Nhập môn khoa học xã hội và nhân văn
Chương 1: Tổng quan về khoa học xã hội và nhân văn
I. Khái niệm “ khoa học xã hội và nhân văn”
- Khoa học : scienta ( tri thức )
- Khoa học ( Science) được hiểu là hệ thống tri thức về mọi loại quy luật của vật chất và sự
vận động của vật chất, những quy luật của tự nhiên, xã hội, tư duy
- Theo Luật Khoa học và Công nghệ : Khoa học là hệ thống tri thức về bản chất, quy luật
tồn tại và phát triển của sự vật , hiện tượng tự nhiên, xã hội và tư duy
- Tri thức khoa học: là hệ thống phổ quát những quy luật và lí thuyết nhằm giải thích một
hiện tượng hoặc hành vi nào đó có được thông qua hoạt động nghiên cứu khoa học bằng
cách sử dụng phương pháp khoa học. ( trong đó quy luật được hiểu là mô hình quan sát
được từ các hiện tượng hoặc hành vi còn lý thuyết là những kiến giải có tính hệ thống về
hiện tượng hoặc hành vi đó)
Ví dụ : Thuyết tiến hoá của Đác uyn, định luật niu tơn
Tri thức kinh nghiệm: là những tri thức được tích luỹ ngẫu nhiên qua trải nghiệm cuộc
sống hằng ngày và là tiền đề của tri thức khoa học
Ví dụ: chuồn chuồn bay thấp thì mưa, trông mặt mà bắt hình dong
- Nghiên cứu khoa học: là sự tìm kiếm những điều mà khoa học chưa biết hoặc là phát hiện
bản chát sự vật, phát triển nhận thức khoa học về thế giới; hoặc là sáng tạo phương pháp
mới và phương tiện kĩ thuật mới để làm biến đổi sự vật phục vụ cho mục tiêu hoạt động
của con người ( Vũ Cao Đàm 2005)
- Đề tài nghiên cứu: là một công trình khoa học do một người hoặc một nhóm người thực
hiện để trả lời những câu hỏi mang tính học thuật hoặc ứng dụng vào thực tế. Mỗi đề tài
nghiên cứu có tên đề tài, là phát biểu ngắn gọc và khái quát về mục tiêu nghiên cứu
- Mục địch nghiên cứu: ý nghĩa thực tiễn của nghiên cứu, trả lời cho câu hỏi “ Nghiên cứu
nhằm vào việc gì?” , “ Nghiên cứu phục vụ cho cái gì”
- Khách thể nghiên cứu: là sự vật chứa đựng đối tượng trong nghiên cứu, có thể là một
không gian vật lí, một hoạt động hoặc một cộng đồng
- Đối tượng nghiên cứu: là bản chất cốt lõi của sự vật hiện tượng cần xem xét và làm rõ
trong khách thể nghiên cứu
- Đối tượng khảo sát: là mẫu đại diện của khách thể nghiên cứu
- Phạm vi nghiên cứu: sự giới hạn về đối tượng nghiên cứu, đối tượng khảo sát và thời gian
nghiên cứu
- Nhiệm cụ nghiên cứu: là những nhiệm vụ được đặt ra nhằm đạt được các mục tiêu nghiên
cứu đã xác định
Cơ cấu các ngành khoa học
- Khoa học tự nhiên
- Khoa học kĩ thuật và công nghệ
- Khoa học y dược
- Khoa học nông nghiệp
- Khoa học xã hội
- Khoa học nhân văn
Theo UNESCO, khoa học gồm:
- Khoa học tự nhiên và khoa học khác
- Khoa học kĩ thuật và công nghệ, ví dụ kĩ thuật điện tử, kĩ thuật di truyền
- Khoa học nông nghiệp: nông nghiệp lâm nghiệp thuỷ sản
- Khao học sức khoẻ ví dụ dịch tễ học, bệnh học
- Khoa học xã hội và nhân văn ví dụ sử học ngôn ngữ học triết học bao gồm cả các khoa
học về tư duy như logic học
- Sơ đồ phân loại khoa học của F.Engel – B.Kedrov
II. Mục đích, đối tượng và phạm vi nghiên cứu của khoa học xã hội và nhân văn
Mục đích nhận thức
- Nhận thức về đời sống tinh thần, tư duy, ứng xử của con người, nhân cách
- Nhận thức về các hiện tượng, quan hệ, định chế, quy luật xã hội văn hoá
- Nhận thức, giải mã, được các di sản văn hoá, tinh thần của con người, xã hội
Mục đích xây dựng
- Xây dựng con người có nhân cách, có văn hoá tốt đẹp, có khả năng tự hoàn thiện nhân
cách văn hoá của bản thân
- Xây dựng xã hội nhân văn, phát triển hài hoà bền vững
Mục đích dự báo
- Dự báo hướng phát triển của con người, xã hội
- Cảnh báo những nguy cơ phát triển nhân cách văn hoá lệch chuẩn của con người
- Cảnh báo những rủi ro, nguy cơ về phát triển xã hội thiếu cân bằng hài hoà
Khác biệt về mục đích nghiên cứu
- Khoa học xã hội và nhân văn:
+ Nhận thức, mô tả, phân tích, khái quát, thông hiểu bản chất, biểu hiện , cơ cấu, cơ chế
hoạt động của các hiện tượng tinh thần, quan hệ nhân tạo, định chế, khuynh hướng, quy
luật xã hội, văn hoá, tư duy, con người, nhân cách
+ Xây dựng, vun đắp tinh thần con người có nhân cách, có văn hoá, có khả năng tự hoàn
thiện bản thân; Xây dựng xã hội nhân văn, phát triển hài hoà, bền vững
+ Định hướng, dự báo, xác định khuynh hướng, phương thức phát triển nhân cách con
người, xã hội; cảnh báo rủi ro, lệch lạc, tha hoá, suy thoái về con người, xã hội và phương
hướng phòng chống
- Khoa học tự nhiên và công nghệ
+ Nhận thức, mô tả, phân tích, giải thích bản chất biểu hiện, cơ cấu, cơ chế hoạt động của
các hiện tượng tự nhiên , thiên tạo, căn cứ vào những số liệu, dữ liệu chính xác, căn cứ
vào những số liệu, dữ liệu chính xác được kiểm chứng chắc chắn, phát hiện ra những quy
luật tự nhiên
+ Cung cấp tri thức, phương thức, thực hành xây dựng cơ sở vật chật, kỹ thuật, công
nghệ, nâng cao chất lượng cuộc sống vật chất cho con người và xã hội
+ Tiên đoán khuynh hướng biến đổi của thế giới vật chất, tự nhiên, cảnh báo hiểm hoạ tự
nhiên, đưa ra giải pháp bảo vệ con người
Đối tượng nghiên cứu của khoa học xã hội và nhân văn
Một số quan điểm
- G.Hegel ( 1770 – 1831) : Đối tượng của khoa học xã hội và nhân văn là “những hoạt động
có chủ đích của con người”
- M.Bakhtin ( 1895 – 1975) : Đối tượng của khoa học xã hội và nhân văn là xã hội lịch sử
văn hoá nhân cách
- G.Rickert: Đối tượng của khoa học xã hội và nhân văn là “ các hành trình văn hoá”, “nhân
loại văn hoá”
Đối tượng nghiên cứu của khoa học xã hội và nhân văn
- Các vấn đề phổ quát về con người, xã hội , văn hoá, tinh thần tư duy
- Các hiện tượng, quan hệ và định chế xã hội, văn hoá, môi trường, lịch sử hình thành và
phát triển xủa xã hội văn hoá tư duy
- Đời sống tinh thần ( tư tưởng, tình cảm) của con người trong các mối quan hệ nội tại; cơ
cấu của nhân cách, sự hình thành, phát triển, giáo dục nhân cách ứng xử của nhân cách
đối với môi trường tự nhiên và xã hội
- Các di sản,, văn hoá ( các hệ thống ký hiệu có tổ chức ý nghĩa ) chứa đựng thông tin về
văn háo, tinh thần con người và xã hội
Đối tượng của hkoa học xã hội và nhân văn là con người – con người trong hệ thống
các mối quan hệ nhân tạo “ con người và thế giới”, “ con người và xã hội “ , “ con
người và chính mình”
Phạm vi nghiên cứu của khoa học xã hội và nhân văn
- Phạm vi về đối tượng
+ Xã hội : Các hiện tượng , quan hệ và định chế xã hội, văn hoá, môi trường; lịch sử hình
thành và phát triển xã hội, văn hoá, tư duy
+ Đời sống tinh thần của con người, nhân cách, ứng xử
+ Các di sản văn hoá chứa đựng thông tin về văn hoá, tinh thần con người và xã hội
- Phạm vi về không gian
+ Nhỏ/hẹp: không gian cá nhân, gia đình, nhóm, khu vực, vùng miền
+ Rộng: thế giới, châu lục, quốc gia, vùng lãnh thổ
- Phạm vi về thời gian:
+ Quá khứ: các giai đoạn tiểu sử, nhân loại, dân tộc, quốc gia…
+ Hiện tại: các hiện tượng đương đại
+ Dự báo tương lai căn cứ vào quá khứ, hiện tại
Khác biệt đối tượng và phạm vi nghiên cứu giữa khoa học xã hội và nhân văn với
khoa học tự nhiên
Khoa học xã hôi và nhân văn Khoa học tự nhiên
Đối tượng Đối tượng của khoa học xã hội và
nhân văn là con người – con
người trong hệ thống các mối
quan hệ nhân tạo “ con người và
thế giới”, “ con người và xã hội” ;
“ con người và chính mình”
Các hiện tượng thiên tạo, quy luật tự
nhiên xảy ra trên trái đất cũng như
ngoài vũ trụ
Phạm vi - Đời sống tinh thần của con
người, nhân cách, xã hội
- Trong thế giới loài người
- Trong tiến trình hình thành
đổi thay, phát triển của
loài người
- Đời sống tự nhiên, vật chất
của các sinh thể
- Toàn bộ tồn tại vật chất ( vô
cơ và hữu cơ) trên trái đất và
trong vũ trụ
- Toàn bộ tiến trình hình thành,
phát triển, suy vong của các
thực thể trên trái đất và trong
vũ trụ
Khoa học xã hôi và nhân văn
- Khoa học xã hội và nhân văn là nhóm ngành khoa học nghiên cứu về xã hội , văn hoá và
con người; về đời sống tinh thần, nhân cách và ứng xử của con người; nghiên cứu hiện
tượng, bản chất, các mối quan hệ, định chế xã hội và những quy luật hình thành, phát triển
của xã hội, văn hoá; nghiên cứu cơ chế vận dụng những quy luật, xử lý hiện tượng, nhằm
thúc đẩy xã hội và con người vận động phát triển
- Khoa học xã hội và nhân văn là nhóm ngành khoa học nghiên cứu về con người trong hệ
thống các mối quan hệ nhân tạo – con người với xã hội, con người với tự nhiên, con
người với chính mình – nhằm thúc đẩy xã hội và con người vận động, phát triển
III. Cơ cấu các ngành khoa học xã hôi và nhân văn
Triết
học
Chính
trị
học
Kinh
tế
học
Ngữ
n
học
Khoa
học
lịch
sử
Nghệ
thuật
học
Tâm
lí học
Đạo
đức
học
Logic
học
Vấn đề phân biệt khoa học xã hội và khoa học nhân văn
- Khoa học xã hội và nhân văn hiểu theo nghĩa rộng đồng nghĩa với khoa học xã hội (là
khoa học xã hội về con người cá nhấ hoặc tập thể người như nhóm, cơ quan, xã hội hoặc
các tổ chức kinh tế… Và những hành vi cá nhân, tập thể của các cơ cấu tổ chức này )
( khái niệm khoa học xã hội này đặt trong tương quan với khoa học tự nhiên là khoa học
về sự vật, hiện tượng xảy ra trong tự nhiên)
- Song nhiều nhà nghiên cứu có xu hướng phân biệt khoa học nhân văn với khoa học xã hội
( theo nghĩa hẹp). Do ranh giới xác định khó rạch ròi và mối quan hệ qua lại hết sức gần
gũi giữa các ngành khoa học này nên việc phân biệt không tuyệt đối và phổ quát
- Tuy nhiên , phân biệt khoa học xã hội và nhân văn vẫn đặc biệt có ý nghĩa đối với việc
xác định đối tượng, phạm vi và phương pháp của từng chương trình nghiên cứu cụ thể
- Với quan niệm phân biệt này, khoa học xã hội và nhân văn hiểu theo nghĩa hẹp là các hợp
phần của khoa học xã hội và khoa học nhân văn
Bảng phân loại các ngành khoa học xã hội và nhân văn
- ở nước ta hiện nay việc phân loại các ngành khoa học trong đó có khoa học xã hội và
nhân văn cũng trong xu thế hội nhập với thế giới, nên có sự tương đồng với UNESCO và
OECD (Organisation for Economic Co-operation and Development).
- Tất nhiên, số lượng và nội dung của các ngành khoa học xã hội và nhân văn của mỗi nước
phụ thuộc vào mức độ phát triển của xã hội, nhu cầu của nó, trình độ văn hoá và mức độ
phát triển của toàn bộ hệ thống khoa học và giáo dục của một xã hội cụ thể
- Khoa học xã hội và nhân văn gồm các ngành khoa học xã hội và các ngành khoa học nhân
văn
Khoa học xã hội ( theo nghĩa hẹp)
- Khoa học xã hội ( Social sciences) là khoa học nghiên cứu về những quy luật vận động
và phát triển của xã hội – đó cũng là những quy luật phản ánh mối quan hệ giữa người và
người, quan hệ giữa con người và xã hội, mà đối tượng của nó là các hiện tượng xã hội
nảy sinh từ mối quan hệ giữa người và người”
- “Tri thức khoa học xã hội là loại tri thức khách quan về xã hội, nghiên cứu các quy luật
vận hành, phát triển của các lĩnh vực xã hội riêng biệt và của toàn thể xã hội, các quy
luật khách quan của vận động xã hội… Khoa học xã hội áp dụng khuynh hướng chương
trình nghiên cứu duy tự nhiên với mô hình giải thích của nó, quan hệ chủ thể - khách thể
tách biệt”
Khoa học xã hội ( theo bảng phân loại 6/2011 của bộ KH&CN )
Khoa học nhân văn
Tâm lí
học
Kinh
tế và
kinh
doanh
Xã hội
học
Pháp
luật
Khoa
học
chính
trị
Địa lí
kinh tế
và xã
hội
Thông
.n đại
chúng
truyền
thông
Khoa
học và
xã hội
khác
Khoa
học
giáo
dục
- “ Khoa học nhân văn ( Humanities) là khoa học nghiên cứu về con người, tuy nhiên, chỉ
nghiên cứu đời sống tinh thần của con người, những các sử sự, hoạt động của cá nhân và
tập theese, bao gồm các bộ môn: Triết học, văn ọc, Tâm lý học, Đạo đức học, Ngôn ngữ
học… Khoa học nhân văn chính là khoa học nghiên cứu việc phát triển nhân cách về đạo
đức, trí tuệ, thẩm mĩ, tư tưởng, tình cảm… của con người (…) Khoa học nhân văn góp
phần hình thành và phản ánh thế giới quan , nhân sinh quan, năng lượng tư duy của con
người, của một cộng đồng, giai cấp…”
- “Khoa học nhân văn là khoa học về con người, lịch sử và văn hoá… Khoa học nhân văn
áp dụng chương trình nghiên cứu mang tính văn hoá trung tâm luận với khuynh hướng
đặc thù của nó là loại bỏ sự đối lập chủ thể - khách thể thông qua việc khám phá những
đặc tính chủ quan của khách thể và sử dụng phương pháp luận “ thông hiểu”
- Giữa khoa học xã hội và khoa học nhân văn tuy có sự phân biệt nhưng vẫn có sự quan hệ
mật thiết, gần gũi, giao thoa, thâm nhập lẫn nhau
- Khoa học xã hội luôn bao hàm trong nó những nội dung, mục đích nhân văn
- Còn khoa học nhân văn luôn mang bản chất xã hội
- Do đó, các khoa học này ở nước ta được xếp chung thành nhóm khoa học xã hội và nhân
văn
IV. Đặc điểm chung của khoa học xã hội và nhân văn
Quan điểm của giáo sư Hoàng Chí Bảo
- Tôn trọng cái khách quan, tất yếu chế ước đời sống xã hội và hoạt động của con người,
đồng thời làm sáng tỏ vai trò của những nỗ lực chủ quan để làm chủ quy luật và hành
động sáng tạo theo quy luật – đó là tính chính xác trong những kiến giải của khoa học xã
hội – nhân văn
- Khoa học xã hội – nhân văn và lý luận có quan hệ trực tiếp với chính trị, mang tính giai
cấp sâu sắc, có vai trò và chức năng phục vụ chính trị một cách trực tiếp; các kết quả
nghiên cứu có thể và cần phải trở thành tiếng nói tư vấn và phản biện về mặt xã hội
- Với khoa học xã hội – nhân văn và lý luận , nghiên cứu cơ bản triệt để đồng thời là nghiên
cứu ứng dụng
Quan điểm của phó giáo sư tiến sĩ Ngô Thị Phượng
- Khoa học xã hội và nhân văn à khoa học mang tính chính trị, tính giai cấp rõ nét
- Khoa học xã hội và nhân văn là khoa học mang tính trừu tượng, khái quát cao hơn…
Những kết luận của khoa học xã hội và nhân văn chỉ sau một thời gian áp dụng vào cuộc
sống mới được thực tế kiểm nghiệm chứng minh
- Đối tượng nghiên cứu của khoa học xã hội nhân văn biến đổi nhiều hơn trong không gian
và thời gian khác nhau… Nguyên tắc thống nhất giữa lịch sử và logic là yêu cầu không
thể thiếu trong nghiên cứu của khoa học xã hội và nhân văn
- Khoa học xã hội và nhân văn có tác dụng trực tiếp, to lớn và lâu dài đến hoạt động của
toàn xã hội. Tri thức khoa học xã hội và nhân văn phản ánh quy luật vận động và phát
triển của xã hội nên có khả năng dự báo tương lai, hướng dẫn hành động cải tạo xã hội cũ,
xây dựng xã hội mới. Khoa học xã hội và nhân văn cần didngj hướng cho khoa học công
nghệ phát triển vì mục đích tiến bộ. Nó tác động đến hệ tư tưởng, thế giới quan, nhân sinh
quan của toàn xã hội, định hướng cho tư tưởng, thế giới quan, nhân sinh quan của toàn xã
hội, định hướng cho tư duy, lối sống, hành vi của các thành viên trong cộng đồng
Quan điểm của phó giáo sư tiến sĩ Trần Thanh Ái
- Đối tượng nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu của khoa học xã hội và nhân văn, thay đổi
rất nhanh chóng và rất đa dạng không gian và thời gian. Chẳng những thế, loài người là
chủ thể có ý thức, luôn tác động vào xã hội theo trình độ nhận thức của mình, khiến đối
tượng nghiên cứu càng phức tạp hơn
- Phương pháp nghiên cứu: khoa học xã hội và nhân văn áp dụng các phương pháp thiên về
định tính và tổng hợp để mô tả hiện tượng trong tổng thể
- Đặc điểm của kiến thức: tính tương đối trong khoa học xã hội và nhân văn rất lớn, nên
kiến thức thường mang tính tạm bợ vì nhanh chóng bị các kiến thức khác thay thế hoặc
điều chỉnh cho phù hợp với thực tế hơn… Những kiến thức mô tả thường là chưa đủ, mà
phải hướng đến việc giải thích hiện tượng, tìm hiểu hiện tượng, tìm hiều nguyên nhân,
nguồn gốc của hiện tượng thì mới có ích lợi thiết thực cho xã hội
- Cách tiếp cận của nhà nghiên cứu: nhiều vấn đề nghiên cứu luôn luôn tác động đến người
nghiên cứu, khiến học không thể che giấu quan điểm, thái độ, của cá nhân họ trong
nghiên cứu. Nhà nghiên cứu không thể trung lập và khách quan như trong khoa học tự
nhiên
Quan điểm của giáo sư Trần Ngọc Thêm
Quan điểm của A.Mavliudov
- Khoa học xã hội và nhân văn hướng tới đối tượng là các hoạt động tinh thần của con
người và các hiện tượng, quy luật của văn hoá, xã hội, khác với các hiện tượn và quy luật
tự nhiên , chúng được tạo ra bởi con người trong quá trình sống của họ
- Trong nhận thức khoa học xã hội và nhân văn, nổi bật lên là dấu ấn thái độ, hệ giá trị của
nhà khoa học, địa vị xã hội , sở thích cá nhân hay quan niệm đạo đức, dạng thức cảm xúc
của nhân cách , hay ảnh hưởng của chính sách nhà nước, lợi ích của các thành phần xã hội
- Khoa học xã hội và nhân văn áp dụng lối giải thích theo tinh thần mục đích luận
( teleology), cũng như áp dụng qui trình thông diễn học hướng tới sự thông hiểu và diễn
giải
- Tri thức khoa học xã hội và nhân văn luôn được định giá từ những hệ giá trị tinh thần:
khách thể không chỉ được nhận thức, mà còn được đánh giá bởi chủ thể
- Đối với khoa học xã hội và nhân văn, phương pháp cá nhân hoá, gắn liền với việc xem xét
những sự vật ( hiện tượng ) cá biệt đơn lẻ, rất có ý nghĩa, phương pháp khái quát hoá theo
lối loại trừ những biểu hiện cá biệt, vốn quan trọng trong khoa học tự nhiên, ở đây trở nên
thứ yếu
- Khoa học xã hội và nhân văn nhất thiết phải giải thích những hành động của con người
không thể lý giải được từ lý tính khoa học. Khoa học về tinh thần phải là sự thông hiểu
dựa trên cơ sở thâm nhập bằng trực giác vào mạng lưới những mối quan hệ mang tính
người trong thế giới. Do vậy những yếu tố phi lý tính đống vai trò quan trong trong khoa
học xã hội và nhân văn
Bốn đặc điểm chung của khoa học xã hội và nhân văn
a. Khách quan khoa học đồng thời chú trọng trực giá và ý thức chủ thể nghiên cứu trong
khoa học xã hội và nhân văn
Tương quan khách quan – chủ quan + tương quan chủ thể - khách thể => tiếp cận của thể
nghiên cứu
Khách quan khoa học:
- Phạm trù “ khách quan” dùng để chỉ tất cả những gì tồn tại không phụ thuộc vào một chủ
thể xác định, hợp thành một hoàn cảnh hiện thực, thường xuyên tác động đến việc xác
định mục tiêu, nhiệm vụ và phương thức hoạt động của chủ thể đó
+ Tiền đề, Sự thật, Chân lý (một sự thật đã được chứng minh hoặc được mặc nhiên coi là
đúng, tồn tại độc lập, không xuất phát từ ý thức của chủ thể)
+ Tồn tại khách quan ( tất cả những gì tồn tại bên ngoài chủ thể hoạt động, độc lập, không
lệ thuộc vào ý thức chủ thể)
Khách quan khoa học trong nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn ( giả quyết đúng
đắn mối quan hệ giữa khách quan và chủ quan, giữa lý luận và thực tiễn)
- Tôn trọng hiện thực khách quan và nhận thức đúng bản chất của sự thật khách quan là yêu
cầu hàng đầu của mọi nghiên cứu khoa học. Tính khách quan là đặc điểm của nghiên cứu
khoa học và cũng là tiêu chuẩn của người nghiên cứu khoa học
- Nghiên cứu bắt đầu từ những yêu cầu của thực tại khách quan, những tiền đề, sự thật,
chân lý đúng đắn
- Nghiên cứu đối tượng đảm bảo tính toàn diện , bao quát hoàn cnarh, điều kiện lích sử - cụ
thể, chú trọng và điều chỉnh theo những thay đổi của thực tiễn, kiểm chúng kết quả bằng
thực tiễn; chú trọng đặc thù trường hợp, song luôn biết chắt lọc hiện tượng cá biệt, đơn lẻ,
nhất thời để phát hiện ra bản chất và quy luật của đối tượng nghiên cứu
Chủ thể nghiên cứu khoa học
- Chủ thể cá nhân: là người phân tích các quá trình xã hội và có khả năng bảo đảm sự gia
tăng tri thức xã hội và nhân văn
- Chủ thể tập thể = cộng đồng khoa học:
+ Một tập hợp hệ thống tất cả các nhà khoa học ( nhà nghiên cứu) làm việc trong một lĩnh
vực khoa học nhất định
+ Cộng đồng của tất cả các nhà khoa học trên thế giới:
Cộng đồng khoa học quốc gia
Cộng đồng các chuyên gia trong một lĩnh vực kiến thức cụ thể
Nhóm các nhà nghiên cứu thống nhất các giải quyết một vấn đề cụ thể
Chủ thể nghiên cứu tỏng khoa học xã hội và nhân văn
- Chủ thể nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn không thể hoàn toàn khách quan với các
khách thể nghiên cứu của mình là con người – xã hội – văn hoá – tư duy, vốn bao chứa cả
chính mình vào đó
- Trong nhiều trường hợp, chủ thể nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn còn cần phải
thâm nhập sâu vào đối tượng tới mức phải loại trừ quan hệ chủ thể - khách thể, để thông
hiểu đối tượng từ bên trong”
- Chủ thể nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn còn cần phải thể hiện rõ lập trường thái
độ, đánh giá đối tượng, các biểu hiện của nó và cả kết quả nghiên cứu
Trực giác và ý thức của chủ thể trong nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn
- Trực giác là một hoạt động hay quá trình thuộc về cảm tính, cho phép chúng ta hiểu, biết
sự việc một cách trực tiếp mà không cần lý luận, phân tích hay bắc cầu giữa phần ý thức
và phần tiền thức của tâm trí, hay giữa bản năng và lý trí. Trực giác có thể là một hoạt
động nội tâm, nhận thấy những sự việc không hợp lý và dự cảm mà không cần lý do
- Ý thức là sự phản ánh năng động thế giới quan vào bộ óc con người một cách có chọn lọc,
có căn cứ, chỉ phản ánh những gì cơ bản nhất mà con người quan tâm. Ý thức đã bao hàm
trong nó một thái độ đánh giá và có thể diễn đạt được bằng ngôn ngữ sáng rõ
- Khoa học xã hội và nhân văn đòi hỏi chú trọng cả trực giác, lẫn ý thức của chủ thể nghiên
cứu ở mức độ cao hơn so với khoa học tự nhiên. Khoa học về tinh thần phải là ý thức
thông hiểu dựa trên cơ sở thâm nhập bằng trực giác vào mạng lưới những mối quan hệ
mang tính người trong thế giới. Do vật những yếu tố phi lý tính trong nhận thức của chủ
thể nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn đều đóng vai trò vô cùng quan trọng
b. Sự chú trọng tính đặc thù và nhân cách trong khoa học xã hội và nhân văn
Đặc thù hiện tượng xã hội văn hoá + đặc thù nhân cách => đặc thù nội dung nghiên
cứu => tiếp cận đặc thù đối tượng và đặc thù nội dung nghiên cứu
Đặc thù hiện tượng xã hội, văn hoá
Nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn không thể bỏ qua đặc thù mỗi hiện tượng xã
hội, văn hoá bởi:
- Mỗi hiện tượn xã hội, văn hoá của đặc thù cá biệt, được quy định bởi bối cảnh không gian
– thời gian, văn hoá cụ thể, việc đánh giá, đưa ra giải pháp trước hết là cho trường hợp cụ
thể đó, sau đó mới là áp dụng sang các trường hợp khác cùng loại cũng vẫn phải chú trọng
những đặc thù của đối tượng khác đó
- Trong trường hợp khoa học xã hội và nhân văn nghiên cứu so sánh hay khái quát quy luật,
việc chú trọng đặc thù vẫn rất cần thiết hướng tới mục đích cuối cùng là xây dựng xã hội
nhân văn, phát triển hài hoà, bền vũng không thể bỏ qua đặc thù của những trường hợp cụ
thể để cùng phát triển
Đặc thù nhân cách
Nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn không thể bỏ qua đặc thù nhân cách như đối
tượng nghiên cứu bởi:
- Khoa học xã hội và nhân văn tiếp cận đối tượng nghiên cứu là con người như những nhân
cách, những chủ thể kiến thiết văn hoá – xã hội, chú trọng đặc thù đối tượn nhân cách mới
có thể thông hiểu được đối tượng và tiến hành quá trình nghiên cứu có hiệu quả
- Khoa học xã hội và nhân văn hướng tới mục đích xây dựng và phát triển nhân cách, văn
hoá, tinh thần của con người trong xã hội, chú trọng đặc thù nhân cách đối tượng còn là
đảm bảo tính nhân văn cho kết quả nghiên cứu khonong xa rời mục đích nghiên cứu
c. Sự chi phối của lập trường hệ giá trị trong khoa học xã hội và nhân văn
- Bất kì một hiện tượng tinh thần, xã hội văn hoá nào cũng có thể tồn tại nhưu một giá trị,
tức là được đánh giá trên bình diện đạo đức, thẩm mỹ, chân lý, sự công bằng…
- Giá trị không thể tách rời đánh giá – phương tiện để ý thức giá trị
- Nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn không thể không đánh giá đối tượng các tác
nhân trong điều kiện tồn tại của chúng với tất cả các mối quan hệ đa chiều
- Nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn luôn phải hướng tới những mục đích có ý nghĩa
giá trị đối với xã hội, con người và đánh giá kết quả nghiên cứu theo tiêu chí này
- Việc đánh giá đó tất yếu chịu sự chi phối của lập tường hệ giá trị trong một bối cảnh
không gian, thời gian , văn hoá xác định
Khái niệm giá trị: giá trị là tính chất của khách thể được chủ thể đánh giá là tích cực
xét trong so sánh với cách khách thể khác cùng loại trong một bối cảnh không gian,
thời gian cụ thể
Giá trị = tính chất của khách thể + giá trị = định giá của chủ thể => giá trị = tính chất
của khách thể được chủ thể định giá
Tiêu chí xác định giá trị
- Chủ thể đánh giá một sự vật, hiện tượng không chỉ theo lý tưởng đạo đức, thẩm mỹ,
những biểu hiện của nhận thức, phương pháp luận cá nhân của mình, mà còn phải đặt sự
vật , hiện tượng đó trong tương quan với các hệ giá trị của nhân loại, xã hội trong bối
cảnh không gian, thời gian văn hoá xác định
- Hệ giá trị là toàn bộ những giá trị của một khách thể được đánh giá trong một bối cảng
không gian – thời gian văn hoá xác định cùng mạng lưới các mối quan hệ của chúng
- Giá trị xác định ý nghĩa nhân loại, xã hội và văn hoá cho một số hiện tượng nhất định
trong thực tại
- Các hệ giá trị chi phối nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn
Hệ giá trị thời đại
Hệ giá trị toàn cầu
Hệ giá trị chính thể
Hệ giá trị dân tộc, quốc gia
Hệ giá trị khu vực , vùng miền
Hệ giá trị giai cấp giai tầng, nhóm xã hội
Hệ giá trị nghề nghiệp, tổ chức cơ quan, doanh nghiệp
Các quan hệ ngoài của đối tượng và khao học
d. Tính phức hợp – liên ngành trong khoa học xã hội và nhân văn
- Tính liên kết tri thức thành một hệ thống – nhìn nhận tri thức hệ thống, tư duy hệ thống ở
tầm “ tri thức của mọi tri thức” hết sức cần thiết trong nghiên cứu khoa học, nhất là
nghiên cứu về con người và đời sống xã hội với tính phong phú, muôn vẻ của các quan hệ
và liên hệ trong logic và lịch sử của nó
- Đối tượng của khoa học xã hội và nhân văn do có tính chi tiết và phiếm định nên nó lệ
thuộc chặt chẽ vào các đối tượng có liên quan. Việc nghiên cứu một khía cnahj, quan hệ,
hoạt động, ứng xử này luôn phải đặt trong mối liên hệ mật thiết với các khía cạnh, quan
hệ, hoạt động, ứng xử khác của con người. Nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn do
vậy mang tính liên ngành từ trong bản chất
Yêu cầu phức hợp – liên ngành trong nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn
- Phức hợp tri thức các ngành khoa học xã hội với khoa học nhân văn
- Phức hơp tri thức chính trị, kinh tế và môi trường
- Tri thức và phương pháp chuyên ngành kết hợp với liên ngành ( sử học, xã hội học, đạo
đức học, tâm lý học..) , đa ngành ( nhân học, văn hoá học…)
- Kết hợp vận dụng tri thức và phương pháp nghiên cứu khoa học tự nhiên ( thống kê toán
học, sinh lý học, y học, sinh học …)
A. Các giai đoạn hình thành và phát triển của khoa học xã hội và nhân văn
1. Lược sử: 3 giai đoạn của khoa học xã hội và nhân văn
- Giai đoạn 1: cổ điển XVI – nửa đầu thế kỉ XIX
- Giai đoạn 2: hiện đại hoá nửa sau XIX – nửa đầu XX
- Giai đoạn 3: hậu hiện đại từ khoảng 1950
1.1. Giai đoạn cổ điển ( Từ khoảng thế kỉ XVI – nửa đầu TK XIX)
- Các phương pháp của khoa học nội dung được hình thành , phương pháp của khoa học tự
nhiên được lấy làm phương pháp luận của nhận thức : tất cả đều theo khuynh hướng duy
tự nhiên
- Quy luật tự nhiên được coi như nguyên tắc giải thích phổ quát cho mọi hiện tượng có liên
quan: ngay cả đạo đức, cái đẹp… Cũng được giải thích theo quy luật tự nhiên
- Đặc biệt trong thế kỉ XIX, dưới ảnh hưởng của chủ nghĩa thực chứng, nghiên cứu khoa
học xã hội và nhân văn chịu ảnh hưởng các khuynh hướng duy tự nhiên cực đoan áp dụng
mô hình của một ngành khoa học thực nghiệm nào đó nổi trội lên ở từng thời điểm: cơ
học, vật lý học, sinh học, nhân khẩu học…
Nhấn mạnh / đề cao tự nhiên , lấy tự nhiên làm chuẩn
1.2. Giai đoạn hiện đại hoá ( cuối thế kỉ XIX – nửa đầu thế kỉ XX)
- Phản ứng chống lại khuynh hướng duy tự nhiên: nhấn mạnh khác biệt cơ bản giữa khoa
học xã hội và nhân văn với khoa học tự nhiên, chỉ ra sự bất khả sử dụng các phương pháp
khoa học tự nhiên vào nhận thức xã hội
- Vai trò của triết học A. Schopenhauer về đặc tính chủ quan của khách thể, triết học, cuộc
sống , hiện tượng luận, thông diễn học, triết học hiện sinh.
- Đặc thù đối tượng và phương pháp nghiên cứu của khoa học xã hội và nhân văn được
nhấn mạnh bởi Dilthey, Windelband, Rickert, Husserl, Bakhtin…
Nhấn mạnh con người chủ thể , ý thức
1.3. Giai đoạn hậu hiện đại ( từ những năm 50 – 70 của thế kỉ XX )
- Các lý thuyết gia hậu cấu trúc , giải cấu trúc, xác định “hoàn cảnh hậu hiện đại”
- J. Baudrillard tuyên bố: “ Niềm tin và ý nghĩa” lạc lối, mất đi trong văn hoá; Tự do được
hiểu như tự do khỏi mọi chuẩn mực, truyền thống, khỏi bất kỳ một thiết chế nào: nhà
nước, tôn giáo, đạo đức; ngoài ra còn là, tự do khỏi bất kỳ phương pháp khoa học nào đã
được thừa nhận rộng rãi, cũng như “tự do khỏi lý trí”. Quan niệm này “cho phép” con
người rũ bỏ mọi áp chế. Nỗ lực khám phá bản chất của sự tồn tại, quy luật tự nhiên và xã
hội – được tuyên bố là vô nghĩa
Phủ nhận, hoài nghi các giá trị nhân đạo
Một số mô hình lý thuyết đương đại
- Thuyết tương hỗ ( Synergetics): được nhà vật lý người Đức Hermann Hacken đưa ra từ
những năm 1970, là hướng nghiên cứu khoa học liên ngành, hướng tới làm chủ các quá
trình chung quá trình chuyển đổi hỗn loạn thành một trạng thái có trật tự và trở lại.
Nguyên lý của thuyết Tương hỗ - sự hợp tác giữa các bộ phận khác nhau của cùng một hệ
thống luôn dẫn đến việc tạo ra những tính chất mới bản thân các đối tượng không sở hữu,
hình thành các cấu trúc hoặc chức năng vĩ mô, thúc đẩy thay đổi, dẫn đến việc tự tổ chức
lại hệ thống – có thể áp dụng hiệu quả cho nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn
- Thuyết Đa văn hoá (Polysystem Theory): do Itamar Even – Zohar và Gideon Toury khởi
xướng , chủ trương nghiên cứu xã hội, văn hoá trong mạng lưới các hệ thống tĩnh và động
của các mối quan hệ chằng chịt với các thiết chế, biên mục quy chiếu khác nhau, trong đó
bản chất, giá trị của cá thể đối tượng không tồn tại độc lập mà chịu sự quyết định của bản
chất các mối quan hệ, cũng như phục thuộc vào chuyển dịch của các thiết chế, biến mục
trong và ngoài hệ thống.
B. Phương pháp nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn
1. Phương pháp luận nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn
1.1. Khái niệm phương pháp , phương pháp luận và phương pháp luận chung
nhất
a. Khái niệm phương pháp nghiên cứu khoa học
- Phương pháp là công cụ , giải pháp, cách thức, thủ pháp, con đường, bí quyết, quy trình
công nghệ để thực hiện có hiệu quả công việc nghiên cứu khoa học
- Phương pháp là cách làm việc của chủ thể và bao giờ cũng xuất phát từ đặc điểm của đối
tượng, gắn chặt với nội dung của các vấn đề cần nghiên cứu, là hình thức vận động của
nội dung
- Phương pháp có tính mục đích
- Phương pháp nghiên cứu khoa học là một hệ thống các thao tác được sắp xếp theo một
chương trình tối ưu
- Phương pháp gắn bó chặt chẽ với phương tiện nghiên cứu, theo yêu cầu của phương pháp
nghiên cứu mà chọn các phương tiện phù hợp, nhiều khi còn cần phải tạo ra các công cụ
đặc biệt để nghiên cứu
b. Phương pháp luận nghiên cứu khoa học
- Phương pháp luận là hệ thống các nguyên lý, quan điểm ( trước hết là những nguyên lý ,
quan điểm liên quan đến thế giới quan) làm cơ sở, có tác dụng chỉ đạo, xây dựng các
phương pháp, xác định phạm vi, khả năng áp dụng các phương pháp và định hướng cho
việc nghiên cứu tìm tòi cũng như việc lựa chọn, vận dụng phương pháp
- Phương pháp luận là lý luận về phương pháp bao hàm hệ thống các phương pháp, thế giới
quan và nhân sinh quan của người sử dụng phương pháp và các nguyên tắc để giải quyết
các vấn đề đã đặt ra
- Phương pháp luận được chia thành phương pháp luận ngành ( lý luận về phương pháp
được sử dụng trong một ngành khoa học), phương pháp luận chung ( cho một nhóm
ngành khoa học) và phương pháp luận chung nhất ( phổ biến cho hoạt động nghiên cứu
khoa học nói chung và triết học)
c. Hệ thống quan điểm phương pháp luận chung nhất đối với nghiên cứu khoa
học xã hội và nhân văn
Hệ thống quan điểm phương pháp luận chung nhất ( quan điểm thực tiễn,
quan điểm toàn diện, và quan điểm lịch sử - cụ thể) xuất phát từ nền tảng
triết học , hình thành nên thế giới quan khoa học , trở thành quan điểm chỉ
đạo hoạt động nghiên cứu của tất cả các ngành khoa học
Nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn cũng đáp ứng yêu cầu của tất cả các
quan điểm đó
Do đặc thù đối tuwognj, trong 4 quan điểm chỉ đạo, nghiên cứu khoa học xã
hội và nhân văn đặc biệt chú trọng quan điểm toàn diện và quan điểm lịch sử
cụ thể
- Quan điểm duy vật biện chứng
- Quan điểm thực tiễn
Quan điểm toàn diện
- Không có bất cứ sự vật, hiện tượng nào tồn tại biệt lập với các sự vật, hiện tượng khác.
Nguyên lý phổ biến của triết học khẳng định tính thống nhất vật chất của thế giới làm cơ
sở cho quan điểm toàn diện trong nghiên cứu khoa học
- Quan điểm toàn diện yêu cầu phải nghiên cứu sự vật, hiện tượng trong chỉnh thể toàn vẹn
các mối quan hệ ( trên nhiều mặt và trong tất cả các mối quan hệ bên trong, bên ngoài,
trung gian của nó
- Quan điểm toàn diện yêu cầu phải nghiên cứu sự vật, hiện tượng một cách hệ thống: xem
xét nó được cấu thành nền từ những yếu tố, những bộ phận nào, với những mối quan hệ
ràng buộc, tương tác nào, từ đó có thể phát hiện ra thuộc tính cung của hệ thống vốn
không có ở mỗi yếu tố
- Quan điểm toàn diện yêu cầu phải xem xét sự vật, hiện tượng trong tính mở của nó, tức là
xem xét nó trong mối quan hệ với các hệ thống khác, với các yếu tố tạo thành môi trường
vận động, phát triển của nó
- Quan điểm toàn diện là cơ sở hình thành lý thuyết và phương pháp tư duy hệ thống trong
nghiên cứu khoa học đặc biệt cần thiết cho nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn
Quan điểm lịch sử - cụ thể
- Mọi sự vật, hiện tượng trên thế giới đều tồn tại, vận động, phát triển trong những điều
kiện không gian, thời gian nhất định, có ảnh hưởng trực tiếp tới tính chất, đặc điểm của
chúng. Nguyên lý triết học về mối liên hệ phổ biến và nguyên lý về sự phát triển là cơ sở
hình thành quan điểm lịch sử - cụ thể
- Quan điểm lịch sử - cụ thể yêu cầu phải nghiên cứu sự vật, hiện tượng trong bối cảnh
không gian, thời gian lịch sử - cụ thể với tất cả các mối quan hệ của nó; phân tích xem
những điều kiện không gian, thời gian, quan hệ ấy tác động ảnh hưởng như thế nào đến
tính chất, đặc điểm của sự vật, hiện tượng trong từng giai đoạn vận động, phát triển của
- Quan điểm lịch sử - cụ thể yêu cầu mô tả được trình tự nghiêm ngặt của vận động hình
thành, biến đối, phong phú, đa dạng của sự vật, hiện tượng trong tiến trình lịch sử - cụ thể,
qua đó nhận thức được bản chất, quy luật, xu hướng phát triển của sự vật, hiện tượng
trong tiến trình ấy
1.2. Tương quan hướng tiếp cận khảo cứu đặc thù và khảo cứu phổ quát, tiếp cận
thông hiểu và giải thích trong nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn
a. Tiếp cận khảo cứu đặc thù và tiếp cận khảo cứu phổ quát
- Wilhelm Windelband ( 1848 – 1915) và Heinrich Rickert ( 1863 – 1936) , theo tinh thần
của triết học I.Kant , nêu ra hai thuật ngữ để mô tả hai phương hướng tiếp cận tri thức
khác nhau, tương ứng với hai xu hướng trí tuệ và hai lĩnh vực học thuật khác nhau trong
nghiên cứu khoa học: khảo cứu đặc thù ( idiographic) và khảo cứu phổ quát ( nomothetic)
Khảo cứu đặc thù ( idographic): là xu hướng khảo cứu cá biệt hoá, mô tả các hiện
tượng các trường hợp cá nhân hoặc các sự kiện cụ thể với nỗ lực của chủ thể nghiên
cứu hiểu, xác định ý nghĩa, giá trị đặc thù của đối tượng, không khái quát hoá, không
nhất thiết ngoại suy, thường áp dụng cho lĩnh vực khoa học xã hội và nhân vân
Khảo cứu phổ quát ( nomothetic): là xu hướng tiến hành quan sát, thực nghiệm hệ
thống ,loại bỏ các đặc điểm các biệt, để khái quát hoá đặc điểm chung, lặp lại qua các
cá thể, rút ra các quy luật giải thích hiện tượng chung cho các mô hình khái quát lớn,
có thể được áp dụng rộng rãi ngoài phạm vi nghiên cứu thường áp dụng cho lĩnh vực
khoa học tự nhiên
b. Tương quan tiếp cận khảo cứu đặc thù và khảo cứu phổ quát
- Đặc trưng của khoa học xã hội và nhân văn là phải chú ý đến đặc thù ý thức con người,
bởi vậy tiếp cận khảo cứu đặc thù nổi trội hơn so với tiếp cận khảo cứu phổ quát
- Windelband và Rickert có khuynh hướng tuyệt đối hoá sự đối lập giữa tiếp cận khảo cứu
đặc thù và khảo cứu phổ quát, cũng như đối lập phương pháp nghiên cứu của khoa học xã
hội và nhân văn với khoa học tự nhiên
- Song trong thực tế cho đến ngày nay, khoa học xã hội và nhân văn chỉ thiên về áp dụng
phương pháp tiếp cận khảo cứu đặc thù, chứ không loại trừ phương pháp tiếp cận khảo
cứu phổ quát
- Tiếp cận khảo cứu đặc thù được khoa học xã hội và nhân văn áp dụng trong những trường
hợp nghiên cứu tập trung vào vi mô ( con người trong tương tác hàng ngày và kinh
nghiệm của họ), trong khi cách tiếp cận khảo cứu phổ quát được sử dụng để nghiên cứu
những trường hợp vĩ mô ( các mô hình, xu hướng và cấu trúc xã hội lớn)
c. Phương pháp giải thích khoa học
- Giải thích ( làm cho hiểu rõ hơn) là quy trình nhận thức – phân tích khởi thuỷ của nhân
loại. Có 2 truyền thống giải thích: giải thích truy tìm nguyên nhân ( Tại sao ? Vì sao?) và
giải thích hướng tới mục đích ( Để làm gì? Mục đích ra sao?)
- Mô hình giải thích diễn dịch – định luật ( deductive – nomological model of explanation,
còn gọi là mô hình luật bao trùm – coverring law model): hiện tượng được giải thích như
hệ quả của một nguyên lý, định luật chung nào đó đã biết , áp dụng vào điều kiện thực tế
cụ thể để loại suy những gì tình cơ, ngẫu nhiên , các biệt.
- Yêu cầu tiên quyết của giải thích diễn dịch – định luật là:
1) Giải thích nguyên nhân không chỉ căn cứu trên quan hệ nhân – quả, mà còn phải căn
cứu trên quan hệ di truyền, cấu trúc, chức năng;
2) Luận cứ và nội dung suy đoán phải có mối quan hệ trực tiếp với hiện tượng được giải
thích;
3) Toàn bộ kết quả thu được từ quá trình giải thích cần phải được kiểm chứng thực tế
d. Một số mô hình giải thích áp dụng trong khoa học xã hội và nhân văn
- Nhiều nhà nghiên cứu phủ nhận khả năng áp dụng mô hình giải thích diễn dịch – định luật
vào nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn, một số nhà nghiên cứ cho rằng có thể áp
dụng nó trong một số nghiên cứu khoa học xã hội vĩ mô. Ngoài ra, các nhà nghiên cứu
còn để ra một số mô hình giải thích đặc trưng cho khoa học xã hội và nhân văn
- Giải thích mục đích ( teleoogical explanation – từ tiếng La tinh intentio – ý định) – giải
thích sự việc, hiện tượng từ góc nhìn chủ đạo chú trọng khát vọng, ý định hay động lực
của các chủ thể hoạt động
- Giải thích chức năng xã hội được áp dụng để tìm ra vai trò và chức năng của bất kỳ yếu tố
hay tiểu hệ thống nào đó trong chỉnh thể hệ thống xã hội
- Giải thích chuẩn mực hành vi hướng tới làm rõ ý nghĩa và vai trò của các chuẩn mực để
giải thích hành vi của mọi người trong xã hội
e. Tiếp cận thông hiểu – đặc thù phương pháp khoa học xã hội và nhân văn
- Thực tại xã hội, thực tại tinh thần con người đòi hỏi phải thông hiểu ( hiểu và thấy được ý
nghĩa, giá trị). “Khoa học xã hội có sữ mệnh thông hiểu các hiện tượng xã hội, còn khoa
học tự nhiên giải thích nguyên nhân – chức năng của các quy luật tự nhiên”
- Thông hiểu như hướng tiếp cận đối tượng nghiên cứu đặc thù cho khoa học xã hội và
nhân văn được các nhà thông diễn học (hermeneutics) xác định gồm 3 công đoạn:
1) Hiểu ( có ý hướng và tiềm năng để hiểu)
2) Diễn giải ( tri nhận, thẩm thấu vào đối tượng cụ thể, thấy được ý nghĩa từng biểu hiện
của nó, diễn giải từ chỉnh thể đối tượn và thấy được ý nghã của nó đối với xã hội , với
cuộc sống của chính mình)
3) Áp dụng ( thống nhất ý nghĩa kết quả diễn giải từ chỉnh thể đối tượng và thấy được ý
nghĩa của nó đối với xã hội , với cuộc sống của chính mình)
- G.I Ruzavin xác định ba loại hình thông hiểu cơ bản:
1) Thông hiểu trong giao tiếp nội ngữ
2) Thông hiểu trong giao tiếp liên ngữ
3) Thông hiểu trong diễn giải các văn bản, di sản văn hoá tinh thần
1.3. Tương quan các phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng trong nghiên
cứu khoa học xã hội và nhân văn
Nghiên cứu định lượng Nghiên cứu định tính
Nghiên cứu định lượng là phương pháp
sử dụng những kỹ thuật nghiên cứu để
thu thập dữ liệu định lượng – thông tin
có thể biểu hiện bằng các con số và bất
cứ gì có thể đo lường được. Thống kể ,
bảng biểu và sơ đồ, thường được sử
dụng để trình bày kết quả quả của
phương pháp này
Nghiên cứu định lượng sử dụng phương
pháp thống kê bắt đầu với việc thu thập
dữ liệu, dựa vào giả thuyết hoặc lý
thuyết
Nghiên cứu định tính là phương pháp sử
dụng các câu hỏi, hướng mục đích vào tập
hợp sự hiểu biết sâu về hành vi con nười và
có lý do chi phối hành vi đó
Nghiên cứu định tính mang lại thông tin tập
trung vào những trường hợp nghiên cứu cụ
thể, và bất kỳ kết luận nào thì cũng là những
thành phần chứ không phải toàn thể
Đặc
điểm
Nhấn mạnh vào kiểm tra bằng chứng
Tập trung vào cơ sử lập luận hoặc các
nguyên nhân của các sự kiện
Nhấn mạnh vào sự hiểu biết
Tập trung vào sự hiểu biết từ quan điểm của
người cung cấp thông tin
Cách tiếp cận logic và phê phán
Cách nhìn khách quan của người ngoài
cuộc
Tập trung kiểm tra giả thuyết
Kết quả được định hướng
Cách tiếp cận qua lý lẽ và diễn giải
Cách nhìn chủ quan của người trong cuộc và
gần gũi với số liệu
Định hướng thăm dò, diễn giải
Quá trình được định hướng
Khó
khăn
Tiềm ẩn nhiều sai biệt thống kê, tốn
nhiều thời gian nếu gặp vấn đề về dữ
liệu
Khó kiểm soát chất lượng dữ liệu điều
tra
Khó tiếp cận chuyên gia để phỏng vấn
Khó viết phần phân tích và báo cáo
Nên
lựa
chọn
khi
sử
dụng
Người nghiên cứu phải thật sự am hiểu
và có khả năng xử lý và phân tích dữ
liệu thống kê
Vấn đề nghiên cứu có tính chất mô tả và
dự báo mối quan hệ giữa các biến phụ
thuộc và biến tác động quan hệ giữa các
phụ thuộc và biến tác động ( biến độc
lập)
Nếu chọn nghiên cứu định lượng, cần
chú ý khả năng thu thập dữ liệu và khả
năng thực hiện thiết kế nghiên cứu hoàn
chỉnh
Người nghiên cứu chưa thật sự am hiểu vấn
đề và chưa có dữ liệu thống kê kĩ càng
Vấn đề nghiên cứu không nhằm mô tả và dự
báo mối quan hệ giữa các biến phụ thuộc và
biến tác động
Các vấn đề nghiên cứu tập trung vào sự
khám phá một kinh nghiệm hoặc hành vi, về
một hiện tượng còn ít biết tới
Nếu chọn nghiêm cứu định tính, nên chú ý
khả năng tiếp cận và phỏng vấn chuyển gia
hoặc thu thập dữ liệu thứ cấp
Mối quan hệ giữa phương pháp định lượng và phương pháp định tính
- Phương pháp định lượng có thể đưa ra khái niệm chính xác và có thể kiểm chứng những ý
tưởng đạt được thông qua phương pháp định tính
- Phương pháp định tính có thể được sử dụng để hiểu được ý nghĩa của các kết luận được
đưa ra thông qua phương pháp định lượng
- Một ý tưởng mới cần nghiên cứu định tính trước nghiên cứu định lượng. Sau đó xác định
tiềm năng của ý tưởng bằng nghiên cứu định lượng. Ý tưởng đã được nghiên cứu, có
lượng thông tin nhất định thì nghiên cứu định lượng trước nghiên cứu định tính
- Sự kết hợp giữa thu thập dữ liệu định lượng và định tính thường được gọi là phương pháp
nghiên cứu hỗn hợp
Đặc trưng của nhận thức khoa học xã hội và nhân văn là định hướng chủ yếu vào khía
cạnh định tính của các hiện tượng được nghiên cứu, song nghiên cứu định lượng vẫn
được dùng trong một số ngành khoa học xã hội
Nghiên cứu định lượng trong khoa học xã hội là phương pháp tìm ra quy luật chi phối
xã hội bằng cách tìm ra tương quan giữa các sự kiện xã hội , giữa một số biến nhất
định, hạn chế
Các nhà nghiên cứu định lượng khoa học xã hội khởi đầu bằng những ý tưởng tổng
quát, những lí thuyết rồi đi vào thực tiễn xã hội để kiểm chứng, phát triển những lí
thuyết
Những ngành không thường xuyên dùng phương pháp định lượng:
- Nhân chủng học
- Lịch sử
- Văn học
Những ngành thường sử dụng phương pháp định lượng:
- Tâm lí học