Đang tải lên

Vui lòng đợi trong giây lát...

Preview text:

Bài làm
Câu 1: Anh (chị) cho biết trong các thời kỳ hình thành, phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh,
thời kỳ nào là thời kỳ hình thành những nội dung cơ bản về cách mạng Việt Nam? Làm rõ
những hoạt động lý luận và thực tiễn của Hồ Chí Minh trong thời kỳ đó
.
Có 5 thời kỳ hình thành và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh
- Thời kỳ trước năm 1911: Hình thành tư tưởng yêu nước và có chí hướng tìm con đường cứu nước
- Thời kỳ 1911 - 1920: Hình thành tư tưởng cứu nước, giải phóng dân tộc Việt Nam theo
con đường cách mạng vô sản
- Thời kỳ 1920 - 1930: Hình thành những nội dung cơ bản tư tưởng về cách mạng Việt Nam
- Thời kỳ 1930 - 1941: Vượt qua thử thách, giữ vững đường lối, phương pháp cách mạng
Việt Nam đúng đắn, sáng tạo
- Thời kỳ 1941 - 1969: Tư tưởng Hồ Chí Minh tiếp tục phát triển, soi đường cho sự nghiệp
cách mạng của Đảng và nhân dân ta
Vậy thời kỳ 1920 – 1930 là thời kỳ hình thành những nội dung cơ bản về cách
mạng Việt Nam. Những hoạt động và lý luận thực tiễn của Hồ Chí Minh trong thời kỳ:
Hoạt động lý luận của Hồ Chí Minh
Hồ Chí Minh đẩy mạnh hoạt động lý luận chính trị, tổ chức, chuẩn bị cho việc thành lập
Đảng Cộng sản Việt Nam để lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Thông qua báo chí và các hoạt
động thực tiễn Người tích cực truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin vào phong trào công nhân và
phong trào yêu nước Việt Nam.
Phương hướng của cách mạng giải phóng dân tộc trong các nước thuộc địa, trong đó có
Việt Nam được Hồ Chí Minh cụ thể hóa một bước trên cơ sở phân tích sâu sắc bản chất, thủ
đoạn của chủ nghĩa thực dân Pháp. Những nội dung đó được thể hiện rõ trong nhiều bài báo của
Người đăng trên các báo của Đảng Cộng sản Pháp, Đảng Cộng sản Liên Xô, của Quốc tế Cộng
sản và trong tác phẩm Bản án chế độ thực dân Pháp viết bằng tiếng Pháp của Người được xuất bản ở Pari năm 1925.
Hồ Chí Minh sáng lập tổ chức tiền thân của Đảng Cộng sản: Hội Việt Nam Thanh niên
Cách mạng (tháng 6-1925), ra báo Thanh niên bằng tiếng Việt, từng bước truyền bá chủ nghĩa
Mác - Lênin và lý luận cách mạng trong những người yêu nước và công nhân.
Tổng kết kinh nghiệm các cuộc cách mạng tư sản Anh, Pháp, Mỹ và nhất là từ kinh
nghiệm Cách mạng Tháng Mười Nga, Hồ Chí Minh vạch rõ cách mạng Việt Nam phải có đảng
cộng sản với chủ nghĩa Mác - Lênin làm cốt để lãnh đạo; lực lượng cách mạng giải phóng dân
tộc là toàn thể nhân dân Việt Nam trong đó nòng cốt là liên minh công nông. Những nội dung
cốt lõi đó và nhiều vấn đề trong đường lối, phương pháp cách mạng Việt Nam được hình thành
trong tác phẩm Đường cách mệnh của Người, xuất bản năm 1927 ở Quảng Châu, Trung Quốc.
Tác phẩm Đường cách mệnh là sự chuẩn bị mọi mặt về chính trị, tư tưởng, tổ chức cho sự ra đời
của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Hồ Chí Minh chủ trì Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản Việt Nam thành Đảng Cộng
sản Việt Nam, thông qua các văn kiện do Người khởi thảo (vào đầu năm 1930). Các văn kiện
này là Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng Cộng sản Việt Nam, trong đó chính thức khẳng
định rõ những quan điểm cơ bản về đường lối, phương pháp cách mạng Việt Nam, việc tổ chức,
xây dựng Đảng Cộng sản Việt Nam thành một tổ chức lãnh đạo cách mạng Việt Nam. 1/7
Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng Cộng sản Việt Nam nêu mục tiêu và con đường
cách mạng là “làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng
sản” , “đánh đổ đế quốc Pháp, phong kiến An Nam và giai cấp tư sản phản cách mạng”, giương
cao ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; khẳng định sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản
Việt Nam; liên minh công nông là lực lượng nòng cốt; cách mạng Việt Nam là một bộ phận
cách mạng thế giới. Chiến lược đại đoàn kết toàn dân tộc thấm trong từng câu chữ của Cương
lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng. Bản Cương lĩnh chính trị đầu tiên này đã thể hiện rõ sự vận
dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin trong việc giải quyết mối quan hệ giai cấp -
dân tộc - quốc tế trong đường lối cách mạng Việt Nam.
Hồ Chí Minh thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam với Cương lĩnh chính trị đúng đắn và
sáng tạo đã chấm dứt cuộc khủng hoảng về đường lối và tổ chức lãnh đạo cách mạng Việt Nam
kéo dài suốt từ cuối thế kỷ XIX sang đầu năm 1930.
Hoạt động thực tiễn của Hồ Chí Minh: - Ở Pháp:
Năm 1921, Người cùng một số nhà yêu nước của các thuộc địa Pháp lập ra Hội Liên hiệp
Thuộc dia (Union intercoloniale - Association des indigènes de toutes les colonies).
Năm 1922, Người được bầu là Trưởng Tiểu ban nghiên cứu về vấn đề dân tộc thuộc địa
của Đảng Cộng sản Pháp, ra báo Le Paria (Người cùng khổ) bằng tiếng Pháp. Từ này ra được
38 so với mỗi số bán được quãng 1000 tới 5000 bản, một con số thuyết phục vào lúc bấy giờ.
Ngoài ra, Người còn viết bài cho hãng loạt báo khác. Tác phẩm Bản án chế độ thực dân Pháp
(Le proces de la colonisation française) do Người viết được xuất bản năm 1925, đã tố cáo chính
sách thực dân tàn bạo của Pháp và đề cập đến phong trào đấu tranh của các dân tộc thuộc địa.
Năm 1923, với tư cách đảng viên Đảng Cộng sản Pháp, Người ra tranh cử vào Hạ viện
Pháp, nhưng thất bại. Trong lần đầu tiên tham gia bầu cử Quốc hội đó, Đảng Cộng sản Pháp
giành được tất cả 1,2 triệu phiếu ủng hộ trên tổng số 5 triệu phiếu cử tri, nhưng Nguyễn Ái
Quốc trượt chân dân biểu Quốc hội
Trong toàn bộ thời gian sống trên đất Pháp, Người trang trải cuộc sống bằng cách làm việc
nửa ngày. Thoạt đầu, Người làm thuê tại một tiệm rửa ảnh và được Phan Văn Trường nhượng
quyền cho thuê lại một căn phòng. Sau đó, Người đi vẽ khoán cho một xưởng vẽ truyền thần và
thuê một phòng tại căn nhà số 9 ngõ Compoint, Quận 17, Paris. Người theo học dự thính tại Đại
học Sorbonne và được coi là một sách tại Thư viện Quốc gia Pháp. - Ở Liên Xô:
Tháng 6/1923, Nguyễn Ái Quốc từ Pháp sang Liên Xô, làm việc tại Quốc tế Cộng Sản.
Tháng 10/1923, tại Hội Nghị Quốc tế nông dân lần thứ nhất, Nguyễn Ái Quốc được bầu vào
Hội đồng Quốc tế Nông dân và là đại biểu duy nhất của nông dân thuộc địa được cử và Đoàn
Chủ tịch của Hội đồng.
Năm 1924, Nguyễn Ái Quốc tham dự Đại Hội V Quốc Tế. Sau đó, Người lần lượt tham dự
Đại Hội Quốc Tế Thanh Niên, Quốc tế Cứu tế đó, Quốc tế Công hội đó.
Người chỉ ra sự to lớn của hệ thống thuộc địa: “Năm 1876: 34 tỷ người dân thuộc địa thì
năm 1914 tăng lên là 3% tỷ lệ dân thuộc địa. Đến đầu những năm 20, diện Bạn đã gửi tích các
nước thuộc địa gấp 5 lần diện tích các nước chính quốc, còn dân số chính chưa bằng 3/5 dân số thuộc địa...
23/6/1924, phát biểu tại đại hội phiên họp thứ 8 Đại hội thứ V Nguyễn Ái Quốc: “Tôi đến
đây không ngừng lưu ý Quốc tế Cộng Sản đến một sự thật là: thuộc địa văn đang tồn tại. Song
tôi thấy các dòng chí chưa hoàn thành thấm nhuần tư tưởng rằng vận mệnh của gia cấp vô sản
thế giới và đặc biệt là vận mệnh của giai cấp vô sản ở các nước đi xâm lược thuộc địa gần chặt 2/7
với vận mệnh của giai cấp bị áp bức ở các thuộc địa. Vì vậy, tôi sẽ tận dụng mọi cơ hội có được,
gợi ra những vấn đề và nếu cần, tôi sẽ thức tỉnh các đồng chí về vấn đề thuộc địa”.
Trong thời gian ở Liên Xô, Nguyễn Ái Quốc tranh thủ viết bài cho các bảo Nhân đạo
(L'Humanité). Đời sống công nhân (La Vie Duvrière), Sự thật (Pravda), Người cùng khô (Le
Paria), Thư tín quốc tế (Inprékor), Tạp chí Cộng sản vv.v.. Các bài báo tập trung nói về các vấn
đề liên quan đến giai cấp công nhân, đến cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân ở các thuộc địa,
mối quan hệ giữa cách mạng vô sản ở chính quốc và cách mạng thuộc địa.
Nguyễn Ái Quốc đặc biệt quan tâm đến chiến lược quân sự của các nước lớn đối với khu
vực châu Á – Thái Bình Dương. Sau khi phân tích những động thái quân sự của Nhật Bản ở đảo
Yap, Mỹ tăng cường tàu chiến ở Thái Bình Dương, Pháp củng cố hệ thống thuộc địa vành đai
Thái Bình Dương, Nguyễn Ái Quốc dự đoán chính xác rằng khu vực này "tương lai có thể trở
thành lò lửa của cuộc chiến tranh thế giới mới” - Ở Trung Quốc:
Ngày 11 tháng 11 năm 1924, Nguyễn Ái Quốc rời Liên Xô tới Quảng Châu, lấy tên là Lý
Thụy, làm phiên dịch trong phái đoàn cố vấn của chính phủ Liên Xô bên cạnh Chính phủ Trung Hoa Dân quốc.
Thời gian này ông cũng gặp mặt một số nhà cách mạng lão thành người Việt đang sống và
hoạt động lưu vong trên đất Trung Quốc, trong đó có một báo cáo gửi đoàn chủ tịch Quốc tế
Cộng sản để ngày 18 tháng 12 năm 1924, ông viết về Phan Bội Châu: “Ông ấy không hiểu
chính trị và lại càng không hiểu việc tổ chức quần chúng, tôi đã giải thích cho ông ấy hiểu sự
cần thiết của tổ chức và sự vô ích của những hành động không có cơ sở. Ông ấy đã đưa tôi một
bản danh sách của 14 người Việt Nam đã cùng ông ta hoạt động bấy lâu.”
Trong nhóm 14 người này có một số thành viên của Tâm tâm xã - một tổ chức cấp tiến
hoạt động từ 1923 với những thành viên như Hồ Tùng Mậu, Lê Hồng Sơn, Phạm Hồng Thái, Lê
Hồng Phong, Lâm Đức Thụ, thành viên đầu tiên của Tâm tâm xã là Lê Hồng Sơn, Hồ Tùng
Mậu, Nguyễn Giản Thanh, Đặng Xuân Hồng, Trương Quốc Huy, Lê Câu, Nguyễn Công Viên;
đến đầu năm 1924 thì được kết nạp.
Năm 1925, ông (lúc này mang tên Vương) lựa chọn một số phần tử tích cực của Tâm tâm
xã, huấn luyện thêm và trên cơ sở đó, lập ra Cộng sản đoàn, rồi tiếp tục dựa trên Cộng sản đoàn
mà thành lập Việt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng chí Hội (hay còn gọi là Hội Việt Nam
cách mạng thanh niên) vào tháng 6. Hội này phải người về nước vận động và đưa thanh niên
sang Quảng Châu đào tạo. Cho tới 1927, hội mở được 3 khoá gần 10 lớp huấn luyện, đào tạo 75
hội viên, mỗi khóa chỉ kéo dài 2-3 tháng. Nguyễn Ái Quốc đứng lớp, Hồ Tùng Mậu và Lê Hồng
Sơn phụ giảng. Việc làm quan trọng nhất của hội trong thời gian này là cử được người đi học tại
Đại học Phương Đông (Liên Xô) và trưởng Quân chính Hoàng Phố của Quốc dân Đảng Trung
Quốc. Nguyễn Hải Thân và Vũ Hồng Khanh cũng từng làm việc hoặc học tập ở trường Hoàng
Phố. Trần Phú, Lê Hồng Phong, Bùi Công Trừng, Phùng Chí Kiên, Lê Thiết Hùng. Nguyễn
Sơn,... là những người được đưa đi đào tạo tại một trong hai trung tâm trên. Phần lớn người
khác, như Nguyễn Lương Bằng, sau đó về nước hoạt động. - Ở Thái Lan:
Mùa thu 1928, Hồ Chí Minh từ châu Âu đến Thái Lan, với bí danh Thầu Chín (trong tiếng
Thái và tiếng Lào, "thầu" chỉ người nhiều tuổi và biểu thị sự tôn kính) để tuyên truyền và huấn
luyện cho Việt kiều, đồng thời móc nối một số thanh thiếu niên Việt Nam sang Thái Lan hoạt
động. Theo Bắc Hà - hồi ký, phần kế của Lê Mạnh Trinh thì khi đó có khoảng 2 vạn người Việt
sống ở Thái Lan, kiếm sống chủ yếu bằng lao động và sinh sống khá rải rác, thiếu liên kết, tập
trung nhiều hơn cả là ở vùng Đông Bắc. Cho tới thời điểm 1928, đa số họ mới di cư sang Thái 3/7
Lan trong vòng khoảng mấy chục năm. Ngô Quảng, Thần Sơn, Phan Bội Châu, Đặng Tử Kính...
đã từng hoạt động tại Thái, tuy nhiên không ai trong số họ tuyên truyền và tổ chức cho Việt kiều cả.
Hồ Chí Minh chủ trương tuyên truyền cho kiểu bảo và tổ chức họ vào những hội thân ái,
tổ chức các buổi sinh hoạt văn hóa cho họ, xin chính phủ Thái cho mở trường dành cho Việt
kiều, Hồ Chí Minh đi (chủ yếu là đi bộ) và vận động hầu khắp các vùng có kiểu bảo ở Thái Lan.
Giống như tại nhiều nơi đã hoạt động, ông cho in báo - tờ Thân ái.
Cuối năm 1929, Hồ Chí Minh rời Thái Lan, theo ngả Singapore để sang Trung
Câu 2: Anh (chị) hãy làm rõ một số đặc trưng cơ bản của xã hội xã hội chủ nghĩa ở Việt
Nam theo tư tưởng Hồ Chí Minh. Liên hệ với thực tiễn cách mạng Việt Nam

Đặc trưng cơ bản của xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam theo tư tưởng Hồ Chí Minh
Là xã hội có bản chất khác hẳn các xã hội khác đã tồn tại trong lịch sử, xã hội xã hội chủ
nghĩa có nhiều đặc trưng; song, nếu tiếp cận từ những lĩnh vực lớn của xã hội, xã hội xã hội
chủ nghĩa có một số đặc trưng cơ bản sau:
Thứ nhất, về chính trị: Xã hội xã hội chủ nghĩa là xã hội do nhân dân làm chủ
Xã hội xã hội chủ nghĩa trước hết là xã hội do nhân dân làm chủ, nhân dân là chủ dưới sự
lãnh đạo của Đảng Cộng sản trên nền tảng liên minh công - nông. Trong xã hội xã hội chủ
nghĩa, địa vị cao nhất là nhân dân. Nhà nước là của dân, do dân và vì dân. Mọi quyền lợi,
quyền lực, quyền hạn thuộc về nhân dân và mọi hoạt động xây dựng, bảo vệ đất nước, bảo vệ
chế độ xã hội cũng thuộc về nhân dân.
Những tư tưởng cơ bản về đặc trưng chính trị trong xã hội xã hội chủ nghĩa nêu trên không
chỉ cho thấy tính nhân văn cao cả của Hồ Chí Minh mà còn cho thấy Hồ Chí Minh nhận thức
rất sâu sắc về sức mạnh, địa vị và vai trò của nhân dân; về sự thắng lợi của chủ nghĩa xã hội khi
Đảng lãnh đạo dựa vào nhân dân, huy động được nhân lực, tài lực, trí lực của nhân dân để đem
lại lợi ích cho nhân dân.
Thứ hai, về kinh tế: Xã hội xã hội chủ nghĩa là xã hội có nền kinh tế phát triển cao dựa
trên lực lượng sản xuất hiện đại và chế độ công hữu về tư liệu sản xuất chủ yếu.
Theo Hồ Chí Minh, chủ nghĩa xã hội là chế độ xã hội phát triển cao hơn chủ nghĩa tư bản
nên xã hội xã hội chủ nghĩa phải có nền kinh tế phát triển cao hơn nền kinh tế của chủ nghĩa tư
bản, đấy là nền kinh tế dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và chế độ sở hữu tư liệu sản xuất tiến bộ.
Lực lượng sản xuất hiện đại trong chủ nghĩa xã hội biểu hiện: Công cụ lao động, phương
tiện lao động trong quá trình sản xuất “đã phát triển dần đến máy móc, sức điện, sức nguyên
tử”. Quan hệ sản xuất trong xã hội xã hội chủ nghĩa được Hồ Chí Minh diễn đạt là: Lấy nhà
máy, xe lửa, ngân hàng, v.v. làm của chung; là tư liệu sản xuất thuộc về nhân dân . Đây là tư
tưởng Hồ Chí Minh về chế độ công hữu tư liệu sản xuất chủ yếu trong xã hội xã hội chủ nghĩa.
Thứ ba, về văn hóa, đạo đức và các quan hệ xã hội: Xã hội xã hội chủ nghĩa có trình độ
phát triển cao về văn hoá và đạo đức, bảo đảm sự công bằng, hợp lý trong các quan hệ xã hội.
Văn hóa, đạo đức thể hiện ở tất cả các lĩnh vực của đời sống song trước hết là ở các quan
hệ xã hội. Sự phát triển cao về văn hóa và đạo đức của xã hội xã hội chủ nghĩa thể hiện: xã hội
không còn hiện tượng người bóc lột người; con người được tôn trọng, được bảo đảm đối xử
công bằng, bình đẳng và các dân tộc đoàn kết, gắn bó với nhau.
Hồ Chí Minh cho rằng: Chỉ có chủ nghĩa xã hội mới “chú ý xem xét những lợi ích cá nhân
đúng đắn và bảo đảm cho nó được thỏa mãn”; “chỉ ở trong chế độ xã hội chủ nghĩa thì mỗi 4/7
người mới có điều kiện để cải thiện đời sống riêng của mình, phát huy tính cách riêng và sở
trường riêng của mình”.
Chủ nghĩa xã hội là cơ sở, là tiền đề để tiến tới chế độ xã hội hòa bình, đoàn kết, ấm no,
tự do, hạnh phúc, bình đẳng, bác ái, việc làm cho mọi người và vì mọi người; không còn phân
biệt chủng tộc, không còn gì có thể ngăn cản những người lao động hiểu nhau và thương yêu nhau.
Chủ nghĩa xã hội bảo đảm tính công bằng và hợp lý trong các quan hệ xã hội. Đó là xã hội
đem lại quyền bình đẳng trước pháp luật cho mọi công dân; mọi cộng đồng người đoàn kết chặt
chẽ trên cơ sở bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ; ai cũng phải lao động và ai cũng có quyền
lao động, ai cũng được hưởng thành quả lao động của mình trên nguyên tắc làm nhiều thì
hưởng nhiều, làm ít thì hưởng ít, không làm thì không hưởng, tất nhiên là trừ những người chưa
có khả năng lao động hoặc không còn khả năng lao động .
Thứ tư, về chủ thể xây dựng chủ nghĩa xã hội: Chủ nghĩa xã hội là công trình tập thể của
nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản.
Từ xã hội chiếm hữu nô lệ đến xã hội tư bản chủ nghĩa, cuộc đấu tranh của người lao động
luôn diễn ra ngày càng quyết liệt nhằm thủ tiêu chế độ người bóc lột người. Trong chế độ xã
hội chủ nghĩa – chế độ của nhân dân, do nhân dân làm chủ, lợi ích của cá nhân gắn liền với lợi
ích của chế độ xã hội nên chính nhân dân là chủ thể, là lực lượng quyết định tốc độ xây dựng
và sự vững mạnh của chủ nghĩa xã hội6 . Trong sự nghiệp xây dựng này, Hồ Chí Minh khẳng
định “Cần có sự lãnh đạo của một đảng cách mạng chân chính của giai cấp công nhân, toàn tâm
toàn ý phục vụ nhân dân. Chỉ có sự lãnh đạo của một đảng biết vận dụng một cách sáng tạo chủ
nghĩa Mác-Lênin vào điều kiện cụ thể của nước mình thì mới có thể đưa cách mạng giải phóng
dân tộc và cách mạng xã hội chủ nghĩa đến thành công”
Liên hệ với thực tiễn cách mạng Việt Nam
Tại Đại hội VII (1991), Đảng ta đã thông qua Cương lĩnh xây dựng đất nước thời kỳ quá
độ lên chủ nghĩa xã hội. Trong đó, lần đầu tiên Đảng ta xác định 6 đặc trưng của xã hội xã hội
chủ nghĩa mà Nhân dân ta xây dựng, là một xã hội: do Nhân dân lao động làm chủ; có nền kinh
tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và chế độ công hữu về tư liệu sản xuất chủ
yếu; có nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc; con người được giải phóng hỏi áp bức,
bóc lột, bất công, làm theo năng lực hưởng theo lao động, có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh
phúc, có điều kiện phát triển toàn diện cá nhân; các dân tộc trong nước bình đẳng, đoàn kết,
giúp đỡ lẫn nhau cùng tiến bộ; có quan hệ hữu nghị và hợp tác với nhân dân tất cả các nước trên thế giới.
Sau Đại hội VII, các kỳ Đại hội tiếp theo cho đến Đại hội XI, trên cơ sở thực tiễn đất nước
đổi mới và phát triển, Đảng ta đã từng bước có sự bổ sung, phát triển về các đặc trưng chủ nghĩa
xã hội ở Việt Nam cho phù hợp. Đặc biệt tại Đại hội X và XI đã bổ sung và phát triển thành 8
đặc trưng. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung,
phát triển năm 2011), Đảng ta xác định: “Xã hội xã hội chủ nghĩa mà Nhân dân ta xây dựng là
một xã hội: Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; do Nhân dân làm chủ; có nền
kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất tiến bộ, phù hợp;
có nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; con người có cuộc sống ấm no, tự do hạnh
phúc, có điều kiện phát triển toàn diện; các dân tộc trong cộng đồng dân tộc Việt Nam bình
đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển; có Nhà nước pháp quyền xã hội chủ
nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân do Đảng Cộng sản lãnh đạo; có quan hệ hữu
nghị và hợp tác với các nước trên thế giới”. 5/7
Đặc trưng thứ nhất: dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Đây là đặc trưng
hoàn toàn mới bổ sung so với Cương lĩnh 1991, tiếp thu tinh thần Đại hội X trong đó có chú ý
đến trật tự các mục tiêu của chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.
Đặc trưng thứ hai: Do nhân dân làm chủ. Đặc trưng này kế thừa, điều chỉnh so với Cương
lĩnh 1991 để mở rộng dân chủ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam: dân chủ không chỉ cho nhân dân
lao động mà toàn thể Nhân dân.
Đặc trưng thứ ba: có nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và
quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp. Đây là đặc trưng có nhiều sự sửa đổi, bổ sung nhất cho phù
hợp với sự phát triển kinh tế của đất nước. Nó thể hiện cách nhìn nhận mới về chế độ sở hữu
trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội.
Đặc trưng thứ tư: Có nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Đây là đặc trưng duy
nhất không có sự sửa đổ bổ sung suốt từ Đại hội VII đến nay. Nó thể hiện tầm khái quát, chiến
lược của đặc trưng này.
Đặc trưng thứ năm: Con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát
triển toàn diện. Đặc trưng này có sự sửa đổi về cách diễn đạt cho ngắn gọn, rõ ràng hơn.
Đặc trưng thứ sáu: Các dân tộc trong cộng đồng dân tộc Việt Nam bình đẳng, đoàn kết,
tôn trọng và giúp đỡ nhau cùng phát triển. Đặc trưng này kế thừa nội dung trong Cương lĩnh
1991, song có sự sửa đổi: không diễn đạt “các dân tộc trong nước” mà thay bằng “các dân tộc
trong cộng đồng Việt Nam”, bổ sung cụm từ “tôn trọng” để xác định phong phú, rộng hơn nội
dung bao trùm của chính sách dân tộc, giải quyết đúng đắn quan hệ tộc người ở Việt Nam.
Đặc trưng thứ bảy: Có Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, của Nhân dân, do Nhân
dân, vì Nhân dân do Đảng Cộng sản lãnh đạo. Đây là đặc trưng mới so với Cương lĩnh 1991.
Đặc trưng này thể hiện rõ bản chất của Nhà nước Việt Nam và mối quan hệ giữa Đảng, Nhà nước và Nhân dân.
Đặc trưng thứ tám: Có mối quan hệ hữu nghị và hợp tác với nhân dân các nước trên thế
giới. Đặc trưng này kế thừa và sửa đổi so với Cương lĩnh 1991: diễn đạt “có quan hệ hữu nghị
và hợp tác với các nước trên thế giới” thay cho “có quan hệ hữu nghị và hợp tác với nhân dân
tất cả các nước trên thế giới” để làm rõ hơn việc hội nhập quốc tế của Việt Nam hiện nay.
Đại hội XII, về cơ bản các đặc trưng chủ nghĩa xã hội ở nước ta không có sự sửa đổi, bổ sung lớn. 6/7