BÀI KIỂM TRA SỐ 2
Đề bài: Đại hội nào của Đảng chủ trương tiếp tục coi quan
hệ với Liên xô là "hòn đá tảng" trong chính sách đối ngoại của
Việt Nam?
Trong bối cảnh trật tự thế giới như hiện nay, em sẽ thiết lập
một thứ tự ưu tiên trong mối quan hệ đối ngoại của Việt Nam như
thế nào? Vì sao?
Bài Làm
Đại hội VI của Đảng (tháng 12-1986), với tinh thần “đổi mới duy”,
Đảng ta chú trọng mở rộng quan hệ đối ngoại, coi trọng phát triển quan hệ
với tất cả các nước, vùng lãnh thổ trên thế giới và các tổ chức quốc tế.
Bước vào thời kỳ đổi mới, với quan điểm “thêm bạn, bớt thù” trong
đường lối, chính sách đối ngoại rộng mở, Đảng Nhà nước coi trọng phát triển
quan hệ với tất cả các nước, vùng lãnh thổ trên thế giới các tổ chức quốc tế.
Phát huy vai trò của báo chí, truyền thông một chủ trương và cũng phương
thức rất quan trọng để Đảng, Nhà nước truyền tải những thông tin chính thống
về mọi mặt, xây dựng hình ảnh quốc gia, dân tộc Việt Nam ra thế giới, phục vụ
muc tiêu, nhiệm vụ đối ngoại của Đảng, đồng thời góp phần bảo vệ nền tảng
tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch.
Từ đó, Đảng tuyên bố “muốn bạn với tất cả các nước” tại Đại hội VII.
Quan điểm nhất quán của Đảng mở rộng quan hệ đối ngoại luôn đi đôi với
kiên trì giữ vững nguyên tắc chỉ đạo hòa bình, độc lập, thống nhất chủ
nghĩa hội, đối ngoại với các nước trên nguyên tắc: tôn trọng độc lập, chủ
quyền toàn vẹn lãnh thổ, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau;
không dùng lực hoặc đe dọa dùng lực; giải quyết các bất đồng tranh
chấp thông qua thương lượng hòa bình; tôn trọng lẫn nhau, bình đẳng cùng
có lợi.
Thực hiện nhiệm vụ đối ngoại của Đảng, báo chí, truyền thông có trách
nhiệm tuyên truyền đường lối đối ngoại quan điểm chỉ đạo của Đảng, góp
phần vào tăng cường hoạt động trên lĩnh vực đối ngoại. Tuyên truyền chủ
trương, quan điểm của Đảng, Nhà nước Việt Nam về: “Kết hợp sức mạnh dân
tộc với sức mạnh thời đại, sự nghiệp n tộc nghĩa vụ quốc tế. Đấu tranh
giữ vững hoà bình Đông Dương, góp phần gìn giữ hòa bình ở Đông - Nam Á,
châu Á Thái Bình Dương trên thế giới, … tranh thủ điều kiện quốc tế thuận
lợi cho sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc”(1).
Phục vụ đường lối đối ngoại của Đảng, công tác thông tin, tuyên truyền
sự thống nhất trong định hướng nội dung trọng tâm, trọng điểm phù hợp với
từng giai đoạn. Đó là, trong quan hệ đối ngoại khu vực truyền thống: tuyên
truyền vchủ trương “phát triển củng cố quan hệ đặc biệt giữa ba nước Việt
Nam, Lào Campuchia; đoàn kết tôn trọng độc lập, chủ quyền của mỗi
nước, hợp tác toàn diện, giúp đỡ lẫn nhau xây dựng bảo vệ Tổ quốc”(2). Đối
với các nước XHCN, nội dung trọng tâm của công tác truyền thông đối ngoại
tuyên truyền về chủ trương nhất quán, xuyên suốt của nước ta: Đoàn kết
hợp tác toàn diện với Liên Xô là hòn đá tảng trong chính sách đối ngoại của
Đảng và Nnước ta; phát triển quan hệ hữu nghị hợp tác với các nước
hội chủ nghĩa anh em khác; góp phần tăng cường sức mạnh phát huy
ảnh hưởng của cộng đồng xã hội chủ nghĩa”(3).
Bên cạnh đó, báo chí của Đảng cũng thông tin về những chủ trương, quan
điểm mới của Đảng Cộng sản Việt Nam: Mở rộng quan hệ với các tổ chức quốc
tế. Ủng hộ mạnh mẽ phong trào đấu tranh giải phóng độc lập dân tộc, chống
chủ nghĩa đế quốc, chủ nghĩa thực n chủ nghĩa phân biệt chủng tộc. Mở
rộng quan hệ với tất cả các nước trên nguyên tắc cùng tồn tại hòa bình. Đối với
Trung Quốc, báo chí góp phần vào truyền thông ra thế giới, với nhân dân Trung
Hoa về quan điểm của Đảng, Nhà nước nhân dân Việt Nam là: “Trên tinh
thần bình đẳng, bảo đảm độc lập, chủ quyền tôn trọng lẫn nhau, sẵn sàng đàm
phán để giải quyết những vấn đề thuộc quan hệ giữa Việt Nam với Trung Quốc,
bình thường hóa quan hệ khôi phục tình hữu nghị giữa hai nước, lợi ích
của nhân dân hai nước, vì hòa bình ở Đông - Nam Á và trên thế giới”(4).
Hoạt động tuyên truyền đối ngoại trên lĩnh vực báo chí truyền thông tập
trung tuyên truyền quyết tâm cao của Đảng nhân dân Việt Nam trong mục
tiêu xây dựng nền hòa bình quốc gia toàn cầu: “Toàn Đảng, toàn dân và toàn
quân ta đoàn kết một lòng, quyết tâm đem hết tinh thần lực lượng tiếp tục
thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội và bảo
vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam hội chủ nghĩa, đồng thời tích cực góp phần
vào cuộc đấu tranh của nhân dân thế giới hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ
và chủ nghĩa xã hội”(5).
Với tinh thần “đổi mới duy”, Đại hội VI của Đảng chú trọng mở rộng
quan hđối ngoại, coi trọng phát triển quan hệ với tất cả các nước, vùng lãnh
thổ trên thế giới và các tổ chức quốc tế
Đại hội VI của Đảng đánh giá cao quá trình dân chủ hóa sinh hoạt chính
trị của Đảng nhân dân ta trong thời gian chuẩn btiến hành Đại hội. “Các
đồng chí trong toàn Đảng, đồng bào trong cả nước và nước ngoài đã đóng góp
những ý kiến xây dựng và phong phú vào bản dự thảo Báo cáo chính trị của Ban
Chấp hành Trung ương nêu nhiều kiến nghị xác đáng đ Đảng ta đi đến
những quyết định đáp ứng được yêu cầu của giai đoạn cách mạng hiện nay”(6).
Qua đó cho thấy, công tác thông tin tuyên truyền, trong đó truyền thông đối
ngoại có đóng góp quan trọng trong thời gian chuẩn bị Đại hội VI của Đảng. Đó
tuyên truyền giữ vững chính trị tưởng trong cán bộ, đảng viên, nhân dân,
định hướng đúng đắn đời sống tưởng hội, đáp ứng nhu cầu thông tin của
người dân về tình hình quốc tế đường lối, chính sách đối ngoại đúng đắn của
Đảng, Nhà nước Việt Nam, từng bước quan tâm hơn người việt Nam nước
ngoài.
Những năm đầu đổi mới, quan điểm chỉ đạo của Đảng về công tác đối
ngoại đã bám sát những thay đổi lớn của tình hình. Theo đó, công tác tuyên
truyền đối ngoại trên báo chí, truyền thông cũng những đặc điểm mới
nhiệm vmới với nội dung phương thức đa dạng, mang tính khoa học, tính
giáo dục cao hơn. Báo chí, truyền thông đối ngoại đã thực hiện chức năng “diễn
đàn của nhân dân” theo đúng tinh thần của pháp luật, đa chiều hơn trong phản
ánh công tác đối ngoại Đảng, ngoại giao Nhà nước và đối ngoại nhân dân.
Tuy nhiên, những năm đầu đổi mới, tình hình đất nước nhiều khó
khăn, khủng hoảng kinh tế - hội vẫn diễn ra gay gắt. Những sai lầm khuyết
điểm trong quản nhà nước, quản kinh tế - hội chưa được khắc phục kịp
thời, tác động tiêu cực đến tình hình mọi mặt của đất nước, làm giảm sút uy tín
của Đảng. Kỷ cương phép nước bị vi phạm; đạo đức xã hội suy giảm, người dân
rời bỏ đất nước ra nước ngoài gia tăng, cùng những khó khăn chồng chất về kinh
tế, đời sống… Đó cũng là những do để các thế lực đế quốc, phản động ra sức
chống phá cách mạng Việt Nam, đánh vào nền tảng tư tưởng, đường lối đổi mới
vai trò lãnh đạo của Đảng bằng các chiêu bài “dân chủ”, “nhân quyền”
nhiều hoạt động chống phá tinh vi, nham hiểm.
Sau Nghị quyết 13 của Bộ Chính trị, Hội nghị Ban Chấp hành Trung
ương 8 khóa VI (tháng 3-1990) ban hành Nghị quyết số 8A “Về tình hình các
nước xã hội chủ nghĩa, sự phá hoại của chủ nghĩa đế quốc và nhiệm vụ cấp bách
của Đảng ta”. Việc mở rộng quan hệ đối ngoại theo phương châm “thêm bạn,
bớt thù” được coi là một trong những nhiệm vụ cấp bách. Đồng thời, Nghị quyết
xác định: cách đóng góp tốt nhất thiết thực nhất lúc này vào cách mạng thế
giới thực hiện thắng lợi đường lối đổi mới của Đảng, làm cho Việt Nam ngày
càng ổn định về chính trị, phát triển vkinh tế, hội, mạnh về quốc phòng
an ninh.
Triển khai thực hiện đường lối đối ngoại rộng mở, từ năm 1986 - 1990, Việt
Nam đã đẩy mạnh hoạt động đối ngoại trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị. Kết
quả hoạt động đối ngoại đạt được trong những năm cuối thập niên 80 thế kỷ XX
ý nghĩa quan trọng trong mở cửa giao lưu, hợp tác với bên ngoài, tạo vị thế
mới cho đất nước trong quan hệ quốc tế. Theo đó, tuyên truyền đối ngoại trên
lĩnh vực báo chí, truyền thông, tích cực đẩy mạnh tuyên truyền về những chủ
trương, quan điểm mới của Đảng về đối ngoại đóng vai trò quan trọng.
Thứ tự ưu tiên trong mối quan hệ đối ngoại của Việt Nam được thiết
lập như sau:
- Vừa hợp tác, vừa đấu tranh.
- Đẩy mạnh đối ngoại song phương nâng tầm đối ngoại đa phương.
- Chủ động tham gia phát huy vai trò của Việt Nam tại các chế đa
phương, đặc biệt ASEAN, Liên hợp quốc (LHQ), APEC, hợp tác tiểu vùng
Công và các khuôn khổ hợp tác khu vực quốc tế, trong những vấn đề
các cơ chế quan trọng có tầm chiến lược, phù hợp với yêu cầu, khả năng và điều
kiện cụ thể.
- Coi trọng phát triển quan hệ hợp tác, hữu nghị, truyền thống với các
nước láng giềng.
- Chủ động, tích cực trách nhiệm cùng các nước ASEAN xây dựng
Cộng đồng đoàn kết, vững mạnh, giữ vững vai trò trung tâm của ASEAN trong
cấu trúc an ninh khu vực.
- Đẩy mạnh làm sâu sắc hơn quan hệ hợp tác song phương với các đối
tác, đặc biệt là các đối tác chiến lược, đối tác toàn diện và các đối tác quan trọng
khác, tạo thế đan xen lợi ích và tăng độ tin cậy.
- Chủ động, tích cực tham gia các chế đa phương về quốc phòng, an
ninh theo tư duy mới về bảo vệ Tổ quốc.
- Kiên quyết, kiên trì đấu tranh, làm thất bại mọi âm mưu, hành động can
thiệp của các thế lực thù địch vào ng việc nội bộ, xâm phạm độc lập, chủ
quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, an ninh quốc gia n định chính trị đất
nước.
- Tiếp tục thúc đẩy giải quyết các vấn đề an ninh, an toàn hàng hải, hàng
không trên biển trên sluật pháp quốc tế, nhất Công ước của Liên hợp
quốc về Luật Biển năm 1982.
- Chủ động tham gia, tích cực đóng góp, nâng cao vai trò của Việt Nam
trong xây dựng, định hình các thể chế đa phương trật tchính trị - kinh tế
quốc tế, thực hiện đầy đủ các cam kết quốc tế các hiệp định thương mại đã
kết.
Việc triển khai chính sách đối ngoại được xác định dựa trên ba trụ cột, gồm
đối ngoại đảng, ngoại giao nhà nước và đối ngoại nhân dân. Nếu nhìn nền ngoại
giao Việt Nam như một mặt trận thống nhất, thể kể thêm các loại hình ngoại
giao khác như: ngoại giao chính trị, ngoại giao quốc phòng, ngoại giao nghị
viện, ngoại giao văn hóa, ngoại giao kinh tế. Trong hoàn cảnh thể chế
chính trị của Việt Nam, cách gọi khác nhau các kênh đối ngoại khác
nhau, song mọi hoạt động đối ngoại đều đặt dưới sự lãnh đạo chỉ đạo trực
tiếp của Đảng.
Nghiên cứu nội dung trên trong Báo cáo Chính trị thể thấy rằng chính
sách đối ngoại Đại hội XIII của Việt Nam vbản không thay đổi, stiếp
nối kế thừa tĐại hội VI, Đại hội VII với chủ trương “đa dạng hóa đa
phương hóa quan hệ đối ngoại”, đặc biệt chính sách đối ngoại Đại hội XII
(2016). thể tổng hợp lại một số điểm chính trong chính sách đối ngoại Đại
hội XIII như sau:
Thứ nhất, nhấn mạnh đến cả đối ngoại song phương ngoại giao đa
phương. Với đối ngoại song phương, chủ trương tiếp tục “chú trọng” “làm
sâu sắc” các mối quan hệ, trong đó thứ tự ưu tiên vẫn các nước láng giềng,
các đối tác chiến lược đối tác toàn diện, các đối tác quan trọng khác. Với
ngoại giao đa phương, chủ trương là “chủ động” và “tích cực” với thứ tự ưu tiên
ASEAN, LHQ, EU, APEC, ASEM, Francophonie, Phong trào Không liên kết,
các chế Tiểu vùng Công, và các chế khác tầm quan trọng chiến
lược.
Thứ hai, chỉ các chế đa phương ngoại giao Việt Nam shướng
tới như ASEAN, UN, APEC, hợp tác tiểu vùng Công, các khuôn khổ hợp
tác khu vực quốc tế khác, các chế tầm quan trọng chiến lược… So với
phần này trong Báo cáo Chính trị Đại hội XII, Dự thảo Báo cáo Chính trị nói
đầy đủ cụ thể hơn. Điều này tạo nhận thức về sự linh hoạt và cách tiếp cận
mở hơn trong ngoại giao đa phương của Việt Nam.
Thứ ba, nhấn mạnh việc nâng tầm đối ngoại đa phương. Đây điểm mới
trong Dự thảo Báo cáo Chính trị, nhưng việc khẳng định Chỉ thị số 25 ca
Ban thư Trung ương Đảng “về tăng cường và nâng tầm đối ngoại đa phương
đến năm 2030” (2018).
Thứ tư, liên quan đến các vấn đề Biển Đông, Dự thảo Báo cáo Chính trị
nói cụ thể hơn vphạm vi, như: “giải quyết các vấn đề an ninh, an toàn hàng
hải, hàng không trên biển trên sở luật pháp quốc tế, nhất [nhấn mạnh]
Công ước của LHQ về Luật Biển năm 1982”. Báo cáo Chính trị Đại hội XVII
chỉ nói chung là “giải quyết các vấn đề trên biển…”.
Về phạm vi quan hệ đối ngoại, cho đến nay Việt Nam đã quan hệ ngoại
giao với 189 trên 193 nước thành viên của LHQ, trong đó đã thiết lập quan hệ
đối tác chiến lược với 17 nước đối tác toàn diện với 13 nước; đặc biệt với
Nga và Ấn Độ là đối tác chiến lược toàn diện, với Trung Quốc là đối tác hợp tác
chiến lược toàn diện, với Nhật Bản là đối tác chiến lược toàn diện sâu rộng.
Ngoài ra, Việt Nam thành viên của nhiều tổ chức khu vực quốc tế;
đã ký 15 hiệp định tự do, trong đó Hiệp định tự do thương mại song phương
Việt - Anh Hiệp định Đối tác Kinh tế Toàn diện Khu vực những hiệp định
tự do mới nhất.
thể thấy, cho đến nay quan hệ đối ngoại của Việt Nam đã khá sâu
rộng với nhiều tầng nấc, lợi ích đan xen. Việc thúc đẩy quan hệ đi vào chiều sâu,
khai thác hết tiềm năng của từng quan hệ này stạo ra bức tranh hoạt động đối
ngoại nhộn nhịp của Việt Nam.

Preview text:

BÀI KIỂM TRA SỐ 2
Đề bài: Đại hội nào của Đảng chủ trương tiếp tục coi quan
hệ với Liên xô là "hòn đá tảng" trong chính sách đối ngoại của Việt Nam?
Trong bối cảnh trật tự thế giới như hiện nay, em sẽ thiết lập
một thứ tự ưu tiên trong mối quan hệ đối ngoại của Việt Nam như thế nào? Vì sao? Bài Làm
Đại hội VI của Đảng (tháng 12-1986), với tinh thần “đổi mới tư duy”,
Đảng ta chú trọng mở rộng quan hệ đối ngoại, coi trọng phát triển quan hệ
với tất cả các nước, vùng lãnh thổ trên thế giới và các tổ chức quốc tế.
Bước vào thời kỳ đổi mới, với quan điểm “thêm bạn, bớt thù” trong
đường lối, chính sách đối ngoại rộng mở, Đảng và Nhà nước coi trọng phát triển
quan hệ với tất cả các nước, vùng lãnh thổ trên thế giới và các tổ chức quốc tế.
Phát huy vai trò của báo chí, truyền thông là một chủ trương và cũng là phương
thức rất quan trọng để Đảng, Nhà nước truyền tải những thông tin chính thống
về mọi mặt, xây dựng hình ảnh quốc gia, dân tộc Việt Nam ra thế giới, phục vụ
muc tiêu, nhiệm vụ đối ngoại của Đảng, đồng thời góp phần bảo vệ nền tảng tư
tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch.
Từ đó, Đảng tuyên bố “muốn là bạn với tất cả các nước” tại Đại hội VII.
Quan điểm nhất quán của Đảng là mở rộng quan hệ đối ngoại luôn đi đôi với
kiên trì giữ vững nguyên tắc chỉ đạo vì hòa bình, độc lập, thống nhất và chủ
nghĩa xã hội, đối ngoại với các nước trên nguyên tắc: tôn trọng độc lập, chủ
quyền và toàn vẹn lãnh thổ, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau;
không dùng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực; giải quyết các bất đồng và tranh
chấp thông qua thương lượng hòa bình; tôn trọng lẫn nhau, bình đẳng và cùng có lợi.
Thực hiện nhiệm vụ đối ngoại của Đảng, báo chí, truyền thông có trách
nhiệm tuyên truyền đường lối đối ngoại và quan điểm chỉ đạo của Đảng, góp
phần vào tăng cường hoạt động trên lĩnh vực đối ngoại. Tuyên truyền chủ
trương, quan điểm của Đảng, Nhà nước Việt Nam về: “Kết hợp sức mạnh dân
tộc với sức mạnh thời đại, vì sự nghiệp dân tộc và nghĩa vụ quốc tế. Đấu tranh
giữ vững hoà bình ở Đông Dương, góp phần gìn giữ hòa bình ở Đông - Nam Á,
ở châu Á Thái Bình Dương và trên thế giới, … tranh thủ điều kiện quốc tế thuận
lợi cho sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc”(1).
Phục vụ đường lối đối ngoại của Đảng, công tác thông tin, tuyên truyền
có sự thống nhất trong định hướng nội dung trọng tâm, trọng điểm phù hợp với
từng giai đoạn. Đó là, trong quan hệ đối ngoại khu vực truyền thống: tuyên
truyền về chủ trương “phát triển và củng cố quan hệ đặc biệt giữa ba nước Việt
Nam, Lào và Campuchia; đoàn kết và tôn trọng độc lập, chủ quyền của mỗi
nước, hợp tác toàn diện, giúp đỡ lẫn nhau xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”(2). Đối
với các nước XHCN, nội dung trọng tâm của công tác truyền thông đối ngoại là
tuyên truyền về chủ trương nhất quán, xuyên suốt của nước ta: “Đoàn kết và
hợp tác toàn diện với Liên Xô là hòn đá tảng trong chính sách đối ngoại của
Đảng và Nhà nước ta; phát triển quan hệ hữu nghị và hợp tác với các nước
xã hội chủ nghĩa anh em khác; góp phần tăng cường sức mạnh và phát huy
ảnh hưởng của cộng đồng xã hội chủ nghĩa”(3).
Bên cạnh đó, báo chí của Đảng cũng thông tin về những chủ trương, quan
điểm mới của Đảng Cộng sản Việt Nam: Mở rộng quan hệ với các tổ chức quốc
tế. Ủng hộ mạnh mẽ phong trào đấu tranh giải phóng và độc lập dân tộc, chống
chủ nghĩa đế quốc, chủ nghĩa thực dân và chủ nghĩa phân biệt chủng tộc. Mở
rộng quan hệ với tất cả các nước trên nguyên tắc cùng tồn tại hòa bình. Đối với
Trung Quốc, báo chí góp phần vào truyền thông ra thế giới, với nhân dân Trung
Hoa về quan điểm của Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam là: “Trên tinh
thần bình đẳng, bảo đảm độc lập, chủ quyền và tôn trọng lẫn nhau, sẵn sàng đàm
phán để giải quyết những vấn đề thuộc quan hệ giữa Việt Nam với Trung Quốc,
bình thường hóa quan hệ và khôi phục tình hữu nghị giữa hai nước, vì lợi ích
của nhân dân hai nước, vì hòa bình ở Đông - Nam Á và trên thế giới”(4).
Hoạt động tuyên truyền đối ngoại trên lĩnh vực báo chí truyền thông tập
trung tuyên truyền quyết tâm cao của Đảng và nhân dân Việt Nam trong mục
tiêu xây dựng nền hòa bình quốc gia và toàn cầu: “Toàn Đảng, toàn dân và toàn
quân ta đoàn kết một lòng, quyết tâm đem hết tinh thần và lực lượng tiếp tục
thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội và bảo
vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, đồng thời tích cực góp phần
vào cuộc đấu tranh của nhân dân thế giới vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ
và chủ nghĩa xã hội”(5).
Với tinh thần “đổi mới tư duy”, Đại hội VI của Đảng chú trọng mở rộng
quan hệ đối ngoại, coi trọng phát triển quan hệ với tất cả các nước, vùng lãnh
thổ trên thế giới và các tổ chức quốc tế
Đại hội VI của Đảng đánh giá cao quá trình dân chủ hóa sinh hoạt chính
trị của Đảng và nhân dân ta trong thời gian chuẩn bị và tiến hành Đại hội. “Các
đồng chí trong toàn Đảng, đồng bào trong cả nước và ở nước ngoài đã đóng góp
những ý kiến xây dựng và phong phú vào bản dự thảo Báo cáo chính trị của Ban
Chấp hành Trung ương và nêu nhiều kiến nghị xác đáng để Đảng ta đi đến
những quyết định đáp ứng được yêu cầu của giai đoạn cách mạng hiện nay”(6).
Qua đó cho thấy, công tác thông tin tuyên truyền, trong đó có truyền thông đối
ngoại có đóng góp quan trọng trong thời gian chuẩn bị Đại hội VI của Đảng. Đó
là tuyên truyền giữ vững chính trị tư tưởng trong cán bộ, đảng viên, nhân dân,
định hướng đúng đắn đời sống tư tưởng xã hội, đáp ứng nhu cầu thông tin của
người dân về tình hình quốc tế và đường lối, chính sách đối ngoại đúng đắn của
Đảng, Nhà nước Việt Nam, từng bước quan tâm hơn người việt Nam ở nước ngoài.
Những năm đầu đổi mới, quan điểm chỉ đạo của Đảng về công tác đối
ngoại đã bám sát những thay đổi lớn của tình hình. Theo đó, công tác tuyên
truyền đối ngoại trên báo chí, truyền thông cũng có những đặc điểm mới và
nhiệm vụ mới với nội dung và phương thức đa dạng, mang tính khoa học, tính
giáo dục cao hơn. Báo chí, truyền thông đối ngoại đã thực hiện chức năng “diễn
đàn của nhân dân” theo đúng tinh thần của pháp luật, đa chiều hơn trong phản
ánh công tác đối ngoại Đảng, ngoại giao Nhà nước và đối ngoại nhân dân.
Tuy nhiên, những năm đầu đổi mới, tình hình đất nước có nhiều khó
khăn, khủng hoảng kinh tế - xã hội vẫn diễn ra gay gắt. Những sai lầm khuyết
điểm trong quản lý nhà nước, quản lý kinh tế - xã hội chưa được khắc phục kịp
thời, tác động tiêu cực đến tình hình mọi mặt của đất nước, làm giảm sút uy tín
của Đảng. Kỷ cương phép nước bị vi phạm; đạo đức xã hội suy giảm, người dân
rời bỏ đất nước ra nước ngoài gia tăng, cùng những khó khăn chồng chất về kinh
tế, đời sống… Đó cũng là những lý do để các thế lực đế quốc, phản động ra sức
chống phá cách mạng Việt Nam, đánh vào nền tảng tư tưởng, đường lối đổi mới
và vai trò lãnh đạo của Đảng bằng các chiêu bài “dân chủ”, “nhân quyền” và
nhiều hoạt động chống phá tinh vi, nham hiểm.
Sau Nghị quyết 13 của Bộ Chính trị, Hội nghị Ban Chấp hành Trung
ương 8 khóa VI (tháng 3-1990) ban hành Nghị quyết số 8A “Về tình hình các
nước xã hội chủ nghĩa, sự phá hoại của chủ nghĩa đế quốc và nhiệm vụ cấp bách
của Đảng ta”. Việc mở rộng quan hệ đối ngoại theo phương châm “thêm bạn,
bớt thù” được coi là một trong những nhiệm vụ cấp bách. Đồng thời, Nghị quyết
xác định: cách đóng góp tốt nhất và thiết thực nhất lúc này vào cách mạng thế
giới là thực hiện thắng lợi đường lối đổi mới của Đảng, làm cho Việt Nam ngày
càng ổn định về chính trị, phát triển về kinh tế, xã hội, mạnh về quốc phòng và an ninh.
Triển khai thực hiện đường lối đối ngoại rộng mở, từ năm 1986 - 1990, Việt
Nam đã đẩy mạnh hoạt động đối ngoại trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị. Kết
quả hoạt động đối ngoại đạt được trong những năm cuối thập niên 80 thế kỷ XX
có ý nghĩa quan trọng trong mở cửa giao lưu, hợp tác với bên ngoài, tạo vị thế
mới cho đất nước trong quan hệ quốc tế. Theo đó, tuyên truyền đối ngoại trên
lĩnh vực báo chí, truyền thông, tích cực đẩy mạnh tuyên truyền về những chủ
trương, quan điểm mới của Đảng về đối ngoại đóng vai trò quan trọng.
Thứ tự ưu tiên trong mối quan hệ đối ngoại của Việt Nam được thiết lập như sau:
- Vừa hợp tác, vừa đấu tranh.
- Đẩy mạnh đối ngoại song phương và nâng tầm đối ngoại đa phương.
- Chủ động tham gia và phát huy vai trò của Việt Nam tại các cơ chế đa
phương, đặc biệt là ASEAN, Liên hợp quốc (LHQ), APEC, hợp tác tiểu vùng
Mê Công và các khuôn khổ hợp tác khu vực và quốc tế, trong những vấn đề và
các cơ chế quan trọng có tầm chiến lược, phù hợp với yêu cầu, khả năng và điều kiện cụ thể.
- Coi trọng phát triển quan hệ hợp tác, hữu nghị, truyền thống với các nước láng giềng.
- Chủ động, tích cực và có trách nhiệm cùng các nước ASEAN xây dựng
Cộng đồng đoàn kết, vững mạnh, giữ vững vai trò trung tâm của ASEAN trong
cấu trúc an ninh khu vực.
- Đẩy mạnh và làm sâu sắc hơn quan hệ hợp tác song phương với các đối
tác, đặc biệt là các đối tác chiến lược, đối tác toàn diện và các đối tác quan trọng
khác, tạo thế đan xen lợi ích và tăng độ tin cậy.
- Chủ động, tích cực tham gia các cơ chế đa phương về quốc phòng, an
ninh theo tư duy mới về bảo vệ Tổ quốc.
- Kiên quyết, kiên trì đấu tranh, làm thất bại mọi âm mưu, hành động can
thiệp của các thế lực thù địch vào công việc nội bộ, xâm phạm độc lập, chủ
quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, an ninh quốc gia và ổn định chính trị đất nước.
- Tiếp tục thúc đẩy giải quyết các vấn đề an ninh, an toàn hàng hải, hàng
không trên biển trên cơ sở luật pháp quốc tế, nhất là Công ước của Liên hợp
quốc về Luật Biển năm 1982.
- Chủ động tham gia, tích cực đóng góp, nâng cao vai trò của Việt Nam
trong xây dựng, định hình các thể chế đa phương và trật tự chính trị - kinh tế
quốc tế, thực hiện đầy đủ các cam kết quốc tế và các hiệp định thương mại đã ký kết.
Việc triển khai chính sách đối ngoại được xác định là dựa trên ba trụ cột, gồm
đối ngoại đảng, ngoại giao nhà nước và đối ngoại nhân dân. Nếu nhìn nền ngoại
giao Việt Nam như một mặt trận thống nhất, có thể kể thêm các loại hình ngoại
giao khác như: ngoại giao chính trị, ngoại giao quốc phòng, ngoại giao nghị
viện, ngoại giao văn hóa, và ngoại giao kinh tế. Trong hoàn cảnh và thể chế
chính trị của Việt Nam, dù có cách gọi khác nhau và các kênh đối ngoại khác
nhau, song mọi hoạt động đối ngoại đều đặt dưới sự lãnh đạo và chỉ đạo trực tiếp của Đảng.
Nghiên cứu nội dung trên trong Báo cáo Chính trị có thể thấy rằng chính
sách đối ngoại Đại hội XIII của Việt Nam về cơ bản không thay đổi, là sự tiếp
nối và kế thừa từ Đại hội VI, Đại hội VII với chủ trương “đa dạng hóa và đa
phương hóa quan hệ đối ngoại”, và đặc biệt là chính sách đối ngoại Đại hội XII
(2016). Có thể tổng hợp lại một số điểm chính trong chính sách đối ngoại Đại hội XIII như sau:
Thứ nhất, nhấn mạnh đến cả đối ngoại song phương và ngoại giao đa
phương. Với đối ngoại song phương, chủ trương là tiếp tục “chú trọng” và “làm
sâu sắc” các mối quan hệ, trong đó thứ tự ưu tiên vẫn là các nước láng giềng,
các đối tác chiến lược và đối tác toàn diện, và các đối tác quan trọng khác. Với
ngoại giao đa phương, chủ trương là “chủ động” và “tích cực” với thứ tự ưu tiên
là ASEAN, LHQ, EU, APEC, ASEM, Francophonie, Phong trào Không liên kết,
các cơ chế Tiểu vùng Mê Công, và các cơ chế khác có tầm quan trọng chiến lược.
Thứ hai, chỉ rõ các cơ chế đa phương mà ngoại giao Việt Nam sẽ hướng
tới như ASEAN, UN, APEC, hợp tác tiểu vùng Mê Công, các khuôn khổ hợp
tác khu vực và quốc tế khác, các cơ chế có tầm quan trọng chiến lược… So với
phần này trong Báo cáo Chính trị Đại hội XII, Dự thảo Báo cáo Chính trị nói
đầy đủ và cụ thể hơn. Điều này tạo nhận thức về sự linh hoạt và cách tiếp cận
mở hơn trong ngoại giao đa phương của Việt Nam.
Thứ ba, nhấn mạnh việc nâng tầm đối ngoại đa phương. Đây là điểm mới
trong Dự thảo Báo cáo Chính trị, nhưng là việc khẳng định Chỉ thị số 25 của
Ban Bí thư Trung ương Đảng “về tăng cường và nâng tầm đối ngoại đa phương đến năm 2030” (2018).
Thứ tư, liên quan đến các vấn đề Biển Đông, Dự thảo Báo cáo Chính trị
nói cụ thể hơn về phạm vi, như: “giải quyết các vấn đề an ninh, an toàn hàng
hải, hàng không trên biển trên cơ sở luật pháp quốc tế, nhất là [nhấn mạnh]
Công ước của LHQ về Luật Biển năm 1982”. Báo cáo Chính trị Đại hội XVII
chỉ nói chung là “giải quyết các vấn đề trên biển…”.
Về phạm vi quan hệ đối ngoại, cho đến nay Việt Nam đã có quan hệ ngoại
giao với 189 trên 193 nước thành viên của LHQ, trong đó đã thiết lập quan hệ
đối tác chiến lược với 17 nước và đối tác toàn diện với 13 nước; đặc biệt với
Nga và Ấn Độ là đối tác chiến lược toàn diện, với Trung Quốc là đối tác hợp tác
chiến lược toàn diện, với Nhật Bản là đối tác chiến lược toàn diện sâu rộng.
Ngoài ra, Việt Nam là thành viên của nhiều tổ chức khu vực và quốc tế;
đã ký 15 hiệp định tự do, trong đó Hiệp định tự do thương mại song phương
Việt - Anh và Hiệp định Đối tác Kinh tế Toàn diện Khu vực là những hiệp định tự do mới nhất.
Có thể thấy, cho đến nay quan hệ đối ngoại của Việt Nam đã khá sâu và
rộng với nhiều tầng nấc, lợi ích đan xen. Việc thúc đẩy quan hệ đi vào chiều sâu,
khai thác hết tiềm năng của từng quan hệ này sẽ tạo ra bức tranh hoạt động đối
ngoại nhộn nhịp của Việt Nam.