1
TRƯNG ĐI HC ĐI HC KINH T VÀ QUN TR KINH DOANH
KHOA KINH T
TS. Nguyễn Văn Công
TS. Nguyn Th Thu Hà
ThS. Nguyn Th Thanh Quý
ThS. Nguyn Thu Hà
ThS. Phm Lê Vân
ThS. Nguyn Th ơng Anh
ThS. Nguyn Th Ngân
BI GING
D BÁO PHÁT TRIN KINH T - XÃ HI
Ti liu lưu hnh ni b
2
TRƯNG ĐI HC KINH T VÀ QUN TR KINH DOANH
KHOA KINH T
TS. Nguyễn Văn Công
TS. Nguyn Th Thu Hà
ThS. Nguyn Th Thanh Quý
ThS. Nguyn Thu Hà
ThS. Phm Lê Vân
ThS. Nguyn Th ơng Anh
ThS. Nguyn Th Ngân
BI GING
D BÁO PHÁT TRIN KINH T - XÃ HI
Thi Nguyên, thng 6 năm 2023
3
Cc t vit tt
TT
T vit tt
ngha ca t
1
ASFR
Age Specific Fertility Rate - T suất sinh đặc trưng theo độ tui
2
LMS
Learning Management System H thng qun l hc trc tuyn
3
GDP
Gross domestic product Tng sn phm quc ni
4
TFP
Total Factor Productivity Năng suất nhân t tng hp
5
TFR
Total Fertility Rate Tng t sut sinh
6
VA
Value Added - Giá tr gia tăng
4
M đu
D báo s tiên đoán có căn cứ khoa hc, mang tính chất xác suất về mức độ, nội
dung, các mi quan h, trạng thái, xu hướng phát triển của đi tượng nghiên cứu hoặc
về cách thức và thời hạn đạt được c mục tiêu nhất định đã đề ra cho ơng lai. Thc
t cho thấy d báo vai trò quan trng trong quá trình ra quyt định qun l. D báo
không chỉ tạo sở khoa hc cho vic y dng k hoạch, hoạch định chin lược phát
triển, quy hoạch phát triển còn cho phép xem xét kh năng thc hin k hoạch
hiu chỉnh k hoạch. D báo cung cấp thông tin cần thit cho lập k hoạch trong phạm
vi doanh nghip, các nh hung kinh doanh, đn k hoạch, chin ợc phát triển trong
phạm vi ngành/lĩnh vc, và lập chin lược, k hoạch phát triển kinh t xã hội. Các kin
thức tổng hợp của d báo cung cấp thông tin cần thit cho các nhà qun l, doanh nghip
và kể c người tiêu dùng.
Để giúp người hc tip cận với tri thức khoa hc về d báo phát triển kinh t-xã
hội, môn hc D báo phát triển Kinh t- hội đã ra đời và được ging trong hầu ht các
ngành kinh t của các trường đại hc ở Vit Nam ngay từ đầu khi mới thành lập và bắt
đầu được ging dạy Đại hc Kinh t & Qun trị kinh doanh Đại hc Thái Nguyên
từ năm 2012. Cùng với quá trình ging dạy, môn hc ngày càng được hoàn thin c về
nội dung và kt cấu.
Bài ging D báo phát triển Kinh t- hội được biên son nhm cung cp các
kin thức bn ca hc phần cho sinh viên trường Đại hc Kinh t & Qun trị kinh
doanh, bao gồm các nội dung ging dạy trc tip kt hợp với trc tuyn, kt cấu làm 5
chương như sau:
Chương 1: Những vấn đề lý luận cơ bản của dự báo phát triển kinh tế - xã hội
Chương 2: Một số mô hình dự báo thông dụng
Chương 3: Dự báo các nguồn lực phát triển kinh tế
Chương 4: Dự báo cầu thị trường
Chương 5: Dự báo tốc độ tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Kt cu chung bao gồm tên chương có chứa tit ging dy, hc tp trc tuyn; tóm
tt nội dung chương; mục tiêu của chương; các nội dung c th ca tit hc; câu hi trc
nghim cui mi tit hc.
Chúng tôi hy vng cun bài ging s giúp sinh viên có th nâng cao hiu qu vic
t hc ca mình.
Cun bài ging được biên son ln đu nên chc chn không tránh khi thiu sót,
vy, nhóm tác gi rt mong nhận được nhng ý kin đóng góp để i ging hoàn thin
hơn.
5
Tp th tác gi
6
CHƯƠNG 1
NHNG VẤN Đ LÝ LUẬN CƠ BN CA D BÁO PHÁT TRIN
KINH T - XÃ HI
Tit th 1: V tr v phân loi d bo
1.1.V trí ca d báo trong vic ra quyt đnh qun lý các quá trình kinh t xã hi.
1.1.1. S cn thiết ca d báo
-Dự báo là cần thiết vì luôn có khoảng cách thời gian giữa nhận thức và thực tế
xẩy ra sự kiện
Hoạt động của con người loại hoạt động t giác, có thức và luôn hướng về
tương lai. vậy, luôn tồn tại khong cách thời gian giữa thời điểm nhận thức về s
kin sắp xẩy ra hoặc nhu cầu qun l và thời điểm xẩy ra của s kin đó. Khong thời
gian đó chính l do của k hoạch hóa dbáo. Nu khong thời gian đó bằng
không hoặc rất nhỏ thì không cần phi k hoạch hóa. Nu khong cách đó là dài và kt
qu của s kin cui cùng phụ thuộc vào nhiều nhân t thể nhận bit thì k hoạch hóa
càng có vai trò quan trng. Trong bi cnh đó, d báo là ht sức cần thit để tr lời câu
hỏi “khi nào s kin xẩy ra”, làm cơ sở cho các hành động có thể tin hành.
Trong qun l và hoạt động kinh doanh, k hoạch hóa là công cụ rất cần thit vì
quỹ thời gian cho phép để đưa ra quyt định có thể giao động từ vài ba m (ví dụ trong
tình hung đầu tư) đn mt vài ngày hoặc giờ ( như k hoạch vận ti hoặc sn xuất), đn
vài giây ( kt ni liên lạc viễn thông hoặc dịch vụ đin tử). D báo s trợ giúp quan
trng trong k hoạch hóa, nó tạo tiền đề để nâng cao hiu lc và hiu qu của k hoạch.
- Môi trường hoạt động của tổ chức luôn biến động đặt ra yêu cầu cần thiết phải có
dự báo
Môi trường mà trong đó các hoạt động của tổ chức diễn ra có đặc điểm thường
xuyên bin động, hình thành nên tính không chắc chắn của môi trường. Tính không chắc
chắn của môi trường được xem là một thuộc tính c hữu, tồn tại khách quan. Môi trường
được tạo nên bởi nhiều yu t rất đa dạng, phong phú, trong đó các yu t luôn trong
trạng thái vận động, phát triển không ngừng và tác động qua lại lẫn nhau. Kiểm soát s
thay đổi của môi trường đi với tổ chức điều không chắc chắn. Tổ chức có thể kiểm
soát được s thay đổi của một s ít các yu t trong muôn vàn các yu t tác động đn
môi trường do nhiều nguyên nhân như thiu thông tin, do hạn ch về tri thức, do bn
chất bất định của các yu t. Ngoài ra, trong điều kin tin bộ khoa hc công ngh ngày
nay, môi trường kinh t- xã hội đã có nhiều thay đổi: Hoạt động qun l của Nhà nước
tất c các cấp độ được tăng cường; cạnh tranh càng trở nên quyt lit hơn; thương mại
quc t đã mở rộng ra hầu ht các lĩnh vc; hỗ trợ hội và dịch vụ môi giới gia
tăng…Các nhân t đó kt hợp lại hình thành nên môi trường tổ chức bao gồm nhiều tổ
hợp các cấp độ khác nhau, liên h đan chéo, bin đổi với nhịp độ nhanh cạnh
7
tranh quyt lit hơn. Như vậy, có thể nói s không chắc chắn về môi trường của tổ chức
không những luôn tồn tại ngày càng xu hướng tăng lên dẫn đn các quyt định
qun l ngày càng có độ rủi ro cao hơn.
Điều không thể phủ nhận chính trong điều kin môi trường không chắc chắn
đó, những quyt định ngày hôm nay của tổ chức lại tác động lớn đn s phát triển
trong tương lai của nó. Tuy nhiên, nu các tổ chức không thể phn ứng nhanh những
thay đổi của môi trường không thể nhìn trước tương lai với mức độ chính xác, hoạt
động của nó sẽ rơi vào tình trạng khó khăn, thậm chí trở nên bi đát và phá sn. Câu hỏi
đặt ra là, trong điều kin độ chắc chắn của môi trường tăng lên, các thủ tục d báo cần
được hoàn thin theo hướng nào? Trước đây các quyt định qun l của tổ chức được
đưa ra trên cơ sở các d báo truyền thng da trên kinh nghim, s phán xét mang tính
trc giác dưới dạng định tính. Có thể thấy, trước khi xuất hin các kỹ thuật d báo hin
đại với sức mạnh của máy tính, s phán xét của các nhà qun l đã công cụ d báo
duy nhất. Điều y không nghĩa nói rằng d báo trc giác không tt. Ngược lại,
chính những cm giác “ gan ruột” của những người có kinh nghim và kin thức thường
cung cấp những d báo có hiu lc. Tuy nhiên, như đánh giá của Makridakins, (1986),
d báo trc giác thường không đm bo độ chính xác, bởi con người luôn có xu hướng
lạc quan đánh giá thấp s không chắc chắn của tương lai, hơn nữa chi phí của phương
pháp y thường cao hơn đáng kể so với sử dụng phương pháp định lượng. Ngày nay,
những nền tng về phương pháp d báo đã được tăng ờng đáng kể. Các y tính cùng
với kthuật định lượng đã tạo điều kin thuận lợi hơn cho d báo trong các tổ chức hin
đại. S phức tạp trong thủ tục d báo hin nay chỗ, cần phi xử l, chắt lc các
thông tin hữu ích phục vụ cho vic ra quyt định trước một khi lượng khổng lồ các
thông tin dữ liu về môi trường. Các công cụ hin đại của d báo cùng với kh năng của
máy tính đã trở thành phương tin hiu qu để gii quyt vấn đề đó của tổ chức hoạt
động trong th giới hin đại. vậy, trong điều kin môi trường hoạt động không chắc
chắn, các nhà ra quyt định cần hiểu tt hơn c kỹ thuật d báo định lượng và định tính
và sử dụng chúng một cách sáng sut hơn là khi h dùng quyền lc để lập k hoạch cho
tương lai mà thiu đi vic xử l thông tin một cách hữu hiu.
- Đời sống hội thay đổi nhanh chóng nhiều rủi ro trong điều kiện toàn cầu
hóa đòi hỏi phải tăng cường công tác dự báo
Đặc điểm tính chất bao trùm trong thời đại ngày nay quá trình toàn cầu hóa.
Đó là một hin tượng, một xu th liên kt trong quan h quc t làm tăng s phụ thuộc
lẫn nhau về nhiều mặt của đời sng hội (tkinh t, chính trị, an ninh, văn hoá đn
môi trường, …) giữa các quc gia. Trong lĩnh vc kinh t, toàn cầu hóa được hiểu
quá trình hình thành phát triển các thị trường toàn cầu khu vc, làm gia tăng s
8
tương tác và tuỳ thuộc lẫn nhau giữa các nước thông qua s gia tăng các luồng giao lưu
hàng hoá nguồn lc (resources) qua biên giới giữa các quc gia cùng với s hình
thành các định ch, tổ chức quc t nhằm qun l các hoạt động giao dịch kinh t
quc t.
Toàn cầu a nh hưởng đn phát triển bền vững của các quc gia, cụ thể trên các
lĩnh vc:
- Về lĩnh vc kinh t: Toàn cầu hóa tác động đn toàn cầu hóa kinh t khủng
hong kinh t toàn cầu, gia tăng thương mại quc t, đầu trc tip nước ngoài, vic
ra đời và gia tăng vai trò của các tổ chức quc t như WTO, IMF, WB, OPEC, ... Toàn
cầu hóa kinh t được xem là trái ngược hẳn với chủ nghĩa kinh t quc gia và chủ nghĩa
bo hộ, nó nh hưởng đn chủ quyền quc gia trong phạm vi kinh t, có tác động tiêu
cc từ các quc gia phát triển sang các quc gia đang phát triển do s tìm kim lợi nhuận
của các tập đoàn đa quc gia.
- Về lĩnh vc công ngh: Bùng nổ công ngh thông tin và viễn thông, phát triển hạ
tầng viễn thông toàn cầu, phát triển internet, các v tinh liên lạc, đin thoại. Nhờ có
những thành tu của công ngh tin hc và viễn thông, mà quan h giữa các khu vc trên
th giới ngày càng gần gũi tạo nên một nền văn minh toàn cầu, một th giới phẳng.
- Về lĩnh vc văn hóa – xã hội: Gia tăng trao đổi văn hóa quc t, đồng hóa, lai tạp
hóa của văn hóa, gia tăng đi lại du lịch quc t, gia tăng di cư, nhập cư trái phép,..Toàn
cầu hóa đã giúp con người hiểu hơn về th giới và những thách thứcquy mô toàn cầu.
S toàn cầu hóa có thể mang lại s t do cá nhân nhưng cũng có thể đánh mất bn sắc,
- Về lĩnh vc chính trị: Toàn cầu hóa làm tăng lên nhiều lần các mi quan h của
các công dân trên th giới hội cho từng người “công dân toàn cầu”. Tuy nhiên
trong lĩnh vc chính trị, toàn cầu hóa là cơ hội gia tăng khủng b, buôn lậu ma túy,..
- Về lĩnh vc môi trường: Bin đổi khí hậu toàn cầu (nhit độ trái đất tăng, mc
nước biển dâng, gia tăng lụt, hạn hán, và các tai bin t nhiên khác như: trượt lở,
quét, ng, động đất, sóng thần....,), gia tăng ô nhiễm môi trường. Bin đổi khí hậu
toàn cầu đang thách thức lớn nhất với nhân loại trên trái đất, đe da trc tip môi
trường sng của con người, đặc bit trong phạm vi h thng các đô thị, các khu công
nghip và các khu dân cư, kinh t trên trái đất.
Như vậy, toàn cầu hoá có tác động toàn din lên mi mặt của đời sng xã hội ở mi
quc gia, bao gồm c mặt tích cc và c mặt trái của nó, làm nổi bật hàng loạt bin đổi
có quan h lẫn nhau mà từ đó chúng có thể phát sinh một loạt điều kin mới: tc độ bin
đổi nhanh hơn; hợp tác chặt chẽ hơn; cạnh tranh khc lit hơn và rủi ro cao hơn. Tất c
những vấn đề đó đặt ra cho hội, các nhà lãnh đạo, các nhà qun l, c nhà khoa
hc những thách thức không nhỏ trong tất c các lĩnh vc. Trong bi cnh đó con người
9
buộc phi tìm ra những cách tip cận mới, d báo trước diễn bin của tình hình để tận
dụng các mặt tích cc, đồng thời hạn ch ti đa các tác động bất lợi do quá trình toàn
cầu hóa gây nên nhằm đm bo s phát triển bền vững.
1.1.2. Khái nim v d báo
Thut ng d báo có ngun gc t ting Hy Lạp “Pro” (nghĩa là trước) và “grosis”
nghĩa bit trưc. Bn thân thut ng d báo đã nói lên thuộc tính không th thiu được
ca b não con người: đó s phn ánh vượt trước. Trong quá trình tn ti phát trin
con người luôn hướng v phía trước, c gắng hưng ti một tương lai ngày một tt đp
hơn. Những c gắng ban đầu đó được th hin i hình thức các ước đoán, những
hy vng thiu căn cứ, những ước mun viển vông không ng, những tính toán ưc
ng thiu cơ sở khoa hc và mang nng tính kinh nghim.
T c xưa d báo đã được áp dng trong cuc sng hàng ngày, nhưng mang nặng
màu sc thn bí tôn giáo, th hin các câu tiên tri, li bói toán. Ngay t thi c Hy Lp
người ta đã phân chia các lĩnh vc d báo thành:
- Các hin tượng t nhiên như: Thời tit, nht thc, nguyt thc,….
- Các hin tượng hi: S xut hin kt thúc các cuc chin tranh , s hưng
thnh hay suy vong ca mt th ch chính trị…..
- Các hin tượng v đời sng hội như kh năng giàu có, bnh tt, sinh t, s
phát đạt ca các dòng h….
Sut nhiu thp k trưc d báo không được vn dng mt cách khoa hc không
tính tích cc, bởi đây thi k thuyt tôn giáo không ng trit hc duy
tâm chim vai trò thng tr trong duy nhận thc th gii. Giai cp thng tr đã li
dng nó làm công c thng tr và mê hoặc ngưi dân nghèo khổ. Đn th k XVI, XVII
khi các môn khoa hc t nhiên như toán hc, vt hc, hóa hc thiên văn hc đã
phát trin, các d báo tính khoa hc mi dn dn xut hin. Tuy nhiên, lúc đầu các
d báo với độ chính xác cao thường được áp dng trong vt c điển, hóa hc đặt
trong phm vi không gian và thi gian rt khắt khe. Sau đó, xuất hin nhiu d báo
hin tượng d báo rt phc tp, chu s tác động ca nhiu nhân t: tin b khoa hc
k thut, s phát trin kinh t - hi, chính tr, s thay đổi v tâm chun mc
đạo đức hội, đòi hỏi d báo phi vn dụng các phương pháp thng xác sut (d
báo vi mt đ tin cậy nào đó chứ không hoàn toàn chính xác).
10
Hc thuyt của Mác đã mở ra kh năng mới v s tiên đoán tính khoa hc v
các hình thái kinh t - xã hội. Mác và Ăngghen là người đầu tiên đề ra và gii thích mt
cách sâu sc rng mâu thun chính là đng lc phát trin ca mi hình thái kinh t -
hi và s tt yu khách quan ca vic chuyn t hình thái kinh t - xã hi này sang hính
thái kinh t - hi khác tin b hơn. Hai ông cho rng các hin tượng kinh t - hi
vận động và phát trin theo thi gian hin ti bao gi cũng mang dấu vt trong quá kh
còn tương lai do quá kh hin ti phát trin to thành. Khi liên h mt cách thn trng
vi kinh nghim ca quá kh để rút ra bài hc sâu sc t thc tiễn sinh động, không th
ph nhn được những tiên đoán thiên tái của nin, mt di sn tính chất kinh điển.
Ông đã tổng quát hóa các khuynh ng phát trin ca các hin tượng phc tp nht
trong các lĩnh vc chính tr, kinh t, hi khoa hc, tập trung đầu tư cho k hoch
đin khí hóa Nhà nước Xô Vit đu tiên.
Như vậy, d báo đã từ thn bí kinh nghim phát trin thành b môn khoa hc độc
lp. Ngày nay, vai trò ca d báo ngày càng được khẳng định và tăng lên đáng kể trong
mi lĩnh vc và cấp độ của đời sng xã hội. Đó là do quy mô ca nn kinh t ngày càng
ln, cu trúc ca nn kinh t - xã hi ngày càng phc tp. Vic tng hp các nhân t nh
hưởng đn quá trình phát trin nn kinh t quc dân, vic vch ra các lun chứng để xây
dng chin lược, quy hoch và k hoch phát trin, vic la chn các phương án để xem
xét kh năng thc hin các mc tiêu kinh t - xã hội ngày càng tăng lên.
Như vậy có th hiu: D báo s tiên đoán căn cứ khoa hc, mang tính cht
xác sut v mc đ, ni dung, các mi quan h, trạng thái, xu hướng phát trin của đối
ng nghiên cu hoc v cách thc và thi hạn đạt đưc các mc tiêu nht định đã đề
ra trong tương lai.
Tiên đoán là hình thc phn ánh vượt trưc v thi gian hin thc khách quan, đó
kt qu nhn thc ch quan của con ngưi da trên cơ s nhn thc quy lut khách
quan trong s vận đng và phát trin ca s vt và hin tượng. Có th phân bit ba loi
tiên đoán:
- Tiên đoán không khoa hc: Đó là các tiên đoán không có cơ sở khoa hc, thưng
da trên các mi quan h qua lại tính tưởng ng , không hin thc, được cu trúc
mt cách gi to, hoc nhng phát hin tính cht bt cht. Các hình thức như bói
toán, tiên tri, các lun điu tuyên truyn ca các th lc thù địch,…thuc loại tiên đoán
này.
11
- Tiên đoán kinh nghiệm: Các tiên đoán hình thành qua kinh nghim thc t da
vào các mi quan h qua lại thường xuyên trong thc t hoc tưởng tượng không
trên sở phân tích cu trúc thuyt, nghiên cu quy luật hay đánh giá kinh nghim.
Loại tiên đoán này ít nhiều có cơ sở song li không gii thích được s vận động của đi
ợng và đa s mi ch dng li mc đ định tính.
- Tiên đoán khoa hc: Đâytiên đoán da trên vic phân tích mi quan h qua li
giữa các đi tượng trong khuôn kh ca mt h thng lý lun khoa hc nhất định.
da trên vic phân tích tính quy lut phát trin của đi tượng d báo các điu kin
ban đầu với cách như các gi thit. Tiên đoán khoa hc là kt qu ca s kt hp
gia những phân tích định tính và phân tích định lượng các quá trình cn d báo. Ch
d báo khoa hc mới đm bo độ tin cy cao và là cơ sở vng chc cho vic thông qua
các quyt đnh qun lý khoa hc.
D báo bao gi cũng thời gian xác đnh, hay là tm xa d báo. Tm xa d báo
là khong cách thi gian ti đa từ hin tại đn thời điểm phát biu d báo. Khong cách
này ph thuc vào nhiu nhân t: s thay đổi của đi tượng d báo, mức độ ổn định ca
các nhân t nh hưởng, độ dài thi ký tin sử…..
1.1.3. Tính cht ca d báo
D báo mang tính xác sut : Mỗi đi ng d báo đều vận động theo mt quy
luật nào đó, mt qu đo nhất định nào đó, đồng thi trong quá trình phát trin nó luôn
luôn chu s tác động của môi trường hay các yu t bên ngoài. Bn thân môi trường
hay các yu t tác động không phi đng im mà luôn luôn trong trng thái vận động và
phát trin không ngng. V phía ch th d báo, nhng thông tin hiu bit v đi
ng tương lai bao gi cũng nghèo nàn hơn hin ti. vậy, trình độ d báo
hoàn thin đn đâu cũng không dám chắc rằng đánh giá d báo là hoàn toàn chính xác.
Hay nói mt cách khác d báo bao gi cũng mang tính xác sut.
D báo là đáng tin cy : D báo mang tính xác suất nhưng đáng tin cy vì nó da
trên những cơ sở lý luận và phương pháp luận khoa hc. Đó là phép bin chng duy vt
và lch s, h thng các lý lun khoa hc v kinh txã hội, phương pháp và công c
x thông tin ngày càng hin đại. Xét v mt bn cht, d báo s phn ánh vượt
trưc, là nhng gi thit v s phát trin của đi tượng d báo trong tương lai được đưa
ra trên sở nhn thc các quy lut phát trin nhng điều kin ban đầu với cách
nhng gi thit. Theo đà phát trin ca khoa hc k thut, trình độ nhn thc quy
12
luật các điều kin ban đầu ngày càng được hoàn thin thì độ tin cy ca d báo không
ngừng được nâng cao.
D báo mang tính đa phương án: Mi d báo được thc hin trên nhng tp hp
các gi thit nhất định d báo có điều kin. Tp hp các gi thit như vậy gi là phông
d báo. D báo th đưc tin hành trên các phông d báo khác nhau do nhng nguyên
nhân ch quan khách quan khác nhau vy th nhiều phương án d báo
khác nhau. Tính đa phương án một mt là thuc tính khách quan ca d báo nhưng mặt
khác li phù hp vi yêu cu ca công tác qun lý, nó làm cho vic ra quyt định cũng
như ch đạo thc hin quyt định qun tr nên linh hoạt hơn, dễ thích nghi vi s bin
đổi vô cùng phc tp ca tình hình thc t.
1.1.4. Chức năng và vai trò của d báo phát trin kinh tế - xã hi
a. Chức năng
Theo quan điểm ca trit hc, d báo mt hình thc nhn thc th gii, nhn
thc xã hi. Nó có hai chc năng cơ bn :
- Chức năng tham u : Trên sở đánh gthc trng, phân tích xu hướng vn
động và phát trin trong quá kh, hin tại và tương lai, d báo s cung cp thông tin cn
thit, khách quan làm căn c cho vic ra quyt định qun lý và xây dng chin lược, k
hoạch hóa các chương trình, d án,…Người qun hoạch đnh chin lược, người
lp k hoch nhim v phi la chn trong s các phương án thể có, tìm ra các
phương án tính kh thi cao nht, hiu qu cao nhất. Để thc hin tt chức năng
này d báo phi tht s đm bo tính khách quan, khoa hc tính độc lập tương đi
vi các cơ quan qun lý và hoạch định chính sách.
- Chức năng khuyn ngh hay điều chnh: Vi chức năng y d báo tiên đoán các
hu qu th ny sinh trong quá trình thc hin các chính sách kinh t - xã hi nhm
giúp các cơ quan chức năng kịp thời điều chnh mục tiêu cũng như cơ ch tác động qun
l đ đạt hiu qu kinh t - xã hi cao nht.
Vi hai chức năng đó, nu xét trong quan h vi k hoch thì d báo bao gm hai
loi : D báo trước k hoch là tiền đề khoa hc đm bo tính kh thi ca k hoch, còn
d báo sau k hoch giúp cho quá trình ch đo thc hin k hoạch đt hiu qu cao
nht.
b. Vai trò ca d báo
13
D báo vai trò quan trng trong quá trình ra quyt định qun l. Theo nghĩa
chung nht, qun s tác động liên tc có t chc, ch đích vào đi tưng bng
các h thng bin pháp kinh t, hi, các bin pháp hành chính….nhằm tạo điều kin
thun lợi thúc đẩy s phát trin sn xut, tin b xã hi. Kt qu ca hoạt động qun lý
là các quyt định qun l. Cơ ch ra quyt định gồm ba bước:
- Thu thp thông tin v đi tưng qun lý
- Xây dng mô hình thng kê thc nghim và thông tin tiên nghim
- So sánh cân nhắc đưa ra quyt đnh
Trong các bước ca quá trình ra quyt định qun thì vấn đềy dng hình
là khâu cơ bn nht. S như vậy là vì quá trình đi đn mt quyt định qun l đòi hỏi
phi mô hình hóa các mi quan h trong quá trình vận động và phát triển các đi tượng
qun lý, cho phép liên kt các mi quan h không nhng theo chiu dc còn theo
chiu ngang, cho phép liên h t quá kh đn hin tại sang tương lai. Xét về mt thi
gian các mô hình như vậy đều mang  nghĩa d báo.
ng s dng hình d báo trong hoạt động qun rt quan trng, nó to
điều kin không nhng cung cấp thông tin tương laicòn kh năng làm chủ công
tác qun lý. Nh hình d báo th tăng cường kh năng qun mt cách
khoa hc:
- Giúp nhn thc sâu sắc hơn các quy luật khách quan, tránh được ch quan duy ý
chí.
- Mô hình hóa đ cp mt cách toàn din các mi quan h kinh t - xã hi.
- Cho phép định lượng được các mi quan h bng cách áp dụng các phương pháp
khoa hc như toán, thng kê, tin hc…
Trong nn kinh t th trường, công tác d báo là vô cùng quan trng bi lcung
cp các thông tin cn thit nhm phát hin và b trí s dng các ngun lc trong tương
lai một cách có căn cứ thc t. Vi nhng thông tin mà d báo đưa ra cho phép các nhà
hoạch định chính sách có nhng quyt định v đầu tư, các quyt định v sn xut, v tit
kim và tiêu dùng, các chính sách tài chính, chính sách kinh t vĩ mô. D báo không ch
tạo cơ s khoa hc cho vic hoạch định chính sách, cho vic y dng chin lược phát
trin, cho các quy hoch tng th còn hco phép xem xét kh năng thc hin k hoch
và hiu chnh k hoch.
D bo đang có xu hưng gia tăng đng k do 3 yu t sau:
14
D báo ngày càng được s dng ph bin hu ht các b phn trong DN trong
QT xây dng k hoch chin lược, phân tích tình hung kinh doanh, lp k hoch ngân
sách VĐT…
1.2 Phân loi d báo
Hot động kinh t - hội trong điều kin kinh t th trưng không ch gii hn
trong lĩnh vc sn xut vt cht bao trùm tt c các mt của đời sng hi. Vic
qun mt cách hiu qu các quá trình kinh t - xã hi trong những điều kin như
vậy đòi hi phi y dng mt h thng d báo khác nhau theo nhiu tiêu thc phân
loi.
1.2.1. Theo bn cht của đối tưng d báo
a. Dự báo kinh tế
D báo kinh t nghiên cứu những xu th, khuynh ớng vận động phát triển của
nền kinh t các bộ phận, yu t cấu thành của trong ơng lai. Nhim vụ của d
báo kinh t phát hin những xu th phát triển của các hin ợng kinh t quan trng
nhất trong quá khứ hin tại, đánh giá kh năng tác động của những tính quy luật đã
tìm được trong tương lai, tiên đoán những tình hung và những vấn đề then cht có xác
suất lớn của s phát triển kinh t sắp tới cũng như trong tương lai xa hơn; nghiên cứu
các xu hướng tăng trưởng kinh t tạo sở xây dng các chin lược phát triển. D
báo kinh t được nghiên cứu ở c cấp độ vĩ mô và cấp độ vi mô, bao gồm các nội dung
liên quan đn vic điều hành nền kinh t ng như hoạt động sn xuất kinh doanh ở cấp
độ doanh nghip.
b. Dự báo xã hội:
Phát triển về mặt hội một nội dung quan trng trong tin trình phát triển
của đất nước. Ngày nay, quan nim về phát triển luôn gắn liền với tính chất bền vững
của nó, trong đó bao gồm 3 trụ cột chủ yu bền vững về kinh t, xã hội và môi trường.
Phát triển xã hội theo hướng tin bộ xã hội là một đặc trưng cơ bn của đời sng xã hội
thời k hin đại. Đng nhà nước ta rất coi trng chính sách phát triển hội, bởi
xét đn cùng s phát triển nhằm nâng cao đời sng vật chất tinh thần cho con
người. Phát triển con người không chỉ mục tiêu còn động lc của s phát
triển.
Trong điều kin ngày nay, ới tác động của tin bộ khoa hc công ngh,
ch thị trường, hội nhập quc t xu hướng toàn cầu hóa, s phát triển về mặt xã hội
luôn chứa đng c những mặt tích cc lẫn không tích cc. vậy, vic gii quyt các
vấn đề xã hội trong quá trình phát triển là nhim vụ quan trng vừa có tính chất thường
15
xuyên vừa có tính chất lâu dài. Để gii quyt nhim vụ đó, nhà nước cần có chính sách
phát triển hội phù hợp, được y dng trên sở các đánh giá d báo đáng tin cậy
về xu hướng vận động của các vấn đề xã hội trong tương lai.
D báo phát triển hội nhim vụ phân tích tác động của các nhân t đn
quá trình bin đổi xã hội luận gii các xu hướng vận động thể của các vấn đ
hội trong tương lai. Đây là một lĩnh vc d báo đặc thù với phạm vi rộng lớn và phức
tạp. Nội dung d báo phát triển xã hội bao gồm trước ht là s vận động của cơ cấu
hội, trong đó bao gồm cơ cấu các giai tầng hội, các giới đồng bào cùng s tin bộ của
nền dân chủ xã hội, s thay đổi văn hóa, li sng cũng như các giá trị cơ bn của xã hội.
khía cạnh cụ thể, d báo hội đề cập đn s bin động về dân s, vic m, mức
sng dân bất bình đẳng hội; s phát triển của giáo dục, y t chăm sóc sức
khỏe nhân dân; phúc lợi và đm bo xã hội…
c. Dự báo tiến bộ khoa học công nghệ xác định các phương án phát triển khoa hc
công ngh trong tương lai da trên cơ sở phân tích xu th của nó trong thời kỳ trước d
báo và những yêu cầu của xã hội, định hướng mục tiêu d kin trong tương lai. D báo
khoa hc công ngh cho phép phát hin nghĩa hội của các nghiên cứu khoa hc,
đánh giá kh năng tiềm tàng của vic sáng tạo kỹ thuật mới, xác định trình độ công ngh
trong tương lai, m n cứ cho vic hoạch định chính sách phát triển khoa hc công
ngh. Ngoài ra, vic xác định tác động của tin bộ khoa hc công ngh trong nước và
trên th giới đn đời sng kinh t - hội của đất nước cũng là một hướng chủ đạo của
d báo tin bộ khoa hc và công ngh.
d. Dự báo chính trị và quân sự
Các xu th chính trquân s khác nhau trên th giới cho đn nay vẫn luôn
là vấn đề tồn tại trên thc t. Mặc dù xu hướng chủ đạo trong quan h quc t ngày nay
là hòa bình, hợp tác và phát triển, song ở nơi này, nơi khác vẫn xẩy ra các xung đột tôn
giáo, sắc tộc, dân tộcnhững mức độ khác nhau. Thc t đó đã buộc các nhà lãnh
đạo các quc gia, các tổ chức quc t các nhà khoa hc phi quan tâm đn s thay
đổi của các xu th chính trị quân s. Bởi như Colin nhà chin lược nổi ting của
M- đã từng nói: trong các chin lược phát triển của quc gia, chin lược quc phòng là
quyt định nhất một khi chủ quyền đất nước bị đe da toàn vẹn lãnh thổ bị m
hại thì các chin lược phát triển khác cũng chẳng còn  nghĩa gì. Do vậy, mặc dù là lĩnh
vc rất đặc thù, song các d báo về chính trị và quân s luôn đóng vai trò ht sức quan
trng trong chin lược phát triển của các quc gia.
e. Dự báo quan hệ quốc tế
D báo quan h quc t hay quan h đi ngoại là một lĩnh vc d báo đặc thù
có vai trò quan trng, đặc bit trong xu th hội nhập quc t và toàn cầu hóa hin nay.
16
Nhim vbn của d báo quan h quc t là xác định các nhân t nh hưởngxu
th thay đổi tương quan lợi ích và lc lượng giữa các nước và các khu vc trên th gii
trong bi cnh gia tăng hợp tác cạnh tranh toàn cầu. tạo tiền đcho hoạch định
chính sách của quc gia trên nhiều lĩnh vc, trước ht là chính sách đi ngoại. Quan h
quc t bao gồm nhiều lĩnh vc như chính trị, ngoại giao, kinh t, văn hóa, an ninh quc
phòng…, trong đó quan h kinh t đi ngoại là một lĩnh vc quan trng và do đó chính
sách kinh t đi ngoại là một bộ phận cấu thành ct yu trong h thng chính sách phát
triển kinh t - xã hội. Các d báo về bin động thị trường xuất nhập khẩu, các luồng đầu
nước ngoài, s thay đổi về tỷ giá, kh năng hợp tác quc t về khoa hc công
ngh…có vai trò rất quan trng trong hoạch định chính sách kinh t đi ngoại.
g. Dự báo môi trường sinh thái hướng đn những thay đổi thể của môi trường
sinh thái, và các tác động của nó tới s phát triển kinh t - xã hội trong tương lai. Những
thông tin do d o mang lại sẽ căn cứ để nhà nước đưa ra các chính sách bin
pháp cần thit kịp thời nhằm ngăn chặn mi tác động bất lợi đn cnh quan môi
trường sng của con người. Trong d báo môi trường sinh thái, các d báo hin đang
được quan m nghiên cứu nhiều như: s bin đổi khí hậu toàn cầu nh ởng của nó
đn sn xuất đời sng của các quc gia; c động của quá trình công nghip hóa
đô thị hóa đn cuộc sng của con người; s cạn kit các nguồn tài nguyên; khủng hong
lương thc và năng lượng; tình trạng đói nghèo và dịch bnh trên th giới…D báo bin
động tài nguyên và môi trường có quan h trc tip với vic hoạch định chin lược phát
triển của các quc gia trong thời kỳ hin đại.
Ngoài các lĩnh vc d báo chủ yu trên đây, trong đời sng xã hội còn có thể có
các lĩnh vc d báo đặc thù phục vụ các hoạt động nghiên cứu, qun l riêng bit khác.
Với bn chất là công cụ nhận thức th giới và xã hội, thể nói d báo bao trùm lên mi
cấp độ và lĩnh vc của đời sng xã hội và con người. Ở đâu và lúc o, con người có thể
nhận thức được quy luật và các điều kin ban đầu với tư cách các gi thit khoa hc,
thì ở đó đều xuất hin nhu cầu và kh năng làm d báo.
1.2.2. Theo tm xa ca d báo
a. D báo tác nghip
D báo tác nghip có tm xa d báo rt ngn, có thgi, ngày, tuần, tháng đn
dưới một m. Các d báo loại này đưc tin hành thường xuyên liên tục làm cơ sở cho
các hoạt động thường ngày và gi d báo tác nghip. Các thông tin do d báo mang
lại căn cứ cho công tác điều hành k hoch ch đạo sn xut kinh doanh. D báo
kiu y th k đn các d báo v giá c phiu ch s giao dch trên th trưng
17
chng khoán, do giá ngoi t, lãi suất, lưu lượng khách du lịch theo mùa…..Sai s
ca loi d báo này thường không nên vưt quá 3%.
b. D báo ngn hn
D báo ngn hn các d báo tm xa d báo t 1 đn 3 năm, m căn cứ
cho vic y dng điều chnh các k hoch ngn hn. Sai s cho phép ca d báo
ngn hạn không nên vưt quá 5%.
c. D báo trung hn
D báo trung hn các d o tm xa d báo t 5 đn 7 năm, làm căn cứ
cho vic lp các k hoch phát trin trung hn, k hoạch 5 năm. D o trung hn có vai
trò rt quan trng trong h thng d báo kinh t quc dân xut phát t v trí ca k hoch
5 năm trong h thng k hoch hóa. Các mục tiêu và phương hướng phát trin trong k
hoạch 5 m mang tính toàn din h thng. Vì vy, nâng cao chất lượng các d báo
trung hn là một đòi hi thưng xuyên ca công tác k hoch hóa.
d. D báo dài hn
D báo dài hn các d báo tm xa d báo t 10 m, 15 năm hoặc 20 m
nhm cung cấp nhưng thông tin và dữ liu cho vic hoạch định các chin c phát trin
kinh t - xã hi dài hn hay hình thành mt tầm nhìn có tính định hướng trong s phát
trin lâu dài ca đất nưc.
1.2.3. Theo chức năng của d báo
Theo tiêu thức phân loại này có thể phân chia d báo thành ba loại chính, đó là d
báo tìm kim ( nghiên cứu), d báo mục tiêu và d báo tổng hợp.
a. Dự báo tìm kiếm nhim vụ xác định mức độ, trạng thái, nội dung, xu hướng
phát triển của đi tượng d báo trong tương lai trên sở nhận thức quy luật vận động
của đi tượng trong quá khứ các điều kin ban đầu với cách các gi thit. D
báo m kim da trên sở nhận thức về s vận động khách quan của các quá trình
kinh t - hội mà không xét đn mong mun của con người. Nó tr lời các câu hỏi đặt
ra dưới dạng: cái sẽ xẩy ra trong tương lai, mức độ và trạng thái trong tương lai như
th nào; bao giờ ts kin được quan tâm xẩy ra xẩy ra như như th nào; dưới tác
động của môi trường những điều kin nhất định, đi tượng kinh t - hội sẽ vận
động và phát triển theo xu hướng nào, tác động của đn đời sng kinh t - xã hội ra
sao? Xét về mặt thời gian, d báo tìm kim có chiều hướng đi từ quá khứ, hin tại sang
tương lai. thể nêu ra một s dụ về d báo tìm kim như: D báo tc độ tăng trưởng
kinh t trung bình của Vit Nam giai đoạn 2016-2020? Tỷ l hộ nghèo c nước của Vit
Nam đn năm 2020 bao nhiêu? Quy mô, chất lượng cấu dân s Vit Nam đn
18
năm 2050? Vị trí của Trung Quc trong tương quan lc ợng của th giới đn năm
2030 như th nào? Nhit độ trung bình của trái đất tăng lên ra sao vào cui th k 21?...
b. Dự báo mục tiêu: D báo mục tiêu chức năng luận gii kh năng thc hin
các mục tiêu kinh t - xã hội đã được xác định trước, nó chỉ ra cách thức thc hin hoặc
thời gian cần thit để đạt được mục tiêu mong mun nào đó trong tương lai. Chẳng hạn,
nu đặt ra mục tiêu ổn định quy mô cấu dân s ti ưu cho Vit Nam trong tương
lai thì chức năng của d báo mục tiêu trong trường hợp này là tr lời câu hỏi đặt ra: bao
giờ và bằng cách nào để đạt được mục tiêu đó? Cách tip cận chức năng d báo này rất
có  nghĩa trong qun l kinh t - hội vì nó giúp tr lời các câu hỏi như: Mục tiêu đặt
ra có phù hợp không? Bằng cách nào để đạt được mục tiêu: nguồn lc thc hin, tổ chức
hoạt động ra sao, các nhân t nh hưởng cũng như khi đạt được mc tiêu thì sẽ tác động
đn nền kinh t như th nào? Bao giờ đạt được mục tiêu? Nu cần điều chỉnh mục tiêu
thì điều chỉnh theo hướng nào? Như vậy, bằng cách tip cận d báo mục tiêu, các n
qun l thể xác định mục tiêu trong tương lai một cách có căn cứ khoa hc thc
tiễn, tránh xa rời thc t, duy chí. Hơn nữa, vic tip cận d báo mục tiêu còn giúp
phát hin, huy động và sử dụng nguồn lc một cách hiu qu nhằm thc hin mục tiêu
đã định.
Xét về mặt thời gian, d báo mục tiêu có cách tip cận từ tương lai trở về hin tại
và quá khứ. Nu trạng thái tương lai của đi tượng là kt qu cần chỉ ra của d báo tìm
kiểm (nghiên cứu) thì đi với d báo mục tiêu nó lại là xuất phát điểm. Các d báo mục
tiêu và d báo tìm kim được xây dng cho cùng một đi tượng thường lại có quy trình
trái ngược nhau về thời gian. Sở vậy trong d báo mục tiêu, các giá trị d báo
mong mun đạt giá trị cận biên trong khi đó d báo nghiên cứu lại qui về các đại lượng
trung bình xuất phát từ s bin động đã hình thành trong quá trình phát triển. Trong qun
l, hai loại d báo này có tác dụng hỗ trợ nhau, kiểm tra lẫn nhau và vì th có thể nâng
cao được chất lượng của các d báo.
c. Dự báo tổng hợp hình thức d báo, trong đó có s vận dụng nhiều cách tip
cận và những phương pháp d o khác nhau. S kt hợp giữa các yu t d báo m
kim và d báo mục tiêu, giữa d báo định lượng và d báo định tính, giữa kỹ thuật d
báo và ngh thuật d báo… có thể cho kt qu d báo xác thc về triển vng phát triển
kinh t trong tương lai. Ưu điểm của d báo tổng hợp là có thể điều chỉnh thường xuyên
mô hình các hin tượng kinh t và tìm ra các bin pháp có hiu qu nhằm đạt được mục
tiêu do d báo đưa ra. S khác nhau trong các đánh giá, s phân tích s lượng chất
lượng các đánh giá d báo thể cho phép phát hin các mâu thuẫn trong quá trình phát
triển kinh t và từ đó m ra những bin pháp hiu qu nhất để chuyển đổi nền kinh
t trong tương lai một cách phù hợp.
19
1.2.4. Theo hình thc biu hin ca kết qu d báo
a. D báo s ng
Đánh giá trạng thái trong tương lai của đi tượng d báo bng c con s (các
thng s, hoc các t l ơng quan giữa các thông s đó), ví d như các chỉ s v phát
trin kinh t, các do v dân s, lao động, các giá tr d báo nhu cầu,….
b. D báo cht lưng
Lun chứng sở ca các chin lược nghiên cứu bn, nghiên cu trin khai,
xác định vai trò ca mt s loi hình ngh thuật và văn hc trong đời sng tinh thn ca
xã hi.
1.2.5. Theo qui mô, cấp độ của đối tượng d báo
D báo vĩ mô: là các d báo ln mang tính tng hp bao hàm toàn b nn kinh
t, các vùng kinh t, c ngành kinh t,...D báo vi bao gm các d báo cấp đơn
v nh l, hay các doanh nghip.
Ngoài các cách phân loại trên đây, trong thc tin công tác d báo người ta có
th phân loi theo các cách tip cn khác: theo mức đ bao trùm ca d báo chia ra d
báo tng th và d báo đơn lẻ; theo hình thc biu hin ca kt qu d báo bao gm d
báo điểm d báo khong; theo tính cht ca mi quan h gia d báo trng thái
của đi tượng d báo trong tương lai phân ra d báo điều kin và d báo điều
kin…
Tit th 2: Cc nguyên tc, tiêu chun la chn phương php d bo v quy trnh
thc hin d bo
1.3 Cc nguyên tc d bo
1.3.1. Nguyên tc liên h bin chng
Tất c các hin tượng kinh t - hội đều mi quan h qua lại, tác động lẫn
nhau. Mi quan h giữa chúng nhiều loại: mi liên h bn chất, không bn chất; c
định và tạm thời; trc tip hoặc gián tip; tất nhiên ngẫu nhiên, ơng quan m s,
hay mi quan h nhân qu,... Nguyên tắc liên h bin chứng tạo ra công cụ, phương
pháp luận rất có hiu qu để gii thích, phân tích đúng đắn các hin tượng kinh t - xã
hội d báo đạt độ tin cậy cao. Áp dụng nguyên tắc y đòi hỏi khi phân tích d
báo các hin tượng kinh t - hội phi tính đn các mi liên h tồn tại giữa s phát
triển của lc lượng sn xuất quan h sn xuất, giữa các ngành, thành phần kinh t,
quan h giữa kinh t trong nước với kinh t th giới… Thc hin yêu cầu này cũng chính
là quán trit quan điểm đồng bộ trong khi xem xét động thái của các quá trình kinh t xã
20
hội. Ngoài ra, nguyên tắc liên h bin chứng cũng đòi hỏi phi quán trit các quan điểm
sau đây:
- Quan điểm toàn din: Nguyên tắc này đòi hỏi phi có quan toàn din, nghĩa là
không chỉ xem xét mi quan h giữa các quá trình kinh thội với nhau mà còn phi
tính đn các mi quan h giữa các hin tượng kinh t - hội với các lĩnh vc khác như
chính trị, pháp l, dân s, t nhiên, khoa hc công ngh và các mi quan h khác,...
- Quan điểm cụ thể: Yêu cầu phi xem xét các vấn đề trong một điều kin, hoàn
cnh cụ thể, tính đn s phụ thuộc lẫn nhau giữa các mặt của vấn đề nghiên cứu.
- Quan điểm h thng: Trong phân tích và d báo các quá trình kinh t - xã hội
cần quan điểm h thng, hay nói cách khác sử dụng phương pháp tip cận h thng.
Theo quan điểm h thng, cần xem bất cứ một quá trình nào cũng một h thng
liên h với th giới bên ngoài, bao gồm các phân h hoặc phần tử, cùng nhiều mi quan
h qua lại, trong đó có mi quan h chính yu. Các phân h không những phục tùng h
thng còn tính độc lập tương đi, nhim vụ mục tiêu riêng, phục vụ mục
tiêu cui cùng của h thng.
1.3.2.Nguyên tc kế tha lch s
Các hin ng kinh t - hi vận đng phát trin không ngng t thp ti
cao, t đơn gin đn phc tp, t chưa hoàn thin ti hoàn thin. S vận động th
theo không gian hoc thi gian, tun t hoc có nhy vt.
Trạng thái tương lai của đi tượng d báo kt qu phát trin hp quy lut ca
các trng thái quá kh, hin tại. Do đó, s nghiên cu sâu sc trng thái của đi ng
d báo trong quá kh và hin ti s là cơ s tt, vng chc đ d báo các xu hưng vn
động và phát trin của đi tưng d báo trong tương lai.
S nghiên cứu đó không chỉ có  nghĩa đi vi vic phát hin ngun gc còn
nghĩa đi vi vic xác định s vận đng phát trin của đi ng d báo trong
tương lai.
1.3.3. Nguyên tắc tính đặc thù v bn cht của đối tưng d báo
Nguyên tắc y đòi hỏi nht thit phi tính đn đặc điểm, đặc thù v bn cht ca
đi tượng d báo, tính đặc thù v nhng quy lut phát trin ca nó, gtr tuyt đi
giá tr tính toán ca gii hn phát triển trong ơng lai. Vi phm nguyên tc y, đặc bit
khi ngoi suy các hin tượng kinh t - hi th dẫn đn sai lm nghiêm trng,
còn d báo da trên mô hình hình thc có th s tr nên rt thô thin.

Preview text:

TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH KHOA KINH TẾ TS. Nguyễn Văn Công TS. Nguyễn Thị Thu Hà
ThS. Nguyễn Thị Thanh Quý ThS. Nguyễn Thu Hà ThS. Phạm Lê Vân
ThS. Nguyễn Thị Lương Anh ThS. Nguyễn Thị Ngân BÀI GIẢNG
DỰ BÁO PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI
Tài liệu lưu hành nội bộ 1
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH KHOA KINH TẾ TS. Nguyễn Văn Công TS. Nguyễn Thị Thu Hà
ThS. Nguyễn Thị Thanh Quý ThS. Nguyễn Thu Hà ThS. Phạm Lê Vân
ThS. Nguyễn Thị Lương Anh ThS. Nguyễn Thị Ngân BÀI GIẢNG
DỰ BÁO PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI
Thái Nguyên, tháng 6 năm 2023 2
Các từ viết tắt
TT Từ viết tắt
Ý nghĩa của từ 1 ASFR
Age – Specific Fertility Rate - Tỷ suất sinh đặc trưng theo độ tuổi 2 LMS
Learning Management System – Hệ thống quản lý học trực tuyến 3 GDP
Gross domestic product – Tổng sản phẩm quốc nội 4 TFP
Total Factor Productivity – Năng suất nhân tố tổng hợp 5 TFR
Total Fertility Rate – Tổng tỷ suất sinh 6 VA
Value Added - Giá trị gia tăng 3 Mở đầu
Dự báo là sự tiên đoán có căn cứ khoa học, mang tính chất xác suất về mức độ, nội
dung, các mối quan hệ, trạng thái, xu hướng phát triển của đối tượng nghiên cứu hoặc
về cách thức và thời hạn đạt được các mục tiêu nhất định đã đề ra cho tương lai. Thực
tế cho thấy dự báo có vai trò quan trọng trong quá trình ra quyết định quản lý. Dự báo
không chỉ tạo cơ sở khoa học cho việc xây dựng kế hoạch, hoạch định chiến lược phát
triển, quy hoạch phát triển mà còn cho phép xem xét khả năng thực hiện kế hoạch và
hiệu chỉnh kế hoạch. Dự báo cung cấp thông tin cần thiết cho lập kế hoạch trong phạm
vi doanh nghiệp, các tình huống kinh doanh, đến kế hoạch, chiến lược phát triển trong
phạm vi ngành/lĩnh vực, và lập chiến lược, kế hoạch phát triển kinh tế xã hội. Các kiến
thức tổng hợp của dự báo cung cấp thông tin cần thiết cho các nhà quản lý, doanh nghiệp
và kể cả người tiêu dùng.
Để giúp người học tiếp cận với tri thức khoa học về dự báo phát triển kinh tế-xã
hội, môn học Dự báo phát triển Kinh tế-xã hội đã ra đời và được giảng trong hầu hết các
ngành kinh tế của các trường đại học ở Việt Nam ngay từ đầu khi mới thành lập và bắt
đầu được giảng dạy ở Đại học Kinh tế & Quản trị kinh doanh – Đại học Thái Nguyên
từ năm 2012. Cùng với quá trình giảng dạy, môn học ngày càng được hoàn thiện cả về nội dung và kết cấu.
Bài giảng Dự báo phát triển Kinh tế- xã hội được biên soạn nhằm cung cấp các
kiến thức cơ bản của học phần cho sinh viên trường Đại học Kinh tế & Quản trị kinh
doanh, bao gồm các nội dung giảng dạy trực tiếp kết hợp với trực tuyến, kết cấu làm 5 chương như sau:
Chương 1: Những vấn đề lý luận cơ bản của dự báo phát triển kinh tế - xã hội
Chương 2: Một số mô hình dự báo thông dụng
Chương 3: Dự báo các nguồn lực phát triển kinh tế
Chương 4: Dự báo cầu thị trường
Chương 5: Dự báo tốc độ tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế

Kết cấu chung bao gồm tên chương có chứa tiết giảng dạy, học tập trực tuyến; tóm
tắt nội dung chương; mục tiêu của chương; các nội dung cụ thể của tiết học; câu hỏi trắc
nghiệm cuối mỗi tiết học.
Chúng tôi hy vọng cuốn bài giảng sẽ giúp sinh viên có thể nâng cao hiệu quả việc tự học của mình.
Cuốn bài giảng được biên soạn lần đầu nên chắc chắn không tránh khỏi thiếu sót,
vì vậy, nhóm tác giả rất mong nhận được những ý kiến đóng góp để bài giảng hoàn thiện hơn. 4
Tập thể tác giả 5 CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN CỦA DỰ BÁO PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI
Tiết thứ 1: Vị trí và phân loại dự báo
1.1.Vị trí của dự báo trong việc ra quyết định quản lý các quá trình kinh tế xã hội.
1.1.1. Sự cần thiết của dự báo
-Dự báo là cần thiết vì luôn có khoảng cách thời gian giữa nhận thức và thực tế xẩy ra sự kiện
Hoạt động của con người là loại hoạt động tự giác, có ý thức và luôn hướng về
tương lai. Vì vậy, luôn tồn tại khoảng cách thời gian giữa thời điểm nhận thức về sự
kiện sắp xẩy ra hoặc nhu cầu quản lý và thời điểm xẩy ra của sự kiện đó. Khoảng thời
gian đó chính là lý do của kế hoạch hóa và dự báo. Nếu khoảng thời gian đó là bằng
không hoặc rất nhỏ thì không cần phải kế hoạch hóa. Nếu khoảng cách đó là dài và kết
quả của sự kiện cuối cùng phụ thuộc vào nhiều nhân tố có thể nhận biết thì kế hoạch hóa
càng có vai trò quan trọng. Trong bối cảnh đó, dự báo là hết sức cần thiết để trả lời câu
hỏi “khi nào sự kiện xẩy ra”, làm cơ sở cho các hành động có thể tiến hành.
Trong quản lý và hoạt động kinh doanh, kế hoạch hóa là công cụ rất cần thiết vì
quỹ thời gian cho phép để đưa ra quyết định có thể giao động từ vài ba năm (ví dụ trong
tình huống đầu tư) đến một vài ngày hoặc giờ ( như kế hoạch vận tải hoặc sản xuất), đến
vài giây ( kết nối liên lạc viễn thông hoặc dịch vụ điện tử). Dự báo là sự trợ giúp quan
trọng trong kế hoạch hóa, nó tạo tiền đề để nâng cao hiệu lực và hiệu quả của kế hoạch.
- Môi trường hoạt động của tổ chức luôn biến động đặt ra yêu cầu cần thiết phải có dự báo
Môi trường mà trong đó các hoạt động của tổ chức diễn ra có đặc điểm là thường
xuyên biến động, hình thành nên tính không chắc chắn của môi trường. Tính không chắc
chắn của môi trường được xem là một thuộc tính cố hữu, tồn tại khách quan. Môi trường
được tạo nên bởi nhiều yếu tố rất đa dạng, phong phú, trong đó các yếu tố luôn trong
trạng thái vận động, phát triển không ngừng và tác động qua lại lẫn nhau. Kiểm soát sự
thay đổi của môi trường đối với tổ chức là điều không chắc chắn. Tổ chức có thể kiểm
soát được sự thay đổi của một số ít các yếu tố trong muôn vàn các yếu tố tác động đến
môi trường do nhiều nguyên nhân như thiếu thông tin, do hạn chế về tri thức, do bản
chất bất định của các yếu tố. Ngoài ra, trong điều kiện tiến bộ khoa học công nghệ ngày
nay, môi trường kinh tế - xã hội đã có nhiều thay đổi: Hoạt động quản lý của Nhà nước
ở tất cả các cấp độ được tăng cường; cạnh tranh càng trở nên quyết liệt hơn; thương mại
quốc tế đã mở rộng ra ở hầu hết các lĩnh vực; hỗ trợ xã hội và dịch vụ môi giới gia
tăng…Các nhân tố đó kết hợp lại hình thành nên môi trường tổ chức bao gồm nhiều tổ
hợp ở các cấp độ khác nhau, liên hệ và đan chéo, biến đổi với nhịp độ nhanh và cạnh 6
tranh quyết liệt hơn. Như vậy, có thể nói sự không chắc chắn về môi trường của tổ chức
không những luôn tồn tại mà ngày càng có xu hướng tăng lên dẫn đến các quyết định
quản lý ngày càng có độ rủi ro cao hơn.
Điều không thể phủ nhận là chính trong điều kiện môi trường không chắc chắn
đó, những quyết định ngày hôm nay của tổ chức lại có tác động lớn đến sự phát triển
trong tương lai của nó. Tuy nhiên, nếu các tổ chức không thể phản ứng nhanh những
thay đổi của môi trường và không thể nhìn trước tương lai với mức độ chính xác, hoạt
động của nó sẽ rơi vào tình trạng khó khăn, thậm chí trở nên bi đát và phá sản. Câu hỏi
đặt ra là, trong điều kiện độ chắc chắn của môi trường tăng lên, các thủ tục dự báo cần
được hoàn thiện theo hướng nào? Trước đây các quyết định quản lý của tổ chức được
đưa ra trên cơ sở các dự báo truyền thống dựa trên kinh nghiệm, sự phán xét mang tính
trực giác dưới dạng định tính. Có thể thấy, trước khi xuất hiện các kỹ thuật dự báo hiện
đại với sức mạnh của máy tính, sự phán xét của các nhà quản lý đã là công cụ dự báo
duy nhất. Điều này không có nghĩa nói rằng dự báo trực giác là không tốt. Ngược lại,
chính những cảm giác “ gan ruột” của những người có kinh nghiệm và kiến thức thường
cung cấp những dự báo có hiệu lực. Tuy nhiên, như đánh giá của Makridakins, (1986),
dự báo trực giác thường không đảm bảo độ chính xác, bởi con người luôn có xu hướng
lạc quan và đánh giá thấp sự không chắc chắn của tương lai, hơn nữa chi phí của phương
pháp này thường cao hơn đáng kể so với sử dụng phương pháp định lượng. Ngày nay,
những nền tảng về phương pháp dự báo đã được tăng cường đáng kể. Các máy tính cùng
với kỹ thuật định lượng đã tạo điều kiện thuận lợi hơn cho dự báo trong các tổ chức hiện
đại. Sự phức tạp trong thủ tục dự báo hiện nay là ở chỗ, cần phải xử lý, chắt lọc các
thông tin hữu ích phục vụ cho việc ra quyết định trước một khối lượng khổng lồ các
thông tin dữ liệu về môi trường. Các công cụ hiện đại của dự báo cùng với khả năng của
máy tính đã trở thành phương tiện hiệu quả để giải quyết vấn đề đó của tổ chức hoạt
động trong thế giới hiện đại. Vì vậy, trong điều kiện môi trường hoạt động không chắc
chắn, các nhà ra quyết định cần hiểu tốt hơn cả kỹ thuật dự báo định lượng và định tính
và sử dụng chúng một cách sáng suốt hơn là khi họ dùng quyền lực để lập kế hoạch cho
tương lai mà thiếu đi việc xử lý thông tin một cách hữu hiệu.
- Đời sống xã hội thay đổi nhanh chóng và nhiều rủi ro trong điều kiện toàn cầu
hóa đòi hỏi phải tăng cường công tác dự báo
Đặc điểm có tính chất bao trùm trong thời đại ngày nay là quá trình toàn cầu hóa.
Đó là một hiện tượng, một xu thế liên kết trong quan hệ quốc tế làm tăng sự phụ thuộc
lẫn nhau về nhiều mặt của đời sống xã hội (từ kinh tế, chính trị, an ninh, văn hoá đến
môi trường, …) giữa các quốc gia. Trong lĩnh vực kinh tế, toàn cầu hóa được hiểu là
quá trình hình thành và phát triển các thị trường toàn cầu và khu vực, làm gia tăng sự 7
tương tác và tuỳ thuộc lẫn nhau giữa các nước thông qua sự gia tăng các luồng giao lưu
hàng hoá và nguồn lực (resources) qua biên giới giữa các quốc gia cùng với sự hình
thành các định chế, tổ chức quốc tế nhằm quản lý các hoạt động và giao dịch kinh tế quốc tế.
Toàn cầu hóa ảnh hưởng đến phát triển bền vững của các quốc gia, cụ thể trên các lĩnh vực:
- Về lĩnh vực kinh tế: Toàn cầu hóa tác động đến toàn cầu hóa kinh tế và khủng
hoảng kinh tế toàn cầu, gia tăng thương mại quốc tế, đầu tư trực tiếp nước ngoài, việc
ra đời và gia tăng vai trò của các tổ chức quốc tế như WTO, IMF, WB, OPEC, ... Toàn
cầu hóa kinh tế được xem là trái ngược hẳn với chủ nghĩa kinh tế quốc gia và chủ nghĩa
bảo hộ, nó ảnh hưởng đến chủ quyền quốc gia trong phạm vi kinh tế, nó có tác động tiêu
cực từ các quốc gia phát triển sang các quốc gia đang phát triển do sự tìm kiếm lợi nhuận
của các tập đoàn đa quốc gia. -
Về lĩnh vực công nghệ: Bùng nổ công nghệ thông tin và viễn thông, phát triển hạ
tầng viễn thông toàn cầu, phát triển internet, các vệ tinh liên lạc, điện thoại. Nhờ có
những thành tựu của công nghệ tin học và viễn thông, mà quan hệ giữa các khu vực trên
thế giới ngày càng gần gũi tạo nên một nền văn minh toàn cầu, một thế giới phẳng. -
Về lĩnh vực văn hóa – xã hội: Gia tăng trao đổi văn hóa quốc tế, đồng hóa, lai tạp
hóa của văn hóa, gia tăng đi lại và du lịch quốc tế, gia tăng di cư, nhập cư trái phép,..Toàn
cầu hóa đã giúp con người hiểu hơn về thế giới và những thách thức ở quy mô toàn cầu.
Sự toàn cầu hóa có thể mang lại sự tự do cá nhân nhưng cũng có thể đánh mất bản sắc, … -
Về lĩnh vực chính trị: Toàn cầu hóa làm tăng lên nhiều lần các mối quan hệ của
các công dân trên thế giới và cơ hội cho từng người “công dân toàn cầu”. Tuy nhiên
trong lĩnh vực chính trị, toàn cầu hóa là cơ hội gia tăng khủng bố, buôn lậu ma túy,.. -
Về lĩnh vực môi trường: Biến đổi khí hậu toàn cầu (nhiệt độ trái đất tăng, mực
nước biển dâng, gia tăng lũ lụt, hạn hán, và các tai biến tự nhiên khác như: trượt lở, lũ
quét, lũ ống, động đất, sóng thần....,), gia tăng ô nhiễm môi trường. Biến đổi khí hậu
toàn cầu đang là thách thức lớn nhất với nhân loại trên trái đất, đe dọa trực tiếp môi
trường sống của con người, đặc biệt trong phạm vi hệ thống các đô thị, các khu công
nghiệp và các khu dân cư, kinh tế trên trái đất.
Như vậy, toàn cầu hoá có tác động toàn diện lên mọi mặt của đời sống xã hội ở mọi
quốc gia, bao gồm cả mặt tích cực và cả mặt trái của nó, làm nổi bật hàng loạt biến đổi
có quan hệ lẫn nhau mà từ đó chúng có thể phát sinh một loạt điều kiện mới: tốc độ biến
đổi nhanh hơn; hợp tác chặt chẽ hơn; cạnh tranh khốc liệt hơn và rủi ro cao hơn. Tất cả
những vấn đề đó đặt ra cho xã hội, các nhà lãnh đạo, các nhà quản lý, các nhà khoa
học những thách thức không nhỏ trong tất cả các lĩnh vực. Trong bối cảnh đó con người 8
buộc phải tìm ra những cách tiếp cận mới, dự báo trước diễn biến của tình hình để tận
dụng các mặt tích cực, đồng thời hạn chế tối đa các tác động bất lợi do quá trình toàn
cầu hóa gây nên nhằm đảm bảo sự phát triển bền vững.
1.1.2. Khái niệm về dự báo
Thuật ngữ dự báo có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp “Pro” (nghĩa là trước) và “grosis”
nghĩa là biết trước. Bản thân thuật ngữ dự báo đã nói lên thuộc tính không thể thiếu được
của bộ não con người: đó là sự phản ánh vượt trước. Trong quá trình tồn tại và phát triển
con người luôn hướng về phía trước, cố gắng hướng tới một tương lai ngày một tốt đẹp
hơn. Những cố gắng ban đầu đó được thể hiện dưới hình thức là các ước đoán, những
hy vọng thiếu căn cứ, những ước muốn viển vông không tưởng, những tính toán ước
lượng thiếu cơ sở khoa học và mang nặng tính kinh nghiệm.
Từ cổ xưa dự báo đã được áp dụng trong cuộc sống hàng ngày, nhưng mang nặng
màu sắc thần bí tôn giáo, thể hiện ở các câu tiên tri, lời bói toán. Ngay từ thời cổ Hy Lạp
người ta đã phân chia các lĩnh vực dự báo thành:
- Các hiện tượng tự nhiên như: Thời tiết, nhật thực, nguyệt thực,….
- Các hiện tượng xã hội: Sự xuất hiện và kết thúc các cuộc chiến tranh , sự hưng
thịnh hay suy vong của một thể chế chính trị…..
- Các hiện tượng về đời sống xã hội như khả năng giàu có, bệnh tật, sinh tử, sự
phát đạt của các dòng họ….
Suốt nhiều thập kỷ trước dự báo không được vận dụng một cách khoa học và không
có tính tích cực, bởi vì đây là thời kỳ lý thuyết tôn giáo không tưởng và triết học duy
tâm chiếm vai trò thống trị trong tư duy nhận thức thế giới. Giai cấp thống trị đã lợi
dụng nó làm công cụ thống trị và mê hoặc người dân nghèo khổ. Đến thế kỷ XVI, XVII
khi các môn khoa học tự nhiên như toán học, vật lý học, hóa học và thiên văn học đã
phát triển, các dự báo có tính khoa học mới dần dần xuất hiện. Tuy nhiên, lúc đầu các
dự báo với độ chính xác cao thường được áp dụng trong vật lý cổ điển, hóa học và đặt
trong phạm vi không gian và thời gian rất khắt khe. Sau đó, xuất hiện nhiều dự báo mà
hiện tượng dự báo rất phức tạp, chịu sự tác động của nhiều nhân tố: tiến bộ khoa học –
kỹ thuật, sự phát triển kinh tế - xã hội, chính trị, sự thay đổi về tâm lý và chuẩn mực
đạo đức xã hội, đòi hỏi dự báo phải vận dụng các phương pháp thống kê xác suất (dự
báo với một độ tin cậy nào đó chứ không hoàn toàn chính xác). 9
Học thuyết của Mác đã mở ra khả năng mới về sự tiên đoán có tính khoa học về
các hình thái kinh tế - xã hội. Mác và Ăngghen là người đầu tiên đề ra và giải thích một
cách sâu sắc rằng mâu thuẫn chính là động lực phát triển của mọi hình thái kinh tế - xã
hội và sự tất yếu khách quan của việc chuyển từ hình thái kinh tế - xã hội này sang hính
thái kinh tế - xã hội khác tiến bộ hơn. Hai ông cho rằng các hiện tượng kinh tế - xã hội
vận động và phát triển theo thời gian hiện tại bao giờ cũng mang dấu vết trong quá khứ
còn tương lai do quá khứ và hiện tại phát triển tạo thành. Khi liên hệ một cách thận trọng
với kinh nghiệm của quá khứ để rút ra bài học sâu sắc từ thực tiễn sinh động, không thể
phủ nhận được những tiên đoán thiên tái của Lê nin, một di sản có tính chất kinh điển.
Ông đã tổng quát hóa các khuynh hướng phát triển của các hiện tượng phức tạp nhất
trong các lĩnh vực chính trị, kinh tế, xã hội và khoa học, tập trung đầu tư cho kế hoạch
điện khí hóa Nhà nước Xô Viết đầu tiên.
Như vậy, dự báo đã từ thần bí kinh nghiệm phát triển thành bộ môn khoa học độc
lập. Ngày nay, vai trò của dự báo ngày càng được khẳng định và tăng lên đáng kể trong
mọi lĩnh vực và cấp độ của đời sống xã hội. Đó là do quy mô của nền kinh tế ngày càng
lớn, cấu trúc của nền kinh tế - xã hội ngày càng phức tạp. Việc tổng hợp các nhân tố ảnh
hưởng đến quá trình phát triển nền kinh tế quốc dân, việc vạch ra các luận chứng để xây
dựng chiến lược, quy hoạch và kế hoạch phát triển, việc lựa chọn các phương án để xem
xét khả năng thực hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội ngày càng tăng lên.
Như vậy có thể hiểu: Dự báo là sự tiên đoán có căn cứ khoa học, mang tính chất
xác suất về mức độ, nội dung, các mối quan hệ, trạng thái, xu hướng phát triển của đối
tượng nghiên cứu hoặc về cách thức và thời hạn đạt được các mục tiêu nhất định đã đề ra trong tương lai.
Tiên đoán là hình thức phản ánh vượt trước về thời gian hiện thực khách quan, đó
là kết quả nhận thức chủ quan của con người dựa trên cơ sở nhận thức quy luật khách
quan trong sự vận động và phát triển của sự vật và hiện tượng. Có thể phân biệt ba loại tiên đoán:
- Tiên đoán không khoa học: Đó là các tiên đoán không có cơ sở khoa học, thường
dựa trên các mối quan hệ qua lại có tính tưởng tượng , không hiện thực, được cấu trúc
một cách giả tạo, hoặc những phát hiện có tính chất bất chợt. Các hình thức như bói
toán, tiên tri, các luận điệu tuyên truyền của các thế lực thù địch,…thuộc loại tiên đoán này. 10
- Tiên đoán kinh nghiệm: Các tiên đoán hình thành qua kinh nghiệm thực tế dựa
vào các mối quan hệ qua lại thường xuyên trong thực tế hoặc tưởng tượng mà không
trên cơ sở phân tích cấu trúc lý thuyết, nghiên cứu quy luật hay đánh giá kinh nghiệm.
Loại tiên đoán này ít nhiều có cơ sở song lại không giải thích được sự vận động của đối
tượng và đa số mới chỉ dừng lại ở mức độ định tính.
- Tiên đoán khoa học: Đây là tiên đoán dựa trên việc phân tích mối quan hệ qua lại
giữa các đối tượng trong khuôn khổ của một hệ thống lý luận khoa học nhất định. Nó
dựa trên việc phân tích tính quy luật phát triển của đối tượng dự báo và các điều kiện
ban đầu với tư cách như là các giả thiết. Tiên đoán khoa học là kết quả của sự kết hợp
giữa những phân tích định tính và phân tích định lượng các quá trình cần dự báo. Chỉ có
dự báo khoa học mới đảm bảo độ tin cậy cao và là cơ sở vững chắc cho việc thông qua
các quyết định quản lý khoa học.
Dự báo bao giờ cũng có thời gian xác định, hay là tầm xa dự báo. Tầm xa dự báo
là khoảng cách thời gian tối đa từ hiện tại đến thời điểm phát biểu dự báo. Khoảng cách
này phụ thuộc vào nhiều nhân tố: sự thay đổi của đối tượng dự báo, mức độ ổn định của
các nhân tố ảnh hưởng, độ dài thời ký tiền sử…..
1.1.3. Tính chất của dự báo
Dự báo mang tính xác suất : Mỗi đối tượng dự báo đều vận động theo mọt quy
luật nào đó, mọt quỹ đạo nhất định nào đó, đồng thời trong quá trình phát triển nó luôn
luôn chịu sự tác động của môi trường hay các yếu tố bên ngoài. Bản thân môi trường
hay các yếu tố tác động không phải đứng im mà luôn luôn trong trạng thái vận động và
phát triển không ngừng. Về phía chủ thể dự báo, những thông tin và hiểu biết về đối
tượng ở tương lai bao giờ cũng nghèo nàn hơn hiện tại. Vì vậy, dù trình độ dự báo có
hoàn thiện đến đâu cũng không dám chắc rằng đánh giá dự báo là hoàn toàn chính xác.
Hay nói một cách khác dự báo bao giờ cũng mang tính xác suất.
Dự báo là đáng tin cậy : Dự báo mang tính xác suất nhưng đáng tin cậy vì nó dựa
trên những cơ sở lý luận và phương pháp luận khoa học. Đó là phép biện chứng duy vật
và lịch sử, hệ thống các lý luận khoa học về kinh tế và xã hội, phương pháp và công cụ
xử lý thông tin ngày càng hiện đại. Xét về mặt bản chất, dự báo là sự phản ánh vượt
trước, là những giả thiết về sự phát triển của đối tượng dự báo trong tương lai được đưa
ra trên cơ sở nhận thức các quy luật phát triển và những điều kiện ban đầu với tư cách
là những giả thiết. Theo đà phát triển của khoa học – kỹ thuật, trình độ nhận thức quy 11
luật và các điều kiện ban đầu ngày càng được hoàn thiện thì độ tin cậy của dự báo không ngừng được nâng cao.
Dự báo mang tính đa phương án: Mỗi dự báo được thực hiện trên những tập hợp
các giả thiết nhất định – dự báo có điều kiện. Tập hợp các giả thiết như vậy gọi là phông
dự báo. Dự báo có thể được tiến hành trên các phông dự báo khác nhau do những nguyên
nhân chủ quan và khách quan khác nhau và vì vậy có thể có nhiều phương án dự báo
khác nhau. Tính đa phương án một mặt là thuộc tính khách quan của dự báo nhưng mặt
khác lại phù hợp với yêu cầu của công tác quản lý, nó làm cho việc ra quyết định cũng
như chỉ đạo thực hiện quyết định quản lý trở nên linh hoạt hơn, dễ thích nghi với sự biến
đổi vô cùng phức tạp của tình hình thực tế.
1.1.4. Chức năng và vai trò của dự báo phát triển kinh tế - xã hội a. Chức năng
Theo quan điểm của triết học, dự báo là một hình thức nhận thức thế giới, nhận
thức xã hội. Nó có hai chức năng cơ bản :
- Chức năng tham mưu : Trên cơ sở đánh giá thực trạng, phân tích xu hướng vận
động và phát triển trong quá khứ, hiện tại và tương lai, dự báo sẽ cung cấp thông tin cần
thiết, khách quan làm căn cứ cho việc ra quyết định quản lý và xây dựng chiến lược, kế
hoạch hóa các chương trình, dự án,…Người quản lý và hoạch định chiến lược, người
lập kế hoạch có nhiệm vụ phải lựa chọn trong số các phương án có thể có, tìm ra các
phương án có tính khả thi cao nhất, có hiệu quả cao nhất. Để thực hiện tốt chức năng
này dự báo phải thật sự đảm bảo tính khách quan, khoa học và tính độc lập tương đối
với các cơ quan quản lý và hoạch định chính sách.
- Chức năng khuyến nghị hay điều chỉnh: Với chức năng này dự báo tiên đoán các
hậu quả có thể nảy sinh trong quá trình thực hiện các chính sách kinh tế - xã hội nhằm
giúp các cơ quan chức năng kịp thời điều chỉnh mục tiêu cũng như cơ chế tác động quản
lý để đạt hiệu quả kinh tế - xã hội cao nhất.
Với hai chức năng đó, nếu xét trong quan hệ với kế hoạch thì dự báo bao gồm hai
loại : Dự báo trước kế hoạch là tiền đề khoa học đảm bảo tính khả thi của kế hoạch, còn
dự báo sau kế hoạch giúp cho quá trình chỉ đạo thực hiện kế hoạch đạt hiệu quả cao nhất.
b. Vai trò của dự báo 12
Dự báo có vai trò quan trọng trong quá trình ra quyết định quản lý. Theo nghĩa
chung nhất, quản lý là sự tác động liên tục có tổ chức, có chủ đích vào đối tượng bằng
các hệ thống biện pháp kinh tế, xã hội, các biện pháp hành chính….nhằm tạo điều kiện
thuận lợi thúc đẩy sự phát triển sản xuất, tiến bộ xã hội. Kết quả của hoạt động quản lý
là các quyết định quản lý. Cơ chế ra quyết định gồm ba bước:
- Thu thập thông tin về đối tượng quản lý
- Xây dựng mô hình thống kê thực nghiệm và thông tin tiên nghiệm
- So sánh cân nhắc đưa ra quyết định
Trong các bước của quá trình ra quyết định quản lý thì vấn đề xây dựng mô hình
là khâu cơ bản nhất. Sở dĩ như vậy là vì quá trình đi đến một quyết định quản lý đòi hỏi
phải mô hình hóa các mối quan hệ trong quá trình vận động và phát triển các đối tượng
quản lý, cho phép liên kết các mối quan hệ không những theo chiều dọc mà còn theo
chiều ngang, cho phép liên hệ từ quá khứ đến hiện tại sang tương lai. Xét về mặt thời
gian các mô hình như vậy đều mang ý nghĩa dự báo.
Hướng sử dụng mô hình dự báo trong hoạt động quản lý là rất quan trọng, nó tạo
điều kiện không những cung cấp thông tin tương lai mà còn có khả năng làm chủ công
tác quản lý. Nhờ có mô hình dự báo mà có thể tăng cường khả năng quản lý một cách khoa học:
- Giúp nhận thức sâu sắc hơn các quy luật khách quan, tránh được chủ quan duy ý chí.
- Mô hình hóa đề cập một cách toàn diện các mối quan hệ kinh tế - xã hội.
- Cho phép định lượng được các mối quan hệ bằng cách áp dụng các phương pháp
khoa học như toán, thống kê, tin học…
Trong nền kinh tế thị trường, công tác dự báo là vô cùng quan trọng bởi lẽ nó cung
cấp các thông tin cần thiết nhằm phát hiện và bố trí sử dụng các nguồn lực trong tương
lai một cách có căn cứ thực tế. Với những thông tin mà dự báo đưa ra cho phép các nhà
hoạch định chính sách có những quyết định về đầu tư, các quyết định về sản xuất, về tiết
kiệm và tiêu dùng, các chính sách tài chính, chính sách kinh tế vĩ mô. Dự báo không chỉ
tạo cơ sở khoa học cho việc hoạch định chính sách, cho việc xây dựng chiến lược phát
triển, cho các quy hoạch tổng thể mà còn hco phép xem xét khả năng thực hiện kế hoạch
và hiệu chỉnh kế hoạch.
Dự báo đang có xu hướng gia tăng đáng kế do 3 yếu tố sau: 13
• Dự báo ngày càng được sử dụng phổ biến ở hầu hết các bộ phận trong DN trong
QT xây dựng kế hoạch chiến lược, phân tích tình huống kinh doanh, lập kế hoạch ngân sách VĐT…
1.2 Phân loại dự báo
Hoạt động kinh tế - xã hội trong điều kiện kinh tế thị trường không chỉ giới hạn
trong lĩnh vực sản xuất vật chất mà bao trùm tất cả các mặt của đời sống xã hội. Việc
quản lý một cách có hiệu quả các quá trình kinh tế - xã hội trong những điều kiện như
vậy đòi hỏi phải xây dựng một hệ thống dự báo khác nhau theo nhiều tiêu thức phân loại.
1.2.1. Theo bản chất của đối tượng dự báo a. Dự báo kinh tế
Dự báo kinh tế nghiên cứu những xu thế, khuynh hướng vận động phát triển của
nền kinh tế và các bộ phận, yếu tố cấu thành của nó trong tương lai. Nhiệm vụ của dự
báo kinh tế là phát hiện những xu thế phát triển của các hiện tượng kinh tế quan trọng
nhất trong quá khứ và hiện tại, đánh giá khả năng tác động của những tính quy luật đã
tìm được trong tương lai, tiên đoán những tình huống và những vấn đề then chốt có xác
suất lớn của sự phát triển kinh tế sắp tới cũng như trong tương lai xa hơn; nghiên cứu
các xu hướng tăng trưởng kinh tế và tạo cơ sở xây dựng các chiến lược phát triển. Dự
báo kinh tế được nghiên cứu ở cả cấp độ vĩ mô và cấp độ vi mô, bao gồm các nội dung
liên quan đến việc điều hành nền kinh tế cũng như hoạt động sản xuất kinh doanh ở cấp độ doanh nghiệp.
b. Dự báo xã hội:
Phát triển về mặt xã hội là một nội dung quan trọng trong tiến trình phát triển
của đất nước. Ngày nay, quan niệm về phát triển luôn gắn liền với tính chất bền vững
của nó, trong đó bao gồm 3 trụ cột chủ yếu là bền vững về kinh tế, xã hội và môi trường.
Phát triển xã hội theo hướng tiến bộ xã hội là một đặc trưng cơ bản của đời sống xã hội
thời kỳ hiện đại. Đảng và nhà nước ta rất coi trọng chính sách phát triển xã hội, bởi vì
xét đến cùng sự phát triển là nhằm nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho con
người. Phát triển vì con người không chỉ là mục tiêu mà còn là động lực của sự phát triển.
Trong điều kiện ngày nay, dưới tác động của tiến bộ khoa học công nghệ, cơ
chế thị trường, hội nhập quốc tế và xu hướng toàn cầu hóa, sự phát triển về mặt xã hội
luôn chứa đựng cả những mặt tích cực lẫn không tích cực. Vì vậy, việc giải quyết các
vấn đề xã hội trong quá trình phát triển là nhiệm vụ quan trọng vừa có tính chất thường 14
xuyên vừa có tính chất lâu dài. Để giải quyết nhiệm vụ đó, nhà nước cần có chính sách
phát triển xã hội phù hợp, được xây dựng trên cơ sở các đánh giá dự báo đáng tin cậy
về xu hướng vận động của các vấn đề xã hội trong tương lai.
Dự báo phát triển xã hội có nhiệm vụ phân tích tác động của các nhân tố đến
quá trình biến đổi xã hội và luận giải các xu hướng vận động có thể có của các vấn đề
xã hội trong tương lai. Đây là một lĩnh vực dự báo đặc thù với phạm vi rộng lớn và phức
tạp. Nội dung dự báo phát triển xã hội bao gồm trước hết là sự vận động của cơ cấu xã
hội, trong đó bao gồm cơ cấu các giai tầng xã hội, các giới đồng bào cùng sự tiến bộ của
nền dân chủ xã hội, sự thay đổi văn hóa, lối sống cũng như các giá trị cơ bản của xã hội.
Ở khía cạnh cụ thể, dự báo xã hội đề cập đến sự biến động về dân số, việc làm, mức
sống dân cư và bất bình đẳng xã hội; sự phát triển của giáo dục, y tế và chăm sóc sức
khỏe nhân dân; phúc lợi và đảm bảo xã hội…
c. Dự báo tiến bộ khoa học công nghệ xác định các phương án phát triển khoa học
công nghệ trong tương lai dựa trên cơ sở phân tích xu thế của nó trong thời kỳ trước dự
báo và những yêu cầu của xã hội, định hướng mục tiêu dự kiến trong tương lai. Dự báo
khoa học công nghệ cho phép phát hiện ý nghĩa xã hội của các nghiên cứu khoa học,
đánh giá khả năng tiềm tàng của việc sáng tạo kỹ thuật mới, xác định trình độ công nghệ
trong tương lai, làm căn cứ cho việc hoạch định chính sách phát triển khoa học công
nghệ. Ngoài ra, việc xác định tác động của tiến bộ khoa học – công nghệ trong nước và
trên thế giới đến đời sống kinh tế - xã hội của đất nước cũng là một hướng chủ đạo của
dự báo tiến bộ khoa học và công nghệ.
d. Dự báo chính trị và quân sự
Các xu thế chính trị và quân sự khác nhau trên thế giới cho đến nay vẫn luôn
là vấn đề tồn tại trên thực tế. Mặc dù xu hướng chủ đạo trong quan hệ quốc tế ngày nay
là hòa bình, hợp tác và phát triển, song ở nơi này, nơi khác vẫn xẩy ra các xung đột tôn
giáo, sắc tộc, dân tộc… ở những mức độ khác nhau. Thực tế đó đã buộc các nhà lãnh
đạo các quốc gia, các tổ chức quốc tế và các nhà khoa học phải quan tâm đến sự thay
đổi của các xu thế chính trị và quân sự. Bởi như Colin – nhà chiến lược nổi tiếng của
Mỹ- đã từng nói: trong các chiến lược phát triển của quốc gia, chiến lược quốc phòng là
quyết định nhất vì một khi chủ quyền đất nước bị đe dọa và toàn vẹn lãnh thổ bị xâm
hại thì các chiến lược phát triển khác cũng chẳng còn ý nghĩa gì. Do vậy, mặc dù là lĩnh
vực rất đặc thù, song các dự báo về chính trị và quân sự luôn đóng vai trò hết sức quan
trọng trong chiến lược phát triển của các quốc gia.
e. Dự báo quan hệ quốc tế
Dự báo quan hệ quốc tế hay quan hệ đối ngoại là một lĩnh vực dự báo đặc thù
và có vai trò quan trọng, đặc biệt trong xu thế hội nhập quốc tế và toàn cầu hóa hiện nay. 15
Nhiệm vụ cơ bản của dự báo quan hệ quốc tế là xác định các nhân tố ảnh hưởng và xu
thế thay đổi tương quan lợi ích và lực lượng giữa các nước và các khu vực trên thế giới
trong bối cảnh gia tăng hợp tác và cạnh tranh toàn cầu. Nó tạo tiền đề cho hoạch định
chính sách của quốc gia trên nhiều lĩnh vực, trước hết là chính sách đối ngoại. Quan hệ
quốc tế bao gồm nhiều lĩnh vực như chính trị, ngoại giao, kinh tế, văn hóa, an ninh quốc
phòng…, trong đó quan hệ kinh tế đối ngoại là một lĩnh vực quan trọng và do đó chính
sách kinh tế đối ngoại là một bộ phận cấu thành cốt yếu trong hệ thống chính sách phát
triển kinh tế - xã hội. Các dự báo về biến động thị trường xuất nhập khẩu, các luồng đầu
tư nước ngoài, sự thay đổi về tỷ giá, khả năng hợp tác quốc tế về khoa học công
nghệ…có vai trò rất quan trọng trong hoạch định chính sách kinh tế đối ngoại.
g. Dự báo môi trường sinh thái hướng đến những thay đổi có thể có của môi trường
sinh thái, và các tác động của nó tới sự phát triển kinh tế - xã hội trong tương lai. Những
thông tin do dự báo mang lại sẽ là căn cứ để nhà nước đưa ra các chính sách và biện
pháp cần thiết và kịp thời nhằm ngăn chặn mọi tác động bất lợi đến cảnh quan và môi
trường sống của con người. Trong dự báo môi trường sinh thái, các dự báo hiện đang
được quan tâm nghiên cứu nhiều như: sự biến đổi khí hậu toàn cầu và ảnh hưởng của nó
đến sản xuất và đời sống của các quốc gia; tác động của quá trình công nghiệp hóa và
đô thị hóa đến cuộc sống của con người; sự cạn kiệt các nguồn tài nguyên; khủng hoảng
lương thực và năng lượng; tình trạng đói nghèo và dịch bệnh trên thế giới…Dự báo biến
động tài nguyên và môi trường có quan hệ trực tiếp với việc hoạch định chiến lược phát
triển của các quốc gia trong thời kỳ hiện đại.
Ngoài các lĩnh vực dự báo chủ yếu trên đây, trong đời sống xã hội còn có thể có
các lĩnh vực dự báo đặc thù phục vụ các hoạt động nghiên cứu, quản lý riêng biệt khác.
Với bản chất là công cụ nhận thức thế giới và xã hội, có thể nói dự báo bao trùm lên mọi
cấp độ và lĩnh vực của đời sống xã hội và con người. Ở đâu và lúc nào, con người có thể
nhận thức được quy luật và các điều kiện ban đầu với tư cách là các giả thiết khoa học,
thì ở đó đều xuất hiện nhu cầu và khả năng làm dự báo.
1.2.2. Theo tầm xa của dự báo
a. Dự báo tác nghiệp
Dự báo tác nghiệp có tầm xa dự báo rất ngắn, có thể là giờ, ngày, tuần, tháng đến
dưới một năm. Các dự báo loại này được tiến hành thường xuyên liên tục làm cơ sở cho
các hoạt động thường ngày và gọi là dự báo tác nghiệp. Các thông tin do dự báo mang
lại là căn cứ cho công tác điều hành kế hoạch và chỉ đạo sản xuất kinh doanh. Dự báo
kiểu này có thể kể đến các dự báo về giá cổ phiếu và chỉ số giao dịch trên thị trường 16
chứng khoán, dự báo giá ngoại tệ, lãi suất, lưu lượng khách du lịch theo mùa…..Sai số
của loại dự báo này thường không nên vượt quá 3%.
b. Dự báo ngắn hạn
Dự báo ngắn hạn là các dự báo có tầm xa dự báo từ 1 đến 3 năm, nó làm căn cứ
cho việc xây dựng và điều chỉnh các kế hoạch ngắn hạn. Sai số cho phép của dự báo
ngắn hạn không nên vượt quá 5%.
c. Dự báo trung hạn
Dự báo trung hạn là các dự báo có tầm xa dự báo từ 5 đến 7 năm, nó làm căn cứ
cho việc lập các kế hoạch phát triển trung hạn, kế hoạch 5 năm. Dự báo trung hạn có vai
trò rất quan trọng trong hệ thống dự báo kinh tế quốc dân xuất phát từ vị trí của kế hoạch
5 năm trong hệ thống kế hoạch hóa. Các mục tiêu và phương hướng phát triển trong kế
hoạch 5 năm mang tính toàn diện và hệ thống. Vì vậy, nâng cao chất lượng các dự báo
trung hạn là một đòi hỏi thường xuyên của công tác kế hoạch hóa.
d. Dự báo dài hạn
Dự báo dài hạn là các dự báo có tầm xa dự báo từ 10 năm, 15 năm hoặc 20 năm
nhằm cung cấp nhưng thông tin và dữ liệu cho việc hoạch định các chiến lược phát triển
kinh tế - xã hội dài hạn hay hình thành một tầm nhìn có tính định hướng trong sự phát
triển lâu dài của đất nước.
1.2.3. Theo chức năng của dự báo
Theo tiêu thức phân loại này có thể phân chia dự báo thành ba loại chính, đó là dự
báo tìm kiếm ( nghiên cứu), dự báo mục tiêu và dự báo tổng hợp.
a. Dự báo tìm kiếm có nhiệm vụ xác định mức độ, trạng thái, nội dung, xu hướng
phát triển của đối tượng dự báo trong tương lai trên cơ sở nhận thức quy luật vận động
của đối tượng trong quá khứ và các điều kiện ban đầu với tư cách là các giả thiết. Dự
báo tìm kiếm dựa trên cơ sở nhận thức về sự vận động khách quan của các quá trình
kinh tế - xã hội mà không xét đến mong muốn của con người. Nó trả lời các câu hỏi đặt
ra dưới dạng: cái gì sẽ xẩy ra trong tương lai, mức độ và trạng thái trong tương lai như
thế nào; bao giờ thì sự kiện được quan tâm xẩy ra và xẩy ra như như thế nào; dưới tác
động của môi trường và những điều kiện nhất định, đối tượng kinh tế - xã hội sẽ vận
động và phát triển theo xu hướng nào, tác động của nó đến đời sống kinh tế - xã hội ra
sao? Xét về mặt thời gian, dự báo tìm kiếm có chiều hướng đi từ quá khứ, hiện tại sang
tương lai. Có thể nêu ra một số ví dụ về dự báo tìm kiếm như: Dự báo tốc độ tăng trưởng
kinh tế trung bình của Việt Nam giai đoạn 2016-2020? Tỷ lệ hộ nghèo cả nước của Việt
Nam đến năm 2020 là bao nhiêu? Quy mô, chất lượng và cơ cấu dân số Việt Nam đến 17
năm 2050? Vị trí của Trung Quốc trong tương quan lực lượng của thế giới đến năm
2030 như thế nào? Nhiệt độ trung bình của trái đất tăng lên ra sao vào cuối thế kỷ 21?...
b. Dự báo mục tiêu: Dự báo mục tiêu có chức năng luận giải khả năng thực hiện
các mục tiêu kinh tế - xã hội đã được xác định trước, nó chỉ ra cách thức thực hiện hoặc
thời gian cần thiết để đạt được mục tiêu mong muốn nào đó trong tương lai. Chẳng hạn,
nếu đặt ra mục tiêu ổn định quy mô và cơ cấu dân số tối ưu cho Việt Nam trong tương
lai thì chức năng của dự báo mục tiêu trong trường hợp này là trả lời câu hỏi đặt ra: bao
giờ và bằng cách nào để đạt được mục tiêu đó? Cách tiếp cận chức năng dự báo này rất
có ý nghĩa trong quản lý kinh tế - xã hội vì nó giúp trả lời các câu hỏi như: Mục tiêu đặt
ra có phù hợp không? Bằng cách nào để đạt được mục tiêu: nguồn lực thực hiện, tổ chức
hoạt động ra sao, các nhân tố ảnh hưởng cũng như khi đạt được mục tiêu thì sẽ tác động
đến nền kinh tế như thế nào? Bao giờ đạt được mục tiêu? Nếu cần điều chỉnh mục tiêu
thì điều chỉnh theo hướng nào? Như vậy, bằng cách tiếp cận dự báo mục tiêu, các nhà
quản lý có thể xác định mục tiêu trong tương lai một cách có căn cứ khoa học và thực
tiễn, tránh xa rời thực tế, duy ý chí. Hơn nữa, việc tiếp cận dự báo mục tiêu còn giúp
phát hiện, huy động và sử dụng nguồn lực một cách hiệu quả nhằm thực hiện mục tiêu đã định.
Xét về mặt thời gian, dự báo mục tiêu có cách tiếp cận từ tương lai trở về hiện tại
và quá khứ. Nếu trạng thái tương lai của đối tượng là kết quả cần chỉ ra của dự báo tìm
kiểm (nghiên cứu) thì đối với dự báo mục tiêu nó lại là xuất phát điểm. Các dự báo mục
tiêu và dự báo tìm kiếm được xây dựng cho cùng một đối tượng thường lại có quy trình
trái ngược nhau về thời gian. Sở dĩ vậy là vì trong dự báo mục tiêu, các giá trị dự báo
mong muốn đạt giá trị cận biên trong khi đó dự báo nghiên cứu lại qui về các đại lượng
trung bình xuất phát từ sự biến động đã hình thành trong quá trình phát triển. Trong quản
lý, hai loại dự báo này có tác dụng hỗ trợ nhau, kiểm tra lẫn nhau và vì thế có thể nâng
cao được chất lượng của các dự báo.
c. Dự báo tổng hợp là hình thức dự báo, trong đó có sự vận dụng nhiều cách tiếp
cận và những phương pháp dự báo khác nhau. Sự kết hợp giữa các yếu tố dự báo tìm
kiếm và dự báo mục tiêu, giữa dự báo định lượng và dự báo định tính, giữa kỹ thuật dự
báo và nghệ thuật dự báo… có thể cho kết quả dự báo xác thực về triển vọng phát triển
kinh tế trong tương lai. Ưu điểm của dự báo tổng hợp là có thể điều chỉnh thường xuyên
mô hình các hiện tượng kinh tế và tìm ra các biện pháp có hiệu quả nhằm đạt được mục
tiêu do dự báo đưa ra. Sự khác nhau trong các đánh giá, sự phân tích số lượng và chất
lượng các đánh giá dự báo có thể cho phép phát hiện các mâu thuẫn trong quá trình phát
triển kinh tế và từ đó tìm ra những biện pháp có hiệu quả nhất để chuyển đổi nền kinh
tế trong tương lai một cách phù hợp. 18
1.2.4. Theo hình thức biểu hiện của kết quả dự báo
a. Dự báo số lượng
Đánh giá trạng thái trong tương lai của đối tượng dự báo bằng các con số (các
thống số, hoặc các tỷ lệ tương quan giữa các thông số đó), ví dụ như các chỉ số về phát
triển kinh tế, các dự báo về dân số, lao động, các giá trị dự báo nhu cầu,….
b. Dự báo chất lượng
Luận chứng cơ sở của các chiến lược nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu triển khai,
xác định vai trò của một số loại hình nghệ thuật và văn học trong đời sống tinh thần của xã hội.
1.2.5. Theo qui mô, cấp độ của đối tượng dự báo
Dự báo vĩ mô: là các dự báo lớn mang tính tổng hợp bao hàm toàn bộ nền kinh
tế, các vùng kinh tế, các ngành kinh tế,...Dự báo vi mô bao gồm các dự báo ở cấp đơn
vị nhỏ lẻ, hay các doanh nghiệp.
Ngoài các cách phân loại trên đây, trong thực tiễn công tác dự báo người ta có
thể phân loại theo các cách tiếp cận khác: theo mức độ bao trùm của dự báo chia ra dự
báo tổng thể và dự báo đơn lẻ; theo hình thức biểu hiện của kết quả dự báo bao gồm dự
báo điểm và dự báo khoảng; theo tính chất của mối quan hệ giữa dự báo và trạng thái
của đối tượng dự báo trong tương lai phân ra dự báo có điều kiện và dự báo vô điều kiện…
Tiết thứ 2: Các nguyên tắc, tiêu chuẩn lựa chọn phương pháp dự báo và quy trình
thực hiện dự báo
1.3 Các nguyên tắc dự báo
1.3.1. Nguyên tắc liên hệ biện chứng
Tất cả các hiện tượng kinh tế - xã hội đều có mối quan hệ qua lại, tác động lẫn
nhau. Mối quan hệ giữa chúng có nhiều loại: mối liên hệ bản chất, không bản chất; cố
định và tạm thời; trực tiếp hoặc gián tiếp; tất nhiên và ngẫu nhiên, tương quan hàm số,
hay mối quan hệ nhân quả,... Nguyên tắc liên hệ biện chứng tạo ra công cụ, phương
pháp luận rất có hiệu quả để giải thích, phân tích đúng đắn các hiện tượng kinh tế - xã
hội và dự báo đạt độ tin cậy cao. Áp dụng nguyên tắc này đòi hỏi khi phân tích và dự
báo các hiện tượng kinh tế - xã hội phải tính đến các mối liên hệ tồn tại giữa sự phát
triển của lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, giữa các ngành, thành phần kinh tế,
quan hệ giữa kinh tế trong nước với kinh tế thế giới… Thực hiện yêu cầu này cũng chính
là quán triệt quan điểm đồng bộ trong khi xem xét động thái của các quá trình kinh tế xã 19
hội. Ngoài ra, nguyên tắc liên hệ biện chứng cũng đòi hỏi phải quán triệt các quan điểm sau đây:
- Quan điểm toàn diện: Nguyên tắc này đòi hỏi phải có quan toàn diện, nghĩa là
không chỉ xem xét mối quan hệ giữa các quá trình kinh tế xã hội với nhau mà còn phải
tính đến các mối quan hệ giữa các hiện tượng kinh tế - xã hội với các lĩnh vực khác như
chính trị, pháp lý, dân số, tự nhiên, khoa học công nghệ và các mối quan hệ khác,...
- Quan điểm cụ thể: Yêu cầu phải xem xét các vấn đề trong một điều kiện, hoàn
cảnh cụ thể, tính đến sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các mặt của vấn đề nghiên cứu.
- Quan điểm hệ thống: Trong phân tích và dự báo các quá trình kinh tế - xã hội
cần có quan điểm hệ thống, hay nói cách khác là sử dụng phương pháp tiếp cận hệ thống.
Theo quan điểm hệ thống, cần xem bất cứ một quá trình nào cũng là một hệ thống có
liên hệ với thế giới bên ngoài, bao gồm các phân hệ hoặc phần tử, cùng nhiều mối quan
hệ qua lại, trong đó có mối quan hệ chính yếu. Các phân hệ không những phục tùng hệ
thống mà còn có tính độc lập tương đối, có nhiệm vụ và mục tiêu riêng, phục vụ mục
tiêu cuối cùng của hệ thống.
1.3.2.Nguyên tắc kế thừa lịch sử
Các hiện tượng kinh tế - xã hội vận động và phát triển không ngừng từ thấp tới
cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ chưa hoàn thiện tới hoàn thiện. Sự vận động có thể
theo không gian hoặc thời gian, tuần tự hoặc có nhảy vọt.
Trạng thái tương lai của đối tượng dự báo là kết quả phát triển hợp quy luật của
các trạng thái quá khứ, hiện tại. Do đó, sự nghiên cứu sâu sắc trạng thái của đối tượng
dự báo trong quá khứ và hiện tại sẽ là cơ sở tốt, vững chắc để dự báo các xu hướng vận
động và phát triển của đối tượng dự báo trong tương lai.
Sự nghiên cứu đó không chỉ có ý nghĩa đối với việc phát hiện nguồn gốc mà còn
có ý nghĩa đối với việc xác định sự vận động và phát triển của đối tượng dự báo trong tương lai.
1.3.3. Nguyên tắc tính đặc thù về bản chất của đối tượng dự báo
Nguyên tắc này đòi hỏi nhất thiết phải tính đến đặc điểm, đặc thù về bản chất của
đối tượng dự báo, tính đặc thù về những quy luật phát triển của nó, giá trị tuyệt đối và
giá trị tính toán của giới hạn phát triển trong tương lai. Vi phạm nguyên tắc này, đặc biệt
là khi ngoại suy các hiện tượng kinh tế - xã hội có thể dẫn đến sai lầm nghiêm trọng,
còn dự báo dựa trên mô hình hình thức có thể sẽ trở nên rất thô thiển. 20