr hin
đại, tư tưởng cc b địa phương, gia đình lại tr thành mt tr ngi cho s phát trin. Mt
khi tưởng này xut hin trong những ngưi chc, quyền, thì dưới các hình thc
khác nhau, h có th tn dng các khe h trong quy đnh ca th chế, ca pháp luật để ‘sp
xếp’ những người ‘đồng hương’, những người thân cn, những người trong gia đình mình,
vào nhng v trí, công việc như mong muốn - dù c ‘đức’ và ‘tài’ ca h đều chưa hội đủ.
T đó dẫn đến kết qu chn cán bth ‘đúng quy trình’, nhưng không đúng ngưi. Hin
ng này gây bc xúc trong xã hi, gây chia r, mt đoàn kết trong các cơ quan, tổ chc.
- S suy thoái v tưởng chính trị, đạo đc li sng ca mt b phn cán b lãnh
đạo, qun lý
Trong đời sng chính tr, h thng th chế cht ch đến đâu cũng không bao giờ
đủ. Người thc thi quyn lc nếu không nhn thức được trách nhim bn phận đạo
đức cm quyn s tìm ra nhng k h ca pháp luật để li dụng. Văn hóa chính trị s đóng
vai trò nhân t b sung, lấp đầy nhng khong trng ca th chế. Các giá tr văn hóa -
vốn đã thẩm thu trong tng nhân, s sc mnh hình kim soát hành vi của đội
ngũ cán bộ lãnh đo, qun lý buc h phải làm điều đúng, tránh điều sai.
Trên thc tế, chức năng điều chnh hành vi của văn hóa chính trị, vi tính cách là mt
cơ chế kim soát các hành vi ca các cá nhân, mức độ phát huy tác dng còn hn chế. Các
giá tr văn hóa chính trị tt đẹp can tộc, lý tưng chính tr của Đảng vẫn chưa được thm
thu trong tng cá nhân cán b lãnh đo, quản lý để tr thành động lc thúc đẩyc hành vi
hp chun. Mt b phn cán b lãnh đạo, qun thiếu bản lĩnh chính trị, nhng biu
hin suy thoái v tưởng chính trị, đạo đức li sng; Tình trng cán b li dng chc v,
quyn hạn được giao để vun vén cho li ích nhân, li ích nhóm không phi chuyn
hiếm. Thm chí, ngay c khi b phát hin làm sai, mt s cán b vn tiếp tc ti v. T chc
chưa trở thành văn hóa, với nghĩa nó chưa phải là mt hành vi mc đnh, ph biến trong đời
sng chính tr khi các cán b lãnh đạo, qun lý không còn tiếp tc nhận được s tín nhim
của người dân.
Trong Văn kiện Đại hi đi biu toàn quc ln th XIII, Đảng ta cũng đã thẳng thn
nhận định: Việc tu dưng, rèn luyện đạo đức, li sng ca mt b phn cán bộ, đng viên
chưa thường xuyên, mt s suy thoái v tư tưởng chính trị, đạo đức, li sng; vn còn tình
trạng nói không đi đôi với làm; không tuân th nguyên tc t chc của Đảng; quan liêu,
tham nhũng, lãng phí, cá nhân ch nghĩa, cơ hội, thc dng, bè phái, gây mt đoàn kết ni
bộ; chưa nêu cao ý thức trách nhiệm trưc t chức, cơ quan, đơn vị, địa phương nhân
dân. Vic thc hiện quy định v trách nhiệm nêu gương chưa trở thành n nếp, hiu qu
chưa cao. Một s cán b vi phm đến mc phi k lut, xhình s. Việc đấu tranh chng
các biu hin lch lc v đạo đức, li sng chưa mạnh m. T phê phê bình không ít
nơi còn hình thức…
9
.
3.2.2.2. Một số giải pháp nâng cao văn hóa chính trị cho đội ngũ cán bộ lãnh
đạo, quản lý trong thời gian tới
Đảng ta đảng cm quyn, do vy, văn hóa chính trị của đội ngũ cán b lãnh đo,
qun lý có ảnh hưởng quan trọng đối vi xã hi. Nhm nâng cao văn hóa chính tr cho đi
ngũ cán bộ lãnh đạo, qun , đồng thời hưng ti bồi đắp các giá tr chính tr tốt đẹp ca
Đảng ca dân tc, trong thi gian ti, chúng ta cn thc hin mt s gii pháp c th
sau:
Th nht, phi đi mi quá trình xã hi hóa chính tr:
Nâng cao văn hóa chính tr ca đội ngũ cán b lãnh đạo, qun lý phi gn vi vic
trang b cho h các kiến thc luận bản v ch nghĩa Mác - Lênin, tưởng H Chí
Minh. lun này là h tư tưởng nn tảng, cơ sở cho vic hoạch định ch trương, đường
li của Đảng, chính sách pháp lut của Nhà ớc; cũng góp phần cng c lập trường
và nhân sinh quan của người cán b lãnh đạo, qun lý.
Cùng vi lý lun Mác - Lênin, cn trang b các tri thc v chính tr hc và khoa hc
lãnh đạo, qun hiện đại; truyn các giá tr văn hóa chính trị truyn thng ca dân
tc, giáo dc truyn thng cách mng của Đảng cho các cán b lãnh đạo, qun lý; nghiên
cu b sung, hoàn thin các chun mực đạo đức cách mng phù hp với điều kin mi
truyn thống văn hóa can tộc để làm sở cho cán b, đảng viên t giác tu dưỡng và rèn
9
Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), Sđd (tập II), trang 178-179.
luyn, t điu chnh hành vi ng x ca bn thân trong công vic hàng ngày.
Bên cnh nội dung, thì phương thc hi a, truyền cũng cần được đổi mi cho
phù hp vi bi cnh mi, tăng hiệu qu ca công tác giáo dc lý lun chính tr. Văn kin
Đại hội đại biu toàn quc ln th XIII của Đảng ch rõ: cn phi tiến nh đổi mới căn
bn nội dung, chương trình, phương pháp giáo dục lun chính tr theo ng khoa hc,
sáng to, hin đạign lý lun vi thc tin. Cn bồi dưỡng lý lun chính tr, cp nht kiến
thc mi cho cán b, đng viên, nht là cán b nh đạo, qun lý ch cht các cp
10
.
Th hai, đ cao trách nhim nêu gương ca cán b lãnh đo, qun lý, nht người
đứng đầuc cp. Mt trong nhng ni dung quan trng ca văn hóa chính tr là s nêu
ơng ca cn b nh đo, qun lý trưc nhânn, đ Đảng thc s “là đo đc, là
văn minhnhư Ch tch H Chí Minh đã tng nhn mnh. Cn nhn thc rng, mun
y dng n a chính tr Việt Nam, trưc hết phi chú ý xây dng n a chính tr
t trong Đảng - lcng lãnh đạo Nhà nưc và xã hi. Hành đng ca người đứng đầu,
ca n b lãnh đạo, qun s tr thành mu nh đ cấp ới, đ nhân n noi theo.
Nêu ơng cũng phù hp vi truyn thng n a phương Đông nói chung, truyn
thống văn hóa Vit Nam nói riêng. Nêu gương phi thc s tr thành mt ni dung quan
trọng trong phương thcnh đo ca Đng.
Hi ngh Ban chp hành Trung ương ln th 8 ka XII đã ban hành Quy định v
trách nhim nêu ơng của cán b, đảng viên. Văn kin Đại hi Đại biu ln th XIII
của Đảngng nhn mnh s cn thiết phi thc hin nghiêmc quy đnh của Đảng v
trách nhim nêu ơng: chc v càng cao càng phi ơng mẫu, trưc hết là các y
viên B Chính tr, y viên Ban thư, y vn Ban chấp hành trung ương. Đng vn
phi t giácuơng để khng đnh v trính đạo, vai trò tiên phong, gương mu, to
s lan ta, thúc đy c phong trào cách mng
11
.
Để thực hiện chủ trương này cần phải nâng cao nhận thức về trách nhiệm nêu gương
của cán bộ lãnh đạo, quản lý, để mọi người đều thấy rằng nêu gương trách nhiệm, bổn
phận và đạo lý của người cán bộ, đảng viên. Phải làm cho mi n bộ, đảng viên thy rõ bn
phn, trách nhim ca nh, luôn vng ng trước mi khó khăn, thách thức; đấu tranh
hiu qu vi mi biu hin ca ch nghĩa nhân, bệnh quan liêu, hội, cc b, phái, mt
đoàn kết ni b. Nâng cao ý thức tu dưỡng, rèn luyện đạo đc cách mng suốt đời, thường
xuyên “t soi”,tự sửa” và nêu cao danh dự,ng t trng của người đng vn.
n cạnh đó, cần triển khai đng b Ch th 05 ca B Chính tr và Kế hoch 03 ca Ban
thư v vic hc tập làm theo tưởng, đạo đức, phong ch H Chí Minh. Tiếp tc ng
cuộc đu tranh chng tham nhũng, lãng phí, chng “lợi ích nhóm”, lối sng hội, thc dng,
phái, nói không đi đôi với làm trongn bộ, đng vn.
10
Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), Sđd (tập II), trang 235-236.
11
Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), Sđd (tập I)), trang 183-184.
Th ba, chú trng áp dng các bin pháp nhm xây dng, cng c lòng tin ca nhân
dân vào s lãnh đo của Đảng
Nói tới văn hóa chính tr ca mt quc gia không th không nói ti h thng các giá
tr đưc toàn th người dân ca quốc gia đó chia sẻ. Đó không chỉ h thng các giá tr
làm nn tảng để y dng h thng chính tr quốc gia, mà còn đ thu hút s tham gia ca
người dân vào đời sng chính trị. Lý tưởng, nim tin của Đảng ch có ý nghĩa và đưc hin
thc hóa khi nhận được s chia s thc s của người dân, tr thành tưởng nim
tin của chính người dân. Điều này đòi hỏi ngưi dân phải có lòng tin đối với Đng.
Để xây dng lòng tin chính tr đối với người dân, bên cnh công tác tuyên truyn,
thuyết phc, thì vic phi hoàn thin các th chế của nhà nước pháp quyền, trong đó nhn
mnh tinh thần thưng tôn pháp lut hết sc cn thiết. Cn áp dng nguyên tc công
khai, minh bch và trách nhim gii trình trong các hot đng ca b y nhà nước; kim
soát tình trng tham nhũng, lạm quyền. Đây là tiền đề ca vic xây dng lòng tin trong
hi.
Xây dựng chế nuôi dưỡng lòng tin giữa Đng với dân, đồng thời đẩy lùi s suy
thoái v tưởng chính trị, đạo đức, li sng ca cán bộ, đng viên; khc phc tâm trng
hoài nghi trong hi; tôn trọng đề cao lương tâm tinh thần t qun, t chu trách
nhim ca mi cá nhân cán bộ, đảng viên.
Mặt khác, Đảng phi tăng ng gn mt thiết vi nhân dân, tng hợp được các
nhu cầu, mong đợi các búc xúc ca nhân dân chuyển hóa thành các đề xut chính
sách c thể. Điều đó đảm bảo Đảng s thc s là vì nhân dân, đại din cho li ích ca nhân
dân. Ngoài li ích ca nhân dân và ca dân tộc, Đảng không có li ích nào khác. Lòng tin
của nhân dân đối với Đảng mt trong nhng tiền đề quan trọng để Đảng tiếp tc gi
vững vai trò lãnh đạo ca mình.
Vic áp dng đng b các bin pháp nêu trên s góp phn to ra nhng chuyn biến
tích cc trong cuộc đấu tranh chng li s suy thoái v tưởng chính trị, đạo đức, li sng,
nhng biu hiện “tự din biến”, “t chuyển hóa” trong nội b. Đây ch trương đúng đắn
nhm cng c lòng tin của nhân n đi vi Đng.
C. CHỦ ĐỀ THẢO LUẬN
1. Phân bit khái niệm văn hóa và văn hóa chính trị?
2. Ti sao nói h tư tưng chính tr là ct lõi ca văn hóa chính tr?
3. Phân tích các yếu t tác động đến quá trình hình thành văn hóa chính tr ca công
dân?
D. CÂU HỎI ÔN TẬP
1. Phân tích ni hàm ca khái nim văn hóa chính tr?
2. Phân tích cu trúc và chc năng của văn hóa chính trị?
3. Phân tích vai trò ca các nhân t trong quá trình xã hi hóa chính tr?
4. Phân tích các giá tr đặc trưng,các vấn đề đặt ra đi với văn hóa chính trị Vit Nam
hiện naycác định ng gii pháp xây dựng văn hóa chính trị Vit Nam trong thi gian
ti?
E. TÀI LIỆU HỌC TẬP
* Tài liu bt buc
1. Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh: Giáo trình Cao cấp luận chính trị:
Chính trị học, Nxb.Lý luận chính trị, H.2018.
2.Nguyễn Văn Huyên, Nguyễn Hoài Văn, Nguyễn Văn Vĩnh: Bước đầu tìm hiểu
những giá trị văn hóa chính trị truyền thống Việt Nam, Nxb.Chính trị quốc gia, H.2009.
* Tài liu đọc thêm
1. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII (tập I
và II), Nxb.Chính trị quốc gia, H.2021.
2. Đảng Cộng sản Việt Nam: Nghị quyết Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần
thứ chín, khóa XI về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu
phát triển bền vững đất nước, Nxb.Chính trị quốc gia, H.2014.
3. Ngô Đức Thịnh (Chủ biên): Giá trị văn hóa Việt Nam Truyền thống biến đổi,
Nxb.Chính trị quốc gia, H.2014.

Preview text:

BÀI 3 VĂN HOÁ CHÍNH TRỊ A. MỤC TIÊU
Về kiến thức: Cung cấp cho học viên những nội dung cơ bản về văn hóa chính trị, bao
gồm: khái niệm, cấu trúc, chức năng, cách phân loại văn hóa chính trị; đặc điểm và những
vấn đề đặt ra đối với văn hóa chính trị Việt Nam hiện nay và một số giải pháp nâng cao
văn hóa chính trị trong thời gian tới.
Về kỹ năng:Giúp học viên xây dựng kỹ năng khi phân tích sự tác động của văn hóa
chính trị đến hành vi cá nhân, nhóm trong những tình huống cụ thể.
Về tư tưởng: Giúp học viên nhận thức được vai trò của văn hóa chính trị trong đời
sống chính trị, sự ảnh hưởng của nó đối với hành vi của từng cá nhân, từng nhóm xã hội
khi các chủ thể này tham gia vào đời sống chính trị; qua đó giúp họ ý thức được bổn phận
và trách nhiệm của mình trong việc thúc đẩy những giá trị dân chủ và tiến bộ trong chính trị. B. NỘI DUNG
3.1. CÁC VẤN ĐỀ CHUNG VỀ VĂN HÓA CHÍNH TRỊ
3.1.1. Khái niệm văn hóa và văn hóa chính trị
Văn hóa chính trị là một bộ phận, một phương diện của văn hóa nói chung. Để hiểu
biết sâu sắc về văn hóa chính trị, cần thiết phải làm rõ khái niệm văn hóa.
3.1.1.1. Khái niệm văn hóa
Cho đến nay, đã có rất nhiều định nghĩa khác nhau về văn hóa, cho thấy sự phức tạp và
đa dạng của đối tượng nghiên cứu. Mỗi người nghiên cứu, từ mục đích và cách tiếp cận của
mình, có thể đưa ra quan niệm riêng về văn hóa. Do vậy, các định nghĩa về văn hóa thường có
xu hướng nghiêng về một khía cạnh nào đó và bỏ qua các khía cạnh khác. Nói cách khác, một
trong những lý do dẫn đến sự khác biệt trong cách định nghĩa về văn hóa chính là cách tiếp
cận của các trường phái, các lý thuyết khác nhau.
Văn hóa có thể được hiểu theo một số cách cơ bản sau:
Thứ nhất, văn hóa là toàn bộ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo
ra. Theo cách hiểu này, tất cả những gì không có sẵn trong tự nhiên là kết quả của sự sáng
tạo của con người, đều được coi là một sản phẩm văn hóa. Nó bao gồm cả hai khía cạnh:
khía cạnh tinh thần của xã hội như ngôn ngữ, tư tưởng, giá trị và các khía cạnh vật chất
như nhà cửa, quần áo, các phương tiện,...
Hồ Chí Minh đã từng đưa ra cách hiểu về văn hóa theo nghĩa này như sau: “Vì lẽ sinh
tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ,
chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho
sinh hoạt hàng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo
và phát minh đó tức là văn hóa”1.
Thứ hai, văn hóa là toàn bộ tri thức, hiểu biết của con người về thế giới khách quan. Cách
hiểu này đồng nhất văn hóa với sự hiểu biết, với trình độ học vấn của con người.
1 Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, H.2011, t.3, trang.458.
Thứ ba, văn hóa là hệ thống các giá trị, niềm tin và các dạng thức hành vi được các
thành viên trong một cộng đồng chia sẻ. Theo cách hiểu này, văn hóa là cái định hướng
cho các lựa chọn, cách suy nghĩ, hành xử của các thành viên trong cộng đồng theo một
chuẩn mực đã được cộng đồng chấp nhận.
Nói tới khái niệm văn hóa phải nhấn mạnh hai đặc trưng cơ bản:
- Tính tập thể, tính nhóm: Văn hóa không phải là sản phẩm của từng cá nhân riêng lẻ
(đối với cá nhân, người ta gọi là nhân cách, phong cách), mà nó là sản phẩm của một nhóm,
một tập thể, một cộng đồng.
- Tính ổn định: Nói tới văn hóa là nói tới các giá trị đã tồn tại trong một thời gian
tương đối dài, đã được xác lập tương đối ổn định, chứ không phải là những cái có ý nghĩa
nhất thời, hoặc đang trong quá trình định hình. Văn hóa vì thế được xem là “mẫu gen”, là
bản sắc, là tính cách của một cộng đồng, một dân tộc, một quốc gia. Nó là cái để phân biệt
cộng đồng này với cộng đồng khác, dân tộc này với dân tộc khác. Do đó, để xây dựng,
hoặc thay đổi các giá trị văn hóa cần phải có thời gian, thông qua các biện pháp mang tính hệ thống, đồng bộ.
3.1.1.2. Khái niệm văn hóa chính trị
Trong nghiên cứu về văn hóa chính trị hiện có nhiều cách tiếp cận khác nhau, do đó,
tùy thuộc vào mục tiêu nghiên cứu, người ta có thể đưa ra các khái niệm khác nhau. Trong
phần này sẽ đề cập đến một số cách hiểu văn hóa chính trị cơ bản hiện nay như sau:
- Văn hóa chính trị là toàn bộ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo
ra trong hoạt động chính trị. Nó có thể bao gồm lĩnh vực tư tưởng chính trị, các lý tưởng
và niềm tin chính trị, hệ thống các thể chế và thiết chế chính trị...v.v.
- Văn hóa chính trị là sự hiểu biết của con người về đời sống chính trị, là những kinh
nghiệm mà các chủ thể chính trị có được trong quá trình tham gia vào đời sống chính trị.
Trong bài này, văn hóa chính trị được hiểu như sau: Văn hóa chính trị là hệ thống
các giá trị, chuẩn mực được hình thành trong thực tiễn chính trị, được cộng đồng chia sẻ
và nó có thể chi phối, định hướng hoạt động của các cá nhân và tổ chức khi các chủ thể
này tham gia vào đời sống chính trị.

3.1.2. Các thành tố và biểu hiện của văn hóa chính trị
3.1.2.1. Các thành tố của văn hóa chính trị
Tùy thuộc vào cách tiếp cận, định nghĩa về văn hóa chính trị mà người ta xác định
các thành tố của văn hóa chính trị sẽ khác nhau.
Trong bài này, các thành tố của văn hóa chính trị được xác định gồm các yếu tố sau:
- Tri thức chính trị:
Đây là yếu tố thẩm thấu, bao trùm lên tất cả các thành tố của văn
hóa chính trị. Tri thức chính trị là sự thống nhất hữu cơ giữa tri thức lý luận chính trị với
tri thức kinh nghiệm chính trị. Tri thức lý luận càng đạt tới tính khoa học, khách quan thì
càng có tầm quan trọng to lớn. Tri thức kinh nghiệm gồm những tri thức được tổ chức,
cộng đồng đúc rút từ trong lịch sử và những kinh nghiệm được tích lũy từ chính hoạt động
chính trị của các chủ thể. Xét về bản chất và xu hướng, thì tri thức lý luận có vị trí đặc biệt
quan trọng, vì từ những kinh nghiệm chính trị thực tiễn, có thể khái quát thành những vấn
đề mang tính lý luận, vạch ra được bản chất và các quy luật của đời sống chính trị.
Chỉ những tổ chức, chủ thể chính trị nào nắm bắt được lý luận tiên tiến của thời đại
và vận dụng lý luận đó một cách sáng tạo vào điều kiện cụ thể của tổ chức mình, đất nước
mình, thì tổ chức đó, chủ thể đó mới có thể đóng vai trò là đội tiên phong chính trị của giai
cấp, của dân tộc. Trong đời sống chính trị, tri thức chính trị đóng vai trò đặc biệt quan
trọng. Đây chính là cơ sở để nhận thức và lựa chọn các mục tiêu chính trị, cũng như các
cách thức và con đường đi đến mục tiêu.
- Hệ tư tưởng chính trị
Hệ tư tưởng chính trị là một hệ thống các tư tưởng tạo thành các mục tiêu, đường lối,
chiến lược, sách lược chính trị của một chủ thể. Nó cũng là một tầm nhìn toàn diện, một
cách thức nhìn nhận sự vật do các giai cấp trong xã hội đưa ra.
Theo C.Mác, trong một xã hội, hệ tư tưởng thống trị xã hội bao giờ cũng là hệ tư
tưởng của giai cấp cầm quyền. Hệ tư tưởng chính trị phản ánh khái quát lợi ích của giai
cấp cũng như phương thức, con đường để hiện thực hóa lợi ích của mỗi giai cấp. Giai cấp
nào cầm quyền thì hệ tư tưởng của giai cấp đó sẽ được truyền bá trong xã hội, trở thành hệ tư tưởng chính thống.
Trong tác phẩm Hệ tư tưởng Đức (1846), C.Mác và Ănghen đã chỉ rõ: “Hệ tư tưởng
của giai cấp thống trị chính là tư tưởng thống trị, giai cấp giữ địa vị thống trị về lực lượng
sản xuất của xã hội sẽ giữ địa vị thống trị về mặt tinh thần”. Theo quan điểm của các ông,
tư tưởng và văn hoá là một phần của kiến trúc thượng tầng xã hội. Nó được quyết định bởi
cơ sở kinh tế, phương thức sản xuất của xã hội.
Tư tưởng này đã đem lại cho C.Mác hai góc nhìn khác nhau về văn hoá:
Thứ nhất, C.Mác cho rằng, văn hoá mang tính giai cấp. Khi các thành viên của một
giai cấp chia sẻ với nhau các kinh nghiệm chính trị, có lợi ích kinh tế chung, họ sẽ có sự
tương đồng về các tư tưởng, giá trị và niềm tin.
Thứ hai, C.Mác nhấn mạnh yếu tố hệ tư tưởng của giai cấp thống trị có tác động lan
toả trong xã hội và trở thành hệ tư tưởng thống trị của thời đại. Trong quan điểm này, văn
hoá chính trị, hoặc ngay cả văn hóa công dân, trong xã hội tư sản không có gì khác hơn
chính là sự thể hiện hệ tư tưởng của giai cấp tư sản.
Trong cách tiếp cận mácxít, hệ tư tưởng là hạt nhân của văn hóa chính trị. Thông qua
công tác tư tưởng và bộ máy tuyên truyền, giai cấp thống trị sẽ truyền bá cho người dân
các giá trị mà họ tin tưởng, từ đó giúp người dân nhận thức được sự đúng đắn của các giá
trị mà giai cấp cầm quyền đang theo đuổi.
- Các giá trị và chuẩn mực chính trị
Giá trị là những điều được tin là đúng đắn, có ý nghĩa, được cộng đồng thừa nhận và
chia sẻ một cách rộng rãi. Các giá trị chính là những niềm tin được chia sẻ giữa các thành
viên trong một cộng đồng, một xã hội về những gì được cho là đúng đắn, là tốt đẹp; điều
gì nên tìm kiếm và điều gì nên tránh.
Các giá trị chính trị thường mang tính chủ quan, được tiếp nhận từ truyền thống, hoặc
được định hình thông qua thực tiễn chính trị. Các giá trị có tính ổn định và bền vững, có ý
nghĩa chi phối hành vi của các cá nhân, các nhóm trong cộng đồng.
Các giá trị chính trị là cơ sở để định hình các mẫu hình văn hóa lý tưởng, những dạng
thức hành vi mà một xã hội mong muốn. Nhưng các giá trị chính trị chưa chỉ ra cho mọi
người biết phải hành động như thế nào trong mỗi tình huống cụ thể. Chính chuẩn mực
chính trị mới thực hiện chức năng đó. Vì giá trị và chuẩn mực hay đi liền với nhau nên
người ta thường nói liền mạch là hệ giá trị và chuẩn mực.2
Chuẩn mực chính trị là hệ thống các quy định cụ thể về phương thức hành xử trong
thực tiễn hoạt động chính trị. Trong mối tương quan giữa giá trị và chuẩn mực thì chuẩn
mực bị quy định bởi các giá trị. Nói cách khác, các giá trị chính trị được “phiên dịch” thành
các chuẩn mực (quy tắc) chính trị nhằm hướng dẫn hành động cho mọi người. Sự phân biệt
giữa giá trị và chuẩn mực thường mang tính quy ước, đôi khi chúng chuyển hóa lẫn nhau.
Có thể có chuẩn mực chính thức và chuẩn mực phi chính thức. Chuẩn mực chính thức
là những quy tắc được viết thành văn, chẳng hạn như các quy định của pháp luật mà các
công dân phải tuân thủ. Các chuẩn mực chính thức thường được công bố một cách rõ ràng và cụ thể.
Bên cạnh các chuẩn mực chính thức còn có các chuẩn mực phi chính thức. Dù mức
độ quan trọng thấp hơn, nhưng nó vẫn chi phối hành vi của từng thành viên trong xã hội.
Các chuẩn mực chính trị phi chính thức gồm: các tập quán, truyền thống chính trị được lưu truyền theo thời gian.
3.1.2.2.Các biểu hiện của văn hóa chính trị
Như đã phân tích, văn hóa chính trị là hệ thống các giá trị được một tổ chức, cộng
đồng chia sẻ. Các giá trị chính trị thường là những khái niệm tương đối trừu tượng. Các
giá trị không chỉ được thẩm thấu trong tư tưởng, nhận thức của con người, mà còn được
biểu hiện thông qua hành vi, thông qua các nghi thức và truyền thống chính trị, các biểu
tượng chính trị, các truyền thuyết và nhân vật anh hùng. - Hành vi chính trị
Hành vi chính trị thể hiện trong hoạt động, qua hoạt động chính trị. Hành vi chính trị
là hành động, việc làm, là sự giao tiếp, ứng xử của con người trong quá trình tham gia vào
đời sống chính trị. Hành vi chính trị của các cá nhân thường bị chi phối bởi các giá trị và
chuẩn mực mà mỗi cá nhân theo đuổi. Hành vi là biểu hiện ra bên ngoài của các giá trị ngầm ẩn bên trong.
- Các nghi thức và truyền thống chính trị
Các nghi thức, truyền thống chính trị là các yếu tố hữu hình của văn hóa chính trị,
là một phần của bản sắc văn hóa quốc gia. Nghi thức chào cờ và hát quốc ca tại một sự
kiện thể thao hay trong ngày khai trường… là những hành động được người dân thường
xuyên thực hiện. Việc Chủ tịch nước đọc lời chúc Tết trong thời khắc giao thừa ở Việt
Nam, hay thủ tục đọc lời tuyên thệ trong lễ nhậm chức được áp dụng ở nhiều quốc gia …
là những nghi thức chính trị khá quen thuộc.
Các truyền thống chính trị là những tập quán, các lễ hội truyền thống được truyền
từ đời này qua đời khác. Ở Việt Nam, các lễ hội đền Hùng, lễ hội đền Gióng, các sự kiện
được tổ chức trong các ngày lễ lớn của đất nước như các cuộc mít tinh, diễu binh, diễu
hành... là những biểu hiện của các truyền thống chính trị.
- Các biểu tượng chính trị
2 Xem Ngô Đức Thịnh (Chủ biên): Giá trị văn hóa Việt Nam - Truyền thống và biến đổi, Nxb.Chính trị quốc gia, H.2014, tr.65.
Biểu tượng chính trị là những cái chứa đựng các ý nghĩa, các giá trị nhất định. Nói
cách khác, những gì chứa đựng giá trị thì mới có thể trở thành biểu tượng vân hóa. Biểu
tượng có thể là những vật thể, hình khối, sắc màu, ký hiệu, ký tự, nhưng nó cũng có thể là
những cái vô hình,… đại diện cho một quốc gia, một dân tộc, cộng đồng, tổ chức hoặc một
đảng phái. Mỗi biểu tượng chuyển tải một ý nghĩa, một thông điệp chính trị. Các biểu tượng
có thể giúp hiểu được lịch sử của một quốc gia. Chẳng hạn, lá cờ thường tượng trưng cho
tinh thần đấu tranh vì tự do, dân chủ, hoặc các giá trị của một quốc gia, dân tộc. Một số biểu
tượng đại diện cho các tôn giáo cũng đồng thời là những biểu tượng chính trị: cây thánh giá
biểu tượng cho Thiên Chúa giáo, ngôi sao David đại diện cho Do Thái giáo, và hình trăng
lưỡi liềm đại diện cho Hồi giáo.
- Các truyền thuyết, danh nhân văn hóa và các nhân vật anh hùng
Các truyền thuyết chính trị là những câu chuyện về lịch sử, về con người được người
dân truyền từ đời này qua đời khác. Các truyền thuyết có thể chứa đựng những nội dung
có thật, được cường điệu hóa; nhưng cũng có thể là những câu chuyện mang tính hư cấu
nhằm chuyển tải các thông điệp, các giá trị của cộng đồng. Chuyện Âu Cơ và Lạc Long
Quân với cái bọc trăm trứng là thông điệp kêu gọi sự đoàn kết dân tộc. Sự tích hồ Hoàn
Kiếm là thông điệp của hòa bình…
Các danh nhân văn hóa, xét về bản chất, chính là hiện thân, là sự kết tinh văn hóa của
một cộng đồng, một dân tộc. Các danh nhân văn hóa đại diện cho văn hóa của dân tộc trong
mỗi thời kỳ nhất định, chẳng hạn như Nguyễn Trãi ở thế kỷ XV, Nguyễn Du ở thế kỷ
XVIII, và Hồ Chí Minh ở thế kỷ XX. Ngoài sự thể hiện tầm cao trí tuệ như học vấn, trước
tác, thì đạo đức, hành vi ứng xử, hoạt động xã hội của họ là chuẩn mực, là tấm gương cho mọi người noi theo.
Các nhân vật anh hùng cũng là hiện thân của các phẩm chất và tính cách mà một
quốc gia tự hào. Văn hóa chính trị của một quốc gia một phần được định vị bởi các nhân
vật anh hùng - những người đại diện cho cái tốt đẹp, đáng tự hòa nhất của một quốc gia
trong mỗi giai đoạn lịch sử. Theo truyền thống, các anh hùng là những người có công với
đất nước, được người dân kính trọng, tôn thờ do những phẩm chất cá nhân như: dũng cảm,
tài năng, có khả năng lãnh đạo, sẵn sàng hy sinh vì cộng đồng, vì đất nước… Các nhân vật
anh hùng là những cá nhân tiêu biểu cho thời đại mà họ sống. Nhắc đến các anh hùng, ở
Việt Nam phải kể đến các danh tướng như: Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, Quang Trung...
Những thay đổi trong nhận thức của người dân về các đặc trưng phẩm chất và tính cách
của các anh hùng (người hùng) phản ánh sự thay đổi trong các giá trị văn hóa của một quốc
gia. Trước đây, người hùng của một quốc gia chủ yếu là các anh hùng giải phóng dân tộc,
các danh nhân văn hóa, thì ngày nay, người hùng có thể xuất hiện trên nhiều lĩnh vực khác
nhau của đời sống xã hội. Họ có thể là các nhà khoa học có nhiều đóng góp cho quốc gia,
cho nhân loại, các doanh nhân thành đạt, các nhà chính trị có những đóng góp nổi bật cho quốc gia.
3.1.3. Chức năng của văn hóa chính trị
Trong đời sống xã hội, văn hóa chính trị thực hiện một số chức năng cơ bản sau:
- Giáo dục chính trị: Thông qua quá trình xã hội hóa chính trị, văn hóa chính trị trang
bị cho công dân những tri thức, năng lực cần thiết cho hoạt động chính trị, giúp họ hiểu
biết về phương thức tổ chức và vận hành của hệ thống chính trị, qua đó mỗi cá nhân ý thức
rõ hơn vai trò cũng như nghĩa vụ và bổn phận của mình trong đời sống chính trị.
Không chỉ giúp trang bị cho công dân những giá trị truyền thống đã tương đối ổn
định, văn hóa chính trị còn góp phần bồi đắp cho các cá nhân những giá trị chính trị đang
hình thành. Các giá trị này tạo thành một hệ thống chuẩn mực mà con người hướng tới.
- Giao tiếp và liên kết cộng đồng: Văn hóa chính trị giúp gìn giữ và trao truyền các
giá trị chính trị từ các thế hệ đi trước cho thế hệ sau, kết nối giữa quá khứ với hiện tại, duy
trì và củng cố bản sắc chính trị của các cộng đồng, dân tộc.
Văn hóa chính trị cũng là cơ sở để liên kết các công dân trong xã hội với nhau. Trong
một cộng đồng, khi người dân có sự chia sẻ về niềm tin và giá trị, trong đó có các niềm tin
và giá trị chính trị, thì một cách tự nhiên, họ đã trở thành một khối thống nhất. Chính các
niềm tin và giá trị được chia sẻ là chất keo dính kết các thành viên trong cộng đồng với
nhau, góp phần định hình sự cố kết xã hội.
- Định hướng và điều chỉnh hành vi:
Yếu tố cốt lõi định hướng cho đời sống chính trị của mỗi thời kỳ lịch sử là hệ tư tưởng
thống trị, hệ thống các giá trị chính trị của thời kỳ đó. Hệ tư tưởng có thể đóng vai trò định
hướng cho cả một dân tộc, một quốc gia trong một giai đoạn nhất định của lịch sử. Nếu hệ
tư tưởng mang tính khoa học và cách mạng, thì các chủ thể chính trị sẽ tạo ra được các giá
trị chính trị hướng sự phát triển của xã hội theo chiều hướng tiến bộ. Lúc đó, văn hóa chính
trị thực hiện chức năng “soi đường cho quốc dân đi”; ngược lại, sự lựa chọn hệ tư tưởng
không phù hợp có thể sẽ kìm hãm sự phát triển của xã hội.
Văn hóa chính trị là môi trường trong đó các hoạt động chính trị diễn ra. Khi là thành
viên của một tổ chức, của một cộng đồng, các cá nhân luôn có xu hướng điều chỉnh hành
vi của mình cho phù hợp với các giá trị, chuẩn mực của tổ chức, của cộng đồng đó. Các
niềm tin, giá trị chính trị được cộng đồng chia sẻ sẽ trở thành yếu tố quan trọng để các
thành viên cộng đồng cân nhắc trước khi đưa ra các quyết định, các hành động chính trị.
- Dự báo hành vi chính trị: Từ nghiên cứu văn hóa chính trị của một cộng đồng, một
quốc gia, trên cơ sở nắm bắt được “gen” di truyền của cộng đồng đó, người ta có thể dự báo
hành vi của các nhà chính trị của cộng đồng trong những tình huống cụ thể. Bởi vì, văn hóa
chính trị là những khuôn mẫu, dạng thức hành vi của một cộng đồng được lặp đi, lặp lại trong
lịch sử. Từ những gì cộng đồng đã thực hiện trong quá khứ, có thể dự báo được những hành
động mà cộng đồng đó có thể trong hiện tại và tương lai.
3.1.4. Phân loại văn hóa chính trị
Tùy thuộc vào mục đích nghiên cứu, người ta có thể đưa ra các tiêu chí khác nhau để
phân loại văn hóa chính trị. Có thể có mấy cách phân loại sau:
3.1.4.1. Phân loại dựa trên yếu tố hệ tư tưởng
Từ góc độ hệ tư tưởng, có thể chia văn hóa chính trị thành hai loại: văn hóa chính
trị xã hội chủ nghĩa và văn hóa chính trị tư bản chủ nghĩa:
- Văn hóa chính trị xã hội chủ nghĩa: là văn hóa chính trị ở các quốc gia có nền chính
trị được xây dựng dựa trên nền tảng tư tưởng của chủ nghĩa Mác - Lênin. Văn hóa chính
trị xã hội chủ nghĩa đề cao các giá trị như: tính cộng đồng, sự hợp tác xã hội, và sự bình
đẳng. Từ các giá trị này, lý tưởng mà các quốc gia theo định hướng xã hội chủ nghĩa hướng
tới là xây dựng một xã hội không còn chế độ người bóc lột người, không còn áp bức, bất bình đẳng xã hội.
- Văn hóa chính trị tư bản chủ nghĩa: là văn hóa chính trị ở các quốc gia có nền chính
trị được xây dựng chủ yếu dựa trên nền tảng của chủ nghĩa tự do. Các giá trị chủ đạo mà
họ hướng tới là: chủ nghĩa cá nhân, tự do chính trị và sự cạnh tranh giữa các cá nhân, các nhóm trong xã hội.
3.1.4.2. Phân loại dựa theo cấp độ của chủ thể
- Văn hóa chính trị của quốc gia dân tộc
: Ở mỗi quốc gia dân tộc, người dân có thể
có cùng cội nguồn lịch sử, cùng chia sẻ phương thức sống. Nói đến mỗi quốc gia, người ta
có thể kể ra những giá trị chính trị đặc trưng của quốc gia đó.
- Văn hóa chính trị của các tổ chức chính trị: Mỗi loại hình tổ chức chính trị cũng có
hệ thống giá trị riêng tùy thuộc vào tôn chỉ, mục đích, mô hình tổ chức và hoạt động. Các
giá trị được các thành viên trong tổ chức chia sẻ được gọi là văn hóa chính trị của tổ chức đó.
- Văn hóa chính trị của các nhóm, cộng đồng: Trong một quốc gia có thể có nhiều
nhóm khác nhau cùng chung sống. Các nhóm chủ yếu được xác định bởi các yếu tố như:
vùng miền, dân tộc, tôn giáo. Người dân ở các vùng miền khác nhau của một quốc gia, bên
cạnh những giá trị chung cùng chia sẻ với người dân cả nước, họ cũng có thể chia sẻ những
niềm tin, hay những giá trị riêng của vùng miền mình. Người dân thuộc về các dân tộc,
theo các tôn giáo khác nhau có thể cũng định hình các giá trị, niềm tin khác nhau đối với
nền chính trị của quốc gia mình, từ đó chi phối cách thức tham gia của họ vào đời sống chính trị.
- Văn hóa chính trị của các cá nhân: Văn hóa chính trị là hệ thống các giá trị, niềm
tin mang tính tập thể, tính nhóm. Tuy nhiên, các tập thể, các nhóm lại được hình thành bởi
các cá nhân. Văn hóa chỉ có thể được biểu hiện thông qua các cá nhân, được “hiện thân” ở
các cá nhân. Nhưng không phải tất cả các cá nhân đều là hiện thân của văn hóa chính trị.
Sự biểu hiện của văn hóa chính trị trong từng cá nhân có tính không đồng đều. Có những
cá nhân là kết tinh văn hóa chính trị do nhân cách chính trị, lý tưởng chính trị của họ có
ảnh hưởng lớn đến đời sống chính trị của một quốc gia, của cộng đồng. Nhưng cũng có
những cá nhân ít thấy, hoặc không thấy những biểu hiện của những giá trị chính trị chung mà cộng đồng chia sẻ.
3.1.4.3. Phân loại dựa trên thái độ của người dân đối với đời sống chính trị
Khi nghiên cứu sự tham gia của người dân, G.Almond và S.Verba3 đã chia văn hóa
chính trị thành ba loạidựa trên thái độ của họ đối với đời sống chính trị: văn hóa chính trị
tham gia, văn hóa chính trị tuân thủ và văn hóa chính trị thờ ơ.
- Văn hóa chính trị tham gia
Người dân sống trong nền văn hóa chính trị tham gia có một số đặc trưng nổi bật: Họ
tự hào về hệ thống chính trị của đất nước mình. Đặc biệt, khi tiếp xúc với người nước
ngoài, tranh luận về các vấn đề chính trị, họ tin rằng, đất nước họ có một nền chính trị tuyệt
3 Xem Gabriel Almond và Sidney Verba: The civic culture: Political Attitutes and Democracy in five nations,
Princeton University Press, 1963.
vời, thực sự dân chủ và công bằng. Từ sự tự tin đó, họ cảm thấy hãnh diện vì là công dân của đất nước mình.
Người dân trong nền văn hóa chính trị tham gia rất quan tâm tới chính trị, theo dõi
các sự kiện chính trị hàng ngày. Không những thế, bản thân họ cũng là những người tích
cực tham gia vào đời sống chính trị. Họ tham dự đầy đủ các cuộc họp của tổ dân phố, các
hoạt động của cộng đồng; tham gia vào các diễn đàn thảo luận về các vấn đề chính sách.
Họ cũng sẵn sàng ký đơn kiến nghị chính phủ về một vấn đề nào đó. Trong các cuộc bầu
cử, họ tích cực đi bầu và tin rằng lá phiếu của bản thân có thể ảnh hưởng đến kết quả bầu cử.
Do có hiểu biết về chính trị, nên nhìn chung người dân trong nền văn hóa chính trị
tham gia là thành viên tích cực của nhiều hội, nhóm xã hội. Họ tin rằng, mỗi loại hội, nhóm
sẽ là một kênh khác nhau để tác động vào đời sống cộng đồng. Do vậy, những nước có nền
văn hóa chính trị tham gia sẽ là mảnh đất tốt để nuôi dưỡng và duy trì nền dân chủ.
- Văn hóa chính trị tuân thủ
Trong nền văn hóa chính trị tuân thủ, người dân có một số điểm đặc trưng: Họ hiểu
về vai trò của mình trong đời sống chính trị, nhưng chỉ tham gia một cách thụ động. Họ
chủ yếu quan tâm đến các yếu tố “đầu ra” của hệ thống chính trị, đó là các quyết định,
chính sách, hơn là các yếu tố “đầu vào”.
Trong một cộng đồng, một quốc gia có văn hóa chính trị tuân thủ, người dân có
thể theo dõi các quá trình chính trị hàng ngày trên các phương tiện truyền thông đại
chúng, nhưng họ luôn tỏ thái độ không hài lòng. Họ thường chỉ trích các chính sách của
chính phủ, hoặc chê bai các nhà chính trị, nhưng không muốn tham gia vào các diễn
đàn, các tổ chức để bày tỏ thái độ của bản thân. Họ cũng là thành viên không thường
xuyên của các nhóm, hội khác nhau; có thể tham gia vào các hoạt động chính trị của
cộng đồng, có thể đi bỏ phiếu nhưng tỏ thái độ không mấy hào hứng.
Trong nền văn hóa chính trị tuân thủ, tính hiệu quả của nền dân chủ sẽ không cao,
vì đa số người dân chỉ là những người tuân theo mệnh lệnh, thụ động trông chờ vào các
quyết định của chính quyền.
- Văn hóa chính trị thờ ơ
Trong nền văn hóa này, người dân chỉ biết đến môi trường xung quanh mình và có
sự hiểu biết rất hạn chế về chính trị. Họ không quan tâm đến chính trị, hoặc không có khả
năng tham gia vào đời sống chính trị. Dù sống trong chế độ nào thì những người này đều
có cảm giác không có quyền lực trong thể chế hiện tồn. Họ tin rằng, tiếng nói của bản thân
không có ý nghĩa đối với các quyết định chính trị của quốc gia. Do vậy, họ thường từ chối
tham gia vào các hoạt động chính trị của cộng đồng như: bầu cử, tranh luận các vấn đề chính sách...
Với những đặc trưng kể trên, để xây dựng một nền dân chủ trong môi trường này
là rất khó khăn, vì hầu hết người dân là những người thiếu kiến thức chính trị, hoặc
không quan tâm đến chính trị. Thực tế này đòi hỏi phải xây dựng một ý thức công dân
mới cho người dân để phát huy tính trách nhiệm và sự tham gia của các cá nhân vào đời sống cộng đồng.
Trên thực tế, không có quốc gia nào chỉ tồn tại thuần túy một mẫu hình văn hóa chính
trị duy nhất, mà thường là sự pha trộn ở mức độ khác nhau của cả ba loại văn hóa chính trị kể trên.
3.1.5. Xã hội hóa chính trị và các chủ thể của quá trình xã hội hóa chính trị
3.1.5.1. Xã hội hóa chính trị
Trong cuộc sống hàng ngày, mỗi người định hình các quan điểm, niềm tin và giá trị
chính trị thông qua quá trình học hỏi, quan sát, lắng nghe và bắt chước từ người khác. Sự
học hỏi đó có thể bắt đầu từ gia đình, nhà trường, bạn bè và những người mà họ kính trọng.
Đó chính là quá trình xã hội hóa chính trị.
Xã hội hóa chính trị là quá trình các cá nhân học hỏi, tiếp nhận các giá trị, chuẩn mực
và hành vi được hệ thống chính trị chấp nhận và thực hành. Bản chất của quá trình xã hội
hóa chính trị là quá trình học và dạy, quá trình các cá nhân học hỏi các giá trị và chuẩn
mực của các nhóm, và cũng là quá trình các nhóm truyền dạy các giá trị của mình tới các cá nhân.
Mục đích của xã hội hóa chính trị là đào tạo, phát triển các cá nhân trở thành các
thành viên tích cực của xã hội chính trị. Đó là những con người chấp nhận các chuẩn mực
chính trị của xã hội và sau đó, đến lượt mình, họ sẽ truyền dạy các giá trị này cho các thế hệ tiếp theo.
Trong quá trình xã hội hóa chính trị, người dân cũng được dạy cách tham gia vào đời
sống chính trị, phân biệt những hành vi được phép và hành vi không được phép, cách thức
để gây ảnh hưởng đến các nhà chính trị, đến nhà nước. Xã hội hóa chính trị thực hiện một
số chức năng đối với cá nhân và toàn bộ hệ thống chính trị nói chung:
- Đào tạo các cá nhân: Xã hội hóa chính trị làm cho mỗi cá nhân thấm nhuần các giá
trị của hệ thống chính trị. Nó cho phép các cá nhân gắn kết với hệ thống, đặt ra những yêu
cầu đối với nhà nước và dự đoán được hành vi của các công dân khác. Thông qua quá trình
xã hội hóa chính trị của một cá nhân, có thể dự đoán được mức độ tuân thủ luật pháp, mức
độ tham gia của họ vào các hoạt động chính trị như: bầu cử, thảo luận về các vấn đề chính
sách, hoặc tham gia vào các tổ chức chính trị.
- Ủng hộ cho hệ thống chính trị: Xã hội hóa chính trị giúp duy trì sự ổn định và tính
chính đáng của hệ thống chính trị bằng cách giáo dục các công dân phải tuân thủ các quy
định, luật lệ của nhà nước và thực hiện vai trò, trách nhiệm công dân của mình. Nó cũng
trang bị cho công dân các kiến thức về đời sống chính trị quốc gia, về thẩm quyền của từng
chủ thể quyền lực trong xã hội cũng như quyền và nghĩa vụ của công dân.
3.1.5.2. Các chủ thể của quá trình xã hội hóa chính trị
Tham gia vào quá trình xã hội hóa chính trị có rất nhiều chủ thể khác nhau, dưới
đây là một số chủ thể chính: a) Gia đình
Trong suốt hàng ngàn năm, các nhà khoa học chính trị đã coi gia đình là “những lò
ấp trứng” để cho ra đời những con người chính trị. Gia đình là nơi giáo dục chính trị đầu
tiên và lâu dài nhất. Gia đình trang bị cho trẻ em các thông tin, các giá trị và chuẩn mực và
chúng khắc sâu trong ký ức của trẻ em.
Việc học hỏi những vấn đề liên quan đến chính trị đầu tiên diễn ra trong các gia đình.
Phần lớn quá trình này diễn ra một cách không chính thức.
Gia đình là nơi cung cấp mọi thứ cho trẻ em để chúng có thể tồn tại và phát triển - từ
thức ăn, chỗ ở, sự yêu thương cho đến các tương tác xã hội. Tuy nhiên, gia đình cũng định vị
cho trẻ em một chỗ đứng về giai cấp, dân tộc, tôn giáo - những yếu tố ảnh hưởng quan trọng
đến niềm tin và hoạt động chính trị của con người trong mọi xã hội. Vì lý do này, gia đình tác
động mạnh mẽ đến sự phát triển nhân cách của trẻ em. Khả năng hợp tác với các thành viên
khác trong xã hội, lòng tin đối với con người cũng được định hình và phát triển từ gia đình.
Các ý tưởng và các giá trị liên quan đến chính trị, chẳng hạn như thái độ đối với quyền lực, sự
tuân thủ pháp luật, cũng được truyền dạy từ gia đình. Các đặc trưng của từng gia đình như tính
gia trưởng, hay tính thứ bậc có thể cũng ảnh hưởng đến các cá nhân khi họ trưởng thành.
Các nghiên cứu chỉ ra rằng, những gia đình khuyến khích con cái tham gia vào các
quyết định của gia đình cũng tạo tiền đề để những đứa trẻ này tham gia vào đời sống chính
trị khi chúng đã trưởng thành. Trẻ em được sinh ra trong các gia đình có cha mẹ tham gia
tích cực vào đời sống chính trị, hoặc có địa vị kinh tế - xã hội cao cũng thường có xu hướng
tham gia tích cực vào đời sống chính trị khi trưởng thành. Trẻ em sinh ra trong những gia
đình có cha mẹ tẩy chay chính trị, hoặc hiếm khi tham gia thảo luận về các vấn đề chính
trị, cũng ít được khuyến khích tham gia vào các sự kiện này. Khi lớn lên, chúng có xu
hướng thờ ơ với chính trị.
Gia đình có một tác động đáng kể đến quan điểm của các thành viên về các vấn đề
chính trị cụ thể nào đó. Tình yêu Tổ quốc, các quan điểm về vấn đề chủng tộc, dân tộc, đảng
phái... cũng được định hình từ trong gia đình. Ở những nước có hệ thống đa đảng tương đối
ổn định, thông thường bố mẹ ủng hộ đảng nào, thì con cái họ cũng sẽ ủng hộ đảng đó khi chúng trưởng thành. b) Trường học
Xã hội hóa chính trị tại các trường học là một quá trình chính thức và có ý thức.
Trường học là một công cụ xã hội để chuyển tải các giá trị và chuẩn mực xã hội đến với
thế hệ trẻ. Các nghiên cứu cho thấy, mặc dù có thể tác động không trực tiếp đến thái độ
chính trị của người trưởng thành, nhưng trình độ học vấn của một người có mối tương quan
chặt chẽ với thái độ, với mức độ tham gia của họ vào đời sống chính trị. Chẳng hạn, những
người có học vấn cao hơn thường có nhận thức rõ ràng hơn về các vấn đề chính trị; quan
tâm đến chính trị nhiều hơn, tích cực hơn trong các cuộc thảo luận chính trị. Một người
có học vấn cao thường có cảm giác trách nhiệm mạnh mẽ hơn đối với cộng đồng mà
họ đang sống và biết cách để tác động đến chính phủ hiệu quả hơn so với những người có học vấn thấp.
Trường học có mức độ ảnh hưởng lớn hơn nhiều so với gia đình. Trường học có thể
giúp cho học sinh vượt qua những khác biệt về vị thế xã hội bằng cách trang bị cho học
sinh những giá trị, chuẩn mực hành vi chung của công dân, cũng như những kiến thức căn
bản về cách thức tổ chức và vận hành của hệ thống chính trị.
Bên cạnh đó, xã hội hóa tình yêu đối với quê hương, đất nước cũng là một chức
năng vô cùng quan trọng của trường học. Các trường học thường có các chương trình
giảng dạy nhằm tạo ra sự gắn kết của trẻ em đối với đất nước, đặc biệt là ở những lớp đầu
tiên. Trường học thực hiện điều này thông qua các nghi thức như: chào cờ, hát quốc ca
và các bài hát thể hiện tình yêu đối với quê hương, đất nước, những câu truyện về lòng
trung thành đối với Tổ quốc, về các nhân vật anh hùng, các địa danh lịch sử gắn với sự
hình thành quốc gia, dân tộc.
Trường học cũng đặt trẻ em vào một môi trường để chúng có thể nhận thức được
mối quan hệ, sự phụ thuộc và trách nhiệm của chúng đối với xã hội và hệ thống chính trị.
Với cách làm như vậy, trường học thực hiện việc truyền dạy cho trẻ em tình yêu Tổ quốc
và trách nhiệm công dân.
c) Các nhóm đồng đẳng
Nhóm đồng đẳng là những nhóm người có địa vị xã hội tương đương nhau và thường
là có lợi ích giống nhau. Họ là những người có quan hệ cá nhân gần gũi, có sự hiểu biết và
tôn trọng lẫn nhau. Chẳng hạn, đó là những người bạn thân, các đồng nghiệp, những người
hàng xóm, những thành viên cùng sinh hoạt trong các tổ chức, các câu lạc bộ.
Một cách không chính thức, cả người lớn và trẻ em đều học hỏi rất nhiều từ những
người cùng nhóm kể trên. Thông qua sự tương tác một cách thường xuyên, mỗi người lại
học hỏi các giá trị, thái độ và hành vi từ những người khác. Các nhóm đồng đẳng giúp con
người phát triển sự cảm nhận về các giá trị chung. Đây là một nhân tố quan trọng trong
việc định hình nhân cách của mỗi cá nhân. Khi một người tham gia vào một nhóm nào đó,
họ thường có xu hướng học hỏi các giá trị của nhóm và điều chỉnh hành vi của mình cho
phù hợp với hành vi của nhóm. Những giao tiếp của nhóm đồng đẳng đặc biệt quan trọng
khi có sự xung đột thế hệ trong một gia đình.
Về mặt chính trị, những giao tiếp của nhóm đồng đẳng có vai trò quan trọng nếu các
nhóm ủng hộ các giá trị chính trị đang giữ vị trí thống trị trong xã hội.
Sự ảnh hưởng của các nhóm đồng đẳng có xu hướng ngày càng tăng so với gia đình
và trường học trong xã hội hiện đại. Đó là kết quả của sự thay đổi trong xã hội, khi các
bậc cha mẹ không thể nào dạy cho con cái của mình tất cả những kiến thức và kỹ năng
cần thiết để họ tham gia vào đời sống chính trị. Cuối cùng, trẻ em cũng ngày càng dành
nhiều thời gian hơn cho các hoạt động ở trường, ở bên ngoài với bạn bè cùng lứa và dành
ít thời gian hơn cho gia đình. Do vậy, cả trường học và các nhóm đồng đẳng ngày càng
có ảnh hưởng hơn so với gia đình trong quá trình xã hội hóa chính trị.
d) Các phương tiện truyền thông đại chúng
Các phương tiện truyền thông đại chúng có một vai trò quan trọng trong quá trình xã
hội hóa chính trị. Nếu toàn bộ các phương tiện truyền thông do nhà nước kiểm soát, thì
việc đo lường sự tác động của chủ thể này là tương đối rõ. Ở hầu hết các quốc gia trên thế
giới, các chương trình truyền hình có tác động tới quan điểm chính trị của người dân chủ
yếu với tư cách là những thông tin không chính thức. Truyền hình có thể tác động đến quá
trình xã hội hóa chính trị của người dân nếu chúng góp phần củng cố các nội dung xã hội
hóa của các chủ thể khác. Nếu các phương tiện truyền thông đại chúng đưa ra các thông
điệp trái với thông điệp của các chủ thể khác, nó có thể tạo ra sự xung đột. Thông thường,
nếu quá trình xã hội hóa ở trường học trang bị cho học sinh một bức tranh lý tưởng về tổ
chức và vận hành của hệ thống chính trị, thì các phương tiện truyền thông đại chúng lại
nhấn mạnh những vấn đề mà hệ thống đang phải giải quyết. Điều đó có thể mâu thuẫn với
những gì mà học sinh được dạy ở trường học.
Một số nghiên cứu cho thấy, những người thường xuyên theo dõi các chương trình
tin tức trên truyền hình và có sự hiểu biết về đời sống chính trị thường tích cực ủng hộ
các đảng chính trị và tỷ lệ đi bầu cử cũng cao hơn so với các đối tượng khác.
e) Các đảng chính trị
Các đảng chính trị luôn có mục tiêu giành được các vị trí quyền lực trong bộ máy nhà
nước. Để làm được điều đó, các đảng thường tuyên truyền cho chủ trương, đường lối của
mình, nhằm huy động sự ủng hộ của người dân. Ở các quốc gia có hệ thống đa đảng cạnh
tranh, hoạt động xã hội hóa của các đảng chính trị cũng không giống nhau. Chiến lược tác
động tới người dân của mỗi đảng có thể cũng khác nhau. Nhằm giành được sự ủng hộ của
người dân, các đảng có thể tập trung vào các nhóm cử tri cụ thể (theo khu vực cư trú, ngôn
ngữ, tôn giáo, hoặc nhóm sắc tộc ..v.v).
Các hoạt động xây dựng hình ảnh của đảng, hoặc các chiến dịch vận động tranh cử,
các đảng chính trị cung cấp các thông tin về tình hình đất nước, những vấn đề mà quốc gia
của họ đang phải đối mặt, cũng như những đề xuất chính sách mà các đảng đưa ra để giải
quyết vấn đề. Thông qua quá trình này, người dân có sự hiểu biết sâu sắc thêm về tình hình của đất nước mình.
f) Các tổ chức tôn giáo
Trong một quốc gia có các tôn giáo, thì bản thân mỗi tôn giáo là một chủ thể truyền
bá các giá trị đạo đức và giá trị xã hội. Ở một mức độ nhất định, các vấn đề này cũng liên
quan đến chính trị. Trên thực tế, giới chức sắc tôn giáo có ảnh hưởng khá quan trọng đối
với các tín đồ của mình. Mức độ ảnh hưởng của giới chức tôn giáo phụ thuộc vào từng tôn
giáo và từng quốc gia khác nhau. Thông thường, các tín đồ tôn giáo sẽ định hướng xã hội
hóa cho con em mình thông qua các bài giảng và các nghi lễ tôn giáo.
Mức độ hiện diện của các tổ chức tôn giáo trong đời sống chính trị ở các quốc gia
cũng có sự khác biệt. Chẳng hạn, trong những năm gần đây, vai trò của các phong trào Hồi
giáo tại các quốc gia ở khu vực Trung Đông đã trở thành một nhân tố quan trọng định hình
nền chính trị ở khu vực này.
Ở những nơi mà các tổ chức tôn giáo truyền dạy các giá trị ủng hộ cho hệ thống chính
trị thì mối quan hệ giữa tôn giáo và chính trị, giữa nhà nước và nhà thờ sẽ tương đối thuận
lợi. Trong trường hợp ngược lại, quá trình xã hội hóa chính trị ở quốc gia đó có thể sẽ rất phức tạp.
Tóm lại, xã hội hóa chính trị là một phần của cuộc đấu tranh chính trị diễn ra ở mỗi
quốc gia. Trong suốt chiều dài lịch sử, các nhà nước và các nhóm quan trọng trong xã hội
luôn đề cao vai trò của quá trình này. Văn hóa chính trị và xã hội hóa chính trị giúp định
hình cho người dân các giá trị, các chuẩn mực hành vi chính trị hợp lý trong một hệ thống chính trị cụ thể.
Quá trình xã hội hóa chính trị nhìn chung có xu hướng duy trì những giá trị hiện tại,
nhưng bên cạnh đó cũng có thể xuất hiện những yếu tố mới, những giá trị mới, làm tiền đề
dẫn tới những thay đổi về mặt chính trị.
3.2. VĂN HÓA CHÍNH TRỊ VIỆT NAM
3.2.1. Các giá trị đặc trưng của văn hóa chính trị Việt Nam
Văn hóa là hệ thống các giá trị và chuẩn mực chung được cộng đồng chia sẻ và thừa
nhận. Trong văn hóa (khác với văn minh) không có sự phân biệt cao - thấp. Bản thân giá trị
văn hóa cũng mang tính tương đối. Vì vậy, để đánh giá một sự vật nào đó là giá trị hay phi giá
trị, giá trị cao hay thấp, phải đặt nó trong tọa độ không gian, thời gian và chủ thể văn hóa cụ
thể. Bởi suy cho cùng, giá trị hay chân lý đều phải mang tính cụ thể.
Nhân loại có thể cùng chia sẻ những hệ thống giá trị chung, nhưng ở mỗi quốc gia, mức
độ ưu tiên trong xếp loại các giá trị có thể khác nhau, tùy thuộc vào hoàn cảnh cụ thể của
từng nước. Các giá trị ưu tiên làm nên đặc trưng văn hóa nói chung, văn hóa chính trị nói
riêng của từng quốc gia. Theo đánh giá của các nhà nghiên cứu, một số giá trị dưới đây được
cho là đặc trưng của văn hóa chính trị Việt Nam.
- Chủ nghĩa yêu nước
Chủ nghĩa yêu nước Việt Nam đã phát triển qua các thời kỳ lịch sử khác nhau, từ thời
vua Hùng dựng nước cho tới tận ngày nay. Trong mỗi giai đoạn lịch sử, chủ nghĩa yêu
nước lại có những biểu hiện khác nhau. Thời kỳ trung đại, yêu nước là “trung quân, ái
quốc”, nhưng đến thời kỳ cách mạng xã hội chủ nghĩa, yêu nước lại mang một ý nghĩa
khác, đó là yêu nhân dân, yêu dân tộc.
Mỗi thời kỳ phát triển của chủ nghĩa yêu nước lại nổi lên những nhân vật quan trọng.
Họ là anh hùng giải phóng dân tộc, là danh nhân văn hóa. Tinh thần yêu nước của họ đại
diện cho dân tộc trong một giai đoạn phát triển của lịch sử.
Chủ nghĩa yêu nước biểu hiện ở việc luôn đặt lợi ích của Tổ quốc lên trên, sẵn sàng
hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc. Có thể nói, ít có một dân tộc nào trên thế giới thời
gian dành để chống thiên tai và chống giặc ngoại xâm nhiều như dân tộc Việt Nam. Từ khi
có quốc gia, người Việt đã liên tục phải đối mặt với các cuộc chiến tranh xâm lược của kẻ
thù. Theo thống kê của các nhà sử học, tính từ cuộc kháng chiến chống xâm lược của phong
kiến phương Bắc năm 179 trước công nguyên đến năm 1979, sau 22 thế kỷ, người Việt đã
phải đương đầu với 14 cuộc chiến tranh xâm lược với quy mô lớn từ bên ngoài, trong đó
11 lần chiến thắng, thời gian chiến tranh kéo dài tới 1.200 năm4. Trải qua các biến thiên
của lịch sử, lòng yêu nước, tinh thần dân tộc của người Việt vẫn tồn tại một cách bền bỉ theo thời gian.
Chủ nghĩa yêu nước Việt Nam còn được tâm linh hóa thành một thứ tín ngưỡng.
Lòng yêu nước không đơn giản là một thứ tình cảm thuần túy, mà còn trở thành thứ được
người dân thờ phụng. Nhiều gia đình Việt Nam ở vùng nông thôn trong những năm trước
đây thường lập bàn thờ Tổ quốc với lá cờ đỏ sao vàng và ảnh Chủ tịch Hồ Chí Minh đặt
phía trên bàn thờ tổ tiên. Hệ thống thành hoàng làng ở các tỉnh khu vực đồng bằng Bắc
Bộ chủ yếu thờ phụng các anh hùng dân tộc, các danh nhân văn hóa, những người khi
còn sống đã có công giúp dân, cứu nước5.
Kế thừa những giá trị truyền thống, trong các giai đoạn cách mạng thời kỳ hiện đại,
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu khẩu hiệu: “Không có gì quý hơn độc lập tự do”. Khẩu hiệu
này đáp ứng đúng tâm tư, nguyện vọng của người dân Việt Nam nên đã có sức lan tỏa rộng
lớn. Là một giá trị chính trị được cả xã hội đề cao, nên qua năm tháng, nó trở thành một
đạo lý chính trị của người Việt Nam.
4 Xem Nguyễn Văn Huyên, Nguyễn Hoài Văn, Nguyễn Văn Vĩnh: Bước đầu tìm hiểu những giá trị văn hóa chính trị
truyền thống Việt Nam
, Nxb.Chính trị quốc gia, H.2009, tr.66.
5 Xem: Ngô Đức Thịnh (Chủ biên): Giá trị văn hóa Việt Nam - Truyền thống và biến đổi, Nxb.Chính trị quốc gia, H.2014, tr.72. - Tính cộng đồng
Tính cộng đồng thể hiện tinh thần tương trợ, ý thức tập thể của người Việt. Tính cộng
đồng được hình thành trong quá trình dựng nước và giữ nước của dân tộc. Xã hội Việt Nam
là xã hội nông nghiệp, con người gắn bó với nhau trong địa vực là làng xã. Lịch sử đã
chứng minh, ngay từ khi thành lập Nhà nước Văn Lang, điều kiện quan trọng nhất để nhà
nước đó hình thành là công cuộc đắp đê ngăn lũ để sản xuất, chứ không phải do phân hóa
giai cấp trong xã hội. Chính công cuộc đắp đê, trị thủy đòi hỏi phải có sự đoàn kết, tính cố kết cộng đồng.
Từ một chiều cạnh khác, tính cộng đồng của người Việt được hình thành dựa trên cơ
sở tổ chức của các thiết chế xã hội, thể hiện rõ nét qua trục: nhà - làng - nước, trong đó nhà
bao gồm cả gia đình, dòng tộc là hình thức tổ chức theo nguyên tắc huyết thống; còn làng tổ
chức theo nguyên tắc địa vực, láng giềng. Do vậy, nói tới làng xã là phải nói tới tính cộng
đồng. Làng là một điểm cộng cư, một cộng đồng sở hữu, một cộng đồng “cộng mệnh” và là
một cộng đồng “cộng cảm”6.
Nước là yếu tố bao trùm cả nhà và làng. Làng là thành trì chống ngoại xâm từ phương Bắc
xuống, cưỡng lại sự đồng hóa của Trung Quốc, cố thủ tinh thần dân tộc. Trong các cộng đồng ấy,
các tổ chức phi quan phương như phe, giáp hình thành cố kết con người với nhau. Làng là sự mở
rộng tính cộng đồng của nhà và nước là sự mở rộng tính cộng đồng của làng.
Sống trong môi trường của quan hệ làng xã suốt mấy nghìn năm, dần dần, những tập
quán ứng xử đó cũng trở thành đạo lý, thành chuẩn mực trong giao tiếp xã hội. Để duy trì
tính cộng đồng, người Việt Nam có một chuẩn mực là quyền lợi cá nhân phải phục tùng
quyền lợi của cộng đồng, quyền lợi của các cộng đồng nhỏ phải phục tùng quyền lợi của
cộng đồng lớn, quyền lợi của cả dân tộc. Nếu một chủ thể chính trị nào đưa ra các quyết định
chính trị đi ngược lại chuẩn mực trên sẽ bị cộng đồng lên án. - Tinh thần đoàn kết
Tinh thần đoàn kết là sự gắn kết bền chặt giữa các cá nhân trong một cộng đồng để
đạt được một mục tiêu chung nào đó. Đoàn kết là chất keo dính kết các cá nhân với nhau,
tạo ra sức mạnh vượt trội của cộng đồng. Vì nhiều lý do khác nhau, trong lịch sử, người
Việt nhiều lần phải đương đầu với giặc ngoại xâm hùng mạnh. Đứng trước kẻ thù lớn mạnh
hơn mình gấp nhiều lần, để bảo vệ quyền tự chủ, sự tồn tại của mình, chỉ có tinh thần đoàn
kết mới có thể giúp người Việt tạo nên sức mạnh chiến thắng kẻ thù. Hồ Chí Minh đã tổng
kết từ trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc: “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết.
Thành công, thành công, đại thành công”.
Từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời và lãnh đạo cách mạng, Đảng luôn xác định:
đại đoàn kết toàn dân tộc là đường lối chiến lược, là nguồn sức mạnh và là nhân tố có ý
nghĩa quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Chính nhờ phát huy được tinh thần
đoàn kết toàn dân tộc, Đảng đã lãnh đạo nhân dân giành thắng lợi trong hai cuộc kháng
chiến chống Pháp và Mỹ, giành độc lập cho dân tộc. Trong công cuộc xây dựng CNXH
hiện nay, bài học kinh nghiệm này vẫn còn nguyên giá trị và cần tiếp tục phát huy nhằm
khơi dậy ý chí, khát vọng phát triển tạo nên sức mạnh của toàn dân tộc.
- Trọng dụng nhân tài
6 Ngô Đức Thịnh, Sđd, tr.287-293
Hiền tài là tinh hoa của dân tộc. Có thể nói, một dân tộc tự hào về nền văn hiến của
mình thì dân tộc đó phải trọng dụng hiền tài. Từ xa xưa, nhân tài luôn gắn với vận mệnh
của quốc gia, của dân tộc Việt Nam. Thân Nhân Trung, một danh thân thời Lê đã viết:
“Hiền tài là nguyên khí của quốc gia, nguyên khí thịnh thì thế nước mạnh và lên cao;
nguyên khí suy thì thế nước yếu và xuống thấp”. Với ý thức tôn vinh và tôn trọng hiền tài,
các vương triều trong xã hội phong kiến Việt Nam đều có những chính sách đối xử với tài
năng khá mềm dẻo, linh hoạt, có tính hiệu quả cao. Trong bốn hạng người của xã hội là
“sĩ, nông, công, thương” thì sĩ được coi trọng hơn cả. Nhà nước phong kiến Việt Nam cứ
vài năm lại tổ chức các kỳ thi để chọn ra những người tài. Những người tài giỏi, bất kể là
già hay trẻ, xuất thân từ tầng lớp giàu sang thay thấp hèn, đều được lựa chọn để bổ vào các
vị trí quyền lực. Hầu hết quan chức trong bộ máy nhà nước đều là người có học, trong đó có
nhiều người còn rất trẻ. Người có tài thi đỗ cao được trao quyền chức cao, người phấn đấu trưởng
thành trong thực nghiệp thì được cất nhắc vào các chức vụ cao, phẩm hàm lớn.
Chính sách trọng dụng và đãi ngộ nhân tài của các triều đại phong kiến được thể hiện
thông qua các hình thức vinh danh. Những người đỗ tiến sĩ được triều đình tôn vinh bằng
nhiều hình thức như: xướng danh trước Ngọ Môn, ghi tên vào bảng vàng, khắc tên vào bia
đá, đãi yến ở vườn thượng uyển, vinh quy bái tổ. Khi những người này về địa phương, Nhà
nước lệnh cho địa phương phải đón rước linh đình, nghênh tiếp long trọng. Họ được cắt
đất công làm lộc điền, hương hỏa…7
Trong dân gian, những người tài đức cao cả, công danh sự nghiệp lớn lao thường
được tôn vinh như những bậc khai khoa, mở lối cho sự học của dân, khai nguyên cho dòng
họ. Tôn trọng hiền tài, tôn trọng việc học hành, khoa cử trở thành một truyền thống tốt đẹp của dân tộc.
Trong thời hiện đại, trọng dụng và thu hút nhân tài là chủ trương nhất quán của Đảng
và Nhà nước ta. Có nhiều chính sách đã được ban hành trong thời gian qua để hiện thực
hóa các chủ trương nói trên. Không chỉ ở cấp Trung ương, nhiều địa phương trên cả nước
cũng ban hành các chính sách “trải thảm đỏ” thu hút nhân tài vào làm việc trong bộ máy
của hệ thống chính trị. Để đảm bảo chính sách trọng dụng nhân tài được thực thi một cách
hiệu quả, trong định hướng phát triển đất nước giai đoạn 2021 - 2030, Đảng ta đã xác định,
cần phải đổi mới mạnh mẽ cơ chế phát hiện, lựa chọn, thu hút, trọng dụng người tài và cơ chế đánh giá cán bộ8.
3.2.2. Một số vấn đề đặt ra đối với văn hóa chính trị của đội ngũ cán bộ
lãnh đạo, quản lý hiện nay và các giải pháp nâng cao văn hóa chính trị của đội
ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý ở Việt Nam trong thời gian tới

3.2.2.1. Một số vấn đề đặt ra đối với văn hóa chính trị của đội ngũ cán bộ lãnh
đạo, quản lý hiện nay
Nhìn vào đời sống chính trị Việt Nam hiện nay, từ góc độ văn hóa chính trị, chúng ta
có thể nhận diện một số vấn đề đang đặt ra đối với đội ngũ cán bộ lãnh đạo quản lý:
7 Xem Ngô Đức Thịnh, Sđd, tr.196-199.
8 Đảng Cộng sản Việt Nam (2021),Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII (tập II), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, trang 244.
- Sự lệch lạc trong nhận thức của một bộ phận cán bộ về các giá trị và chuẩn mực xã hội
Quan sát đời sống xã hội nói chung, đời sống chính trị hiện nay ở Việt Nam nói
riêng cho thấy, một bộ phận cán bộ lãnh đạo, quản lý đã chạy theo các giá trị và chuẩn
mực mang tính hình thức. Các chuẩn mực này gồm cả chính thức và phi chính thức, được
thể hiện ở việc đánh giá các cá nhân, tổ chức còn dựa vào các yếu tố mang tính hình thức
như: trọng bằng cấp, danh hiệu, số lượng…. Các vấn đề như: trách nhiệm, bổn phận đạo
đức, lương tâm của người cán bộ còn chưa được coi trọng đúng mức. Những yếu tố trên
dẫn tới hậu quả là một số thang bậc giá trị xã hội bị đảo lộn. Thực tế này làm phát sinh
các căn bệnh như: chạy theo thành tích, gian dối... Xét cho cùng, đó là các hành vi "lệch
chuẩn", vì nó đi ngược lại với lý tưởng, với các giá trị và chuẩn mực mà Đảng theo đuổi,
đi ngược lại với lợi ích của nhân dân.
- Tính cục bộ trong hoạt động lãnh đạo, quản lý của một số cá nhân và tổ chức
Trong đời sống chính trị, tính cục bộ được thể hiện ở ba chiều cạnh: cục bộ ngành,
cục bộ địa phương và cục bộ gia đình. Tính cục ngành và cục bộ địa phương thể hiện dưới
nhiều hình thức khác nhau, nhưng về căn bản, các cán bộ lãnh đạo, quản lý khi lựa chọn
quyết định hành động đã không xuất phát từ lợi ích toàn cục, dài hạn của quốc gia, của tập
thể lớn hơn, mà chỉ quan tâm đến lợi ích của ngành mình, địa phương mình, gia đình mình.
Thậm chí, dù biết các quyết định đó có thể gây hại cho quốc gia, cho tổ chức, họ vẫn thực
hiện. Hiện tượng này không phải là hiếm trên thực tế. Ở mức độ ngành, đó là tâm lý ‘ăn
cây nào, rào cây đó’, thể hiện trong quá trình hoạch định chính sách quốc gia. Các bộ,
ngành có động cơ tối đa hóa lợi ích của bộ mình, ngành mình mà không tính đến lợi ích
của các bộ khác, ngành khác, không tính đến lợi ích của người dân và doanh nghiệp. Đó là
hiện tượng không ít địa phương tìm cách vận động để nhận được nguồn vốn quốc gia về
đầu tư vào các công trình chưa thực sự cần thiết cho địa phương mình, gây ra tình trạng
lãng phí trong đầu tư công. Nhiều tỉnh có vị trí khá gần nhau, nhưng cùng lập đề án xây
dựng sân bay, cảng biển, nhưng khi thực hiện xong đề án không thể phát huy tác dụng.
Trong các cơ quan, tổ chức, tư tưởng cục bộ địa phương, gia đình trong công tác
cán bộ cũng khá phổ biến. Đã có thời, tư tưởng ‘một người làm quan, cả họ được nhờ’ trở
thành một chuẩn mực, giá trị trong giao tiếp, ứng xử xã hội. Nhưng trong nền chính trị hiện
đại, tư tưởng cục bộ địa phương, gia đình lại trở thành một trở ngại cho sự phát triển. Một
khi tư tưởng này xuất hiện trong những người có chức, có quyền, thì dưới các hình thức
khác nhau, họ có thể tận dụng các khe hở trong quy định của thể chế, của pháp luật để ‘sắp
xếp’ những người ‘đồng hương’, những người thân cận, những người trong gia đình mình,
vào những vị trí, công việc như mong muốn - dù cả ‘đức’ và ‘tài’ của họ đều chưa hội đủ.
Từ đó dẫn đến kết quả chọn cán bộ có thể ‘đúng quy trình’, nhưng không đúng người. Hiện
tượng này gây bức xúc trong xã hội, gây chia rẽ, mất đoàn kết trong các cơ quan, tổ chức.
- Sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống của một bộ phận cán bộ lãnh
đạo, quản lý
Trong đời sống chính trị, hệ thống thể chế dù chặt chẽ đến đâu cũng không bao giờ
là đủ. Người thực thi quyền lực nếu không nhận thức được trách nhiệm và bổn phận đạo
đức cầm quyền sẽ tìm ra những kẽ hở của pháp luật để lợi dụng. Văn hóa chính trị sẽ đóng
vai trò là nhân tố bổ sung, lấp đầy những khoảng trống của thể chế. Các giá trị văn hóa -
vốn đã thẩm thấu trong từng cá nhân, sẽ có sức mạnh vô hình kiểm soát hành vi của đội
ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý buộc họ phải làm điều đúng, tránh điều sai.
Trên thực tế, chức năng điều chỉnh hành vi của văn hóa chính trị, với tính cách là một
cơ chế kiểm soát các hành vi của các cá nhân, mức độ phát huy tác dụng còn hạn chế. Các
giá trị văn hóa chính trị tốt đẹp của dân tộc, lý tưởng chính trị của Đảng vẫn chưa được thẩm
thấu trong từng cá nhân cán bộ lãnh đạo, quản lý để trở thành động lực thúc đẩy các hành vi
hợp chuẩn. Một bộ phận cán bộ lãnh đạo, quản lý thiếu bản lĩnh chính trị, có những biểu
hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống; Tình trạng cán bộ lợi dụng chức vụ,
quyền hạn được giao để vun vén cho lợi ích cá nhân, lợi ích nhóm không phải là chuyện
hiếm. Thậm chí, ngay cả khi bị phát hiện làm sai, một số cán bộ vẫn tiếp tục tại vị. Từ chức
chưa trở thành văn hóa, với nghĩa nó chưa phải là một hành vi mặc định, phổ biến trong đời
sống chính trị khi các cán bộ lãnh đạo, quản lý không còn tiếp tục nhận được sự tín nhiệm của người dân.
Trong Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Đảng ta cũng đã thẳng thắn
nhận định: Việc tu dưỡng, rèn luyện đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên
chưa thường xuyên, một số suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống; vẫn còn tình
trạng nói không đi đôi với làm; không tuân thủ nguyên tắc tổ chức của Đảng; quan liêu,
tham nhũng, lãng phí, cá nhân chủ nghĩa, cơ hội, thực dụng, bè phái, gây mất đoàn kết nội
bộ; chưa nêu cao ý thức trách nhiệm trước tổ chức, cơ quan, đơn vị, địa phương và nhân
dân. Việc thực hiện quy định về trách nhiệm nêu gương chưa trở thành nề nếp, hiệu quả
chưa cao. Một số cán bộ vi phạm đến mức phải kỷ luật, xử lý hình sự. Việc đấu tranh chống
các biểu hiện lệch lạc về đạo đức, lối sống chưa mạnh mẽ. Tự phê và phê bình ở không ít nơi còn hình thức…9.
3.2.2.2. Một số giải pháp nâng cao văn hóa chính trị cho đội ngũ cán bộ lãnh
đạo, quản lý trong thời gian tới
Đảng ta là đảng cầm quyền, do vậy, văn hóa chính trị của đội ngũ cán bộ lãnh đạo,
quản lý có ảnh hưởng quan trọng đối với xã hội. Nhằm nâng cao văn hóa chính trị cho đội
ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý, đồng thời hướng tới bồi đắp các giá trị chính trị tốt đẹp của
Đảng và của dân tộc, trong thời gian tới, chúng ta cần thực hiện một số giải pháp cụ thể sau:
Thứ nhất, phải đổi mới quá trình xã hội hóa chính trị:
Nâng cao văn hóa chính trị của đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý phải gắn với việc
trang bị cho họ các kiến thức lý luận cơ bản về chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí
Minh. Lý luận này là hệ tư tưởng nền tảng, là cơ sở cho việc hoạch định chủ trương, đường
lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước; nó cũng góp phần củng cố lập trường
và nhân sinh quan của người cán bộ lãnh đạo, quản lý.

Cùng với lý luận Mác - Lênin, cần trang bị các tri thức về chính trị học và khoa học
lãnh đạo, quản lý hiện đại; truyền bá các giá trị văn hóa chính trị truyền thống của dân
tộc, giáo dục truyền thống cách mạng của Đảng cho các cán bộ lãnh đạo, quản lý;
nghiên
cứu bổ sung, hoàn thiện các chuẩn mực đạo đức cách mạng phù hợp với điều kiện mới và
truyền thống văn hóa của dân tộc để làm cơ sở cho cán bộ, đảng viên tự giác tu dưỡng và rèn
9 Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), Sđd (tập II), trang 178-179.
luyện, tự điều chỉnh hành vi ứng xử của bản thân trong công việc hàng ngày.
Bên cạnh nội dung, thì phương thức xã hội hóa, truyền bá cũng cần được đổi mới cho
phù hợp với bối cảnh mới, tăng hiệu quả của công tác giáo dục lý luận chính trị. Văn kiện
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng chỉ rõ: cần p
hải tiến hành đổi mới căn
bản nội dung, chương trình, phương pháp giáo dục lý luận chính trị theo hướng khoa học,
sáng tạo, hiện đại và gắn lý luận với thực tiễn. Cần bồi dưỡng lý luận chính trị, cập nhật kiến
thức mới cho cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt các cấp10.
Thứ hai, đề cao trách nhiệm nêu gương của cán bộ lãnh đạo, quản lý, nhất là người
đứng đầu các cấp. Một trong những nội dung quan trọng của văn hóa chính trị là sự nêu
gương của các cán bộ lãnh đạo, quản lý trước nhân dân, để Đảng thực sự “là đạo đức, là
văn minh” như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nhấn mạnh. Cần nhận thức rằng, muốn
xây dựng văn hóa chính trị Việt Nam, trước hết phải chú ý xây dựng văn hóa chính trị
từ trong Đảng - lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội. Hành động của người đứng đầu,
của cán bộ lãnh đạo, quản lý sẽ trở thành mẫu hình để cấp dưới, để nhân dân noi theo.
Nêu gương cũng phù hợp với truyền thống văn hóa phương Đông nói chung, truyền
thống văn hóa Việt Nam nói riêng. Nêu gương phải thực sự trở thành một nội dung quan
trọng trong phương thức lãnh đạo của Đảng.
Hội nghị Ban chấp hành Trung ương lần thứ 8 khóa XII đã ban hành Quy định về
trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên. Văn kiện Đại hội Đại biểu lần thứ XIII
của Đảng cũng nhấn mạnh sự cần thiết phải thực hiện nghiêm các quy định của Đảng về
trách nhiệm nêu gương: chức vụ càng cao càng phải gương mẫu, trước hết là các Ủy
viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban bí thư, Ủy viên Ban chấp hành trung ương. Đảng viên
phải tự giác nêu gương để khẳng định vị trí lãnh đạo, vai trò tiên phong, gương mẫu, tạo
sự lan tỏa, thúc đẩy các phong trào cách mạng11.
Để thực hiện chủ trương này cần phải nâng cao nhận thức về trách nhiệm nêu gương
của cán bộ lãnh đạo, quản lý, để mọi người đều thấy rằng nêu gương là trách nhiệm, bổn
phận và đạo lý của người cán bộ, đảng viên. Phải làm cho mỗi cán bộ, đảng viên thấy rõ bổn
phận, trách nhiệm của mình, luôn vững vàng trước mọi khó khăn, thách thức; đấu tranh có
hiệu quả với mọi biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân, bệnh quan liêu, cơ hội, cục bộ, bè phái, mất
đoàn kết nội bộ. Nâng cao ý thức tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng suốt đời, thường
xuyên “tự soi”, “tự sửa” và nêu cao danh dự, lòng tự trọng của người đảng viên.
Bên cạnh đó, cần triển khai đồng bộ Chỉ thị 05 của Bộ Chính trị và Kế hoạch 03 của Ban
Bí thư về việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Tiếp tục công
cuộc đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí, chống “lợi ích nhóm”, lối sống cơ hội, thực dụng,
bè phái, nói không đi đôi với làm trong cán bộ, đảng viên.
10 Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), Sđd (tập II), trang 235-236.
11 Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), Sđd (tập I)), trang 183-184.
Thứ ba, chú trọng áp dụng các biện pháp nhằm xây dựng, củng cố lòng tin của nhân
dân vào sự lãnh đạo của Đảng
Nói tới văn hóa chính trị của một quốc gia không thể không nói tới hệ thống các giá
trị được toàn thể người dân của quốc gia đó chia sẻ. Đó không chỉ là hệ thống các giá trị
làm nền tảng để xây dựng hệ thống chính trị quốc gia, mà còn để thu hút sự tham gia của
người dân vào đời sống chính trị. Lý tưởng, niềm tin của Đảng chỉ có ý nghĩa và được hiện
thực hóa khi nó nhận được sự chia sẻ thực sự của người dân, trở thành lý tưởng và niềm
tin của chính người dân. Điều này đòi hỏi người dân phải có lòng tin đối với Đảng.
Để xây dựng lòng tin chính trị đối với người dân, bên cạnh công tác tuyên truyền,
thuyết phục, thì việc phải hoàn thiện các thể chế của nhà nước pháp quyền, trong đó nhấn
mạnh tinh thần thượng tôn pháp luật là hết sức cần thiết. Cần áp dụng nguyên tắc công
khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình trong các hoạt động của bộ máy nhà nước; kiểm
soát tình trạng tham nhũng, lạm quyền. Đây là tiền đề của việc xây dựng lòng tin trong xã hội.
Xây dựng cơ chế nuôi dưỡng lòng tin giữa Đảng với dân, đồng thời đẩy lùi sự suy
thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên; khắc phục tâm trạng
hoài nghi trong xã hội; tôn trọng và đề cao lương tâm và tinh thần tự quản, tự chịu trách
nhiệm của mỗi cá nhân cán bộ, đảng viên.
Mặt khác, Đảng phải tăng cường gắn bó mật thiết với nhân dân, tổng hợp được các
nhu cầu, mong đợi và các búc xúc của nhân dân và chuyển hóa thành các đề xuất chính
sách cụ thể. Điều đó đảm bảo Đảng sẽ thực sự là vì nhân dân, đại diện cho lợi ích của nhân
dân. Ngoài lợi ích của nhân dân và của dân tộc, Đảng không có lợi ích nào khác. Lòng tin
của nhân dân đối với Đảng là một trong những tiền đề quan trọng để Đảng tiếp tục giữ
vững vai trò lãnh đạo của mình.
Việc áp dụng đồng bộ các biện pháp nêu trên sẽ góp phần tạo ra những chuyển biến
tích cực trong cuộc đấu tranh chống lại sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống,
những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Đây là chủ trương đúng đắn
nhằm củng cố lòng tin của nhân dân đối với Đảng.
C. CHỦ ĐỀ THẢO LUẬN
1. Phân biệt khái niệm văn hóa và văn hóa chính trị?
2. Tại sao nói hệ tư tưởng chính trị là cốt lõi của văn hóa chính trị?
3. Phân tích các yếu tố tác động đến quá trình hình thành văn hóa chính trị của công dân?
D. CÂU HỎI ÔN TẬP
1. Phân tích nội hàm của khái niệm văn hóa chính trị?
2. Phân tích cấu trúc và chức năng của văn hóa chính trị?
3. Phân tích vai trò của các nhân tố trong quá trình xã hội hóa chính trị?
4. Phân tích các giá trị đặc trưng,các vấn đề đặt ra đối với văn hóa chính trị Việt Nam
hiện nay và các định hướng giải pháp xây dựng văn hóa chính trị Việt Nam trong thời gian tới?
E. TÀI LIỆU HỌC TẬP
* Tài liệu bắt buộc
1. Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh: Giáo trình Cao cấp lý luận chính trị:
Chính trị học, Nxb.Lý luận chính trị, H.2018.
2.Nguyễn Văn Huyên, Nguyễn Hoài Văn, Nguyễn Văn Vĩnh: Bước đầu tìm hiểu
những giá trị văn hóa chính trị truyền thống Việt Nam, Nxb.Chính trị quốc gia, H.2009.
* Tài liệu đọc thêm
1. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII (tập I
và II), Nxb.Chính trị quốc gia, H.2021.
2. Đảng Cộng sản Việt Nam: Nghị quyết Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần
thứ chín, khóa XI về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu
phát triển bền vững đất nước, Nxb.Chính trị quốc gia, H.2014.
3. Ngô Đức Thịnh (Chủ biên): Giá trị văn hóa Việt Nam Truyền thống và biến đổi,
Nxb.Chính trị quốc gia, H.2014.