



















Preview text:
BÀI 3 VĂN HOÁ CHÍNH TRỊ A. MỤC TIÊU
Về kiến thức: Cung cấp cho học viên những nội dung cơ bản về văn hóa chính trị, bao
gồm: khái niệm, cấu trúc, chức năng, cách phân loại văn hóa chính trị; đặc điểm và những
vấn đề đặt ra đối với văn hóa chính trị Việt Nam hiện nay và một số giải pháp nâng cao
văn hóa chính trị trong thời gian tới.
Về kỹ năng:Giúp học viên xây dựng kỹ năng khi phân tích sự tác động của văn hóa
chính trị đến hành vi cá nhân, nhóm trong những tình huống cụ thể.
Về tư tưởng: Giúp học viên nhận thức được vai trò của văn hóa chính trị trong đời
sống chính trị, sự ảnh hưởng của nó đối với hành vi của từng cá nhân, từng nhóm xã hội
khi các chủ thể này tham gia vào đời sống chính trị; qua đó giúp họ ý thức được bổn phận
và trách nhiệm của mình trong việc thúc đẩy những giá trị dân chủ và tiến bộ trong chính trị. B. NỘI DUNG
3.1. CÁC VẤN ĐỀ CHUNG VỀ VĂN HÓA CHÍNH TRỊ
3.1.1. Khái niệm văn hóa và văn hóa chính trị
Văn hóa chính trị là một bộ phận, một phương diện của văn hóa nói chung. Để hiểu
biết sâu sắc về văn hóa chính trị, cần thiết phải làm rõ khái niệm văn hóa.
3.1.1.1. Khái niệm văn hóa
Cho đến nay, đã có rất nhiều định nghĩa khác nhau về văn hóa, cho thấy sự phức tạp và
đa dạng của đối tượng nghiên cứu. Mỗi người nghiên cứu, từ mục đích và cách tiếp cận của
mình, có thể đưa ra quan niệm riêng về văn hóa. Do vậy, các định nghĩa về văn hóa thường có
xu hướng nghiêng về một khía cạnh nào đó và bỏ qua các khía cạnh khác. Nói cách khác, một
trong những lý do dẫn đến sự khác biệt trong cách định nghĩa về văn hóa chính là cách tiếp
cận của các trường phái, các lý thuyết khác nhau.
Văn hóa có thể được hiểu theo một số cách cơ bản sau:
Thứ nhất, văn hóa là toàn bộ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo
ra. Theo cách hiểu này, tất cả những gì không có sẵn trong tự nhiên là kết quả của sự sáng
tạo của con người, đều được coi là một sản phẩm văn hóa. Nó bao gồm cả hai khía cạnh:
khía cạnh tinh thần của xã hội như ngôn ngữ, tư tưởng, giá trị và các khía cạnh vật chất
như nhà cửa, quần áo, các phương tiện,...
Hồ Chí Minh đã từng đưa ra cách hiểu về văn hóa theo nghĩa này như sau: “Vì lẽ sinh
tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ,
chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho
sinh hoạt hàng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo
và phát minh đó tức là văn hóa”1.
Thứ hai, văn hóa là toàn bộ tri thức, hiểu biết của con người về thế giới khách quan. Cách
hiểu này đồng nhất văn hóa với sự hiểu biết, với trình độ học vấn của con người.
1 Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, H.2011, t.3, trang.458.
Thứ ba, văn hóa là hệ thống các giá trị, niềm tin và các dạng thức hành vi được các
thành viên trong một cộng đồng chia sẻ. Theo cách hiểu này, văn hóa là cái định hướng
cho các lựa chọn, cách suy nghĩ, hành xử của các thành viên trong cộng đồng theo một
chuẩn mực đã được cộng đồng chấp nhận.
Nói tới khái niệm văn hóa phải nhấn mạnh hai đặc trưng cơ bản:
- Tính tập thể, tính nhóm: Văn hóa không phải là sản phẩm của từng cá nhân riêng lẻ
(đối với cá nhân, người ta gọi là nhân cách, phong cách), mà nó là sản phẩm của một nhóm,
một tập thể, một cộng đồng.
- Tính ổn định: Nói tới văn hóa là nói tới các giá trị đã tồn tại trong một thời gian
tương đối dài, đã được xác lập tương đối ổn định, chứ không phải là những cái có ý nghĩa
nhất thời, hoặc đang trong quá trình định hình. Văn hóa vì thế được xem là “mẫu gen”, là
bản sắc, là tính cách của một cộng đồng, một dân tộc, một quốc gia. Nó là cái để phân biệt
cộng đồng này với cộng đồng khác, dân tộc này với dân tộc khác. Do đó, để xây dựng,
hoặc thay đổi các giá trị văn hóa cần phải có thời gian, thông qua các biện pháp mang tính hệ thống, đồng bộ.
3.1.1.2. Khái niệm văn hóa chính trị
Trong nghiên cứu về văn hóa chính trị hiện có nhiều cách tiếp cận khác nhau, do đó,
tùy thuộc vào mục tiêu nghiên cứu, người ta có thể đưa ra các khái niệm khác nhau. Trong
phần này sẽ đề cập đến một số cách hiểu văn hóa chính trị cơ bản hiện nay như sau:
- Văn hóa chính trị là toàn bộ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo
ra trong hoạt động chính trị. Nó có thể bao gồm lĩnh vực tư tưởng chính trị, các lý tưởng
và niềm tin chính trị, hệ thống các thể chế và thiết chế chính trị...v.v.
- Văn hóa chính trị là sự hiểu biết của con người về đời sống chính trị, là những kinh
nghiệm mà các chủ thể chính trị có được trong quá trình tham gia vào đời sống chính trị.
Trong bài này, văn hóa chính trị được hiểu như sau: Văn hóa chính trị là hệ thống
các giá trị, chuẩn mực được hình thành trong thực tiễn chính trị, được cộng đồng chia sẻ
và nó có thể chi phối, định hướng hoạt động của các cá nhân và tổ chức khi các chủ thể
này tham gia vào đời sống chính trị.
3.1.2. Các thành tố và biểu hiện của văn hóa chính trị
3.1.2.1. Các thành tố của văn hóa chính trị
Tùy thuộc vào cách tiếp cận, định nghĩa về văn hóa chính trị mà người ta xác định
các thành tố của văn hóa chính trị sẽ khác nhau.
Trong bài này, các thành tố của văn hóa chính trị được xác định gồm các yếu tố sau:
- Tri thức chính trị: Đây là yếu tố thẩm thấu, bao trùm lên tất cả các thành tố của văn
hóa chính trị. Tri thức chính trị là sự thống nhất hữu cơ giữa tri thức lý luận chính trị với
tri thức kinh nghiệm chính trị. Tri thức lý luận càng đạt tới tính khoa học, khách quan thì
càng có tầm quan trọng to lớn. Tri thức kinh nghiệm gồm những tri thức được tổ chức,
cộng đồng đúc rút từ trong lịch sử và những kinh nghiệm được tích lũy từ chính hoạt động
chính trị của các chủ thể. Xét về bản chất và xu hướng, thì tri thức lý luận có vị trí đặc biệt
quan trọng, vì từ những kinh nghiệm chính trị thực tiễn, có thể khái quát thành những vấn
đề mang tính lý luận, vạch ra được bản chất và các quy luật của đời sống chính trị.
Chỉ những tổ chức, chủ thể chính trị nào nắm bắt được lý luận tiên tiến của thời đại
và vận dụng lý luận đó một cách sáng tạo vào điều kiện cụ thể của tổ chức mình, đất nước
mình, thì tổ chức đó, chủ thể đó mới có thể đóng vai trò là đội tiên phong chính trị của giai
cấp, của dân tộc. Trong đời sống chính trị, tri thức chính trị đóng vai trò đặc biệt quan
trọng. Đây chính là cơ sở để nhận thức và lựa chọn các mục tiêu chính trị, cũng như các
cách thức và con đường đi đến mục tiêu.
- Hệ tư tưởng chính trị
Hệ tư tưởng chính trị là một hệ thống các tư tưởng tạo thành các mục tiêu, đường lối,
chiến lược, sách lược chính trị của một chủ thể. Nó cũng là một tầm nhìn toàn diện, một
cách thức nhìn nhận sự vật do các giai cấp trong xã hội đưa ra.
Theo C.Mác, trong một xã hội, hệ tư tưởng thống trị xã hội bao giờ cũng là hệ tư
tưởng của giai cấp cầm quyền. Hệ tư tưởng chính trị phản ánh khái quát lợi ích của giai
cấp cũng như phương thức, con đường để hiện thực hóa lợi ích của mỗi giai cấp. Giai cấp
nào cầm quyền thì hệ tư tưởng của giai cấp đó sẽ được truyền bá trong xã hội, trở thành hệ tư tưởng chính thống.
Trong tác phẩm Hệ tư tưởng Đức (1846), C.Mác và Ănghen đã chỉ rõ: “Hệ tư tưởng
của giai cấp thống trị chính là tư tưởng thống trị, giai cấp giữ địa vị thống trị về lực lượng
sản xuất của xã hội sẽ giữ địa vị thống trị về mặt tinh thần”. Theo quan điểm của các ông,
tư tưởng và văn hoá là một phần của kiến trúc thượng tầng xã hội. Nó được quyết định bởi
cơ sở kinh tế, phương thức sản xuất của xã hội.
Tư tưởng này đã đem lại cho C.Mác hai góc nhìn khác nhau về văn hoá:
Thứ nhất, C.Mác cho rằng, văn hoá mang tính giai cấp. Khi các thành viên của một
giai cấp chia sẻ với nhau các kinh nghiệm chính trị, có lợi ích kinh tế chung, họ sẽ có sự
tương đồng về các tư tưởng, giá trị và niềm tin.
Thứ hai, C.Mác nhấn mạnh yếu tố hệ tư tưởng của giai cấp thống trị có tác động lan
toả trong xã hội và trở thành hệ tư tưởng thống trị của thời đại. Trong quan điểm này, văn
hoá chính trị, hoặc ngay cả văn hóa công dân, trong xã hội tư sản không có gì khác hơn
chính là sự thể hiện hệ tư tưởng của giai cấp tư sản.
Trong cách tiếp cận mácxít, hệ tư tưởng là hạt nhân của văn hóa chính trị. Thông qua
công tác tư tưởng và bộ máy tuyên truyền, giai cấp thống trị sẽ truyền bá cho người dân
các giá trị mà họ tin tưởng, từ đó giúp người dân nhận thức được sự đúng đắn của các giá
trị mà giai cấp cầm quyền đang theo đuổi.
- Các giá trị và chuẩn mực chính trị
Giá trị là những điều được tin là đúng đắn, có ý nghĩa, được cộng đồng thừa nhận và
chia sẻ một cách rộng rãi. Các giá trị chính là những niềm tin được chia sẻ giữa các thành
viên trong một cộng đồng, một xã hội về những gì được cho là đúng đắn, là tốt đẹp; điều
gì nên tìm kiếm và điều gì nên tránh.
Các giá trị chính trị thường mang tính chủ quan, được tiếp nhận từ truyền thống, hoặc
được định hình thông qua thực tiễn chính trị. Các giá trị có tính ổn định và bền vững, có ý
nghĩa chi phối hành vi của các cá nhân, các nhóm trong cộng đồng.
Các giá trị chính trị là cơ sở để định hình các mẫu hình văn hóa lý tưởng, những dạng
thức hành vi mà một xã hội mong muốn. Nhưng các giá trị chính trị chưa chỉ ra cho mọi
người biết phải hành động như thế nào trong mỗi tình huống cụ thể. Chính chuẩn mực
chính trị mới thực hiện chức năng đó. Vì giá trị và chuẩn mực hay đi liền với nhau nên
người ta thường nói liền mạch là hệ giá trị và chuẩn mực.2
Chuẩn mực chính trị là hệ thống các quy định cụ thể về phương thức hành xử trong
thực tiễn hoạt động chính trị. Trong mối tương quan giữa giá trị và chuẩn mực thì chuẩn
mực bị quy định bởi các giá trị. Nói cách khác, các giá trị chính trị được “phiên dịch” thành
các chuẩn mực (quy tắc) chính trị nhằm hướng dẫn hành động cho mọi người. Sự phân biệt
giữa giá trị và chuẩn mực thường mang tính quy ước, đôi khi chúng chuyển hóa lẫn nhau.
Có thể có chuẩn mực chính thức và chuẩn mực phi chính thức. Chuẩn mực chính thức
là những quy tắc được viết thành văn, chẳng hạn như các quy định của pháp luật mà các
công dân phải tuân thủ. Các chuẩn mực chính thức thường được công bố một cách rõ ràng và cụ thể.
Bên cạnh các chuẩn mực chính thức còn có các chuẩn mực phi chính thức. Dù mức
độ quan trọng thấp hơn, nhưng nó vẫn chi phối hành vi của từng thành viên trong xã hội.
Các chuẩn mực chính trị phi chính thức gồm: các tập quán, truyền thống chính trị được lưu truyền theo thời gian.
3.1.2.2.Các biểu hiện của văn hóa chính trị
Như đã phân tích, văn hóa chính trị là hệ thống các giá trị được một tổ chức, cộng
đồng chia sẻ. Các giá trị chính trị thường là những khái niệm tương đối trừu tượng. Các
giá trị không chỉ được thẩm thấu trong tư tưởng, nhận thức của con người, mà còn được
biểu hiện thông qua hành vi, thông qua các nghi thức và truyền thống chính trị, các biểu
tượng chính trị, các truyền thuyết và nhân vật anh hùng. - Hành vi chính trị
Hành vi chính trị thể hiện trong hoạt động, qua hoạt động chính trị. Hành vi chính trị
là hành động, việc làm, là sự giao tiếp, ứng xử của con người trong quá trình tham gia vào
đời sống chính trị. Hành vi chính trị của các cá nhân thường bị chi phối bởi các giá trị và
chuẩn mực mà mỗi cá nhân theo đuổi. Hành vi là biểu hiện ra bên ngoài của các giá trị ngầm ẩn bên trong.
- Các nghi thức và truyền thống chính trị
Các nghi thức, truyền thống chính trị là các yếu tố hữu hình của văn hóa chính trị,
là một phần của bản sắc văn hóa quốc gia. Nghi thức chào cờ và hát quốc ca tại một sự
kiện thể thao hay trong ngày khai trường… là những hành động được người dân thường
xuyên thực hiện. Việc Chủ tịch nước đọc lời chúc Tết trong thời khắc giao thừa ở Việt
Nam, hay thủ tục đọc lời tuyên thệ trong lễ nhậm chức được áp dụng ở nhiều quốc gia …
là những nghi thức chính trị khá quen thuộc.
Các truyền thống chính trị là những tập quán, các lễ hội truyền thống được truyền
từ đời này qua đời khác. Ở Việt Nam, các lễ hội đền Hùng, lễ hội đền Gióng, các sự kiện
được tổ chức trong các ngày lễ lớn của đất nước như các cuộc mít tinh, diễu binh, diễu
hành... là những biểu hiện của các truyền thống chính trị.
- Các biểu tượng chính trị
2 Xem Ngô Đức Thịnh (Chủ biên): Giá trị văn hóa Việt Nam - Truyền thống và biến đổi, Nxb.Chính trị quốc gia, H.2014, tr.65.
Biểu tượng chính trị là những cái chứa đựng các ý nghĩa, các giá trị nhất định. Nói
cách khác, những gì chứa đựng giá trị thì mới có thể trở thành biểu tượng vân hóa. Biểu
tượng có thể là những vật thể, hình khối, sắc màu, ký hiệu, ký tự, nhưng nó cũng có thể là
những cái vô hình,… đại diện cho một quốc gia, một dân tộc, cộng đồng, tổ chức hoặc một
đảng phái. Mỗi biểu tượng chuyển tải một ý nghĩa, một thông điệp chính trị. Các biểu tượng
có thể giúp hiểu được lịch sử của một quốc gia. Chẳng hạn, lá cờ thường tượng trưng cho
tinh thần đấu tranh vì tự do, dân chủ, hoặc các giá trị của một quốc gia, dân tộc. Một số biểu
tượng đại diện cho các tôn giáo cũng đồng thời là những biểu tượng chính trị: cây thánh giá
biểu tượng cho Thiên Chúa giáo, ngôi sao David đại diện cho Do Thái giáo, và hình trăng
lưỡi liềm đại diện cho Hồi giáo.
- Các truyền thuyết, danh nhân văn hóa và các nhân vật anh hùng
Các truyền thuyết chính trị là những câu chuyện về lịch sử, về con người được người
dân truyền từ đời này qua đời khác. Các truyền thuyết có thể chứa đựng những nội dung
có thật, được cường điệu hóa; nhưng cũng có thể là những câu chuyện mang tính hư cấu
nhằm chuyển tải các thông điệp, các giá trị của cộng đồng. Chuyện Âu Cơ và Lạc Long
Quân với cái bọc trăm trứng là thông điệp kêu gọi sự đoàn kết dân tộc. Sự tích hồ Hoàn
Kiếm là thông điệp của hòa bình…
Các danh nhân văn hóa, xét về bản chất, chính là hiện thân, là sự kết tinh văn hóa của
một cộng đồng, một dân tộc. Các danh nhân văn hóa đại diện cho văn hóa của dân tộc trong
mỗi thời kỳ nhất định, chẳng hạn như Nguyễn Trãi ở thế kỷ XV, Nguyễn Du ở thế kỷ
XVIII, và Hồ Chí Minh ở thế kỷ XX. Ngoài sự thể hiện tầm cao trí tuệ như học vấn, trước
tác, thì đạo đức, hành vi ứng xử, hoạt động xã hội của họ là chuẩn mực, là tấm gương cho mọi người noi theo.
Các nhân vật anh hùng cũng là hiện thân của các phẩm chất và tính cách mà một
quốc gia tự hào. Văn hóa chính trị của một quốc gia một phần được định vị bởi các nhân
vật anh hùng - những người đại diện cho cái tốt đẹp, đáng tự hòa nhất của một quốc gia
trong mỗi giai đoạn lịch sử. Theo truyền thống, các anh hùng là những người có công với
đất nước, được người dân kính trọng, tôn thờ do những phẩm chất cá nhân như: dũng cảm,
tài năng, có khả năng lãnh đạo, sẵn sàng hy sinh vì cộng đồng, vì đất nước… Các nhân vật
anh hùng là những cá nhân tiêu biểu cho thời đại mà họ sống. Nhắc đến các anh hùng, ở
Việt Nam phải kể đến các danh tướng như: Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, Quang Trung...
Những thay đổi trong nhận thức của người dân về các đặc trưng phẩm chất và tính cách
của các anh hùng (người hùng) phản ánh sự thay đổi trong các giá trị văn hóa của một quốc
gia. Trước đây, người hùng của một quốc gia chủ yếu là các anh hùng giải phóng dân tộc,
các danh nhân văn hóa, thì ngày nay, người hùng có thể xuất hiện trên nhiều lĩnh vực khác
nhau của đời sống xã hội. Họ có thể là các nhà khoa học có nhiều đóng góp cho quốc gia,
cho nhân loại, các doanh nhân thành đạt, các nhà chính trị có những đóng góp nổi bật cho quốc gia.
3.1.3. Chức năng của văn hóa chính trị
Trong đời sống xã hội, văn hóa chính trị thực hiện một số chức năng cơ bản sau:
- Giáo dục chính trị: Thông qua quá trình xã hội hóa chính trị, văn hóa chính trị trang
bị cho công dân những tri thức, năng lực cần thiết cho hoạt động chính trị, giúp họ hiểu
biết về phương thức tổ chức và vận hành của hệ thống chính trị, qua đó mỗi cá nhân ý thức
rõ hơn vai trò cũng như nghĩa vụ và bổn phận của mình trong đời sống chính trị.
Không chỉ giúp trang bị cho công dân những giá trị truyền thống đã tương đối ổn
định, văn hóa chính trị còn góp phần bồi đắp cho các cá nhân những giá trị chính trị đang
hình thành. Các giá trị này tạo thành một hệ thống chuẩn mực mà con người hướng tới.
- Giao tiếp và liên kết cộng đồng: Văn hóa chính trị giúp gìn giữ và trao truyền các
giá trị chính trị từ các thế hệ đi trước cho thế hệ sau, kết nối giữa quá khứ với hiện tại, duy
trì và củng cố bản sắc chính trị của các cộng đồng, dân tộc.
Văn hóa chính trị cũng là cơ sở để liên kết các công dân trong xã hội với nhau. Trong
một cộng đồng, khi người dân có sự chia sẻ về niềm tin và giá trị, trong đó có các niềm tin
và giá trị chính trị, thì một cách tự nhiên, họ đã trở thành một khối thống nhất. Chính các
niềm tin và giá trị được chia sẻ là chất keo dính kết các thành viên trong cộng đồng với
nhau, góp phần định hình sự cố kết xã hội.
- Định hướng và điều chỉnh hành vi:
Yếu tố cốt lõi định hướng cho đời sống chính trị của mỗi thời kỳ lịch sử là hệ tư tưởng
thống trị, hệ thống các giá trị chính trị của thời kỳ đó. Hệ tư tưởng có thể đóng vai trò định
hướng cho cả một dân tộc, một quốc gia trong một giai đoạn nhất định của lịch sử. Nếu hệ
tư tưởng mang tính khoa học và cách mạng, thì các chủ thể chính trị sẽ tạo ra được các giá
trị chính trị hướng sự phát triển của xã hội theo chiều hướng tiến bộ. Lúc đó, văn hóa chính
trị thực hiện chức năng “soi đường cho quốc dân đi”; ngược lại, sự lựa chọn hệ tư tưởng
không phù hợp có thể sẽ kìm hãm sự phát triển của xã hội.
Văn hóa chính trị là môi trường trong đó các hoạt động chính trị diễn ra. Khi là thành
viên của một tổ chức, của một cộng đồng, các cá nhân luôn có xu hướng điều chỉnh hành
vi của mình cho phù hợp với các giá trị, chuẩn mực của tổ chức, của cộng đồng đó. Các
niềm tin, giá trị chính trị được cộng đồng chia sẻ sẽ trở thành yếu tố quan trọng để các
thành viên cộng đồng cân nhắc trước khi đưa ra các quyết định, các hành động chính trị.
- Dự báo hành vi chính trị: Từ nghiên cứu văn hóa chính trị của một cộng đồng, một
quốc gia, trên cơ sở nắm bắt được “gen” di truyền của cộng đồng đó, người ta có thể dự báo
hành vi của các nhà chính trị của cộng đồng trong những tình huống cụ thể. Bởi vì, văn hóa
chính trị là những khuôn mẫu, dạng thức hành vi của một cộng đồng được lặp đi, lặp lại trong
lịch sử. Từ những gì cộng đồng đã thực hiện trong quá khứ, có thể dự báo được những hành
động mà cộng đồng đó có thể trong hiện tại và tương lai.
3.1.4. Phân loại văn hóa chính trị
Tùy thuộc vào mục đích nghiên cứu, người ta có thể đưa ra các tiêu chí khác nhau để
phân loại văn hóa chính trị. Có thể có mấy cách phân loại sau:
3.1.4.1. Phân loại dựa trên yếu tố hệ tư tưởng
Từ góc độ hệ tư tưởng, có thể chia văn hóa chính trị thành hai loại: văn hóa chính
trị xã hội chủ nghĩa và văn hóa chính trị tư bản chủ nghĩa:
- Văn hóa chính trị xã hội chủ nghĩa: là văn hóa chính trị ở các quốc gia có nền chính
trị được xây dựng dựa trên nền tảng tư tưởng của chủ nghĩa Mác - Lênin. Văn hóa chính
trị xã hội chủ nghĩa đề cao các giá trị như: tính cộng đồng, sự hợp tác xã hội, và sự bình
đẳng. Từ các giá trị này, lý tưởng mà các quốc gia theo định hướng xã hội chủ nghĩa hướng
tới là xây dựng một xã hội không còn chế độ người bóc lột người, không còn áp bức, bất bình đẳng xã hội.
- Văn hóa chính trị tư bản chủ nghĩa: là văn hóa chính trị ở các quốc gia có nền chính
trị được xây dựng chủ yếu dựa trên nền tảng của chủ nghĩa tự do. Các giá trị chủ đạo mà
họ hướng tới là: chủ nghĩa cá nhân, tự do chính trị và sự cạnh tranh giữa các cá nhân, các nhóm trong xã hội.
3.1.4.2. Phân loại dựa theo cấp độ của chủ thể
- Văn hóa chính trị của quốc gia dân tộc: Ở mỗi quốc gia dân tộc, người dân có thể
có cùng cội nguồn lịch sử, cùng chia sẻ phương thức sống. Nói đến mỗi quốc gia, người ta
có thể kể ra những giá trị chính trị đặc trưng của quốc gia đó.
- Văn hóa chính trị của các tổ chức chính trị: Mỗi loại hình tổ chức chính trị cũng có
hệ thống giá trị riêng tùy thuộc vào tôn chỉ, mục đích, mô hình tổ chức và hoạt động. Các
giá trị được các thành viên trong tổ chức chia sẻ được gọi là văn hóa chính trị của tổ chức đó.
- Văn hóa chính trị của các nhóm, cộng đồng: Trong một quốc gia có thể có nhiều
nhóm khác nhau cùng chung sống. Các nhóm chủ yếu được xác định bởi các yếu tố như:
vùng miền, dân tộc, tôn giáo. Người dân ở các vùng miền khác nhau của một quốc gia, bên
cạnh những giá trị chung cùng chia sẻ với người dân cả nước, họ cũng có thể chia sẻ những
niềm tin, hay những giá trị riêng của vùng miền mình. Người dân thuộc về các dân tộc,
theo các tôn giáo khác nhau có thể cũng định hình các giá trị, niềm tin khác nhau đối với
nền chính trị của quốc gia mình, từ đó chi phối cách thức tham gia của họ vào đời sống chính trị.
- Văn hóa chính trị của các cá nhân: Văn hóa chính trị là hệ thống các giá trị, niềm
tin mang tính tập thể, tính nhóm. Tuy nhiên, các tập thể, các nhóm lại được hình thành bởi
các cá nhân. Văn hóa chỉ có thể được biểu hiện thông qua các cá nhân, được “hiện thân” ở
các cá nhân. Nhưng không phải tất cả các cá nhân đều là hiện thân của văn hóa chính trị.
Sự biểu hiện của văn hóa chính trị trong từng cá nhân có tính không đồng đều. Có những
cá nhân là kết tinh văn hóa chính trị do nhân cách chính trị, lý tưởng chính trị của họ có
ảnh hưởng lớn đến đời sống chính trị của một quốc gia, của cộng đồng. Nhưng cũng có
những cá nhân ít thấy, hoặc không thấy những biểu hiện của những giá trị chính trị chung mà cộng đồng chia sẻ.
3.1.4.3. Phân loại dựa trên thái độ của người dân đối với đời sống chính trị
Khi nghiên cứu sự tham gia của người dân, G.Almond và S.Verba3 đã chia văn hóa
chính trị thành ba loạidựa trên thái độ của họ đối với đời sống chính trị: văn hóa chính trị
tham gia, văn hóa chính trị tuân thủ và văn hóa chính trị thờ ơ.
- Văn hóa chính trị tham gia
Người dân sống trong nền văn hóa chính trị tham gia có một số đặc trưng nổi bật: Họ
tự hào về hệ thống chính trị của đất nước mình. Đặc biệt, khi tiếp xúc với người nước
ngoài, tranh luận về các vấn đề chính trị, họ tin rằng, đất nước họ có một nền chính trị tuyệt
3 Xem Gabriel Almond và Sidney Verba: The civic culture: Political Attitutes and Democracy in five nations,
Princeton University Press, 1963.
vời, thực sự dân chủ và công bằng. Từ sự tự tin đó, họ cảm thấy hãnh diện vì là công dân của đất nước mình.
Người dân trong nền văn hóa chính trị tham gia rất quan tâm tới chính trị, theo dõi
các sự kiện chính trị hàng ngày. Không những thế, bản thân họ cũng là những người tích
cực tham gia vào đời sống chính trị. Họ tham dự đầy đủ các cuộc họp của tổ dân phố, các
hoạt động của cộng đồng; tham gia vào các diễn đàn thảo luận về các vấn đề chính sách.
Họ cũng sẵn sàng ký đơn kiến nghị chính phủ về một vấn đề nào đó. Trong các cuộc bầu
cử, họ tích cực đi bầu và tin rằng lá phiếu của bản thân có thể ảnh hưởng đến kết quả bầu cử.
Do có hiểu biết về chính trị, nên nhìn chung người dân trong nền văn hóa chính trị
tham gia là thành viên tích cực của nhiều hội, nhóm xã hội. Họ tin rằng, mỗi loại hội, nhóm
sẽ là một kênh khác nhau để tác động vào đời sống cộng đồng. Do vậy, những nước có nền
văn hóa chính trị tham gia sẽ là mảnh đất tốt để nuôi dưỡng và duy trì nền dân chủ.
- Văn hóa chính trị tuân thủ
Trong nền văn hóa chính trị tuân thủ, người dân có một số điểm đặc trưng: Họ hiểu
về vai trò của mình trong đời sống chính trị, nhưng chỉ tham gia một cách thụ động. Họ
chủ yếu quan tâm đến các yếu tố “đầu ra” của hệ thống chính trị, đó là các quyết định,
chính sách, hơn là các yếu tố “đầu vào”.
Trong một cộng đồng, một quốc gia có văn hóa chính trị tuân thủ, người dân có
thể theo dõi các quá trình chính trị hàng ngày trên các phương tiện truyền thông đại
chúng, nhưng họ luôn tỏ thái độ không hài lòng. Họ thường chỉ trích các chính sách của
chính phủ, hoặc chê bai các nhà chính trị, nhưng không muốn tham gia vào các diễn
đàn, các tổ chức để bày tỏ thái độ của bản thân. Họ cũng là thành viên không thường
xuyên của các nhóm, hội khác nhau; có thể tham gia vào các hoạt động chính trị của
cộng đồng, có thể đi bỏ phiếu nhưng tỏ thái độ không mấy hào hứng.
Trong nền văn hóa chính trị tuân thủ, tính hiệu quả của nền dân chủ sẽ không cao,
vì đa số người dân chỉ là những người tuân theo mệnh lệnh, thụ động trông chờ vào các
quyết định của chính quyền.
- Văn hóa chính trị thờ ơ
Trong nền văn hóa này, người dân chỉ biết đến môi trường xung quanh mình và có
sự hiểu biết rất hạn chế về chính trị. Họ không quan tâm đến chính trị, hoặc không có khả
năng tham gia vào đời sống chính trị. Dù sống trong chế độ nào thì những người này đều
có cảm giác không có quyền lực trong thể chế hiện tồn. Họ tin rằng, tiếng nói của bản thân
không có ý nghĩa đối với các quyết định chính trị của quốc gia. Do vậy, họ thường từ chối
tham gia vào các hoạt động chính trị của cộng đồng như: bầu cử, tranh luận các vấn đề chính sách...
Với những đặc trưng kể trên, để xây dựng một nền dân chủ trong môi trường này
là rất khó khăn, vì hầu hết người dân là những người thiếu kiến thức chính trị, hoặc
không quan tâm đến chính trị. Thực tế này đòi hỏi phải xây dựng một ý thức công dân
mới cho người dân để phát huy tính trách nhiệm và sự tham gia của các cá nhân vào đời sống cộng đồng.
Trên thực tế, không có quốc gia nào chỉ tồn tại thuần túy một mẫu hình văn hóa chính
trị duy nhất, mà thường là sự pha trộn ở mức độ khác nhau của cả ba loại văn hóa chính trị kể trên.
3.1.5. Xã hội hóa chính trị và các chủ thể của quá trình xã hội hóa chính trị
3.1.5.1. Xã hội hóa chính trị
Trong cuộc sống hàng ngày, mỗi người định hình các quan điểm, niềm tin và giá trị
chính trị thông qua quá trình học hỏi, quan sát, lắng nghe và bắt chước từ người khác. Sự
học hỏi đó có thể bắt đầu từ gia đình, nhà trường, bạn bè và những người mà họ kính trọng.
Đó chính là quá trình xã hội hóa chính trị.
Xã hội hóa chính trị là quá trình các cá nhân học hỏi, tiếp nhận các giá trị, chuẩn mực
và hành vi được hệ thống chính trị chấp nhận và thực hành. Bản chất của quá trình xã hội
hóa chính trị là quá trình học và dạy, quá trình các cá nhân học hỏi các giá trị và chuẩn
mực của các nhóm, và cũng là quá trình các nhóm truyền dạy các giá trị của mình tới các cá nhân.
Mục đích của xã hội hóa chính trị là đào tạo, phát triển các cá nhân trở thành các
thành viên tích cực của xã hội chính trị. Đó là những con người chấp nhận các chuẩn mực
chính trị của xã hội và sau đó, đến lượt mình, họ sẽ truyền dạy các giá trị này cho các thế hệ tiếp theo.
Trong quá trình xã hội hóa chính trị, người dân cũng được dạy cách tham gia vào đời
sống chính trị, phân biệt những hành vi được phép và hành vi không được phép, cách thức
để gây ảnh hưởng đến các nhà chính trị, đến nhà nước. Xã hội hóa chính trị thực hiện một
số chức năng đối với cá nhân và toàn bộ hệ thống chính trị nói chung:
- Đào tạo các cá nhân: Xã hội hóa chính trị làm cho mỗi cá nhân thấm nhuần các giá
trị của hệ thống chính trị. Nó cho phép các cá nhân gắn kết với hệ thống, đặt ra những yêu
cầu đối với nhà nước và dự đoán được hành vi của các công dân khác. Thông qua quá trình
xã hội hóa chính trị của một cá nhân, có thể dự đoán được mức độ tuân thủ luật pháp, mức
độ tham gia của họ vào các hoạt động chính trị như: bầu cử, thảo luận về các vấn đề chính
sách, hoặc tham gia vào các tổ chức chính trị.
- Ủng hộ cho hệ thống chính trị: Xã hội hóa chính trị giúp duy trì sự ổn định và tính
chính đáng của hệ thống chính trị bằng cách giáo dục các công dân phải tuân thủ các quy
định, luật lệ của nhà nước và thực hiện vai trò, trách nhiệm công dân của mình. Nó cũng
trang bị cho công dân các kiến thức về đời sống chính trị quốc gia, về thẩm quyền của từng
chủ thể quyền lực trong xã hội cũng như quyền và nghĩa vụ của công dân.
3.1.5.2. Các chủ thể của quá trình xã hội hóa chính trị
Tham gia vào quá trình xã hội hóa chính trị có rất nhiều chủ thể khác nhau, dưới
đây là một số chủ thể chính: a) Gia đình
Trong suốt hàng ngàn năm, các nhà khoa học chính trị đã coi gia đình là “những lò
ấp trứng” để cho ra đời những con người chính trị. Gia đình là nơi giáo dục chính trị đầu
tiên và lâu dài nhất. Gia đình trang bị cho trẻ em các thông tin, các giá trị và chuẩn mực và
chúng khắc sâu trong ký ức của trẻ em.
Việc học hỏi những vấn đề liên quan đến chính trị đầu tiên diễn ra trong các gia đình.
Phần lớn quá trình này diễn ra một cách không chính thức.
Gia đình là nơi cung cấp mọi thứ cho trẻ em để chúng có thể tồn tại và phát triển - từ
thức ăn, chỗ ở, sự yêu thương cho đến các tương tác xã hội. Tuy nhiên, gia đình cũng định vị
cho trẻ em một chỗ đứng về giai cấp, dân tộc, tôn giáo - những yếu tố ảnh hưởng quan trọng
đến niềm tin và hoạt động chính trị của con người trong mọi xã hội. Vì lý do này, gia đình tác
động mạnh mẽ đến sự phát triển nhân cách của trẻ em. Khả năng hợp tác với các thành viên
khác trong xã hội, lòng tin đối với con người cũng được định hình và phát triển từ gia đình.
Các ý tưởng và các giá trị liên quan đến chính trị, chẳng hạn như thái độ đối với quyền lực, sự
tuân thủ pháp luật, cũng được truyền dạy từ gia đình. Các đặc trưng của từng gia đình như tính
gia trưởng, hay tính thứ bậc có thể cũng ảnh hưởng đến các cá nhân khi họ trưởng thành.
Các nghiên cứu chỉ ra rằng, những gia đình khuyến khích con cái tham gia vào các
quyết định của gia đình cũng tạo tiền đề để những đứa trẻ này tham gia vào đời sống chính
trị khi chúng đã trưởng thành. Trẻ em được sinh ra trong các gia đình có cha mẹ tham gia
tích cực vào đời sống chính trị, hoặc có địa vị kinh tế - xã hội cao cũng thường có xu hướng
tham gia tích cực vào đời sống chính trị khi trưởng thành. Trẻ em sinh ra trong những gia
đình có cha mẹ tẩy chay chính trị, hoặc hiếm khi tham gia thảo luận về các vấn đề chính
trị, cũng ít được khuyến khích tham gia vào các sự kiện này. Khi lớn lên, chúng có xu
hướng thờ ơ với chính trị.
Gia đình có một tác động đáng kể đến quan điểm của các thành viên về các vấn đề
chính trị cụ thể nào đó. Tình yêu Tổ quốc, các quan điểm về vấn đề chủng tộc, dân tộc, đảng
phái... cũng được định hình từ trong gia đình. Ở những nước có hệ thống đa đảng tương đối
ổn định, thông thường bố mẹ ủng hộ đảng nào, thì con cái họ cũng sẽ ủng hộ đảng đó khi chúng trưởng thành. b) Trường học
Xã hội hóa chính trị tại các trường học là một quá trình chính thức và có ý thức.
Trường học là một công cụ xã hội để chuyển tải các giá trị và chuẩn mực xã hội đến với
thế hệ trẻ. Các nghiên cứu cho thấy, mặc dù có thể tác động không trực tiếp đến thái độ
chính trị của người trưởng thành, nhưng trình độ học vấn của một người có mối tương quan
chặt chẽ với thái độ, với mức độ tham gia của họ vào đời sống chính trị. Chẳng hạn, những
người có học vấn cao hơn thường có nhận thức rõ ràng hơn về các vấn đề chính trị; quan
tâm đến chính trị nhiều hơn, tích cực hơn trong các cuộc thảo luận chính trị. Một người
có học vấn cao thường có cảm giác trách nhiệm mạnh mẽ hơn đối với cộng đồng mà
họ đang sống và biết cách để tác động đến chính phủ hiệu quả hơn so với những người có học vấn thấp.
Trường học có mức độ ảnh hưởng lớn hơn nhiều so với gia đình. Trường học có thể
giúp cho học sinh vượt qua những khác biệt về vị thế xã hội bằng cách trang bị cho học
sinh những giá trị, chuẩn mực hành vi chung của công dân, cũng như những kiến thức căn
bản về cách thức tổ chức và vận hành của hệ thống chính trị.
Bên cạnh đó, xã hội hóa tình yêu đối với quê hương, đất nước cũng là một chức
năng vô cùng quan trọng của trường học. Các trường học thường có các chương trình
giảng dạy nhằm tạo ra sự gắn kết của trẻ em đối với đất nước, đặc biệt là ở những lớp đầu
tiên. Trường học thực hiện điều này thông qua các nghi thức như: chào cờ, hát quốc ca
và các bài hát thể hiện tình yêu đối với quê hương, đất nước, những câu truyện về lòng
trung thành đối với Tổ quốc, về các nhân vật anh hùng, các địa danh lịch sử gắn với sự
hình thành quốc gia, dân tộc.
Trường học cũng đặt trẻ em vào một môi trường để chúng có thể nhận thức được
mối quan hệ, sự phụ thuộc và trách nhiệm của chúng đối với xã hội và hệ thống chính trị.
Với cách làm như vậy, trường học thực hiện việc truyền dạy cho trẻ em tình yêu Tổ quốc
và trách nhiệm công dân.
c) Các nhóm đồng đẳng
Nhóm đồng đẳng là những nhóm người có địa vị xã hội tương đương nhau và thường
là có lợi ích giống nhau. Họ là những người có quan hệ cá nhân gần gũi, có sự hiểu biết và
tôn trọng lẫn nhau. Chẳng hạn, đó là những người bạn thân, các đồng nghiệp, những người
hàng xóm, những thành viên cùng sinh hoạt trong các tổ chức, các câu lạc bộ.
Một cách không chính thức, cả người lớn và trẻ em đều học hỏi rất nhiều từ những
người cùng nhóm kể trên. Thông qua sự tương tác một cách thường xuyên, mỗi người lại
học hỏi các giá trị, thái độ và hành vi từ những người khác. Các nhóm đồng đẳng giúp con
người phát triển sự cảm nhận về các giá trị chung. Đây là một nhân tố quan trọng trong
việc định hình nhân cách của mỗi cá nhân. Khi một người tham gia vào một nhóm nào đó,
họ thường có xu hướng học hỏi các giá trị của nhóm và điều chỉnh hành vi của mình cho
phù hợp với hành vi của nhóm. Những giao tiếp của nhóm đồng đẳng đặc biệt quan trọng
khi có sự xung đột thế hệ trong một gia đình.
Về mặt chính trị, những giao tiếp của nhóm đồng đẳng có vai trò quan trọng nếu các
nhóm ủng hộ các giá trị chính trị đang giữ vị trí thống trị trong xã hội.
Sự ảnh hưởng của các nhóm đồng đẳng có xu hướng ngày càng tăng so với gia đình
và trường học trong xã hội hiện đại. Đó là kết quả của sự thay đổi trong xã hội, khi các
bậc cha mẹ không thể nào dạy cho con cái của mình tất cả những kiến thức và kỹ năng
cần thiết để họ tham gia vào đời sống chính trị. Cuối cùng, trẻ em cũng ngày càng dành
nhiều thời gian hơn cho các hoạt động ở trường, ở bên ngoài với bạn bè cùng lứa và dành
ít thời gian hơn cho gia đình. Do vậy, cả trường học và các nhóm đồng đẳng ngày càng
có ảnh hưởng hơn so với gia đình trong quá trình xã hội hóa chính trị.
d) Các phương tiện truyền thông đại chúng
Các phương tiện truyền thông đại chúng có một vai trò quan trọng trong quá trình xã
hội hóa chính trị. Nếu toàn bộ các phương tiện truyền thông do nhà nước kiểm soát, thì
việc đo lường sự tác động của chủ thể này là tương đối rõ. Ở hầu hết các quốc gia trên thế
giới, các chương trình truyền hình có tác động tới quan điểm chính trị của người dân chủ
yếu với tư cách là những thông tin không chính thức. Truyền hình có thể tác động đến quá
trình xã hội hóa chính trị của người dân nếu chúng góp phần củng cố các nội dung xã hội
hóa của các chủ thể khác. Nếu các phương tiện truyền thông đại chúng đưa ra các thông
điệp trái với thông điệp của các chủ thể khác, nó có thể tạo ra sự xung đột. Thông thường,
nếu quá trình xã hội hóa ở trường học trang bị cho học sinh một bức tranh lý tưởng về tổ
chức và vận hành của hệ thống chính trị, thì các phương tiện truyền thông đại chúng lại
nhấn mạnh những vấn đề mà hệ thống đang phải giải quyết. Điều đó có thể mâu thuẫn với
những gì mà học sinh được dạy ở trường học.
Một số nghiên cứu cho thấy, những người thường xuyên theo dõi các chương trình
tin tức trên truyền hình và có sự hiểu biết về đời sống chính trị thường tích cực ủng hộ
các đảng chính trị và tỷ lệ đi bầu cử cũng cao hơn so với các đối tượng khác.
e) Các đảng chính trị
Các đảng chính trị luôn có mục tiêu giành được các vị trí quyền lực trong bộ máy nhà
nước. Để làm được điều đó, các đảng thường tuyên truyền cho chủ trương, đường lối của
mình, nhằm huy động sự ủng hộ của người dân. Ở các quốc gia có hệ thống đa đảng cạnh
tranh, hoạt động xã hội hóa của các đảng chính trị cũng không giống nhau. Chiến lược tác
động tới người dân của mỗi đảng có thể cũng khác nhau. Nhằm giành được sự ủng hộ của
người dân, các đảng có thể tập trung vào các nhóm cử tri cụ thể (theo khu vực cư trú, ngôn
ngữ, tôn giáo, hoặc nhóm sắc tộc ..v.v).
Các hoạt động xây dựng hình ảnh của đảng, hoặc các chiến dịch vận động tranh cử,
các đảng chính trị cung cấp các thông tin về tình hình đất nước, những vấn đề mà quốc gia
của họ đang phải đối mặt, cũng như những đề xuất chính sách mà các đảng đưa ra để giải
quyết vấn đề. Thông qua quá trình này, người dân có sự hiểu biết sâu sắc thêm về tình hình của đất nước mình.
f) Các tổ chức tôn giáo
Trong một quốc gia có các tôn giáo, thì bản thân mỗi tôn giáo là một chủ thể truyền
bá các giá trị đạo đức và giá trị xã hội. Ở một mức độ nhất định, các vấn đề này cũng liên
quan đến chính trị. Trên thực tế, giới chức sắc tôn giáo có ảnh hưởng khá quan trọng đối
với các tín đồ của mình. Mức độ ảnh hưởng của giới chức tôn giáo phụ thuộc vào từng tôn
giáo và từng quốc gia khác nhau. Thông thường, các tín đồ tôn giáo sẽ định hướng xã hội
hóa cho con em mình thông qua các bài giảng và các nghi lễ tôn giáo.
Mức độ hiện diện của các tổ chức tôn giáo trong đời sống chính trị ở các quốc gia
cũng có sự khác biệt. Chẳng hạn, trong những năm gần đây, vai trò của các phong trào Hồi
giáo tại các quốc gia ở khu vực Trung Đông đã trở thành một nhân tố quan trọng định hình
nền chính trị ở khu vực này.
Ở những nơi mà các tổ chức tôn giáo truyền dạy các giá trị ủng hộ cho hệ thống chính
trị thì mối quan hệ giữa tôn giáo và chính trị, giữa nhà nước và nhà thờ sẽ tương đối thuận
lợi. Trong trường hợp ngược lại, quá trình xã hội hóa chính trị ở quốc gia đó có thể sẽ rất phức tạp.
Tóm lại, xã hội hóa chính trị là một phần của cuộc đấu tranh chính trị diễn ra ở mỗi
quốc gia. Trong suốt chiều dài lịch sử, các nhà nước và các nhóm quan trọng trong xã hội
luôn đề cao vai trò của quá trình này. Văn hóa chính trị và xã hội hóa chính trị giúp định
hình cho người dân các giá trị, các chuẩn mực hành vi chính trị hợp lý trong một hệ thống chính trị cụ thể.
Quá trình xã hội hóa chính trị nhìn chung có xu hướng duy trì những giá trị hiện tại,
nhưng bên cạnh đó cũng có thể xuất hiện những yếu tố mới, những giá trị mới, làm tiền đề
dẫn tới những thay đổi về mặt chính trị.
3.2. VĂN HÓA CHÍNH TRỊ VIỆT NAM
3.2.1. Các giá trị đặc trưng của văn hóa chính trị Việt Nam
Văn hóa là hệ thống các giá trị và chuẩn mực chung được cộng đồng chia sẻ và thừa
nhận. Trong văn hóa (khác với văn minh) không có sự phân biệt cao - thấp. Bản thân giá trị
văn hóa cũng mang tính tương đối. Vì vậy, để đánh giá một sự vật nào đó là giá trị hay phi giá
trị, giá trị cao hay thấp, phải đặt nó trong tọa độ không gian, thời gian và chủ thể văn hóa cụ
thể. Bởi suy cho cùng, giá trị hay chân lý đều phải mang tính cụ thể.
Nhân loại có thể cùng chia sẻ những hệ thống giá trị chung, nhưng ở mỗi quốc gia, mức
độ ưu tiên trong xếp loại các giá trị có thể khác nhau, tùy thuộc vào hoàn cảnh cụ thể của
từng nước. Các giá trị ưu tiên làm nên đặc trưng văn hóa nói chung, văn hóa chính trị nói
riêng của từng quốc gia. Theo đánh giá của các nhà nghiên cứu, một số giá trị dưới đây được
cho là đặc trưng của văn hóa chính trị Việt Nam.
- Chủ nghĩa yêu nước
Chủ nghĩa yêu nước Việt Nam đã phát triển qua các thời kỳ lịch sử khác nhau, từ thời
vua Hùng dựng nước cho tới tận ngày nay. Trong mỗi giai đoạn lịch sử, chủ nghĩa yêu
nước lại có những biểu hiện khác nhau. Thời kỳ trung đại, yêu nước là “trung quân, ái
quốc”, nhưng đến thời kỳ cách mạng xã hội chủ nghĩa, yêu nước lại mang một ý nghĩa
khác, đó là yêu nhân dân, yêu dân tộc.
Mỗi thời kỳ phát triển của chủ nghĩa yêu nước lại nổi lên những nhân vật quan trọng.
Họ là anh hùng giải phóng dân tộc, là danh nhân văn hóa. Tinh thần yêu nước của họ đại
diện cho dân tộc trong một giai đoạn phát triển của lịch sử.
Chủ nghĩa yêu nước biểu hiện ở việc luôn đặt lợi ích của Tổ quốc lên trên, sẵn sàng
hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc. Có thể nói, ít có một dân tộc nào trên thế giới thời
gian dành để chống thiên tai và chống giặc ngoại xâm nhiều như dân tộc Việt Nam. Từ khi
có quốc gia, người Việt đã liên tục phải đối mặt với các cuộc chiến tranh xâm lược của kẻ
thù. Theo thống kê của các nhà sử học, tính từ cuộc kháng chiến chống xâm lược của phong
kiến phương Bắc năm 179 trước công nguyên đến năm 1979, sau 22 thế kỷ, người Việt đã
phải đương đầu với 14 cuộc chiến tranh xâm lược với quy mô lớn từ bên ngoài, trong đó
11 lần chiến thắng, thời gian chiến tranh kéo dài tới 1.200 năm4. Trải qua các biến thiên
của lịch sử, lòng yêu nước, tinh thần dân tộc của người Việt vẫn tồn tại một cách bền bỉ theo thời gian.
Chủ nghĩa yêu nước Việt Nam còn được tâm linh hóa thành một thứ tín ngưỡng.
Lòng yêu nước không đơn giản là một thứ tình cảm thuần túy, mà còn trở thành thứ được
người dân thờ phụng. Nhiều gia đình Việt Nam ở vùng nông thôn trong những năm trước
đây thường lập bàn thờ Tổ quốc với lá cờ đỏ sao vàng và ảnh Chủ tịch Hồ Chí Minh đặt
phía trên bàn thờ tổ tiên. Hệ thống thành hoàng làng ở các tỉnh khu vực đồng bằng Bắc
Bộ chủ yếu thờ phụng các anh hùng dân tộc, các danh nhân văn hóa, những người khi
còn sống đã có công giúp dân, cứu nước5.
Kế thừa những giá trị truyền thống, trong các giai đoạn cách mạng thời kỳ hiện đại,
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu khẩu hiệu: “Không có gì quý hơn độc lập tự do”. Khẩu hiệu
này đáp ứng đúng tâm tư, nguyện vọng của người dân Việt Nam nên đã có sức lan tỏa rộng
lớn. Là một giá trị chính trị được cả xã hội đề cao, nên qua năm tháng, nó trở thành một
đạo lý chính trị của người Việt Nam.
4 Xem Nguyễn Văn Huyên, Nguyễn Hoài Văn, Nguyễn Văn Vĩnh: Bước đầu tìm hiểu những giá trị văn hóa chính trị
truyền thống Việt Nam, Nxb.Chính trị quốc gia, H.2009, tr.66.
5 Xem: Ngô Đức Thịnh (Chủ biên): Giá trị văn hóa Việt Nam - Truyền thống và biến đổi, Nxb.Chính trị quốc gia, H.2014, tr.72. - Tính cộng đồng
Tính cộng đồng thể hiện tinh thần tương trợ, ý thức tập thể của người Việt. Tính cộng
đồng được hình thành trong quá trình dựng nước và giữ nước của dân tộc. Xã hội Việt Nam
là xã hội nông nghiệp, con người gắn bó với nhau trong địa vực là làng xã. Lịch sử đã
chứng minh, ngay từ khi thành lập Nhà nước Văn Lang, điều kiện quan trọng nhất để nhà
nước đó hình thành là công cuộc đắp đê ngăn lũ để sản xuất, chứ không phải do phân hóa
giai cấp trong xã hội. Chính công cuộc đắp đê, trị thủy đòi hỏi phải có sự đoàn kết, tính cố kết cộng đồng.
Từ một chiều cạnh khác, tính cộng đồng của người Việt được hình thành dựa trên cơ
sở tổ chức của các thiết chế xã hội, thể hiện rõ nét qua trục: nhà - làng - nước, trong đó nhà
bao gồm cả gia đình, dòng tộc là hình thức tổ chức theo nguyên tắc huyết thống; còn làng tổ
chức theo nguyên tắc địa vực, láng giềng. Do vậy, nói tới làng xã là phải nói tới tính cộng
đồng. Làng là một điểm cộng cư, một cộng đồng sở hữu, một cộng đồng “cộng mệnh” và là
một cộng đồng “cộng cảm”6.
Nước là yếu tố bao trùm cả nhà và làng. Làng là thành trì chống ngoại xâm từ phương Bắc
xuống, cưỡng lại sự đồng hóa của Trung Quốc, cố thủ tinh thần dân tộc. Trong các cộng đồng ấy,
các tổ chức phi quan phương như phe, giáp hình thành cố kết con người với nhau. Làng là sự mở
rộng tính cộng đồng của nhà và nước là sự mở rộng tính cộng đồng của làng.
Sống trong môi trường của quan hệ làng xã suốt mấy nghìn năm, dần dần, những tập
quán ứng xử đó cũng trở thành đạo lý, thành chuẩn mực trong giao tiếp xã hội. Để duy trì
tính cộng đồng, người Việt Nam có một chuẩn mực là quyền lợi cá nhân phải phục tùng
quyền lợi của cộng đồng, quyền lợi của các cộng đồng nhỏ phải phục tùng quyền lợi của
cộng đồng lớn, quyền lợi của cả dân tộc. Nếu một chủ thể chính trị nào đưa ra các quyết định
chính trị đi ngược lại chuẩn mực trên sẽ bị cộng đồng lên án. - Tinh thần đoàn kết
Tinh thần đoàn kết là sự gắn kết bền chặt giữa các cá nhân trong một cộng đồng để
đạt được một mục tiêu chung nào đó. Đoàn kết là chất keo dính kết các cá nhân với nhau,
tạo ra sức mạnh vượt trội của cộng đồng. Vì nhiều lý do khác nhau, trong lịch sử, người
Việt nhiều lần phải đương đầu với giặc ngoại xâm hùng mạnh. Đứng trước kẻ thù lớn mạnh
hơn mình gấp nhiều lần, để bảo vệ quyền tự chủ, sự tồn tại của mình, chỉ có tinh thần đoàn
kết mới có thể giúp người Việt tạo nên sức mạnh chiến thắng kẻ thù. Hồ Chí Minh đã tổng
kết từ trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc: “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết.
Thành công, thành công, đại thành công”.
Từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời và lãnh đạo cách mạng, Đảng luôn xác định:
đại đoàn kết toàn dân tộc là đường lối chiến lược, là nguồn sức mạnh và là nhân tố có ý
nghĩa quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Chính nhờ phát huy được tinh thần
đoàn kết toàn dân tộc, Đảng đã lãnh đạo nhân dân giành thắng lợi trong hai cuộc kháng
chiến chống Pháp và Mỹ, giành độc lập cho dân tộc. Trong công cuộc xây dựng CNXH
hiện nay, bài học kinh nghiệm này vẫn còn nguyên giá trị và cần tiếp tục phát huy nhằm
khơi dậy ý chí, khát vọng phát triển tạo nên sức mạnh của toàn dân tộc.
- Trọng dụng nhân tài
6 Ngô Đức Thịnh, Sđd, tr.287-293
Hiền tài là tinh hoa của dân tộc. Có thể nói, một dân tộc tự hào về nền văn hiến của
mình thì dân tộc đó phải trọng dụng hiền tài. Từ xa xưa, nhân tài luôn gắn với vận mệnh
của quốc gia, của dân tộc Việt Nam. Thân Nhân Trung, một danh thân thời Lê đã viết:
“Hiền tài là nguyên khí của quốc gia, nguyên khí thịnh thì thế nước mạnh và lên cao;
nguyên khí suy thì thế nước yếu và xuống thấp”. Với ý thức tôn vinh và tôn trọng hiền tài,
các vương triều trong xã hội phong kiến Việt Nam đều có những chính sách đối xử với tài
năng khá mềm dẻo, linh hoạt, có tính hiệu quả cao. Trong bốn hạng người của xã hội là
“sĩ, nông, công, thương” thì sĩ được coi trọng hơn cả. Nhà nước phong kiến Việt Nam cứ
vài năm lại tổ chức các kỳ thi để chọn ra những người tài. Những người tài giỏi, bất kể là
già hay trẻ, xuất thân từ tầng lớp giàu sang thay thấp hèn, đều được lựa chọn để bổ vào các
vị trí quyền lực. Hầu hết quan chức trong bộ máy nhà nước đều là người có học, trong đó có
nhiều người còn rất trẻ. Người có tài thi đỗ cao được trao quyền chức cao, người phấn đấu trưởng
thành trong thực nghiệp thì được cất nhắc vào các chức vụ cao, phẩm hàm lớn.
Chính sách trọng dụng và đãi ngộ nhân tài của các triều đại phong kiến được thể hiện
thông qua các hình thức vinh danh. Những người đỗ tiến sĩ được triều đình tôn vinh bằng
nhiều hình thức như: xướng danh trước Ngọ Môn, ghi tên vào bảng vàng, khắc tên vào bia
đá, đãi yến ở vườn thượng uyển, vinh quy bái tổ. Khi những người này về địa phương, Nhà
nước lệnh cho địa phương phải đón rước linh đình, nghênh tiếp long trọng. Họ được cắt
đất công làm lộc điền, hương hỏa…7
Trong dân gian, những người tài đức cao cả, công danh sự nghiệp lớn lao thường
được tôn vinh như những bậc khai khoa, mở lối cho sự học của dân, khai nguyên cho dòng
họ. Tôn trọng hiền tài, tôn trọng việc học hành, khoa cử trở thành một truyền thống tốt đẹp của dân tộc.
Trong thời hiện đại, trọng dụng và thu hút nhân tài là chủ trương nhất quán của Đảng
và Nhà nước ta. Có nhiều chính sách đã được ban hành trong thời gian qua để hiện thực
hóa các chủ trương nói trên. Không chỉ ở cấp Trung ương, nhiều địa phương trên cả nước
cũng ban hành các chính sách “trải thảm đỏ” thu hút nhân tài vào làm việc trong bộ máy
của hệ thống chính trị. Để đảm bảo chính sách trọng dụng nhân tài được thực thi một cách
hiệu quả, trong định hướng phát triển đất nước giai đoạn 2021 - 2030, Đảng ta đã xác định,
cần phải đổi mới mạnh mẽ cơ chế phát hiện, lựa chọn, thu hút, trọng dụng người tài và cơ chế đánh giá cán bộ8.
3.2.2. Một số vấn đề đặt ra đối với văn hóa chính trị của đội ngũ cán bộ
lãnh đạo, quản lý hiện nay và các giải pháp nâng cao văn hóa chính trị của đội
ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý ở Việt Nam trong thời gian tới
3.2.2.1. Một số vấn đề đặt ra đối với văn hóa chính trị của đội ngũ cán bộ lãnh
đạo, quản lý hiện nay
Nhìn vào đời sống chính trị Việt Nam hiện nay, từ góc độ văn hóa chính trị, chúng ta
có thể nhận diện một số vấn đề đang đặt ra đối với đội ngũ cán bộ lãnh đạo quản lý:
7 Xem Ngô Đức Thịnh, Sđd, tr.196-199.
8 Đảng Cộng sản Việt Nam (2021),Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII (tập II), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, trang 244.
- Sự lệch lạc trong nhận thức của một bộ phận cán bộ về các giá trị và chuẩn mực xã hội
Quan sát đời sống xã hội nói chung, đời sống chính trị hiện nay ở Việt Nam nói
riêng cho thấy, một bộ phận cán bộ lãnh đạo, quản lý đã chạy theo các giá trị và chuẩn
mực mang tính hình thức. Các chuẩn mực này gồm cả chính thức và phi chính thức, được
thể hiện ở việc đánh giá các cá nhân, tổ chức còn dựa vào các yếu tố mang tính hình thức
như: trọng bằng cấp, danh hiệu, số lượng…. Các vấn đề như: trách nhiệm, bổn phận đạo
đức, lương tâm của người cán bộ còn chưa được coi trọng đúng mức. Những yếu tố trên
dẫn tới hậu quả là một số thang bậc giá trị xã hội bị đảo lộn. Thực tế này làm phát sinh
các căn bệnh như: chạy theo thành tích, gian dối... Xét cho cùng, đó là các hành vi "lệch
chuẩn", vì nó đi ngược lại với lý tưởng, với các giá trị và chuẩn mực mà Đảng theo đuổi,
đi ngược lại với lợi ích của nhân dân.
- Tính cục bộ trong hoạt động lãnh đạo, quản lý của một số cá nhân và tổ chức
Trong đời sống chính trị, tính cục bộ được thể hiện ở ba chiều cạnh: cục bộ ngành,
cục bộ địa phương và cục bộ gia đình. Tính cục ngành và cục bộ địa phương thể hiện dưới
nhiều hình thức khác nhau, nhưng về căn bản, các cán bộ lãnh đạo, quản lý khi lựa chọn
quyết định hành động đã không xuất phát từ lợi ích toàn cục, dài hạn của quốc gia, của tập
thể lớn hơn, mà chỉ quan tâm đến lợi ích của ngành mình, địa phương mình, gia đình mình.
Thậm chí, dù biết các quyết định đó có thể gây hại cho quốc gia, cho tổ chức, họ vẫn thực
hiện. Hiện tượng này không phải là hiếm trên thực tế. Ở mức độ ngành, đó là tâm lý ‘ăn
cây nào, rào cây đó’, thể hiện trong quá trình hoạch định chính sách quốc gia. Các bộ,
ngành có động cơ tối đa hóa lợi ích của bộ mình, ngành mình mà không tính đến lợi ích
của các bộ khác, ngành khác, không tính đến lợi ích của người dân và doanh nghiệp. Đó là
hiện tượng không ít địa phương tìm cách vận động để nhận được nguồn vốn quốc gia về
đầu tư vào các công trình chưa thực sự cần thiết cho địa phương mình, gây ra tình trạng
lãng phí trong đầu tư công. Nhiều tỉnh có vị trí khá gần nhau, nhưng cùng lập đề án xây
dựng sân bay, cảng biển, nhưng khi thực hiện xong đề án không thể phát huy tác dụng.
Trong các cơ quan, tổ chức, tư tưởng cục bộ địa phương, gia đình trong công tác
cán bộ cũng khá phổ biến. Đã có thời, tư tưởng ‘một người làm quan, cả họ được nhờ’ trở
thành một chuẩn mực, giá trị trong giao tiếp, ứng xử xã hội. Nhưng trong nền chính trị hiện
đại, tư tưởng cục bộ địa phương, gia đình lại trở thành một trở ngại cho sự phát triển. Một
khi tư tưởng này xuất hiện trong những người có chức, có quyền, thì dưới các hình thức
khác nhau, họ có thể tận dụng các khe hở trong quy định của thể chế, của pháp luật để ‘sắp
xếp’ những người ‘đồng hương’, những người thân cận, những người trong gia đình mình,
vào những vị trí, công việc như mong muốn - dù cả ‘đức’ và ‘tài’ của họ đều chưa hội đủ.
Từ đó dẫn đến kết quả chọn cán bộ có thể ‘đúng quy trình’, nhưng không đúng người. Hiện
tượng này gây bức xúc trong xã hội, gây chia rẽ, mất đoàn kết trong các cơ quan, tổ chức.
- Sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống của một bộ phận cán bộ lãnh
đạo, quản lý
Trong đời sống chính trị, hệ thống thể chế dù chặt chẽ đến đâu cũng không bao giờ
là đủ. Người thực thi quyền lực nếu không nhận thức được trách nhiệm và bổn phận đạo
đức cầm quyền sẽ tìm ra những kẽ hở của pháp luật để lợi dụng. Văn hóa chính trị sẽ đóng
vai trò là nhân tố bổ sung, lấp đầy những khoảng trống của thể chế. Các giá trị văn hóa -
vốn đã thẩm thấu trong từng cá nhân, sẽ có sức mạnh vô hình kiểm soát hành vi của đội
ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý buộc họ phải làm điều đúng, tránh điều sai.
Trên thực tế, chức năng điều chỉnh hành vi của văn hóa chính trị, với tính cách là một
cơ chế kiểm soát các hành vi của các cá nhân, mức độ phát huy tác dụng còn hạn chế. Các
giá trị văn hóa chính trị tốt đẹp của dân tộc, lý tưởng chính trị của Đảng vẫn chưa được thẩm
thấu trong từng cá nhân cán bộ lãnh đạo, quản lý để trở thành động lực thúc đẩy các hành vi
hợp chuẩn. Một bộ phận cán bộ lãnh đạo, quản lý thiếu bản lĩnh chính trị, có những biểu
hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống; Tình trạng cán bộ lợi dụng chức vụ,
quyền hạn được giao để vun vén cho lợi ích cá nhân, lợi ích nhóm không phải là chuyện
hiếm. Thậm chí, ngay cả khi bị phát hiện làm sai, một số cán bộ vẫn tiếp tục tại vị. Từ chức
chưa trở thành văn hóa, với nghĩa nó chưa phải là một hành vi mặc định, phổ biến trong đời
sống chính trị khi các cán bộ lãnh đạo, quản lý không còn tiếp tục nhận được sự tín nhiệm của người dân.
Trong Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Đảng ta cũng đã thẳng thắn
nhận định: Việc tu dưỡng, rèn luyện đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên
chưa thường xuyên, một số suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống; vẫn còn tình
trạng nói không đi đôi với làm; không tuân thủ nguyên tắc tổ chức của Đảng; quan liêu,
tham nhũng, lãng phí, cá nhân chủ nghĩa, cơ hội, thực dụng, bè phái, gây mất đoàn kết nội
bộ; chưa nêu cao ý thức trách nhiệm trước tổ chức, cơ quan, đơn vị, địa phương và nhân
dân. Việc thực hiện quy định về trách nhiệm nêu gương chưa trở thành nề nếp, hiệu quả
chưa cao. Một số cán bộ vi phạm đến mức phải kỷ luật, xử lý hình sự. Việc đấu tranh chống
các biểu hiện lệch lạc về đạo đức, lối sống chưa mạnh mẽ. Tự phê và phê bình ở không ít nơi còn hình thức…9.
3.2.2.2. Một số giải pháp nâng cao văn hóa chính trị cho đội ngũ cán bộ lãnh
đạo, quản lý trong thời gian tới
Đảng ta là đảng cầm quyền, do vậy, văn hóa chính trị của đội ngũ cán bộ lãnh đạo,
quản lý có ảnh hưởng quan trọng đối với xã hội. Nhằm nâng cao văn hóa chính trị cho đội
ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý, đồng thời hướng tới bồi đắp các giá trị chính trị tốt đẹp của
Đảng và của dân tộc, trong thời gian tới, chúng ta cần thực hiện một số giải pháp cụ thể sau:
Thứ nhất, phải đổi mới quá trình xã hội hóa chính trị:
Nâng cao văn hóa chính trị của đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý phải gắn với việc
trang bị cho họ các kiến thức lý luận cơ bản về chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí
Minh. Lý luận này là hệ tư tưởng nền tảng, là cơ sở cho việc hoạch định chủ trương, đường
lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước; nó cũng góp phần củng cố lập trường
và nhân sinh quan của người cán bộ lãnh đạo, quản lý.
Cùng với lý luận Mác - Lênin, cần trang bị các tri thức về chính trị học và khoa học
lãnh đạo, quản lý hiện đại; truyền bá các giá trị văn hóa chính trị truyền thống của dân
tộc, giáo dục truyền thống cách mạng của Đảng cho các cán bộ lãnh đạo, quản lý; nghiên
cứu bổ sung, hoàn thiện các chuẩn mực đạo đức cách mạng phù hợp với điều kiện mới và
truyền thống văn hóa của dân tộc để làm cơ sở cho cán bộ, đảng viên tự giác tu dưỡng và rèn
9 Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), Sđd (tập II), trang 178-179.
luyện, tự điều chỉnh hành vi ứng xử của bản thân trong công việc hàng ngày.
Bên cạnh nội dung, thì phương thức xã hội hóa, truyền bá cũng cần được đổi mới cho
phù hợp với bối cảnh mới, tăng hiệu quả của công tác giáo dục lý luận chính trị. Văn kiện
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng chỉ rõ: cần phải tiến hành đổi mới căn
bản nội dung, chương trình, phương pháp giáo dục lý luận chính trị theo hướng khoa học,
sáng tạo, hiện đại và gắn lý luận với thực tiễn. Cần bồi dưỡng lý luận chính trị, cập nhật kiến
thức mới cho cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt các cấp10.
Thứ hai, đề cao trách nhiệm nêu gương của cán bộ lãnh đạo, quản lý, nhất là người
đứng đầu các cấp. Một trong những nội dung quan trọng của văn hóa chính trị là sự nêu
gương của các cán bộ lãnh đạo, quản lý trước nhân dân, để Đảng thực sự “là đạo đức, là
văn minh” như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nhấn mạnh. Cần nhận thức rằng, muốn
xây dựng văn hóa chính trị Việt Nam, trước hết phải chú ý xây dựng văn hóa chính trị
từ trong Đảng - lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội. Hành động của người đứng đầu,
của cán bộ lãnh đạo, quản lý sẽ trở thành mẫu hình để cấp dưới, để nhân dân noi theo.
Nêu gương cũng phù hợp với truyền thống văn hóa phương Đông nói chung, truyền
thống văn hóa Việt Nam nói riêng. Nêu gương phải thực sự trở thành một nội dung quan
trọng trong phương thức lãnh đạo của Đảng.
Hội nghị Ban chấp hành Trung ương lần thứ 8 khóa XII đã ban hành Quy định về
trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên. Văn kiện Đại hội Đại biểu lần thứ XIII
của Đảng cũng nhấn mạnh sự cần thiết phải thực hiện nghiêm các quy định của Đảng về
trách nhiệm nêu gương: chức vụ càng cao càng phải gương mẫu, trước hết là các Ủy
viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban bí thư, Ủy viên Ban chấp hành trung ương. Đảng viên
phải tự giác nêu gương để khẳng định vị trí lãnh đạo, vai trò tiên phong, gương mẫu, tạo
sự lan tỏa, thúc đẩy các phong trào cách mạng11.
Để thực hiện chủ trương này cần phải nâng cao nhận thức về trách nhiệm nêu gương
của cán bộ lãnh đạo, quản lý, để mọi người đều thấy rằng nêu gương là trách nhiệm, bổn
phận và đạo lý của người cán bộ, đảng viên. Phải làm cho mỗi cán bộ, đảng viên thấy rõ bổn
phận, trách nhiệm của mình, luôn vững vàng trước mọi khó khăn, thách thức; đấu tranh có
hiệu quả với mọi biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân, bệnh quan liêu, cơ hội, cục bộ, bè phái, mất
đoàn kết nội bộ. Nâng cao ý thức tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng suốt đời, thường
xuyên “tự soi”, “tự sửa” và nêu cao danh dự, lòng tự trọng của người đảng viên.
Bên cạnh đó, cần triển khai đồng bộ Chỉ thị 05 của Bộ Chính trị và Kế hoạch 03 của Ban
Bí thư về việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Tiếp tục công
cuộc đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí, chống “lợi ích nhóm”, lối sống cơ hội, thực dụng,
bè phái, nói không đi đôi với làm trong cán bộ, đảng viên.
10 Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), Sđd (tập II), trang 235-236.
11 Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), Sđd (tập I)), trang 183-184.
Thứ ba, chú trọng áp dụng các biện pháp nhằm xây dựng, củng cố lòng tin của nhân
dân vào sự lãnh đạo của Đảng
Nói tới văn hóa chính trị của một quốc gia không thể không nói tới hệ thống các giá
trị được toàn thể người dân của quốc gia đó chia sẻ. Đó không chỉ là hệ thống các giá trị
làm nền tảng để xây dựng hệ thống chính trị quốc gia, mà còn để thu hút sự tham gia của
người dân vào đời sống chính trị. Lý tưởng, niềm tin của Đảng chỉ có ý nghĩa và được hiện
thực hóa khi nó nhận được sự chia sẻ thực sự của người dân, trở thành lý tưởng và niềm
tin của chính người dân. Điều này đòi hỏi người dân phải có lòng tin đối với Đảng.
Để xây dựng lòng tin chính trị đối với người dân, bên cạnh công tác tuyên truyền,
thuyết phục, thì việc phải hoàn thiện các thể chế của nhà nước pháp quyền, trong đó nhấn
mạnh tinh thần thượng tôn pháp luật là hết sức cần thiết. Cần áp dụng nguyên tắc công
khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình trong các hoạt động của bộ máy nhà nước; kiểm
soát tình trạng tham nhũng, lạm quyền. Đây là tiền đề của việc xây dựng lòng tin trong xã hội.
Xây dựng cơ chế nuôi dưỡng lòng tin giữa Đảng với dân, đồng thời đẩy lùi sự suy
thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên; khắc phục tâm trạng
hoài nghi trong xã hội; tôn trọng và đề cao lương tâm và tinh thần tự quản, tự chịu trách
nhiệm của mỗi cá nhân cán bộ, đảng viên.
Mặt khác, Đảng phải tăng cường gắn bó mật thiết với nhân dân, tổng hợp được các
nhu cầu, mong đợi và các búc xúc của nhân dân và chuyển hóa thành các đề xuất chính
sách cụ thể. Điều đó đảm bảo Đảng sẽ thực sự là vì nhân dân, đại diện cho lợi ích của nhân
dân. Ngoài lợi ích của nhân dân và của dân tộc, Đảng không có lợi ích nào khác. Lòng tin
của nhân dân đối với Đảng là một trong những tiền đề quan trọng để Đảng tiếp tục giữ
vững vai trò lãnh đạo của mình.
Việc áp dụng đồng bộ các biện pháp nêu trên sẽ góp phần tạo ra những chuyển biến
tích cực trong cuộc đấu tranh chống lại sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống,
những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Đây là chủ trương đúng đắn
nhằm củng cố lòng tin của nhân dân đối với Đảng.
C. CHỦ ĐỀ THẢO LUẬN
1. Phân biệt khái niệm văn hóa và văn hóa chính trị?
2. Tại sao nói hệ tư tưởng chính trị là cốt lõi của văn hóa chính trị?
3. Phân tích các yếu tố tác động đến quá trình hình thành văn hóa chính trị của công dân?
D. CÂU HỎI ÔN TẬP
1. Phân tích nội hàm của khái niệm văn hóa chính trị?
2. Phân tích cấu trúc và chức năng của văn hóa chính trị?
3. Phân tích vai trò của các nhân tố trong quá trình xã hội hóa chính trị?
4. Phân tích các giá trị đặc trưng,các vấn đề đặt ra đối với văn hóa chính trị Việt Nam
hiện nay và các định hướng giải pháp xây dựng văn hóa chính trị Việt Nam trong thời gian tới?
E. TÀI LIỆU HỌC TẬP
* Tài liệu bắt buộc
1. Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh: Giáo trình Cao cấp lý luận chính trị:
Chính trị học, Nxb.Lý luận chính trị, H.2018.
2.Nguyễn Văn Huyên, Nguyễn Hoài Văn, Nguyễn Văn Vĩnh: Bước đầu tìm hiểu
những giá trị văn hóa chính trị truyền thống Việt Nam, Nxb.Chính trị quốc gia, H.2009.
* Tài liệu đọc thêm
1. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII (tập I
và II), Nxb.Chính trị quốc gia, H.2021.
2. Đảng Cộng sản Việt Nam: Nghị quyết Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần
thứ chín, khóa XI về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu
phát triển bền vững đất nước, Nxb.Chính trị quốc gia, H.2014.
3. Ngô Đức Thịnh (Chủ biên): Giá trị văn hóa Việt Nam Truyền thống và biến đổi,
Nxb.Chính trị quốc gia, H.2014.