
Nhóm học tập RAM(K70, K71, K72 – HNUE)
1
ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP MÔN GIAO TIẾP SƯ PHẠM
Câu 1.Giao tiếp sư phạm
- Giao tiếp là sự tiếp xúc tâm lý giữa người với người, thông qua đó con người trao
đổi thông tin, cảm xúc, nhận thức lẫn nhau, ảnh hưởng tác động qua lại cùng nhau,
ảnh hưởng tác động qua lại lẫn nhau.
Khái niệm giao tiếp sư phạm:
- Theo nghĩa rộng, GTSP là quá trình tiếp xúc tâm lý giữa các chủ thể trong quá trình
giáo dục, nhằm trao đổi thông tin, cảm xúc, nhận thức và tác động, ảnh hưởng qua lại
lẫn nhau, thiết lập nên những mối quan hệ để thực hiện mục đích giáo dục.
VD:
+ Giáo viên giảng bài cho học sinh trong lớp nghe giảng.
+ Giáo viên trao đổi về kiến thức với các đồng nghiệp
Theo nghĩa hẹp, GTSP là sự tiếp xúc tâm lý giữa giáo viên và học sinh nhằm truyền
đạt và lĩnh hội tri thức khoa học, vốn kinh nghiệm sống, kĩ năng, kĩ xảo tương ứng để
xây dựng và phát triển toàn diện nhân cách cho học sinh.

Nhóm học tập RAM(K70, K71, K72 – HNUE)
2
Câu 2. Đặc trưng của giao tiếp sư phạm
- Giao tiếp sư phạm mang tính chuẩn mực (mẫu mực).
Tính chuẩn mực là một tất yếu trong giao tiếp sư phạm. Khi giảng bài, khi đánh giá
học sinh và khi gặp gỡ trò chuyện với học sinh, thầy luôn phải có sự mẫu mực,
thống nhất giữa lời nói với việc làm...phải là tấm gương sáng cho học sinh noi theo.
VD: Chuẩn mực, tác phong của nhà giáo luôn là một yếu tố được quan tâm và đặt
lên hàng đầu, nhà nước cũng đã quy định rất rõ tại Điều 5 Quy định về đạo đức nhà
giáo ban hành kèm theo Quyết địnhsố 16/2008/QĐ-BGDĐT thì Tiêu chuẩn lối sống,
tác phong của nhà giáo. Trong mỗi trường sư phạm, tác phong của người giáo viên
không chỉ là bộ mặt của nền giáo dục, mà còn ảnh hưởng trực tiếptới học sinh, tác
động tới hành vi và nhân cách của học sinh.
- Trong giao tiếp sư phạm, giáo viên chủ yếu tác động đến
học sinh bằng tình cảm.
+ Giáo viên tác động bằng tình cảm của mình.
+ Giáo viên tác động tới mặt tình cảm của học sinh.
Các loại giao tiếp khác đòi hỏi cả lí và tình hoặc thiên về lí, thậm chí chỉ có lí
(nguyên tắc).
VD: Khi học sinh không làm bài tập về nhà, người giáo viên không nên trách cứ,
mắng, hay có những hành động tiêu cực trực tiếp. Thay vào đó, người giáo viên nên
tìm hiểu kĩ nguyên nhân, lí do khiến học sinh không làm bài tập, đồng thời ôn tồn
trò chuyện để từ đó, đưa ra lời khuyên để học sinh khắc phục lỗi sai của mình.
- Trong giao tiếp sư phạm, người giáo viên tác động đến học sinh bằng nhân -
cách của mình.
+ Giáo viên dùng nhân cách của mình làm công cụ tác động. Hiệu quả tác động bằng
lời nói hay hành động tới học sinh do nhân cách của giáo viên quy định.
+ Giáo viên không thể giáo dục một phẩm chất nào đó cho học sinh mà bản thân họ
chưa có.
- VD : Khi đi học, chúng ta thường có thói quen trình bày bài giống những gì
thầy, cô giáo làm. Không chỉ dừng lại ở bài tập, tác phong và cử chỉ của người giáo
viên còn

Nhóm học tập RAM(K70, K71, K72 – HNUE)
3
ảnh hưởng trực tiếp tới thói quen,cảm xúc của học sinh. Một người thầy có thói quen
dừng lại giữa bụcgiảng chào học sinh khi vào lớp, hành động này khiến học sinh
hình thành thói quen đứng dậy nghiêm chỉnh chào thầy giáo. Dần dần, điều này trở
thành một phản xạ, mỗi khi đến môn học của thầyhọc sinh đều chủ động đứng dậy
trước để chào, thể hiện sự tôn trọngcủa bản thân.
- Giao tiếp sư phạm là giao tiếp xã hội, được xã hội thừa nhận và tôn trọng.
+ Giao tiếp sư phạm diễn ra trong môi trường sư phạm - an toàn, lành mạnh.
+ Nhà nước và xã hội đều tôn trọng người thầy giáo.
VD: Tác giả Ngô Công Hoàn quan niệm “Giao tiếp giữa con người với con người
trong hoạt động sư phạm được gọi là giao tiếp sư phạm”. Từ nhận định trên, có thể
thấy rõ giao tiếp sư phạm là giao tiếp xã hội.
Câu 3. Chức năng của giao tiếp sư phạm
* Trao đổi thông tin
- Thông tin trong giao tiếp sư phạm trước hết là hệ thống tri thức, kĩ năng, kĩ xảo,
các giá trị... mà thầy giáo truyền đạt đến học sinh. Đó là nội dung bài học, môn học,
cách học..., hay nói rộng hơn, đó là kinh nghiệm xã hội lịch sử mà mỗi người đến
trường cần được lĩnh hội để sống bình thường trong xã hội. Để lĩnh hội được, học
sinh phải thông qua giao tiếp với thầy giáo, với bạn bè... Quá trình đó xét về chức
năng của nó là quá trình giáo dục sư phạm, học sinh tiếp thu được tri thức của nhân
loại để hình thành, phát triển trí tuệ, nhân cách và trên cơ sở tri thức đó mà phát triển
nền văn hoá xã hội.
- Thông tin trong giao tiếp sư phạm còn là những cảm xúc, là thế giới tâm hồn của
những người tham gia giao tiếp. Mỗi con người là một thế giới tâm hồn chứa
đựng cảm xúc.
VD: Trong một tiết học, thầy giáo kể một câu chuyện của bản thân về lần đầu được
điểm kém do không ôn bài. Không chỉ nằm ở việc giúp học sinh biết về một kỉ niệm
trong quá khứ của mình, thầy giáo còn giúp học sinh nhận ra được sai lầm trong
cách ôn thi, từ đó rút ra kinh nghiệm và học tập cẩn thận. Việc trao đổi thông tin
trong giao tiếp sư phạm diễn ra từ cả hai phía, giữa thầy và trò, nhằm nâng cao chất
lượng hoạt động giáo dục.

Nhóm học tập RAM(K70, K71, K72 – HNUE)
4
* Tri giác lẫn nhau
- Giao tiếp sư phạm luôn diễn ra sự nhận thức và hiểu biết nhau giữa giáo viên và
học sinh. Đặc tính quan trọng của tri giác lẫn nhau không chỉ là nhận thức về đối
tượng giao tiếp mà còn nhận thức được chính bản thân trong mối quan hệ đó. Tri
giác lẫn nhau diễn ra trong suốt quá trình giao tiếp, giúp mỗi người thu thập thông
tin cả cảm tính (tư thế, tác phong, ánh mắt, nụ cười, trang phục...) lẫn lí tính (phẩm
chất, tính cách, tình cảm...) của đối tượng giao tiếp.
- Trong quá trình giao tiếp sư phạm, giáo viên và học sinh hiểu biết lẫn nhau bằng
cách cùng chia sẻ cảm xúc của mình đối với những xúc động mạnh của người kia,
bằng con đường đồng nhất hoá bản thân mình với người kia và bằng biện pháp suy
nghĩ về người kia. Nhờ tri giác lẫn nhau mà giáo viên hiểu rõ học sinh của mình
hơn, chất lượng quan hệ cũng như hiệu quả của tác động giáo dục nâng cao hơn.
Tri giác lẫn nhau trong giao tiếp sư phạm là một hình thức tri giác liên nhân
cách.
VD: Khi người giáo viên đặt ra một câu hỏi khiến học sinh lộ ra vẻ lúng túng. Lúc
này, người giáo viên không nên gặng hỏi, mà chủ động gợi ý, đặt ra những câu hỏi
phụ đơn giản hơn, để học sinh có thể tự tin và tìm ra câu trả lời chính xác. Từđó, tạo
ra cảm giác tự tin cho người học, cũng như không khí thoải mái cho giờ học. Việc
quan sát thái độ của ngườihọc, cũng như người dạy, có lợi ích rất lớn nhằm nâng
cao chất lượng của giờ học, đem lại cảm giác thoải mái, hứng khởi.
* Đánh giá lẫn nhau
Cùng với sự nhận thức, hiểu biết lẫn nhau trong quá trình giao tiếp, con người
luôn có sự đánh giá lẫn nhau trên cơ sở định hướng giá trị của mình. Kết quả của
nó ảnh hướng quyết định tới tiến trình cũng như hiệu quả của quá trình giao tiếp.
- Chẳng hạn, từ chỗ hiểu nhầm dẫn đến đánh giá sai về học sinh, giáo viên có thể
căng thẳng trong cư xử với các em, và tất nhiên, giáo viên sẽ hứng chịu phản ứng
có thể là trực tiếp hoặc ngấm ngầm không lấy gì là tốt đẹp từ phía học sinh, thậm
chí có thể phá vỡ quan hệ tốt đẹp giữa giáo viên và học sinh.
VD: Khi gặp phải một bài làm điểm kém của một học sinh, người giáo viên không
nên lập tức trách móc hay có những hành động tiêu cực. Thay vào đó, người giáo
viên cần tìm hiểu kĩ lực học của học sinh này, từ đó đưa ra những phương án
giảng dạy phù hợp, đem lại sự thoải mái cũng như động lực cho học sinh phấn
đấu.
* Ảnh hưởng lẫn nhau

Nhóm học tập RAM(K70, K71, K72 – HNUE)
5
- Mỗi người tham gia giao tiếp quan hệ vói người cùng giao tiếp với mình như là
chủ thể có tâm lí, ý thức. Nếu trong hoạt động thực tiễn có đối tượng, kết quả là
vật chất (đối tượng được cải tạo), thì trong giao tiếp kết quả trước hết liên quan
đến những thay đổi này hay khác trong ý thức, hành vi và phẩm chất của những
người giao tiếp. Mỗi thành viên tham gia giao tiếp có thể có kế hoạch nào đó,
nhưng trong quá trình giao tiếp trên thực tế có thể diễn ra khác với dự kiến của kế
hoạch cá nhân. Trong quá trình giao tiếp, các kế hoạch cá nhân được biến đổi và
có thể tạo ra một kế hoạch chung nào đó năng động hơn, hoặc ngược lại, bất đồng
hơn.
- Như vậy, giao tiếp dẫn đến sự thay đổi không chí là tư tưởng mà còn thay đổi
cả chức năng tâm lí, trạng thái, thuộc tính tâm lí của những người giao tiếp.
Trong giao tiếp sư phạm, với chức năng xã hội là người hướng dẫn, chỉ đạo, điều
khiển hoạt động nhận thức cũng như quá trình hình thành nhân cách của học
sinh, giáo viên có ảnh hường vô cùng lớn tới học sinh, đặc biệt là học sinh nhỏ
tuổi.
- Tuy nhiên trong quá trình này, giáo viên cũng chịu ảnh hưởng không nhỏ từ
phía học sinh (liên hệ ngược). Một khía cạnh đặc biệt lưu ý là, giữa học sinh với
học sinh cũng có ảnh hưởng lẫn nhau rất lớn trong quá trình các em giao tiếp với
nhau (học thầy không tày học bạn).
VD: Khi giảng bài, tâm lí cũng như cảm xúc, thái độ của người giáo viên có
nhữngảnh hưởng nhất định tới học sinh. Người giáo viên có cảm xúc vui vẻ, hào
hứng sẽđem lại một bầu không khí sôi nổi và thoải mái cho lớp học. Người giáo
viên có cảm xúc không tốt, cáu giận sẽ tạo cho lớp học không khí căng thẳng,
nặng nề. Ngoài ra, trạng thái và kết quả của lớp học cũng ảnh hưởng tới tâm lý
của người giáo viên. Chính vì vậy, giáo viên và học sinh ảnh hưởng tới nhau
trong quá trình giao tiếp sư phạm.
* Điều khiển hoạt động nhóm
Giao tiếp luôn mang ý nghĩa xã hội, đó là giao tiếp đảm bảo tổ chức mọi người tiến
hành hoạt động chung, đảm bảo cho sự liên hệ qua lại của họ. Đặc điểm cơ bản của
chức năng này thể hiện ở chỗ chính quá trình giao tiếp là quá trình trao đổi các ý đồ,
tư tưởng, biểu tượng...

Nhóm học tập RAM(K70, K71, K72 – HNUE)
6
- Sự thống nhất các ý đồ, tư tưởng... sẽ điều khiển hoạt động chung của nhóm,
cộng đồng. Trong giao tiếp sư phạm, sự thống nhất các ý đồ, tư tưởng... giữa giáo
viên và học sinh là điều kiện lí tưởng đảm bảohiệu quả cao trong dạy học và giáo
dục, và điều này phụ thuộc phần lớn vào năng lực giao tiếp của người giáo viên.
- Thông qua giao tiếp, giáo viên tổ chức các mối quan hệ, các tương tác giữa giáo
viên với học sinh, giữa học sinh với nhau nhằm phát huy tính tích cực, tự giác của
học sinh - đó là khía cạnh bản chất của phương pháp dạy học tích cực
VD: Người giáo viên giống như một nghệ sĩ trên sân khấu, một người diễn viên
tài năng sẽ biết cách lôi cuốn khán giả về phía mình. Một giáo viên hiệu quả sẽ
biết thu hút sự tham gia của học sinh. Để trở thành một giáo viên hiệu quả, thầy
cô phải làm chủ được các chiến thuật, các kĩ thuật dạy học đảm bảo học sinh
tham gia vào các hoạt động mà mình tổ chức, lắng nghe những gì mà mình nói,
thực hiện những nhiệm vụ mà mình yêu cầu.
* Ở một cách diễn đạt khác, giao tiếp sư phạm gồm các chức năng sau:
+ Công cụ: Giao tiếp sư phạm là cơ chế xã hội của việc điều khiển và truyền đạt
thông tin cần thiết cho việc thực hiện hoạt động dạy học và giáo dục.
+ Liên kết: Giao tiếp sư phạm là phương tiện liên kết giáo viên với giáo viên, giáo
viên với học sinh, học sinh với học sinh...
+ Tự thể hiện: Giao tiếp sư phạm là sự trình diễn thế giới nội tâm của giáo viên và
học sinh, và do đó là hình thức hiểu biết lẫn nhau.
+ Chuyển dời: Quá trình sư phạm (dạy học và giáo dục) về bản chất là quá trình
tổ chức cho học sinh hoạt động nhằm chiếm lĩnh nền văn hóa xã hội. Trong quá
trình này, thầy giáo là cầu nối giữa học sinh và nền văn hoá đó. Như vậy, qua giao
tiếp sư phạm, thầy giáo và học sinh đã "chuyển dời” những tri thức cần thiết từ
nền văn hoá nhân loại vào bản thân mình. Đây là chức năng quan trọng nhất của
giao tiếp sư phạm.
Các kết quả nghiên cứu thực nghiệm cho thấy, giao tiếp là yếu tố quyết định quan
trọng nhất của các quá trình nhận thức ở tất cả các mức độ. Trong quá trình lĩnh hội
khái niệm, nhờ giao tiếp sư phạm mà cơ sở khái quát hoá và trừu tượng hoá được mở
rộng (so với hoạt động cá nhân), giao tiếp sư phạm thúc đẩy việc chọn lọc và sắp
xếp các kiến thức sẽ lĩnh hội. Giao tiếp sư phạm tạo ra các điều kiện thuận lợi để
xem xét các nhiệm vụ từ các quan điểm khác nhau và những thay đổi chiến lược tìm
kiếm cách giải quyết chúng. Ở đây nhấn mạnh hiệu quả giao tiếp giữa thầy giáo với
học sinh, giữa học sinh với học sinh trong quá trình dạy học.

Nhóm học tập RAM(K70, K71, K72 – HNUE)
7
+ Kiểm soát xã hội: Giao tiếp sư phạm có chức năng thể chế hoá hành vi và hoạt
động của giáo viên và học sinh, tức là làm cho hoạt động sư phạm tuân theo những
quy định, nguyên tắc xác định.
+ Xã hội hoá: Giao tiếp sư phạm hình thành cho cả giáo viên và học sinh kĩ năng,
kĩ xảo tác động qua lại trong xã hội phù hợp với các chuẩn mực và quy tắc, các
phong tục, tập quán...
Câu 4. Vai trò của giao tiếp sư phạm
- Giao tiếp sư phạm có vai trò rất quan trọng trong hoạt động giáo dục nói
chung và trong việc hình thành nhân cách người thầy giáo nói riêng.
*Trong hoạt động sư phạm
-Bộ phận cấu thành
- Phương tiện , điều kiện thực hiện mục đích sư phạm bởi tất cả những nội dung
giáo dục từ việc giảng dạy thú vị, sáng tạo đến các phương pháp tích cực, tiến bộ
chỉ phát huy tác dụng khi và chỉ khi được đảm bảo bằng giao tiếp sư phạm phù
hợp, đúng đắn
-Kết hợp các lực lượng giáo dục
+trong : đoàn trường., clb...
+ngoài : phụ huynh
=>Từ đó cho thấy giao tiếp sư phạm gắn bó chặt chẽ với hoạt động sư phạm và
bản chất của quá trình sư
phạm
*Đối tượng giáo dục
- Con đường lĩnh hội tri thức kĩ năng kĩ xảo tổ chức các hoạt động dạy học
-Con đường hình thành nhân cách cho học sinh ( Phẩm chất , năng lực )
Vd: câu nói của bác Hồ : có tài mà không có đức là kẻ vô dụng , có đức mà khong có tài
thì làm gì cũng khó
*Nhà giáo dục
-Con đường hoàn thiện kĩ năng , phẩm chất nghề
- Con đường hoàn thiện nhân cách
Vd : Thầy giáo già con hát trẻ : Già nhiều kinh nghiệm ; còn học sinh thì thích những
những người trẻ hơn
- Nếu coi hoạt động sư phạm phục vụ 3 mục đích: giảng dạy, giáo dục và phát
triển thì giao tiếp sư phạm có vai trò:
+ Là phương tiện để giải quyết nhiệm vụ giảng dạy vì giao tiếp sư phạm đảm bảo
sự tiếp xúc tâm lý với học sinh, hình thành động cơ tích cực học tập, tạo bầu không
khí tâm lý trong nhận thức, tìm tòi

Nhóm học tập RAM(K70, K71, K72 – HNUE)
8
+ Là sự bảo đảm tâm lý – xã hội cho quá trình giao tiếp vì nhờ giao tiếp sư phạm
mà hình thành được mối quan hệ giáo dục, tạo nên khuôn mẫu của lối sống, ảnh
hưởng tới sự hình thành các định hướng, các chuẩn mực, các kiểu sống của cá
nhân và có sự tiếp xúc tâm lý giữa thầy và trò. Điều đó đảm bảo kết quả của hoạt
động học tập, khắc phục những trở ngại tâm lý, hình thành các mối quan hệ liên
nhân cách trong tập thể học sinh.
+ Là phương pháp tổ chức mối quan hệ qua lại giữa thầy và trò, bảo đảm cho việc
dạy và giáo dục có hiệu quả bởi vì giao tiếp sư phạm đã tạo ra hoàn cảnh, tìn
huống tâm lý kích thích việc tự học và tự giáo dục của học sinh, khắc phục các
yếu tố tâm lý kìm hãm sự phát triển nhân cách trong quá trình giao tiếp: thiếu tự
tin, lúng túng khi giao tiếp, …Tạo điều kiện để phát hiện việc điều chỉnh tâm lý –
xã hội trong quá trình phát triển và hình thành các phẩm chất, nhân cách

Nhóm học tập RAM(K70, K71, K72 – HNUE)
9
-> Như vậy, giao tiếp sư phạm không chỉ là phương tiện, là công cụ để thực hiện
mục đích sư phạm mà còn là bộ phận cấu thành hoạt động sư phạm, là một thành
phần chủ đạo trong cấu trúc năng lực của người thầy giáo, góp phần tạo nên nhân
cách của họ
+ Nhờ có giao tiếp sư phạm nhà giáo dục mới tổ chức được hoạt động của mình,
đồng thời giao tiếp sư phạm là công cụ thiết lập, duy trì và phát triển các mối quan
hệ giao tiếp giữa các thầy cô giáo trong nhà trường.
+ Giao tiếp sư phạm có vai trò đặc biệt quan trọng đối với sự phát triển nhân cách
của học sinh. Thông qua giao tiếp sư phạm mà nhà giáo dục truyển đạt những tri
thức khoa học, kinh nghiệm, trải nghiệm… còn người được giáo dục thì lĩnh hội
tiếp thu tri thức, kinh nghiệm chuẩn mực đạo đức để hình thành, phát triển tâm lý
nhân cách cho chính mình. Qua sự trao đổi thông tin giữa nhà giáo dục và người
học sinh đã giúp cho nhiều học sinh hình thành được một số phẩm chất và nhân
cách như: ý thức trách nhiệm, tôn trọng tập thể, lòng tự trọng….
+ Nhờ có giao tiếp sư phạm, nhà giáo dục đã đi sâu vào thế giới tinh thần của học
sinh, thiết lập được mối quan hệ gắn bó đối với học sinh, kích thích học sinh tính
tích cực chủ động, sáng tạo trong mọi hoạt động giao tiếp để trở thành những nhân
cách có ích cho xã hội và tự hoàn thiện bản thân.
Câu 5. Các nguyên tắc giao tiếp sư phạm
Nguyên tắc: là hệ thống những chuẩn mực, quy định có tác dụng chỉ đạo, định
hướng suy nghĩ và hành động của con người.
Nguyên tắc giao tiếp sư phạm: là hệ thống những quan điểm có tác dụng chỉ đạo,
định hướng thái độ và hành vi ứng xử của chủ thể giao tiếp, cũng như việc lựa
chọn các phương pháp, phương tiện giao tiếp trong hoạt động sư phạm.
* Nguyên tắc mẫu mực, mô phạm
- Mô phạm là khuôn mẫu, mực thước cho mọi người làm theo.
- Bản chất Đảm bảo sự mẫu mực trong nhân cách của người thầy giáo
- Cơ sở đề ra nguyên tắc : đặc điểm nghề dạy học và yêu cầu vời người thầy giáo trong
hoạt động sư phạm
- Biểu hiện:
✓ Mẫu mực về hành vi: mẫu mực với mọi người xung quanh
✓ Mẫu mực về thái độ : yêu thương tôn trọng
✓ Mẫu mực về nhận thức : hiểu được vị trí vai trò trách nghiệm tầm ảnh hưởng của

Nhóm học tập RAM(K70, K71, K72 – HNUE)
10
nhân cách mình tới người học

Nhóm học tập RAM(K70, K71, K72 – HNUE)
11
- Sự mẫu mực trong giao tiếp sẽ tạo ra uy tín của GV đối với HS
VD: Trong một lần, vì quá nóng vội, bạn đã phạt một học sinh vì cho rằng em đó
đã vi phạm kỉ luật. Nhưng rồi sau đó bạn phát hiện ra em đó ko có lỗi. Bạn sẽ xử
lý ntn?
Cách xử lí:
Hãy thẳng thắn và trung thực với các em và với chính bản thân mình.
Hãy công khai xin lỗi học sinh đó trước lớp. Chờ một dịp thuận lợi, một buổi
sinh hoạt lớp với không khí vui vẻ chẳng hạn, bạn hãy nói với các em học sinh
thế này: “Hôm trước, cô đã hơi nóng vội nên đã phạt oan bạn A. Người lớn cũng
có những lúc mắc khuyết điểm. Cô rất xin lỗi bạn A và cả lớp. Chắc các em cũng
là những học sinh rộng lượng đúng không?”
Hoặc gặp riêng học sinh, bạn sẽ nói chuyện dễ dàng hơn, cô trò cảm thông và
hiểu nhau.
* Nguyên tắc tôn trọng nhân cách
- Tôn trọng nhân cách là coi trọng phẩm giá, nguyện vọng của HS, không
ép buộc.
- Biểu hiện:
Biết khích lệ, động viên HS bày tỏ suy nghĩ, mong muốn; biết lắng nghe nhu cầu và
nguyện vọng của các em
Chân thành, trung thực trong phản ứng đối với HS;
Sử dụng ngôn từ phù hợp; không có những lời nói xúc phạm đối với HS trong
mọi trường hợp
Cử chỉ, điệu bộ khoan hòa
Trang phục gọn gàng, lịch sự
✓ Tôn trọng quyền con người của người học
✓ Không xúc phạm thân thể người học
✓ Không áp đặt suy nghĩ mà lắng nghe tạo cơ hội cho học sinh chia sẻ nhiều hơn
✓ Đối xử công bằng tạo môi trường học tập bình đẳng
✓ Quan tâm hiểu đặc điểm riêng của từng người học
✓ Đặt ra các yêu cầu cao và giúp học sinh thực hiện các yêu cầu đó
VD: Với những học sinh ít nói có tính cách khép mình, có thể gọi phát biểu
trong giờ sinh hoạt, một câu hỏi rộng có thể chia thành nhiều câu hỏi nhỏ hơn

Nhóm học tập RAM(K70, K71, K72 – HNUE)
12
như một sự gợi ý đối với học sinh đó. Ngoài ra, giáo viên nên giữ nụ cười của
mình sao cho thân thiện, biểu hiện mong chờ, điều này góp phần tạo cảm giác
dễ chịu cho học sinh được hỏi.
* Nguyên tắc thiện chí
- Thiện chí là nghĩ tốt về HS, tạo điều kiện cho HS bộc bạch tâm tư,
nguyện vọng
- Biểu hiện:

Nhóm học tập RAM(K70, K71, K72 – HNUE)
13
✓ Trong dạy học: Hết mình vì HS, làm việc với lương tâm nghề
nghiệp và tinh thần trách nhiệm cao đối với HS.
✓ Trong đánh giá HS: Khách quan, công bằng, khích lệ sự tiến bộ và
vươn lên của HS.Đánh giá người học theo chiều hướng phát triển ngay cả khi ngời
học tạm thời mắc lỗi . Tránh ĐG kiểu quy chụp , định kiến
✓ Trong phân công nhiệm vụ: lòng tin đối với HS. Tạo điều kiện cho học sinh thể hiện
bản thân và phấn đaaus vươn lên . Khuyến khích động viên khi học sinh tiến bộ
✓ Trong giải quyết các vấn đề quan hệ
✓ Trong sử dụng hình phạt
VD: Sau khi chấm bài kiểm tra, giáo viên nhận thấy có hai bài khá giống nhau,
một của học sinh giỏi, một của học sinh yếu hơn. Lúc đó, giáo viên không nên có
đánh giá chủ quan như bạn yếu chép bài bạn giỏi. Giáo viên có thể gọi riêng hai
bạn lên để đối chất về hai bài làm và đưa ra cách giải quyết công bằng nhất bất
kể hai bạn có học lực ra sao. Dù ai chép bài, giáo viên vẫn cần phải nhắc nhở nhẹ
nhàng, trừ nhẹ bài chép. Nếu bài không phải chép mà chỉ tình cờ giống nhau (điều
này rất có thể xảy ra với các môn tự nhiên) nếu bài làm tốt, giáo viên có thể khích
lệ sự tiến bộ của bạn yếu.
* Nguyên tắc tạo niềm tin
- Tạo niềm tin là thể hiện sự chân thành, không sáo rỗng, kiểu cách.
- Biểu hiện:
+ Tin tưởng vào sự thay đổi và khả năng tiến bộ của HS
✓ Luôn khẳng định ưu điểm néttichs cực của người học để các em
phát huy những điểm mạnh . Luôn tin tưởng vào PC và NL của người học
+ Tìm ra ưu điểm, mặt tích cực của HS thay vì miệt thị, phê phán
+ Khiến HS tin vào năng lực và nhân cách của mình
+ Ngay lập tức giải tỏa nghi kỵ của HS
VD: Trong lớp có một học sinh rất nghịch ngợm hay pha trò trong giờ. Giáo viên
trong trường hợp này, không nên có định kiến xấu với học sinh (bởi từ đó có thể nảy
sinh những đánh giá chủ quan tiêu cựccủa giáo viên trong quá trình tương tác của
giáo viên với học sinh này),luôn phải tin rằng học sinh luôn có mặt tốt, tìm hiểu
nguyên nhân họcsinh này nghịch như vậy là do đâu (có thể muốn thu hút sự chú ý,
có thể là do thừa năng lượng, hoặc do học sinh đó không có nhiều cơ hộithể hiện bản
thân với người khác,…), từ đó tìm hướng giải quyết thích hợp vì sự tiến bộ của học
sinh đó.

Nhóm học tập RAM(K70, K71, K72 – HNUE)
14
* Nguyên tắc đồng cảm
- Đồng cảm = đặt mình vào vị trí của người khác.
- Biểu hiện:
✓ Hiểu đặc điểm và hoàn cảnh của HS; hiểu được tâm
tư, nguyện vọng và mong muốn của HS
✓ Thân mật, gần gũi với HS
✓ Khoan dung, độ lượng trong ứng xử
✓ Đặt mình vào vị trí của học sinh : đồng cảm để hiểu được suy nghĩ băn khoan của học
sinh và lựa chọn cách giao tiếp sao cho phù hợp
✓ Hiểu đúng và cảm nhận đúng
✓ Cảm thông chia sẽ với hs
VD: hoàn cảnh sống cũng ảnh hướng khá nhiều đến đời sống tâm lí
của học sinh. Một học sinh luôn luôn không chú ý học, phá phách,
không hợp tác luôn phạm khuyết điểm có thể là do một tổn thương đến
từ tâm lí. Là người giao viên, chúng ta cần tìm hiểu để có thể có
phương hướng giúp đỡ học sinh…
Câu 6. Phong cách giao tiếp sư phạm
*Phong cách là
* Phong cách giao tiếp sư phạm là phương thức hành động tương đối ổn định,
bền vững của người dạy trỏng quá trình giao tiếp với người học.
* Phong cách độc đoán
- Là phong cách mà trong đó giáo viên khi ứng xử với học sinh
thường xem nhẹ, không tính đến đặc điểm tâm lí cá nhân của đối
tượng giao tiếp. Vì vậy khi tiếp xúc với học sinh hay đưa ra những
yêu cầu xa lạ, mang tính chất áp đặt khiến cho các em khó thực
hiện được
- Biểu hiện:
✓ Giữ khoảng cách với HS
✓ Không để tâm đến những đòi hỏi, yêu cầu và nguyện vọng của HS
✓ Nguyên tắc cứng nhắc, không nhân nhượng, không linh hoạt
✓ Duy ý chí

Nhóm học tập RAM(K70, K71, K72 – HNUE)
15
✓ Áp đặt ý kiến quan điểm
✓ Xem nhẹ đặc điểm riêng của người học
✓ Luôn đặt mục đích giao tiếp xuất phát từ mục đích công việc một cách cứng nhắc
✓ Đặt ra yêu cầu quá cao khiến học sinh phải luôn cố gắng dẫn đến việc thực hiện yêu
cầu một cách hình thức và chống đối
- Tác động
+ Ưu điểm:
- Phong cách độc đoán có tác dụng nhất định đối với công việc cần phải
hoàn thành trong thời gian ngắn, có tính cấp bách
- Phong cách này phù hợp với tập thể mới hình thành và tập
thể không có sự thống nhất
- Hoàn thành ccoong việc đúng thời hạn , tiến bộ .
+ Nhược điểm:

Nhóm học tập RAM(K70, K71, K72 – HNUE)
16
✓ Khiến HS thụ động, lệ thuộc và thiếu tích cực
✓ Tạo ra sự chống đối từ phía HS
✓ Giảm những tác động giáo dục của GV đối với HS
✓ Tạo ra khoảng cách ngày càng xa giữa thầy và trò
Ví dụ: Trong quá trình giảng bài Toán, giáo viên giảng từ 1 phía,
không để ý đến khả năng nhận thức, tiếp thu của học sinh, yêu
cầu học sinh làm theo cách của mình mà không để ý đến ý kiến
khác
- KLSP: Trong quá trình dạy học cần tránh việc lạm dụng
phong cách độc đoán, bắt ép HS theo ý của GV
+ Về thái độ: Tôn trọng ý kiến HS, quan tâm để ý đến khả năng nhận thức, nhu cầu
của HS
+ Về hành vi: lắng nghe ý kiến từ HS, khích lệ HS phát biểu ý kiến.
Sử dụng linh hoạt, hiệu quả phong cách độc đoán trong quá trình xử
lí tình huống nảy sinh trong giờ học trên lớp
* Phong cách tự do
- Phong cách tự do là phong cách mà giáo viên linh hoạt thay
đổi cách ứng xử theo sự thay đổi của hoàn cảnh giao tiếp
- Biểu hiện:
✓ Dễ thay đổi về mục đích, nội dung giao tiếp khi hoàn cảnh , đối tượng thay đổi
✓ Không câu nệ nghi thức
✓ Không làm chủ được cảm xúc, diễn biến tâm lý đễ tỏ ra đồng cảm quá mức với vấn
đề của hs
✓ Mục đích giao tiếp không ro ràng , nội dung gt không phân định , phạm vi giao tiếp
rộng nhưng không saau sắc bền vững
- Tác động:
+ Ưu điểm
✓ Có tính mềm dẻo, linh hoạt, khéo léo trong giao tiếp
✓ Phát huy tính tích cực nhận thức, tính độc lập, sáng tạo và ý thức tự giác của HS

Nhóm học tập RAM(K70, K71, K72 – HNUE)
17
✓ Tạo được bầu không khí thoải mái trong giao tiếp
+ Nhược điểm
✓ Dễ phá vỡ các quy tắc quan hệ, dễ bị coi nhẹ; dễ rơi vào tình trạng hời
hợt, nông cạn, thiếu tập trung

Nhóm học tập RAM(K70, K71, K72 – HNUE)
18
- Ví dụ: Trong lớp tiết Toán, giáo viên tạo điều kiện cho HS phát biểu suy nghĩ,
cách làm của mình đồng thời hòa đồng với các em trong giờ nghỉ giải lao
- KLSP:
+ Trong quá trình giao tiếp cần quan tâm đến thái độ, hành vi, nhu cầu chính đáng
của HS + Có thái độ đúng mực trong quá trình giao tiếp, kiểm soát tốt cảm xúc
của bản thân + Cần kết hợp linh hoạt với các phong cách giao tiếp khác
* Phong cách dân chủ
- Là phong cách giao tiếp mà thầy cô giáo coi trọng những đặc điểm tâm lý cá
nhân, vốn sống, kinh nghiệm, trình độ nhận thức, nhu cầu, động cơ, hứng thú và
các mức độ tích cực nhận thức của học sinh. Biết lắng nghe, tôn trọng và đáp
ứng kịp thời nguyện vọng chính đáng của học sinh
- Biểu hiện:
✓ Luôn gần gũi, thân mật, tạo sự tin tưởng với HS
✓ Lắng nghe nguyện vọng, ý kiến của HS
✓ Kịp thời giải tỏa những băn khoăn, vướng mắc, hoặc những vấn đề HS gặp phải
✓ Tôn trọng nhu cầu và những những đòi hỏi chính đáng của HS
✓ Biết đề ra những yêu cầu phù hợp và vừa sức đối với HS
✓ Không nuông chiều nhưng vẫn đật được yeeu cầu cụ thể
- Tác động:
+ Ưu điểm:
✓ Kích thích tính tích cực nhận thức của HS
✓ Tạo ra ở HS tính độc lập, sáng tạo và ý thức trách nhiệm
✓ Là phong cách giao tiếp có tác động tích cực nhất đối với hiệu quả
dạy học và giáo dục
✓ Giúp học sinh nhận thức được trách nghiệm bổn phận của mình
✓ Phát triển phẩm chất và năng lực cho người học hiệu quả
+ Lưu ý: Tuy nhiên phong cách dân chủ ở đây không có nghĩa là nuông chiều, thả
mặc HS hoặc xóa bỏ ranh giới thầy trò theo nghĩa “cá mè một lứa” mà là thể hiện
sự tôn trọng đối tượng giao tiếp, thể hiện rõ sự “tôn sư trọng đạo” ở HS
Nhược điểm :Giải quyết vấn đề không nhanh chóng tốn thời gian và không tận

Nhóm học tập RAM(K70, K71, K72 – HNUE)
19
dụng được thời cơ
-Ví dụ: Khi soạn giáo án, GV đưa ra các bài toán phù hợp với trình độ nhận thức
của HS. Trong khi giảng Toán cho HS, GV luôn mời HS phát biểu cách làm của
mình

Nhóm học tập RAM(K70, K71, K72 – HNUE)
20
=>KL chung: Ba loại phong cách giao tiếp sư phạm trên đều có những mặt mạnh,
mặt yếu nhất định. Xuất phát từ nguyên tắc của quá trình giao tiếp sư phạm, đòi
hỏi giáo viên phải thường xuyên thực hiện phong cách dân chủ. Tuy nhiên, người
giáo viên trong hoạt động giảng dạy và giáo dục học sinh nên vận dụng một cách
linh hoạt, pha trộn cả ba loại hình phong cách trên phù họp với từng hoàn cảnh,
mục đích giao tiếp cụ thể... Việc tổ chức quá trình giáo dục và dạy học ở nhà
trường không thể phù hợp hoàn toàn với một phong cách giao tiếp nào, mà chỉ phù
hợp với từng loại công việc của lớp, của trường khi giáo viên giao việc, hướng
dẫn, tổ chức học tập, lao động... cho học sinh. Điều này thể hiện rõ nghệ thuật giao
tiếp sư phạm cảa từng giáo viên. Trong thực tế, có giáo viên quá lợi dụng phong
cách này hoặc phong cách khác trong tiếp xúc với học sinh, nên đã gây ra ở học
sinh tâm lí sợ hãi, hoặc coi thường giáo viên.
Câu 7.Phương tiện giao tiếp sư phạm (PT ngôn ngữ và PT phi ngôn ngữ)
*Khái niệm
- Phương tiện giao tiếp sư phạm là những yếu tố trung gian (ngôn ngữ, phi
ngôn ngữ…) giúp GV, HS, các lực lượng giáo dục tiếp xúc, trao đổi thông tin,
nhận thức lẫn nhau, ảnh hưởng tác động qua lại với nhau trong quá trình giao
tiếp
* Phương tiện ngôn ngữ
- Phương tiện ngôn ngữ trong GTSP là lời nói và chữ viết giúp giáo viên, học
sinh, các lực lượng giáo dục tiếp xúc, trao đổi thông tin, nhận thức lẫn nhau, tác
động qua lại với nhau trong quá trình giao tiếp
*Phương tiện phi ngôn ngữ
** Hành vi, cử chỉ, điệu bộ
Trong giao tiếp sư phạm, hành vi giao tiếp của giáo viêncó đặc
điểm là:
+ Được hình thành từ các nguồn gốc khác nhau
+ Khoan dung, cung kính, tôn sư, trọng đạo.
+
Hành
vi
giao
tiếp
sư
phạm
mang
tính
linh
hoạt
- Điệu bộ, cử chỉ, tư thế, dáng đứng, đi
+ Điệu bộ là cử động của tay, chân, cơ thể …để diễn đạt một điều gì
đó hay phụ họa thêm cho lời nói.
Ví
dụ:
vừa
giảng
bài,
vừa
đưa
tay
làm
điệu
bộ
Điệu
bộ
có
thể
góp
phần
làm
cho
bài
giảng
thêm
sinh
động.
Đối
với
giáoviên, điệu bộ phải do sự
rèn luyện theo yêu cầu sư phạm mà tạo thành
Bấm Tải xuống để xem toàn bộ.