



















Preview text:
BỘ NỘI VỤ
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
TÊN ĐỀ TÀI: QUY TRÌNH HOẠCH ĐỊNH CHÍNH SÁCH
CÔNG VÀ THỰC TIỄN Ở VIỆT NAM
BÀI TẬP CÁ NHÂN KẾT THÚC HỌC PHẦN
Học phần: Hoạch định và phân tích chính sách công
Giảng viên giảng dạy: TS. Đặng Thị Đào Trang
Mã phách:.................................................................... Quảng Nam – 2024 MỤC LỤC
....................................................................................................................................................................2
LỜI MỞ ĐẦU............................................................................................................................................2
1. Lý do chọn đề tài.......................................................................................2
2. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu...................................................4
3. Cấu trúc của đề tài....................................................................................4
Chương I....................................................................................................................................................5
QUY TRÌNH HOẠCH ĐỊNH CHÍNH SÁCH CÔNG..............................................................................5
1.1. Khái niệm chính sách công....................................................................5
1.2. Các bước trong quy trình hoạch định chính sách công.......................5
1.2.1. Thiết lập chương trình nghị sự chính sách công......................................................................5
1.2.2. Xây dựng nội dung chính sách công........................................................................................6
1.2.2.1. Xác định mục tiêu chính sách...............................................................................................6
1.2.2.2. Xác định các phương tiện thực hiện mục tiêu.......................................................................8
1.2.2.3. Xây dựng các giải pháp của chính sách................................................................................8
1.2.2.4. Lựa chọn và thông qua phương án chính sách......................................................................9
1.2.3. Xây dựng dự thảo văn bản chính sách công............................................................................9
1.2.4. Thông qua và công bố chính sách công.................................................................................10
Chương II.................................................................................................................................................11
THỰC TIỄN QUY TRÌNH HOẠCH ĐỊNH CHÍNH SÁCH CÔNG Ở VIỆT NAM.............................11
2.1. Phân tích thực tiễn các bước trong quy trình hoạch định chính sách
công ở Việt Nam..........................................................................................11
2.1.1 Xác định vấn đề.......................................................................................................................11
2.1.2 Phân tích và lựa chọn giải pháp..............................................................................................11
2.1.3 Xây dựng dự thảo chính sách..................................................................................................12
2.1.4 Thẩm định và phê duyệt..........................................................................................................12
2.1.5 Triển khai thực hiện và giám sát.............................................................................................13
2.2 Những thách thức và hạn chế trong quy trình hoạch định chính sách
công ở Việt Nam..........................................................................................13
2.2.1 Thiếu hiệu quả trong việc xác định vấn đề.............................................................................13
2.2.2 Hạn chế trong phân tích và lựa chọn giải pháp.......................................................................13
2.2.3 Quá trình thẩm định và phê duyệt kéo dài..............................................................................14
2.2.4 Thách thức trong triển khai và giám sát..................................................................................14
Chương III................................................................................................................................................14
GIẢI PHÁP CẢI THIỆN QUY TRÌNH HOẠCH ĐỊNH CHÍNH SÁCH CÔNG Ở VIỆT NAM..........14
3.1 Tăng cường sự tham gia của các bên liên quan trong xác định vấn đề
......................................................................................................................14
3.2 Cải thiện quy trình phân tích và lựa chọn giải pháp..........................15
3.3 Nâng cao chất lượng soạn thảo dự thảo chính sách............................15
3.4 Tăng cường hiệu quả thẩm định và phê duyệt chính sách.................15
3.5 Tăng cường giám sát và đánh giá thực hiện chính sách.....................16
PHẦN KẾT LUẬN..................................................................................................................................16
1. Tóm tắt những điểm chính.....................................................................16
1.1 Quy trình hoạch định chính sách công ở Việt Nam...................................................................16
1.2 Thực tiễn áp dụng......................................................................................................................17
1.3 Các giải pháp cải thiện...............................................................................................................17
2. Những thách thức và hướng đi tương lai...............................................17
2.1 Những thách thức tiếp tục..........................................................................................................17
2.2 Hướng đi tương lai.....................................................................................................................17
Để vượt qua những thách thức này, cần có một lộ trình dài hạn với các bước cụ thể:....................18
3. Kết luận chung.........................................................................................18 LỜI MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, hoạch định chính
sách công ở Việt Nam đòi hỏi phải đáp ứng các mục tiêu phát triển kinh
tế, giữ vững an ninh, quốc phòng và có tính đến những thay đổi. Trạng
thái năng động của thế giới. Tuy nhiên, nghiên cứu thực tiễn đã chứng
minh quá trình hoạch định chính sách công ở Việt Nam còn nhiều thiếu
sót và còn tồn tại những hạn chế, vướng mắc đáng kể, như:
-Thiếu hiệu quả trong việc nhận biết vấn đề: Các chính sách thường
dựa trên việc ứng phó với các sự kiện thay vì áp dụng cách tiếp cận thấu
đáo để phân tích các vấn đề dài hạn.
-Quá trình thẩm định, phê duyệt kéo dài: Điều này gây ra tình
trạng chính sách không giải quyết ngay được nhu cầu thực tế của người
dân, dẫn đến lãng phí nguồn lực và mất đi tiềm năng phát triển.
-Sự tham gia của các bên liên quan: Người dân, doanh nghiệp, tổ
chức xã hội thiếu cơ hội tham gia vào quá trình hoạch định chính sách
một cách đầy đủ và hiệu quả.
Quá trình hoạch định chính sách công ở Việt Nam được hỗ trợ bởi
nhiều văn bản quy phạm pháp luật, trong đó có Luật Phổ biến văn bản
quy phạm pháp luật, Nghị định của Chính phủ về phổ biến văn bản, thông
tư của Bộ Tư pháp và các văn bản khác. Tuy nhiên, việc triển khai, thực
thi các quy định pháp luật này vẫn còn nhiều vướng mắc, cụ thể:
-Thiếu thống nhất, thống nhất giữa các văn bản quy phạm pháp
luật: Điều này dẫn đến vướng mắc trong quá trình thực hiện và gây ra
những bất đồng về thẩm quyền, trách nhiệm giữa các cơ quan.
-Thiếu quy định cụ thể về quá trình tham vấn, lấy ý kiến: Điều này
làm giảm chất lượng chính sách được ban hành, không tận dụng được
kiến thức, kinh nghiệm của các bên liên quan.
-Cơ chế giám sát, đánh giá chính sách chưa hiệu quả: Chưa có
quy định thống nhất, phổ quát để đánh giá hiệu quả của chính sách công sau khi được tạo ra.
Hoạch định chính sách công là một lĩnh vực quan trọng của khoa
học quản lý và hành chính công. Việc nghiên cứu lý thuyết hoạch định chính sách công bao gồm:
-Mô tả và phân tích các khái niệm cơ bản: Khái niệm chính sách
công, quy trình hoạch định chính sách và các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình lập kế hoạch.
-Mô hình và phương pháp hoạch định chính sách công: Nghiên
cứu mô hình hoạch định chính sách của các nước phát triển, lý luận về
hành chính công và quản lý nhà nước.
-Khả năng ứng dụng lý thuyết vào thực tiễn: Xem xét sự phù hợp
của lý thuyết với hoạch định chính sách công trong bối cảnh Việt Nam,
điều này sẽ dẫn đến những thay đổi cần thiết để chúng hiệu quả hơn.
Việc nghiên cứu và phân tích đề tài này không chỉ giúp nhận diện
rõ ràng các vấn đề, làm rõ các quy định pháp lý hiện hành mà còn đề xuất
các giải pháp để hoàn thiện khung pháp lý cho quy trình hoạch định chính
sách công và cải thiện quy trình hoạch định chính sách công ở Việt Nam.
2. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Quá trình hoạch định chính sách công ở Việt
Nam và thực tiễn quản lý nhà nước hiện nay.
Phương pháp nghiên cứu: để thực hiện tốt nhiệm vụ nghiên cứu
cũng như đạt được mục tiêu đề tài, tác giả sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau đây:
-Phương pháp phân tích tài liệu: Phân tích tài liệu, nghiên cứu
pháp lý và nghiên cứu chính sách công.
-Phương pháp so sánh: Tìm hiểu quá trình hoạch định chính sách
công ở Việt Nam so với các quốc gia khác để xác định lợi ích, hạn chế và bài học kinh nghiệm.
3. Cấu trúc của đề tài
Lời mở đầu: trình bày lý do chọn đề tài, đối tượng nghiên cứu và
phương pháp nghiên cứu, cấu trúc của đề tài. Phần nội dung:
Chương 1: Quy trình hoạch định chính sách công
-Khái niệm chính sách công.
-Các bước trong quy trình hoạch định chính sách công.
Chương 2: Thực tiễn quy trình hoạch định chính sách công ở Việt Nam
-Phân tích thực tiễn các bước trong quy trình hoạch định chính sách công ở Việt Nam.
-Những thách thức và hạn chế trong quy trình hoạch định chính sách công ở Việt Nam.
Chương 3: Giải pháp cải thiện quy trình hoạch định chính sách công ở Việt Nam
-Tăng cường sự tham gia của các bên liên quan trong xác định vấn đề.
-Cải thiện quy trình phân tích và lựa chọn giải pháp.
-Nâng cao chất lượng soạn thảo dự thảo chính sách.
-Tăng cường hiệu quả thẩm định và phê duyệt chính sách.
-Tăng cường giám sát và đánh giá thực hiện chính sách. Phần kết luận:
-Tóm tắt những điểm chính.
-Những thách thức và hướng đi tương lai. -Kết luận chung. PHẦN NỘI DUNG Chương I
QUY TRÌNH HOẠCH ĐỊNH CHÍNH SÁCH CÔNG
1.1. Khái niệm chính sách công
Chính sách công là kết quả ý chí chính trị của nhà nước được thể
hiện bằng một tập hợp các quyết định có liên quan với nhau, bao hàm
trong đó định hướng mục tiêu và cách thức giải quyết những vấn đề trong xã hội.
1.2. Các bước trong quy trình hoạch định chính sách công
1.2.1. Thiết lập chương trình nghị sự chính sách công
Chương trình nghị sự là danh mục các vấn đề mà các chủ thể có ảnh
hưởng đến việc hình thành chính sách công phải dành sự quan tâm
nghiêm túc để tìm các giải pháp cho chúng. Chương trình nghị sự có thể
tiến hành theo hình thức chính thức (của chính phủ) hoặc không chính
thức (của người dân, giới truyền thông...).
Thiết lập chương trình nghị sự là việc nêu và tập hợp các vấn đề cần
bàn bạc, đưa vào chương trình để thảo luận (được xem là động tác đầu
tiên để có 1 chính sách). Các chủ thể có ảnh hưởng mạnh đến hình thành
chương trình nghị sự thường tập trung vào 1 nhóm nhỏ các nhân vật
chính trị có ảnh hưởng như nguyên thủ quốc gia, chủ tịch quốc hội, quan
chức chính phủ cao cấp, các nhóm lợi ích, giới truyền thông,...
Có 3 điều kiện căn bản để một vấn đề được đưa vào chương trình
nghị sự, đó là: tầm quan trọng của vấn đề, hoàn cảnh chính trị thích hợp,
sự ủng hộ của các nhà chính trị có ảnh hưởng quan trọng.
Có 4 cách mà theo đó vấn đề được đưa ra thảo luận:
-Những nhà chính trị đưa ra;
-Vấn đề được một nhóm người đưa ra vì chính quyền lợi của họ;
-Vấn đề được đưa ra do một sự kiện bất ngờ không lường trước
được như: thiên tai, bùng nổ dân số, sự biến đổi của sinh thái,...cũng có
thể tạo ra những vấn đề được đưa vào chương trình nghị sự;
-Vấn đề xuất hiện bởi một nhóm người không vì lợi ích riêng của họ.
Trong quá trình nghị sự, để tiếp cận vấn đề chính sách, người ta
thường sử dụng các câu hỏi: Vấn đề có được xác định thống nhất hay
không? Vấn đề được xác định có quá sớm không? Những nguyên nhân
của vấn đề đã được làm rõ chưa?...Thông thường, người ta sử dụng
phương pháp phân tích SWOT để xác định vấn đề gay cấn.
1.2.2. Xây dựng nội dung chính sách công
1.2.2.1. Xác định mục tiêu chính sách
Sau khi nhận thức được nhu cầu và xác định rõ vấn đề cính sách,
người ta sẽ tiến hành xác định mục tiêu. Sự thành bại của một chính sách
phụ thuộc trước hết vào việc xác định mục tiêu có chính xác hay không.
Mục tiêu của chính sách là cái đích vạch ra mà việc thực hiện hướng
tới và cần phải đạt được (được thể hiện về số lượng, chất lượng, quy mô,
cơ cấu và thời hạn). Mục tiêu phải được xác định từ đầu và cố định để
định hướng cho việc xây dựng, thực hiện chính sách. Việc đề ra mục tiêu
thường được dựa trên mức độ đã đạt của vấn đề nghiên cứu ở (quá khứ và
hiện tại) để tính toán mức độ có thể và cần phải đạt được trong tương lai
trên cơ sở cân nhắc kỹ các phương tiện, khả năng có thể huy động được.
Mục tiêu của chính sách rất đa dạng và nhiều cấp độ như sự ổn định
chính trị - xã hội, sự liên kết của nên kinh tế quốc dân, tạo việc làm, nâng
cao thu nhập, tăng trưởng kinh tế; có thể trong phạm vi địa phương hoặc phạm vi quốc gia.
*Yêu cầu đối với mục tiêu chính sách:
-Mục tiêu phải rõ ràng, cụ thể, tường minh.
-Mục tiêu phải đo lường được: tức là tại một thời điểm nào đó ở
tương lai, người ta có thể căn cứ vào những chuẩn mực khách quan để
xác định mức độ đạt được các mục tiêu của chính sách.
-Không nên đề ra quá nhiều mục tiêu: nếu có quá nhiều mục tiêu sẽ
dẫn đến sự phân tán điều hành trong quá trình thực hiện, thậm chí dẫn
đến sự chú trọng quá mức các mục tiêu thứ yếu và gây tổn thất cho các
mục tiêu chủ yếu của chính sách
-Mục tiêu phải có tính hiện thực (tính khả thi): mục tiêu đưa ra phải
hợp lý, tương ứng với các nguồn lực, điều kiện, khả năng giải quyết vấn
đề đặt ra, không được đưa ra mục tiêu có tính áp đặt, chủ quan, duy ý chí,
quá cao so với điều kiện thực tế.
-Mục tiêu đề ra phải có tính thời gian: tính thời gina của mục tiêu là
yếu tố quan trọng để lập kế hoạch cho thực hiện chính sách, là căn cứ để
đánh giá chính sách khi hết thời hạn đề ra. Vì vậy, mỗi mục tiêu phải gắn
liền với thời gian cần thiết để thực hiện.
-Mục tiêu chính sách phải hài hòa, không được mâu thuẫn với những
mục tiêu của các chính sách khác: hệ thống chính sách càng lớn, càng
phức tạp thì càng có nhiều mục tiêu. Trường hợp có mâu thuẫn bất khả
kháng thì cần xác định mức độ tương quan giữa chúng để mục tiêu này
không triệt tiêu mục tiêu kia.
-Phải có sự thống nhất giữa mục tiêu và biện pháp: có nhiều biện
pháp để thực hiện một mục tiêu, sự kết hợp giữa mục tiêu và biện pháp
cũng rất phức tạp. Để tránh sự đối lập giữa các mục tiêu của chính sách,
cần chú trọng sự phối hợp giữa các biện pháp.
*Các bước xác định mục tiêu:
1-Tiến hành phân tích thực trạng: để làm rõ thực trạng vấn đề chính
sách đang ở mức độ nào
2-Dự đoán các biến động trong và ngoài nước với những tác động
(có lợi hoặc bất lợi) đến việc thực hiện chính sách.
3-Tính toán các khả năng có thể diễn ra trong hệ thống cơ cấu cây mục tiêu.
4-Xác lập các mức độ của mục tiêu dựa trên việc huy động tất cả các
phương tiện theo mức thấp nhất, cao nhất và các khả năng trung gian.
5-Lập mô hình trên cơ sở tính toán hiệu quả của chính sách để chọn
phương án tối ưu và ra quyết định về các mục tiêu cần đạt.
6-Tính toán dự phòng bằng việc xác định sai số cho phép của các
mục tiêu với các kết quả tối đa – tối thiểu, thời hạn thực hiện mục tiêu và mục tiêu tiếp theo.
7-Điều chỉnh chính sách cho phù hợp với các biến động của môi
trường hoặc chấm dứt chính sách thay bằng chính sách mới.
1.2.2.2. Xác định các phương tiện thực hiện mục tiêu
Các mục tiêu của chính sách chỉ có thể thành hiện thực khi được thực
hiện với các đảm bảo về vật chất, gọi là phương tiện, bao gồm: pháp luật,
ngân sách, biện pháp tổ chức và tuyên truyền vận động.
Biện pháp tổ chức là việc triển khai sắp xế cấu trúc xã hội theo
hướng phục vụ ý đồ thực hiện mục tiêu (gồm cơ cấu quản lý và cơ cấu bị quản lý).
Tuyên truyền vận động là sử dụng các phương tiện thông tin đại
chúng, các cơ quan tuyên truyền, các đoàn thể tổ chức xã hội nhằm tác
động về tư tưởng, tình cảm, nếp nghĩ của con người để họ ủng hộ cho các mục tiêu chính sách.
Việc lựa chọn các phương tiện phải tuân theo quy tắc sau: phương
tiện phải phù hợp và bám sát định hướng chính trị, phương tiện phải nằm
trong tầm tay và có thể sử dụng được.
1.2.2.3. Xây dựng các giải pháp của chính sách
Giải pháp của chính sách là những cách thức để đạt tới các mục tiêu
của chính sách. Các giải pháp chính sách phải đáp ứng những yêu cầu cơ bản sau đây:
-Giải pháp đề ra phải giải quyết được những nguyên nhân làm xuất
hiện vấn đề chính sách, tạo ra cơ chế đồng bộ ngăn ngừa những điều kiện làm nảy sinh vấn đề.
-Giải pháp đề ra phải phù hợp với mục tiêu chính sách, các mục tiêu
là chuẩn mực để xây dựng các biện pháp.
-Giải pháp phải tương ứng với nguồn lực có được để thực thi chính
sách, bao gồm các phương tiện vật chất, kỹ thuật, tài chính.
-Các giải pháp phải tương ứng với năng lực thực thi của bộ máy hành
chính, bao gồm trình độ, kỹ năng của đội ngũ công chức thực thi, kinh
nghiệm quá khứ, khả năng thích ứng và sáng tạo, cơ chế vận hành,...
-Các giải pháp phải rõ ràng, cụ thể. Giải pháp không nên quá chung
chung, dẫn đến các tổ chức thực thi có thể hành động theo những cách
khác nhau, làm hao phí sức lực và tiền của mà kết quả đạt được lại không
rõ ràng, không đáp ứng có hiệu quả mục tiêu đề ra.
-Các giải pháp phải tính đến những tác động tiêu cực sẽ xuất hiện
làm ảnh hưởng đến kết quả chính sách để hạn chế và ngăn ngừa chúng.
-Giải pháp đề ra phải xét đến những yếu tố tác động ngược chiều
hoặc mâu thuẫn với việc giải quyết vấn đề đặt ra. Giải pháp đề ra phải cân
nhắc đến những yếu tố hoặc mâu thuẫn đó, có sự dung hòa ở một mức độ
nhất định với các yếu tố này.
Tuy nhiên, khó có được giải pháp tối ưu tuyệt đối cho những mục
tiêu đề ra, bởi vì các giải pháp luôn luôn bị giới hạn bởi các yếu tố như
thông tin, thời giam, điều kiện, vật chất và xã hội, những điều không
lường trước trong tương lai, những rủi ro bất định, sự thiếu kinh nghiệm
và kiến thức... Do đó, các giải pháp đề ra chỉ có thể là hợp lý nhất trong
khuôn khổ các điều kiện hoặc trong hoàn cảnh nhất định.
1.2.2.4. Lựa chọn và thông qua phương án chính sách
Quá trình xây dựng chính sách về một vấn đè nào đó thường dẫn đến
kết quả là có nhiều phương án chính sách khác nhau được đưa ra để giải
quyết cùng một vấn đề. Lựa chọn một phương án hợp lý nhất trong số các
phương án đưa ra để nhà nước thông qua và đem thực thi chính sách trên
thực tế. Việc lựa chọn phương án chính sách là quá trình xem xét, đánh
giá các phương án chính sách đưa ra để tìm một phương án tối ưu nhất
hoặc hợp lý nhất. Ở khâu này, việc lựa chọn không mang tính chất bộ
phận, chi tiết, mà là sự lựa chọn ở tầm bao quát toàn bộ chính sách. Vì
vậy, sự lựa chọn này phải dựa vào những tiêu chuẩn có tầm khái quát
hơn, mang tính chất khả thi và tối ưu với những điều kiện đặt ra.
Khi có nhiều phương án chính sách công được đưa ra xem xét,
phương án được lựa chọn phải đáp ứng các tiêu chuẩn sau đây:
-Có ảnh hưởng mạnh nhất tới mục tiêu đề ra.
-Có khả năng thành công nhất và đem lại kết quả nahnh nhất
-Tác động vào nguyên nhân của vấn đề.
-Có chi phí thấp nhất (hoặc giảm chi phí của nhà nước tới mức thấp
nhất và tận dụng sự đóng góp nguồn lực của khu vực kinh tế tư nhân và
của xã hội để thực thi một chính sách.
-Có phạm vi tác động phù hợp và có tính linh hoạt. Phương án có
phạm vi tác động phù hợp sẽ làm giảm mức độ rủi ro và khả năng cao
hơn cho việc dự đoán kết quả. Tính linh hoạt được hiểu là mức độ thay
đổi dễ dàng của phương án chính sách cho thích nghi với những điều kiện
biến đổi của môi trường chính sách.
-Có khả năng tạo ra sự ảnh hưởng của người dân và tác động xã hội tích cực.
1.2.3. Xây dựng dự thảo văn bản chính sách công
Giai đoạn tiếp theo của quy trình hoạch định chính sách công là xây
dựng dự thảo văn bản chính sách công.
Xây dựng dự thảo văn bản chính sách công là quá trình người soạn
thảo sử dụng các phương pháp, cách thức, công cụ mà chủ yếu là ngôn
ngữ để biểu đạt nội dung chính sách công dưới hình thức văn bản theo
quy định của pháp luật, trước khi trình văn bản chính sách đó lên cơ quan
nhà nước có thẩm quyền thông qua.
Quá trình soạn thảo chính sách công cần có sự tham gia của nhiều
chủ thể khác nhau nhằm đảm bảo dự thảo truyền tải được một cách tốt
nhất các chính sách công đã được lựa chọn trong giai đoạn đề nghị chính
sách công. Các chủ thể này bao gồm nhà nước, các tổ chức, cá nhân trong xã hội. Cụ thể gồm:
-Chủ thể soạn thảo chính sách công: chủ thể đề nghị chính sách
công hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền thành lập ban soạn thảo và
phân công cơ quan chủ trì soạn thảo chính sách công.
-Các chủ thể tham gia ý kiến: cơ quan, tổ chức được phân công chủ
trì soạn thảo chính sách công tổ chức lấy ý kiến các cơ quan, tổ chức, cá
nhân có liên quan về dự thảo chính sách công như đối tượng điều chỉnh
của chính sách công, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành
viên, các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan đến dự thảo chính sách công.
Quá trình xây dựng dự thảo văn bản chính sách công gồm nhiều nội
dung và tuân thủ một quy trình nhất định. Quy trình này gồm các bước chính sau đây:
-Thành lập Ban soạn thảo;
-Soạn thảo văn bản chính sách công;
-Tổ chức lấy ý kiến, phản biện về dự thảo văn bản chính sách công;
-Thẩm định dự thảo vă bản chính sách công;
-Chỉnh lý, hoàn thiện dự thảo và trình cơ quan thông qua dự thảo văn bản chính sách công.
1.2.4. Thông qua và công bố chính sách công
Ban hành văn bản chính sách công là quá trình cơ quan nhà nước có
thẩm quyền thảo luận để đi đến thống nhất các nội dung trong dự thảo văn bản
chính sách công, biểu quyết thông qua và ký ban hành văn bản chính sách công.
Theo quy định của pháp luật hiện hành, các chủ thể được trao thẩm
quyền quyết định chính sách công:
-Quốc hội: là chủ thể quyết định những chính sách mang tính chất vĩ mô,
bao quát như chính sách dân tộc, tôn giáo, tài chính, đối ngoại, văn hóa, giáo
dục, y tế, khoa học, môi trường...
-Chính phủ: là chủ thể quyết định các chính sách công để thực hiện
quyền hành pháp theo quy định của pháp luật.
-Hội đồng nhân dân cấp tỉnh: là chủ thể quyết định các chính sách về
phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương.
Quy trình ban hành và công bố văn bản cính sách công phụ thuộc vào
thẩm quyền ban hành văn bản chính sách công. Quy trình này gồm các bước cơ bản sau đây:
-Trình dự thảo văn bản chính sách công;
-Thẩm định hoặc thẩm tra dự thảo văn bản chính sách công;
-Xem xét và thông qua dự thảo văn bản chính sách công;
-Ký ban hành và công bố văn bản chính sách công. Chương II
THỰC TIỄN QUY TRÌNH HOẠCH ĐỊNH CHÍNH SÁCH CÔNG Ở VIỆT NAM
2.1. Phân tích thực tiễn các bước trong quy trình hoạch định chính
sách công ở Việt Nam
2.1.1 Xác định vấn đề
Nguồn gốc vấn đề: Vấn đề thường được xác định từ nhu cầu thực
tiễn của xã hội, phản ánh qua các báo cáo, khảo sát, hoặc qua phản ánh
của các đại biểu quốc hội, hội đồng nhân dân.
Phân tích vấn đề: Xác định rõ nguyên nhân và phạm vi của vấn đề,
đánh giá tác động của vấn đề đến các lĩnh vực khác nhau.
Thực trạng: Việc xác định vấn đề ở Việt Nam thường dựa vào các
báo cáo, phản ánh của đại biểu quốc hội và các cuộc khảo sát. Tuy nhiên,
quá trình này thường bị ảnh hưởng bởi các yếu tố chính trị và thiếu sự
tham gia của các bên liên quan.
Ví dụ: Vấn đề ô nhiễm môi trường thường được xác định thông
qua các báo cáo về chất lượng không khí, nước và đất, nhưng việc xác
định cụ thể các nguyên nhân và giải pháp còn gặp nhiều khó khăn. Theo
báo cáo của Bộ Tài nguyên và Môi trường, ô nhiễm không khí tại các
thành phố lớn như Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh đang ở mức báo động, đòi
hỏi các giải pháp toàn diện và đồng bộ.[1]
2.1.2 Phân tích và lựa chọn giải pháp
Nghiên cứu và đề xuất giải pháp: Các cơ quan chức năng tiến hành
nghiên cứu, phân tích các giải pháp khả thi, đánh giá lợi ích và chi phí của từng giải pháp.
Lựa chọn giải pháp tối ưu: Dựa trên các tiêu chí về hiệu quả, tính
khả thi, và sự phù hợp với điều kiện thực tế của đất nước.
Thực trạng: Quá trình phân tích và lựa chọn giải pháp ở Việt Nam
thường thiếu sự tham gia của các chuyên gia độc lập và các tổ chức xã
hội, dẫn đến các giải pháp được đề xuất không thực sự toàn diện và hiệu quả.
Ví dụ: Trong lĩnh vực giao thông, việc phân tích và lựa chọn giải
pháp thường chỉ tập trung vào các biện pháp ngắn hạn như mở rộng
đường sá, mà chưa chú trọng đến các giải pháp bền vững như phát triển
giao thông công cộng. Theo nghiên cứu của Viện Chiến lược Giao thông
Vận tải, việc mở rộng đường không phải là giải pháp lâu dài để giảm ùn
tắc giao thông, mà cần phải đầu tư phát triển hệ thống giao thông công
cộng hiện đại và hiệu quả. [2]
2.1.3 Xây dựng dự thảo chính sách
Soạn thảo văn bản: Các cơ quan chuyên môn soạn thảo dự thảo
chính sách, bao gồm các quy định chi tiết về mục tiêu, nội dung, biện
pháp thực hiện và nguồn lực cần thiết.
Tham vấn ý kiến: Dự thảo chính sách được gửi lấy ý kiến từ các
bên liên quan, bao gồm các bộ ngành, địa phương, tổ chức xã hội và cộng đồng dân cư.
Thực trạng: Quá trình soạn thảo dự thảo chính sách ở Việt Nam
thường bị ảnh hưởng bởi các yếu tố chính trị và quyền lợi của các bên
liên quan, dẫn đến nội dung chính sách chưa thực sự khách quan và toàn diện.
Ví dụ: Dự thảo Luật An ninh mạng đã nhận được nhiều ý kiến trái
chiều từ các chuyên gia và tổ chức xã hội, nhưng nhiều ý kiến đóng góp
chưa được tiếp thu đầy đủ trong quá trình soạn thảo. Theo báo cáo của Tổ
chức Freedom House, luật này có thể ảnh hưởng đến quyền tự do ngôn
luận và quyền riêng tư của người dân. [3]
2.1.4 Thẩm định và phê duyệt
Thẩm định: Dự thảo chính sách được thẩm định bởi các cơ quan
chức năng, đánh giá về mặt pháp lý, kinh tế và xã hội.
Phê duyệt: Sau khi được thẩm định, dự thảo chính sách được trình
lên các cơ quan có thẩm quyền (Chính phủ, Quốc hội) để xem xét và phê duyệt.
Thực trạng: Quá trình thẩm định và phê duyệt chính sách ở Việt
Nam thường kéo dài, do thiếu sự phối hợp giữa các cơ quan chức năng và quy trình phức tạp.
Ví dụ: Dự thảo Luật Đầu tư công đã mất nhiều năm để được thẩm
định và phê duyệt, gây ảnh hưởng đến quá trình triển khai các dự án đầu
tư công. Theo báo cáo của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, quá trình thẩm định
kéo dài đã làm chậm tiến độ nhiều dự án quan trọng. [4]
2.1.5 Triển khai thực hiện và giám sát
Triển khai thực hiện: Chính sách được ban hành và triển khai thực
hiện bởi các cơ quan chức năng, theo dõi tiến độ và kết quả thực hiện.
Giám sát và đánh giá: Quá trình thực hiện chính sách được giám sát
và đánh giá liên tục, nhằm phát hiện và điều chỉnh kịp thời các vấn đề phát sinh.
Thực trạng: Quá trình triển khai thực hiện chính sách ở Việt Nam
thường gặp nhiều khó khăn do thiếu nguồn lực, cơ chế giám sát chưa chặt
chẽ và thiếu sự phối hợp giữa các cơ quan chức năng.
Ví dụ: Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa gặp nhiều khó
khăn trong quá trình triển khai do thiếu sự đồng bộ giữa các bộ ngành và
thiếu nguồn lực tài chính. Theo báo cáo của Bộ Công Thương, nhiều
doanh nghiệp nhỏ và vừa không tiếp cận được các nguồn hỗ trợ do quy
trình phức tạp và thiếu thông tin. [5]
2.2 Những thách thức và hạn chế trong quy trình hoạch định chính sách công ở Việt Nam
2.2.1 Thiếu hiệu quả trong việc xác định vấn đề
Nguyên nhân: Quá trình xác định vấn đề thường bị ảnh hưởng bởi
các yếu tố chính trị và quyền lợi của các bên liên quan, thiếu sự tham gia
của các chuyên gia và tổ chức xã hội.
Hậu quả: Các vấn đề thực sự quan trọng và cấp bách không được
xác định kịp thời, dẫn đến việc hoạch định chính sách không đáp ứng
được nhu cầu thực tế của xã hội.
Ví dụ: Vấn đề ngập lụt tại TP. Hồ Chí Minh được báo chí và người
dân phản ánh nhiều năm liền, nhưng các biện pháp khắc phục chưa thực
sự hiệu quả do thiếu sự phối hợp và lập kế hoạch chi tiết từ các cơ quan liên quan. [6]
2.2.2 Hạn chế trong phân tích và lựa chọn giải pháp
Nguyên nhân: Thiếu sự tham gia của các chuyên gia độc lập và các
tổ chức xã hội trong quá trình phân tích và lựa chọn giải pháp, dẫn đến
các giải pháp được đề xuất không thực sự toàn diện và hiệu quả.
Hậu quả: Các chính sách được ban hành thường chỉ giải quyết được
các vấn đề ngắn hạn, mà không chú trọng đến các giải pháp bền vững và lâu dài.
Ví dụ: Chính sách về phát triển nông nghiệp công nghệ cao đã gặp
khó khăn do thiếu sự đầu tư dài hạn và hỗ trợ kỹ thuật, dẫn đến nhiều dự
án bị đình trệ và không đạt được kết quả mong đợi. [7]
2.2.3 Quá trình thẩm định và phê duyệt kéo dài
Nguyên nhân: Thiếu sự phối hợp giữa các cơ quan chức năng và
quy trình phức tạp, dẫn đến việc thẩm định và phê duyệt chính sách mất nhiều thời gian.
Hậu quả: Các chính sách không kịp thời đáp ứng nhu cầu thực tế,
gây lãng phí nguồn lực và cơ hội phát triển.
Ví dụ: Dự án xây dựng đường sắt đô thị tại Hà Nội đã gặp nhiều trở
ngại do quá trình thẩm định và phê duyệt kéo dài, dẫn đến chậm tiến độ
và tăng chi phí đầu tư. [8]
2.2.4 Thách thức trong triển khai và giám sát
Nguyên nhân: Thiếu nguồn lực, cơ chế giám sát chưa chặt chẽ và
thiếu sự phối hợp giữa các cơ quan chức năng.
Hậu quả: Quá trình triển khai thực hiện chính sách gặp nhiều khó
khăn, hiệu quả thực hiện không đạt được như mong đợi.
Ví dụ: Chính sách về xây dựng nông thôn mới đã gặp nhiều thách
thức trong triển khai do thiếu nguồn lực tài chính và sự phối hợp giữa các
cấp chính quyền, dẫn đến nhiều dự án không hoàn thành đúng tiến độ. [9] Chương III
GIẢI PHÁP CẢI THIỆN QUY TRÌNH HOẠCH ĐỊNH CHÍNH
SÁCH CÔNG Ở VIỆT NAM
3.1 Tăng cường sự tham gia của các bên liên quan trong xác định vấn đề
Tăng cường tham vấn công chúng: Tổ chức các cuộc họp, hội
thảo và các hình thức tham vấn công chúng để thu thập ý kiến từ các bên
liên quan, đặc biệt là người dân và các tổ chức xã hội. Ví dụ, thành phố
Đà Nẵng đã tổ chức nhiều cuộc họp với người dân để lấy ý kiến về quy
hoạch đô thị, giúp chính quyền địa phương nắm bắt được các vấn đề thực
tiễn và đưa ra các chính sách phù hợp.
Sử dụng công nghệ thông tin: Ứng dụng các nền tảng trực tuyến
để thu thập ý kiến phản hồi từ công chúng và các chuyên gia. Chẳng hạn,
Chính phủ đã phát triển Cổng Thông tin điện tử Chính phủ để người dân
có thể gửi kiến nghị và ý kiến đóng góp một cách thuận tiện. [10]
Thành lập các hội đồng tư vấn: Các cơ quan chức năng nên thành
lập các hội đồng tư vấn bao gồm các chuyên gia từ nhiều lĩnh vực khác
nhau để tham gia vào quá trình xác định vấn đề và đề xuất giải pháp. Ví
dụ, Bộ Y tế đã thành lập Hội đồng Tư vấn về chính sách y tế với sự tham
gia của các chuyên gia y tế hàng đầu, giúp nâng cao chất lượng chính sách y tế. [11]
3.2 Cải thiện quy trình phân tích và lựa chọn giải pháp
Tăng cường hợp tác với các tổ chức nghiên cứu: Các cơ quan
chính phủ nên hợp tác với các viện nghiên cứu, trường đại học và tổ chức
phi chính phủ để tiến hành các nghiên cứu sâu rộng về các vấn đề cần giải
quyết. Ví dụ, Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã hợp tác với Đại học Kinh tế
Quốc dân để nghiên cứu các giải pháp phát triển kinh tế bền vững. [12]
Áp dụng các phương pháp phân tích hiện đại: Sử dụng các
phương pháp phân tích định lượng và định tính hiện đại để đánh giá các
giải pháp. Chẳng hạn, việc sử dụng phương pháp phân tích chi phí-lợi ích
(CBA) và phân tích tác động môi trường (EIA) sẽ giúp đánh giá chính
xác hơn các giải pháp đề xuất.
Thực hiện các thí điểm: Trước khi triển khai chính sách rộng rãi,
nên thực hiện các dự án thí điểm để đánh giá hiệu quả và rút kinh nghiệm.
Ví dụ, Chính phủ đã triển khai thí điểm chính sách bảo hiểm nông nghiệp
tại một số tỉnh trước khi áp dụng trên toàn quốc, giúp điều chỉnh chính
sách cho phù hợp với thực tiễn. [13]
3.3 Nâng cao chất lượng soạn thảo dự thảo chính sách
Đảm bảo tính minh bạch: Công khai quy trình soạn thảo và nội
dung dự thảo chính sách để các bên liên quan có thể theo dõi và đóng góp
ý kiến. Ví dụ, Bộ Tài chính đã công khai dự thảo Luật Quản lý thuế trên
trang web của mình để lấy ý kiến từ công chúng và các chuyên gia. [14]
Tăng cường đào tạo: Nâng cao năng lực của đội ngũ cán bộ soạn
thảo chính sách thông qua các chương trình đào tạo chuyên sâu về kỹ
năng lập pháp và phân tích chính sách. Chẳng hạn, Chính phủ đã tổ chức
các khóa đào tạo về phân tích chính sách cho cán bộ các bộ ngành, giúp
nâng cao chất lượng soạn thảo chính sách.
Tham vấn các chuyên gia độc lập: Mời các chuyên gia độc lập và
các tổ chức tư vấn tham gia vào quá trình soạn thảo chính sách để đảm
bảo tính khách quan và toàn diện của nội dung dự thảo. Ví dụ, việc tham
vấn Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) trong quá trình soạn thảo chính sách y
tế đã giúp Bộ Y tế đưa ra các chính sách phù hợp với chuẩn mực quốc tế.
3.4 Tăng cường hiệu quả thẩm định và phê duyệt chính sách
Đơn giản hóa quy trình: Cải cách quy trình thẩm định và phê
duyệt chính sách để giảm bớt thủ tục hành chính và tăng cường tính hiệu
quả. Ví dụ, Chính phủ đã thực hiện cải cách thủ tục hành chính trong lĩnh
vực đầu tư công, giúp rút ngắn thời gian thẩm định và phê duyệt dự án. [15]
Tăng cường phối hợp liên ngành: Thiết lập cơ chế phối hợp giữa
các bộ ngành liên quan để đảm bảo quá trình thẩm định và phê duyệt diễn
ra thuận lợi và nhanh chóng. Ví dụ, việc thành lập Ban Chỉ đạo liên
ngành về phát triển bền vững đã giúp tăng cường phối hợp giữa các bộ
ngành trong quá trình thẩm định và phê duyệt chính sách phát triển bền vững. [16]
Áp dụng công nghệ thông tin: Sử dụng các công cụ công nghệ
thông tin để quản lý và theo dõi quá trình thẩm định và phê duyệt chính
sách. Chẳng hạn, Hệ thống quản lý văn bản điện tử của Chính phủ đã
giúp cải thiện hiệu quả công tác thẩm định và phê duyệt chính sách.
3.5 Tăng cường giám sát và đánh giá thực hiện chính sách
Thiết lập hệ thống giám sát độc lập: Thành lập các cơ quan giám
sát độc lập để theo dõi và đánh giá quá trình thực hiện chính sách. Ví dụ,
Ủy ban Giám sát tài chính quốc gia đã được thành lập để giám sát việc
thực hiện các chính sách tài chính và ngân sách. [17]
Tăng cường đào tạo và nâng cao năng lực giám sát: Tổ chức các
khóa đào tạo cho cán bộ giám sát để nâng cao năng lực và kỹ năng giám
sát. Ví dụ, Bộ Nội vụ đã tổ chức các khóa đào tạo về giám sát và đánh giá
chính sách cho cán bộ các bộ ngành. [18]
Sử dụng công cụ đánh giá hiện đại: Áp dụng các công cụ và
phương pháp đánh giá hiện đại để theo dõi và đánh giá hiệu quả thực hiện
chính sách. Chẳng hạn, việc sử dụng công cụ đánh giá tác động xã hội
(SIA) và đánh giá tác động kinh tế (EIA) sẽ giúp nâng cao chất lượng giám sát và đánh giá. PHẦN KẾT LUẬN
Quy trình hoạch định chính sách công là một phần quan trọng trong
việc xây dựng và phát triển một xã hội hiện đại, hiệu quả và công bằng. Ở
Việt Nam, quy trình này đã và đang được hoàn thiện qua các giai đoạn
khác nhau, nhưng vẫn còn nhiều thách thức cần được giải quyết. Đề tài
này đã trình bày một cách chi tiết về quy trình hoạch định chính sách
công ở Việt Nam, từ lý luận cơ bản đến thực tiễn áp dụng, cũng như các
giải pháp đề xuất nhằm cải thiện quy trình này.
1. Tóm tắt những điểm chính
1.1 Quy trình hoạch định chính sách công ở Việt Nam
Quy trình hoạch định chính sách công ở Việt Nam bao gồm các
bước chính như xác định vấn đề, phân tích và lựa chọn giải pháp, xây
dựng dự thảo chính sách, thẩm định và phê duyệt, và triển khai thực hiện
cùng giám sát. Mỗi bước trong quy trình này đều có những yêu cầu cụ thể
và đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan chức năng. 1.2 Thực tiễn áp dụng
Thực tiễn cho thấy quy trình hoạch định chính sách công ở Việt
Nam còn gặp nhiều hạn chế, từ việc thiếu sự tham gia của các bên liên
quan, quá trình phân tích và lựa chọn giải pháp chưa toàn diện, đến việc
soạn thảo dự thảo chính sách bị ảnh hưởng bởi các yếu tố chính trị. Quá
trình thẩm định và phê duyệt kéo dài, triển khai thực hiện và giám sát
chưa hiệu quả cũng là những thách thức lớn.
1.3 Các giải pháp cải thiện
Để khắc phục những hạn chế hiện tại, cần có các giải pháp cụ thể,
bao gồm tăng cường sự tham gia của các bên liên quan, cải thiện quy
trình phân tích và lựa chọn giải pháp, nâng cao chất lượng soạn thảo dự
thảo chính sách, đẩy mạnh hiệu quả thẩm định và phê duyệt, và tăng
cường giám sát và đánh giá thực hiện chính sách. Những giải pháp này
được minh họa bằng các ví dụ thực tế và trích dẫn tài liệu tham khảo,
nhằm đảm bảo tính khả thi và hiệu quả khi áp dụng.
2. Những thách thức và hướng đi tương lai
2.1 Những thách thức tiếp tục
Mặc dù các giải pháp cải thiện đã được đề xuất, nhưng việc thực
hiện chúng không phải là điều dễ dàng. Các thách thức bao gồm:
-Khả năng phối hợp giữa các cơ quan: Đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ
và hiệu quả giữa các cơ quan chính phủ, điều này có thể gặp khó khăn do
cơ chế hành chính phức tạp và cản trở về lợi ích nhóm.
-Nguồn lực hạn chế: Nguồn lực tài chính và nhân lực hạn chế có thể
ảnh hưởng đến việc thực hiện các giải pháp cải thiện, đặc biệt là trong bối cảnh kinh tế khó khăn.
-Khả năng chấp nhận của xã hội: Sự thay đổi trong quy trình hoạch
định chính sách có thể gặp phải sự phản đối từ các bên liên quan, do đó
cần có chiến lược truyền thông và giáo dục cộng đồng để tạo sự đồng thuận. 2.2 Hướng đi tương lai
Để vượt qua những thách thức này, cần có một lộ trình dài hạn với các bước cụ thể:
-Phát triển năng lực nhân lực: Đào tạo và nâng cao năng lực cho
đội ngũ cán bộ làm công tác hoạch định chính sách là một ưu tiên hàng đầu.
-Ứng dụng công nghệ thông tin: Sử dụng các công nghệ hiện đại để
tăng cường hiệu quả quản lý và giám sát quy trình hoạch định chính sách.
-Tăng cường hợp tác quốc tế: Học hỏi kinh nghiệm từ các quốc gia
có hệ thống chính sách công tiên tiến, đồng thời hợp tác với các tổ chức
quốc tế để nhận được sự hỗ trợ kỹ thuật và tài chính.
-Đẩy mạnh nghiên cứu và phát triển: Tạo điều kiện thuận lợi cho
các hoạt động nghiên cứu khoa học và thực tiễn nhằm cung cấp cơ sở dữ
liệu và phân tích cần thiết cho quá trình hoạch định chính sách. 3. Kết luận chung
Đề tài này đã cung cấp một cái nhìn toàn diện về quy trình hoạch
định chính sách công ở Việt Nam, từ lý luận cơ bản, thực tiễn áp dụng,
đến các giải pháp cải thiện. Mặc dù vẫn còn nhiều thách thức phía trước,
nhưng với sự quyết tâm và nỗ lực không ngừng, quy trình này sẽ ngày
càng hoàn thiện và đáp ứng tốt hơn nhu cầu phát triển của đất nước.
Chính sách công là một công cụ quan trọng để hướng dẫn và điều
chỉnh các hoạt động của xã hội nhằm đạt được mục tiêu phát triển bền
vững, công bằng và thịnh vượng. Việc cải thiện quy trình hoạch định
chính sách công không chỉ góp phần nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước,
mà còn tạo điều kiện thuận lợi cho sự tham gia của toàn xã hội vào quá
trình xây dựng và thực hiện các chính sách, hướng tới một tương lai tốt đẹp hơn cho Việt Nam. TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] Bộ Tài nguyên và Môi trường, Báo cáo hiện trạng môi trường quốc gia
giai đoạn 2016-2020, Dân trí, 2021.