















Preview text:
7.26
Kiểm toán viên Lân phụ trách kiểm toán báo cáo tài chính cho công ty Sao Mai, một công ty trách nhiệm hữu hạn. Lân cũng phụ trách kiểm toán báo cáo tài chính cho công ty Bình Minh. Bình Minh là một công ty nhỏ, chỉ có vài nhân viên phụ trách kế toán, là khách hàng của công ty Sao Mai.
Khi được biết Lân cũng đồng thời là kiểm toán viên của công ty Sao Mai, Giám đốc công ty Bình Minh đề nghị Lân nhận thêm dịch vụ điều tra một khoản nợ phải trả của công ty Bình Minh đối với công ty Sao Mai. Khoản Nợ này công ty Bình Minh đã chỉ trả nhưng chứng từ thu tiền của Sao Mai đã bị thất lạc, Sao Mai vẫn tiếp tục đòi nợ Bình Minh. Ngoài ra, y Bình Minh còn nhờ Lân đại diện cho mình để thảo luận vấn đề này với công ty Sao Mai, thậm chí có thể kiện công ty Sao mai.
Yêu cầu:
Theo bạn, Lân có nên chấp nhận đề nghị này không? Bạn hãy phân tích dưới góc độ tuân thủ đạo đức nghề nghiệp
Bài làm
Kiểm toán viên Lân không nên chấp nhận đề nghị này, đặc biệt là việc đại diện và có thể kiện công ty Sao Mai. Việc này vi phạm nghiêm trọng các nguyên tắc đạo đức nghề nghiệp cơ bản, đặc biệt là tính độc lập và tính khách quan.
Nguy cơ về Sự Bào chữa (Advocacy Threat):
- Đề nghị của công ty Bình Minh yêu cầu Lân đại diện cho họ để thảo luận, thậm chí kiện tụng công ty Sao Mai.
- Nguyên tắc cấm: Việc kiểm toán viên hành nghề là người bào chữa đại diện cho khách hàng kiểm toán trong vụ kiện hoặc khi giải quyết các tranh chấp với bên thứ ba tạo ra nguy cơ về sự bào chữa.
- Mức độ nghiêm trọng: Khoản nợ phải trả này là một giao dịch trọng yếu đang tranh chấp giữa hai khách hàng kiểm toán của Lân (Sao Mai và Bình Minh). Nếu các số liệu liên quan là trọng yếu đối với báo cáo tài chính mà doanh nghiệp kiểm toán sẽ đưa ra ý kiến, nguy cơ về sự bào chữa và nguy cơ tự kiểm tra sẽ nghiêm trọng đến mức không có biện pháp bảo vệ nào có thể làm giảm nguy cơ đó xuống mức có thể chấp nhận được. Do đó, Lân không được thực hiện loại dịch vụ đó cho khách hàng kiểm toán.
- Việc tham gia vào tranh chấp này đặt Lân vào thế đối đầu với Ban Giám đốc của công ty Sao Mai, làm ảnh hưởng đến khả năng Ban Giám đốc Sao Mai sẵn sàng công khai đầy đủ các thông tin cần thiết cho cuộc kiểm toán.
Nguy cơ Tự kiểm tra (Self-Review Threat) và Xung đột lợi ích:
- Lân đang phụ trách kiểm toán BCTC của cả hai công ty. Khoản nợ phải trả của Bình Minh là khoản phải thu của Sao Mai. Nếu Lân tham gia điều tra hoặc đại diện cho Bình Minh, Lân sẽ đánh giá lại một khoản mục (nợ phải trả/phải thu) mà chính Lân đã hoặc sẽ kiểm toán trong BCTC của cả hai bên.
- Tình huống này tạo ra xung đột về lợi ích nghiêm trọng, vì Lân cung cấp dịch vụ chuyên môn liên quan đến một vấn đề cụ thể cho hai bên bị xung đột về lợi ích liên quan đến vấn đề đó.
Tuân thủ Tính Độc lập:
- Kiểm toán viên phải duy trì tính độc lập và thái độ hoài nghi nghề nghiệp. Chấp nhận vai trò bào chữa cho một bên trong tranh chấp với bên còn lại làm mất đi sự khách quan và độc lập về hình thức của Lân.
Kết luận: Lân phải từ chối đề nghị nhận dịch vụ điều tra và đại diện cho công ty Bình Minh chống lại công ty Sao Mai vì hành vi này trực tiếp vi phạm nguyên tắc cơ bản về tính độc lập, tạo ra nguy cơ về sự bào chữa nghiêm trọng không thể loại trừ. Lân có trách nhiệm từ chối thực hiện kiểm toán hoặc dịch vụ trong trường hợp khách hàng có yêu cầu trái với đạo đức nghề nghiệp.
7.28
An - chủ phần hùn công ty Bình Minh - một công ty TNHH kiểm toán có quy mô nhỏ, vừa mới nhận được lời mời kiểm toán từ công ty TNHH Thanh Thanh. Công ty Thanh Thanh năm trước được kiểm toán bởi công ty Kiểm toán An Bình. An và các chủ phần hùn khác trong công ty rất vui mừng vì có thêm khách hàng trong môi trường cạnh tranh cao. An rất muốn duy trì mối quan hệ tốt với giám đốc công ty Thanh Thanh để từ đó, có thể có thêm khách hàng mới.
Sau khi các kiểm toán viên (KTV) hoàn tất việc kiểm toán tại Thanh Thanh, An tiến hành soát xét các giấy tờ làm việc do các KTV thực hiện. Việc kiểm toán đã thực hiện theo đúng thời gian hoạch định và thông qua hồ sơ cho thấy, hệ thống kiểm soát nội bộ và thông tin khá tốt, các chứng từ, tài liệu hỗ trợ các số liệu của Báo cáo tài chính đều phù hợp. Các KTV chỉ phát hiện một vài sai sót nhỏ và chúng đều được đưa vào Bảng tổng hợp các sai sót chưa điều chỉnh, nhưng các sai sót này đều không trọng yếu. Đã có lời đề nghị An ký báo cáo kiểm toán sớm nhất có thê, tuy nhiên, khi đi sâu vào chi tiết của các khoản phải trả lại cho thấy: mặc dù số liệu năm nay không biến động nhiều so với số liệu của năm trước, nhưng có một lưu ý từ kiểm toán viên chính liên quan đến phần hành này làm An băn khoăn. Đó là, khoản tiền thuế phải 5,5 tỷ đồng). Con số này bao gồm 2 tỷ đồng tiền thuế phải nộp nộp của công ty là rất lớn và được cộng dồn nhiều năm (khoảng năm nay và số còn lại là tiền thuế chưa nộp tích lũy từ các năm trước. Rõ ràng là công ty đã không đóng đủ thuế trong vòng 3 năm qua. Các chi phí này đều được phản ánh đúng trên báo cáo tài chính. An chú ý đến thông tin này và đã ghi chú vào tài liệu rằng vấn đề trên cần được thảo luận tại cuộc họp với khách hàng. Tuy nhiên, khi đọc thư quản lý mà công ty Kiểm toán An Bình gửi cho công ty Thanh Thanh, An không thấy kiểm toán tiền nhiệm đề cập đến vấn đề này. Trong khi các báo cáo tài chính dường như được lập và trình bày một cách trung thực và hợp lý, với giả định rằng các khoản thuế phải trả sẽ được thanh toán, lo ngại chính của An là công ty Thanh Thanh có vẻ như không có ý định giải quyết vấn đề này với cơ quan thuế. Đồng thời An cũng lo ngại về việc công ty có thể phải đóng các khoản phạt do chậm nộp thuế.
Yêu cầu:
Bạn hãy cho biết:
a) An cần làm gì để phù hợp với các quy định về đạo đức nghề nghiệp? Hãy phân tích dưới các góc nhìn sau: cá nhân An, công ty Bình Minh, các bên liên quan?
b) Cho biết các nguyên tắc đạo đức nghề nghiệp và xung đột lợi ích nào bị ảnh hưởng bởi tình huống nêu trên?
Bài làm
a)
Tình huống cho thấy An đang lo ngại về việc Thanh Thanh có thể phải đóng các khoản phạt do chậm nộp thuế và An rất muốn duy trì mối quan hệ tốt với giám đốc công ty Thanh Thanh để có thêm khách hàng. Điều này đặt An vào nguy cơ tư lợi (do muốn duy trì mối quan hệ kinh doanh) và nguy cơ bị đe dọa (do sợ làm mất khách hàng) có thể ảnh hưởng đến tính khách quan.
1. Đối với cá nhân An (KTV):
An phải duy trì Tính chính trực và Tính khách quan và không để lợi ích cá nhân (duy trì mối quan hệ/khách hàng mới) làm ảnh hưởng đến xét đoán chuyên môn.
- An phải trao đổi kịp thời với Ban Giám đốc và Ban Quản trị của công ty Thanh Thanh về những sai sót trọng yếu đã phát hiện (liên quan đến các khoản phạt thuế tiềm năng).
- An cần đánh giá tính trọng yếu của các khoản phạt thuế tiềm năng và sai sót này. Nếu sai sót là trọng yếu, An cần đề nghị Ban Giám đốc điều chỉnh.
- An phải thực hiện các thủ tục kiểm toán bổ sung cần thiết (nếu có) để thu thập đầy đủ bằng chứng kiểm toán thích hợp về việc tuân thủ pháp luật và quy định liên quan đến thuế của khách hàng.
- Nếu Ban Giám đốc từ chối điều chỉnh hoặc không có hành động thích hợp, An cần xem xét hậu quả đối với ý kiến kiểm toán (có thể là ý kiến ngoại trừ hoặc trái ngược, tùy theo mức độ lan tỏa và trọng yếu của sai sót) và trách nhiệm pháp lý.
- Trong trường hợp hành vi không tuân thủ pháp luật (như chậm nộp thuế) có ảnh hưởng trọng yếu đến BCTC, An cần đề nghị Ban Giám đốc đơn vị đưa ra các thuyết minh cần thiết.
2. Đối với công ty Bình Minh (Doanh nghiệp kiểm toán):
Công ty Bình Minh phải đảm bảo rằng An tuân thủ các nguyên tắc đạo đức nghề nghiệp.
- Công ty cần áp dụng các biện pháp bảo vệ thích hợp để giảm thiểu nguy cơ tư lợi và mối đe dọa từ mối quan hệ khách hàng.
- Thực hiện rà soát chất lượng công việc kiểm toán của An, đặc biệt trong các lĩnh vực có rủi ro cao hoặc bị ảnh hưởng bởi mối quan hệ cá nhân với khách hàng.
- Hạn chế cung cấp các dịch vụ phi kiểm toán (như tư vấn) có thể gây ảnh hưởng đến tính độc lập, nếu Bình Minh tiếp tục kiểm toán Thanh Thanh.
3. Đối với các bên liên quan:
Các bên liên quan chủ yếu là người sử dụng BCTC và cơ quan quản lý nhà nước (cơ quan thuế).
- Người sử dụng BCTC: An phải đảm bảo rằng báo cáo kiểm toán cung cấp sự đảm bảo hợp lý rằng BCTC không còn sai sót trọng yếu, đặc biệt liên quan đến vấn đề thuế và các khoản phạt, để người dùng có thể đưa ra quyết định kinh tế đúng đắn.
- Cơ quan thuế: An cần xem xét trách nhiệm đối với hành vi không tuân thủ pháp luật và quy định của Thanh Thanh. Nếu Ban Giám đốc đơn vị không có hành động thích hợp, An có thể phải trao đổi với cơ quan quản lý (cơ quan thuế) nếu pháp luật quy định hoặc nếu An rút khỏi hợp đồng.
b)
1. Các nguyên tắc đạo đức nghề nghiệp bị ảnh hưởng:
- Tính chính trực (Integrity): Bị ảnh hưởng nếu An che giấu hoặc làm giảm nhẹ mức độ nghiêm trọng của vấn đề thuế để làm hài lòng khách hàng, nhằm mục đích duy trì mối quan hệ kinh doanh.
- Tính khách quan (Objectivity): Bị ảnh hưởng bởi nguy cơ tư lợi (Self-interest threat) do An muốn duy trì mối quan hệ tốt với giám đốc Thanh Thanh để có thêm khách hàng. Lợi ích kinh tế cá nhân của An đang mâu thuẫn với trách nhiệm nghề nghiệp là đưa ra đánh giá trung thực và khách quan về BCTC.
- Tư cách nghề nghiệp (Professional Behavior): Bị ảnh hưởng nếu An chấp nhận các sai sót do hành vi không tuân thủ pháp luật về thuế, làm tổn hại đến uy tín của nghề nghiệp kiểm toán.
2. Xung đột lợi ích bị ảnh hưởng:
Tình huống này thể hiện Xung đột lợi ích (Conflict of interest).
- Xung đột xảy ra giữa lợi ích cá nhân của An (duy trì mối quan hệ tốt, có thêm khách hàng) và trách nhiệm nghề nghiệp là báo cáo trung thực, khách quan về BCTC, trong đó có thể chứa các sai sót trọng yếu liên quan đến thuế và các khoản phạt.
- Đây là một ví dụ về Nguy cơ tư lợi (Self-interest threat). Cụ thể, lợi ích cá nhân (duy trì hoặc mở rộng phạm vi dịch vụ) có thể khiến kiểm toán viên chấp nhận một kết quả kiểm toán không phù hợp.
7.31
Lân là chủ phần hùn (partner) của công ty kiểm toán A&B. Bố Lân là chủ tịch hội đồng quản trị của công ty X&Y. Ở năm hiện hành, X&Y mua phần lớn cổ phần trong công ty T&H, đây là một khách hàng chủ yếu của Lân.
Yêu cầu:
a) Theo bạn, liệu Lân có thể tiếp tục phụ trách hợp đồng kiểm toán cho công ty T&H không? Nếu Lân không phụ trách hợp đồng này nhưng công ty kiểm toán A& B vẫn tiếp tục thực hiện hợp đồng này, như vậy công ty A&B có vi phạm đạo đức nghề nghiệp hay không?
b) Trong trường hợp này, công ty A&B có lợi ích tài chính gián tiếp trong công ty X&Y không?
Bài làm
a)
1. Lân (KTVHN, Chủ phần hùn) có thể tiếp tục phụ trách hợp đồng kiểm toán cho T&H không?
KHÔNG. Lân không thể tiếp tục phụ trách hợp đồng kiểm toán cho công ty T&H.
- Lý do: Tình huống này làm phát sinh Nguy cơ từ sự quen thuộc nghiêm trọng. Lân là Chủ phần hùn (Partner) của công ty kiểm toán A&B, và Bố Lân là Chủ tịch Hội đồng quản trị (người có trách nhiệm quản lý/điều hành) của công ty X&Y. Công ty X&Y lại mua phần lớn cổ phần, tức là kiểm soát công ty T&H (Khách hàng kiểm toán).
- Theo quy định về tính độc lập cá nhân (Luật Kiểm toán độc lập), Kiểm toán viên hành nghề (KTVHN) không được thực hiện kiểm toán nếu có bố là người giữ chức vụ quản lý, điều hành, thành viên ban kiểm soát, kế toán trưởng của đơn vị được kiểm toán (hoặc bên liên quan của đơn vị được kiểm toán). Mối quan hệ gia đình gần gũi giữa Lân (KTV cấp cao) và người quản lý cấp cao của bên kiểm soát khách hàng tạo ra mối đe dọa không thể chấp nhận được đối với tính khách quan và độc lập của Lân.
2. Nếu Lân không phụ trách hợp đồng này, công ty A&B có vi phạm đạo đức nghề nghiệp không?
CÓ. Công ty A&B vẫn vi phạm tính độc lập và đạo đức nghề nghiệp nếu tiếp tục thực hiện hợp đồng kiểm toán cho T&H.
- Lý do: Lân là Chủ phần hùn (người có trách nhiệm quản lý, điều hành) của A&B. Theo Điều 30, khoản 1, điểm d của Luật Kiểm toán độc lập:
- Doanh nghiệp kiểm toán (A&B) không được thực hiện kiểm toán nếu Người có trách nhiệm quản lý, điều hành của doanh nghiệp kiểm toán (Lân) có bố là người có trách nhiệm quản lý, điều hành, thành viên ban kiểm soát hoặc kế toán trưởng của đơn vị được kiểm toán (T&H) hoặc là người có ảnh hưởng đáng kể đối với đơn vị được kiểm toán.
- Do Bố Lân là Chủ tịch HĐQT của X&Y, và X&Y kiểm soát T&H (T&H là khách hàng kiểm toán), mối quan hệ này bị cấm ở cấp độ công ty nếu Lân vẫn giữ vai trò quản lý/điều hành tại A&B. Việc Lân không tham gia trực tiếp vào nhóm kiểm toán (rút khỏi vị trí PIC) không loại trừ hoàn toàn vi phạm này vì Lân vẫn là người quản lý, điều hành của A&B.
b)
KHÔNG CÓ cơ sở để kết luận A&B có lợi ích tài chính gián tiếp trong X&Y.
- Lý do: Tình huống chỉ mô tả mối quan hệ gia đình giữa Lân và Ban quản lý của X&Y, điều này tạo ra nguy cơ đạo đức (Nguy cơ từ sự quen thuộc, vi phạm tính độc lập), chứ không hàm ý rằng công ty A&B (doanh nghiệp kiểm toán) hoặc Lân (cá nhân) đang nắm giữ cổ phiếu, công cụ vốn hoặc lợi ích tài chính trực tiếp/gián tiếp trong công ty X&Y.
- Lợi ích tài chính là lợi ích thu được từ cổ phiếu hoặc các công cụ vốn khác. Việc nắm giữ lợi ích tài chính gián tiếp trọng yếu trong khách hàng kiểm toán là vi phạm nghiêm trọng, nhưng không có thông tin trong nguồn cung cấp xác nhận A&B đang nắm giữ bất kỳ lợi ích tài chính nào như vậy trong X&Y.
7.32
Công ty kiểm toán G&C đã thực hiện kiểm toán cho công ty Bình Minh từ nhiều năm nay. Bình Minh là công ty thương mại chuyên bán sỉ các mặt hàng điện tử. Công ty Bình Minh thuộc quyền sở hữu và lãnh đạo bởi ông Huyên. Số dư hàng tồn kho trên báo cáo tài chính luôn là một khoản mục trọng yếu. Trong năm hiện hành (niên độ kế toán kết thúc vào 31/12/20x1), Kiểm toán viên Lân của công ty G&C tiếp tục thực hiện hợp đồng kiểm toán cho công ty Bình Minh. Kiểm toán viên Lân đã không chứng kiến kiểm kê hàng tồn kho với lý do việc kiểm kê của công ty luôn được tiến hành rất tốt và qua hồ sơ kiểm toán các năm trước cho thấy, không có sai lệch nào đáng kể về hàng tồn kho.
Một thời gian ngắn trước khi hoàn tất việc kiểm toán, Công ty kiểm toán G&C nhận được một lá thư với nội dung như sau:
Thưa quý công ty, Chúng tôi viết thư để thông báo cho quý công ty biết rằng chúng tôi có ý định sẽ đầu tư vào công ty Bình Minh. Do không có một nguồn thông tin độc lập về tình hình tài chính của công ty Bình Minh, chúng tôi đặt tin tưởng rất lớn vào báo cáo kiểm toán của quý công ty để quyết định liệu có nên đầu tư vào công ty Bình Mình hay không? Ký tên Công Ty M&H |
Sau khi hoàn tất việc kiểm toán, công ty G&C đã đưa ra ý kiến chấp nhận toàn phần.
Một thời gian ngắn sau khi công bố báo cáo tài chính đã được kiểm toán, Công ty M&H đã mua lại toàn bộ công ty Bình Minh.
Bốn tuần sau khi mua lại, G&C nhận được một lá thư khác từ M&H thông báo rằng số liệu hàng tồn kho trên báo cáo tài chính của công ty Bình Minh bị khai khống nghiêm trọng. Ngoài ra, rất nhiều hàng tồn kho bị hư hỏng, lỗi thời đã không được lập dự phòng giảm giá.
M&H cho rằng trách nhiệm thuộc về công ty G&C vì lẽ ra những vấn đề này phải được kiểm toán viên phát hiện, nhất là các hàng tồn kho đã mua cách đây 3 năm nhưng đến nay vẫn chưa bán được. Do vậy, M&H khởi kiện đòi công ty kiểm toán G&C bồi thường về 2 khoản:
- Khoản tiền mà M&H đã trả về lợi thế thương mại được xác định dựa trên lợi nhuận phản ảnh trên báo cáo tài chính của Bình Minh.
- Giá trị hàng tồn kho bị hư hỏng, lỗi thời mà công ty Bình Minh không lập dự phòng giảm giá.
Yêu cầu:
Bạn hãy cho biết:
a) Công ty kiểm toán G&C có sai phạm gì trong kiểm toán báo cáo tài chính của công ty Bình Minh không?
b) Phân tích trách nhiệm pháp lý của công ty kiểm toán G&C đối với công ty M&H?
Bài làm
a)
CÓ. Công ty kiểm toán G&C (thông qua KTV Lân) đã có sai phạm nghiêm trọng do không thực hiện thủ tục kiểm toán cơ bản, dẫn đến vi phạm chuẩn mực kiểm toán:
- Không thực hiện thủ tục kiểm toán bắt buộc: Khoản mục hàng tồn kho của công ty Bình Minh (chuyên bán sỉ điện tử) là một khoản mục trọng yếu. Việc chứng kiến kiểm kê hàng tồn kho tại ngày kết thúc niên độ kế toán là một thủ tục kiểm toán bắt buộc đối với hàng tồn kho.
- Vi phạm thu thập bằng chứng kiểm toán: Việc KTV Lân không chứng kiến kiểm kê hàng tồn kho là hành vi không thu thập được đầy đủ bằng chứng kiểm toán thích hợp liên quan đến các cơ sở dẫn liệu quan trọng của hàng tồn kho, đặc biệt là Tính hiện hữu và Đánh giá & Phân bổ.
- Hậu quả: Việc bỏ qua thủ tục này mà không có thủ tục thay thế hiệu quả có thể cấu thành giới hạn phạm vi kiểm toán, ảnh hưởng đến khả năng của kiểm toán viên trong việc đưa ra ý kiến chấp nhận toàn phần về BCTC.
b)
Công ty M&H là bên thứ ba sử dụng kết quả kiểm toán. Trong trường hợp này, trách nhiệm pháp lý của công ty G&C đối với M&H là trách nhiệm dân sự :
- Cơ sở trách nhiệm: Trách nhiệm dân sự phát sinh nếu công ty M&H (người sử dụng BCTC) chịu thiệt hại do dựa vào báo cáo kiểm toán có ý kiến không đúng đắn (mà G&C đã phát hành).
- Thiếu sót nghề nghiệp: Nếu sai phạm của KTV Lân (không chứng kiến kiểm kê, vi phạm chuẩn mực kiểm toán) dẫn đến việc ý kiến kiểm toán không phù hợp (ví dụ: cấp ý kiến chấp nhận toàn phần trong khi hàng tồn kho bị sai sót trọng yếu), công ty G&C đã thể hiện sự bất cẩn hoặc vi phạm pháp luật/chuẩn mực nghề nghiệp.
- Chứng minh thiệt hại: Công ty M&H có thể kiện G&C nếu chứng minh được rằng:
- Họ đã dựa vào báo cáo kiểm toán của Bình Minh do G&C cấp (Đã sử dụng một cách thận trọng thông tin trên báo cáo kiểm toán đã kiểm tra).
- Họ bị thiệt hại về kinh tế.
- Thiệt hại đó có liên quan trực tiếp đến những sai sót trọng yếu trên BCTC mà G&C đã không phát hiện hoặc không báo cáo đúng mực (tức là báo cáo kiểm toán của G&C là không đúng đắn).
Tóm lại, nếu M&H bị thiệt hại vì tin tưởng vào BCTC bị sai sót trọng yếu về hàng tồn kho do sự cẩu thả/thiếu sót trong công việc kiểm toán của G&C, công ty G&C phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho M&H theo Luật Dân sự.
7.33
Ba tuần sau khi phát hành báo cáo kiểm toán cho công ty cổ phần Song An cho niên độ kế toán kết thúc vào 31/12/20X0, kiểm toán viên Lân phát hiện Song An có một số giao dịch với bên liên quan và có dấu hiệu vi phạm pháp luật. Cụ thể là trong năm tài chính 20x0, Song An mua của Ánh Dương một số hàng hóa với giá cao hơn rất nhiều so với giá thị trường. Theo thông tin Lân vừa nhận được, giám đốc của công ty Song An là cha của giám đốc công ty Ánh Dương. Việc mua lô hàng này đã làm cho Song An bị thiệt hại gần 1 tỷ đồng. Tuy nhiên, các giao dịch này không được công bố trong thuyết minh báo cáo tài chính. Hơn thế nữa, dựa trên thông tin vừa phát hiện, Lân đánh giá rằng lợi nhuận trên báo cáo tài chính của Song An bị ảnh hưởng trọng yếu do giao dịch này.
Lân đã yêu cầu Song An điều chỉnh thông tin trên thuyết minh và phát hành lại báo cáo tài chính, nhưng Song An từ chối với lý do là báo cáo tài chính không có sai lệch trọng yếu. Giám đốc của Song An còn cho rằng các giao dịch này không vi phạm pháp luật và đây không phải là bên liên quan. Ngoài ra, giám đốc của Song An cũng cho rằng nếu thông báo thông tin này cho các cổ đông thì kiểm toán viên sẽ vi phạm tính bảo mật.
Yêu cầu:
a) Cho biết giao dịch mà Lân phát hiện có phải là hành vi không tuân thủ pháp luật và các quy định hay gian lận không?
b) Kiểm toán viên Lân có vi phạm tính bảo mật nếu công bố thông tin này không?
c) Nếu bạn là Lân, bạn nên làm gì trong trường hợp này?
Bài làm
a)
Giao dịch mà KTV Lân phát hiện (không rõ chi tiết) có thể được phân loại là Gian lận hoặc Hành vi không tuân thủ pháp luật và các quy định:
- Gian lận: Là hành vi cố ý dẫn đến sai sót. Gian lận thường liên quan đến lập báo cáo tài chính gian lận (cố ý làm sai lệch BCTC để lừa dối người sử dụng) hoặc biển thủ tài sản (hành vi trộm cắp với giá trị không trọng yếu, thường do nhân viên trong đơn vị thực hiện).
- Hành vi không tuân thủ pháp luật và các quy định: Là các hành vi cố ý hoặc không cố ý vi phạm pháp luật và các quy định hiện hành. Ví dụ bao gồm vi phạm luật thuế, các quy định về môi trường, hoặc các giao dịch có thể bị phạt.
Kết luận: Nếu giao dịch Lân phát hiện là một hành vi cố ý nhằm làm sai lệch báo cáo tài chính hoặc biển thủ tài sản, đó là Gian lận. Nếu là vi phạm các luật lệ và quy định bên ngoài có ảnh hưởng trọng yếu đến BCTC, đó là Hành vi không tuân thủ pháp luật và các quy định.
b)
Kiểm toán viên Lân sẽ vi phạm tính bảo mật nếu công bố thông tin này cho các cổ đông.
- Tính bảo mật là một trong năm nguyên tắc đạo đức nghề nghiệp cơ bản của KTV. KTV phải bảo mật thông tin có được từ các mối quan hệ chuyên môn và kinh doanh.
- Cổ đông là người sử dụng báo cáo tài chính và kết quả kiểm toán, nhưng việc thông báo thông tin bảo mật trực tiếp cho cổ đông không thuộc các trường hợp ngoại lệ về nghĩa vụ công bố.
- KTV có nghĩa vụ báo cáo các thông tin về kinh tế, tài chính, kế toán, thuế cho cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền trong quá trình kiểm tra, thanh tra, nếu được yêu cầu. Việc công bố cho cổ đông không nằm trong phạm vi nghĩa vụ pháp lý này.
c)
Nếu là Lân, KTV cần thực hiện các bước sau để xử lý sai phạm đã phát hiện:
- Xác định bản chất và đánh giá ảnh hưởng: Lân cần xác định rõ bản chất của giao dịch (gian lận hay không tuân thủ) và đánh giá xem liệu sai sót này có trọng yếu đối với báo cáo tài chính (BCTC) hay không.
- Trao đổi với Ban Giám đốc và Ban quản trị: KTV phải kịp thời trao đổi (bằng văn bản) những vấn đề quan trọng liên quan đến cuộc kiểm toán, bao gồm cả những sai sót trọng yếu hoặc hành vi gian lận/không tuân thủ, với Ban Giám đốc và Ban quản trị (những người chịu trách nhiệm quản trị).
- Đề nghị điều chỉnh: Nếu sai sót (do gian lận hoặc không tuân thủ) là trọng yếu, Lân phải đề nghị Ban Giám đốc điều chỉnh.
- Phản ứng nếu Ban Giám đốc từ chối điều chỉnh:
- Nếu Ban Giám đốc từ chối điều chỉnh sai sót trọng yếu, Lân phải đưa ra ý kiến kiểm toán ngoại trừ hoặc ý kiến trái ngược trên báo cáo kiểm toán (tùy thuộc vào mức độ lan tỏa của sai sót).
- Nếu đơn vị không có giải pháp thích hợp đối với hành vi gian lận hoặc không tuân thủ, KTV nên cân nhắc rút khỏi hợp đồng kiểm toán và thảo luận vấn đề này với cơ quan chức năng có thẩm quyền nếu có nghĩa vụ pháp lý để báo cáo.
Tóm lại, hành động của Lân phải tuân thủ các chuẩn mực nghề nghiệp, ưu tiên trao đổi với cấp quản lý và Ban quản trị, và đảm bảo ý kiến kiểm toán phản ánh trung thực và hợp lý tình hình tài chính của đơn vị.
7.34
Tình huống | Người thực hiện | Lợi ích | Ảnh hưởng BCTC | Loại hành vi | Vấn đề cần tìm hiểu thêm |
1. Bán hoặc phân phối những tài sản không có thực | Tổ chức | Tổ chức | Có | Gian lận (Lập BCTC gian lận) | Cần xác định ý định của Ban Giám đốc, và kiểm tra bằng chứng vật chất về sự hiện hữu của tài sản (nếu có thể). |
2. Tham ô (chiếm đoạt tài sản hoặc tiền bạc trái phép) và ghi chép sai các số liệu tài chính để che giấu | Cá nhân | Cá nhân | Có | Gian lận (Biển thủ tài sản) | Cần kiểm tra kiểm soát nội bộ để xem tại sao hành vi chiếm đoạt không bị ngăn chặn, và kiểm tra chứng từ gốc để xác nhận sự che giấu. |
3. Cố ý trình bày hoặc đánh giá không đúng tài sản, nợ phải trả, thu nhập hoặc chi phí | Tổ chức | Tổ chức | Có | Gian lận (Lập BCTC gian lận) | Cần tìm hiểu động cơ (áp lực lợi nhuận, thưởng) của Ban Giám đốc và đánh giá tính hợp lý của các ước tính kế toán. |
4. Dành cho một nhân viên hoặc người bên ngoài một vụ giao dịch có tiềm năng mang lại lợi nhuận cho họ... | Cá nhân | Cá nhân | Có | Gian lận (Biển thủ/Lạm dụng quyền) | Cần xác định các bên liên quan (Related Parties) và kiểm tra tính hợp lý của giao dịch (có phải giá thị trường không). |
5. Các nghiệp vụ giữa các bên liên quan bị cố ý làm sai, trong đó một bên nhận được những lợi ích không thể có được... | Tổ chức/Cá nhân | Cá nhân/Tổ chức | Có | Gian lận (Lập BCTC gian lận) | Cần xác minh tính đầy đủ của các nghiệp vụ giữa các bên liên quan và kiểm tra liệu các giao dịch có được trình bày và thuyết minh đúng bản chất trên BCTC không. |
6. Yêu cầu thanh toán cho các dịch vụ hoặc nghiệp vụ mua hàng không có thực | Cá nhân | Cá nhân | Có | Gian lận (Biển thủ tiền) | Cần kiểm tra chứng từ gốc (hóa đơn, phiếu nhập, biên bản nghiệm thu) và xem xét phân chia trách nhiệm trong quy trình chi tiền. |
7. Cố ý ghi chép sai hay công bố sai những thông tin chủ yếu để cải thiện tình hình tài chính của tổ chức đối với bên ngoài | Tổ chức | Tổ chức | Có | Gian lận (Lập BCTC gian lận) | Cần tìm hiểu áp lực hoặc hoàn cảnh dẫn đến việc quản lý làm sai lệch BCTC. |
8. Hoạt động kinh doanh bị cấm do vi phạm luật lệ, quy định hay hợp đồng | Tổ chức | Tổ chức/Cá nhân | Có/Không | Không tuân thủ | Cần đánh giá mức độ ảnh hưởng của vi phạm (ví dụ: tiền phạt, chi phí khắc phục) để xác định tính trọng yếu và nghĩa vụ phải trình bày trên BCTC. |
9. Nhận hối lộ hoặc hoa hồng | Cá nhân | Cá nhân | Có/Không | Không tuân thủ | Cần thu thập thông tin về các thỏa thuận liên quan và kiểm tra xem hành vi này có dẫn đến các khoản phải trả tiềm tàng hoặc bị phạt trọng yếu ảnh hưởng đến BCTC không. |
10. Chi trả không đúng như đóng góp chính trị trái với pháp luật, hối lộ, trả hoa hồng... | Tổ chức/Cá nhân | Cá nhân/Tổ chức | Có | Không tuân thủ | Cần tìm hiểu mục đích của việc chi trả, bằng chứng phê duyệt, và liệu nghiệp vụ này có bị cố ý ghi nhận sai mục đích để che giấu hành vi bất hợp pháp (dấu hiệu của Gian lận) không. |
Lưu ý: Sự khác biệt chính là gian lận là hành vi cố ý dẫn đến sai sót trên BCTC, thường do động cơ đạt lợi ích cá nhân hoặc tổ chức, trong khi không tuân thủ là vi phạm pháp luật và các quy định bên ngoài, có thể cố ý hoặc không, và có thể ảnh hưởng đến BCTC (ví dụ: tiền phạt). Trong các tình huống 1, 3, 5, 7, hành vi làm sai lệch BCTC là mục tiêu chính. Trong tình huống 2, 4, 6, hành vi biển thủ (lợi ích cá nhân) được che đậy bằng các ghi chép sai. Trong các tình huống 8, 9, 10, hành vi gốc là vi phạm luật pháp/quy định, mặc dù hành vi 10 thường liên quan đến sự che giấu (gian lận) trên sổ sách.
7.35
Tâm - kiểm toán viên chính của công ty kiểm toán X&T, thực hiện kiểm toán báo cáo tài chính cho công ty Bình Minh từ 2 (hai) năm nay. Bình Minh là công ty thương mại chuyên bán sỉ các mặt hàng điện tử và số dư hàng tồn kho trên báo cáo tài chính luôn trọng yếu. Trong năm hiện hành (năm thứ 3), niên độ kế toán kết thúc vào ngày 31.12.20X0, Tâm tiếp tục chịu trách nhiệm chính về thực hiện hợp đồng kiểm toán cho công ty này. Tâm quyết định không chứng kiến kiểm kê với lý do là thông qua chứng kiến kiểm kê hai năm trước, Tâm không phát hiện bất cứ sai sót nào về hàng tồn kho.
Yêu cầu:
Dựa vào các yêu cầu của VSA 200, hãy nhận xét cách làm việc của kiểm toán viên Tâm?
Bài làm
Cách làm việc của Kiểm toán viên (KTV) Tâm không phù hợp và vi phạm các yêu cầu cơ bản của Chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam số 200 (VSA 200).
Dựa trên VSA 200, KTV Tâm đã vi phạm các nguyên tắc sau:
Vi phạm nguyên tắc Duy trì thái độ hoài nghi nghề nghiệp:
- VSA 200 yêu cầu KTV phải duy trì thái độ hoài nghi nghề nghiệp trong suốt quá trình lập kế hoạch và thực hiện cuộc kiểm toán để nhận biết các trường hợp có thể dẫn đến báo cáo tài chính chứa đựng những sai sót trọng yếu.
- Việc Tâm quyết định bỏ qua thủ tục kiểm kê hiện vật hàng tồn kho (một thủ tục quan trọng để xác minh cơ sở dẫn liệu tính hiện hữu của khoản mục trọng yếu), chỉ dựa trên kinh nghiệm không phát hiện sai sót trong hai năm trước, cho thấy KTV đã không duy trì thái độ hoài nghi nghề nghiệp.
Vi phạm yêu cầu về Thu thập đầy đủ bằng chứng kiểm toán thích hợp:
- Mục tiêu tổng thể của KTV là đạt được sự đảm bảo hợp lý rằng báo cáo tài chính, xét trên phương diện tổng thể, không còn sai sót trọng yếu. Để đạt được điều này, KTV phải thu thập đầy đủ bằng chứng kiểm toán thích hợp.
- Đối với khoản mục hàng tồn kho luôn trọng yếu, việc chứng kiến kiểm kê là thủ tục cơ bản để thu thập bằng chứng về sự hiện hữu và tình trạng của hàng tồn kho.
- KTV Tâm đã tự ý bỏ qua một thủ tục kiểm toán quan trọng đối với một khoản mục trọng yếu. Hành động này có thể khiến KTV không thu thập được đầy đủ bằng chứng kiểm toán thích hợp làm cơ sở cho ý kiến kiểm toán.
Tóm lại, Tâm đã lơ là trách nhiệm theo VSA 200 do quá tin tưởng vào kết quả quá khứ, dẫn đến nguy cơ không phát hiện sai sót trọng yếu cho năm hiện hành và làm giới hạn phạm vi kiểm toán, có thể dẫn đến ý kiến kiểm toán không phải là chấp nhận toàn phần nếu không thực hiện được thủ tục thay thế.
7.36
Kiểm toán viên Lân được giao phụ trách kiểm toán khoản mục Nợ phải thu cho báo cáo tài chính công ty Phát Đạt ở niên độ kế toán kết thúc ngày 31/12/20X0.
Khi gửi thư xác nhận cho khách hàng và nhận được thư hồi âm, kiểm toán viên Lân phát hiện 14 trường hợp sai biệt giữa sổ sách và thư xác nhận. Lân đã cung cấp các bản sao thư xác nhận cho kế toán trưởng và đề nghị giải thích các sai biệt này. Kế toán trường giao cho nhân viên kế toán có liên quan là cô Lan thực hiện. Cô Lan lập bảng kê các chênh lệch và giải thích rằng phần lớn các chênh lệch là do chênh lệch về thời gian ghi chép vào số của Công ty Phát Đạt và sổ của khách hàng. Dựa trên bảng kê này, Lân kết luận rằng không có sai sót trọng yếu trong tài khoản Nợ phải thu và do đó, công ty kiểm toán đã đưa ra ý kiến chấp nhận toàn phần.
Tám tháng sau đó, người ta phát hiện Cô Lan đã thông đồng với các nhân viên khác để biển thủ tiền thu từ khách hàng lên đến hàng trăm triệu đồng.
Yêu cầu:
Hãy cho biết cách làm việc của kiểm toán viên Lân có phù hợp không khi căn cứ theo các yêu cầu của VSA 200?
Bài làm
Cách làm việc của Kiểm toán viên (KTV) Lân không phù hợp và vi phạm nghiêm trọng các yêu cầu cơ bản của Chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam số 200 (VSA 200).
Việc KTV Lân chấp nhận các giải thích về sai biệt mà không thực hiện thêm các thủ tục kiểm toán cần thiết đã đi ngược lại các nguyên tắc cốt lõi sau:
1. Vi phạm nguyên tắc Duy trì thái độ hoài nghi nghề nghiệp
- VSA 200 yêu cầu KTV phải duy trì thái độ hoài nghi nghề nghiệp trong suốt quá trình lập kế hoạch và thực hiện kiểm toán. Thái độ này là cần thiết để nhận biết các trường hợp có thể dẫn đến báo cáo tài chính chứa đựng những sai sót trọng yếu do gian lận hoặc nhầm lẫn.
- Trong tình huống này, KTV Lân đã phát hiện 14 trường hợp chênh lệch (ngoại lệ) từ thư xác nhận (một thủ tục thu thập bằng chứng bên ngoài đáng tin cậy). Tuy nhiên, thay vì tự mình điều tra hoặc thực hiện các thủ tục kiểm toán bổ sung, Lân đã chấp nhận lời giải thích (chênh lệch về thời gian ghi chép) và bảng kê được lập bởi chính nhân viên kế toán có liên quan (cô Lan).
- Gian lận có thể được thực hiện tinh vi và kỹ lưỡng để che dấu. Hành vi biển thủ tài sản thường liên quan đến việc thu tiền từ khách hàng nhưng không ghi giảm nợ phải thu, và gian lận thường được che đậy bằng cách ghi chép chênh lệch thời gian hoặc làm giả chứng từ. Do đó, việc chấp nhận lời giải thích nội bộ của nhân viên kế toán (là người sau này bị phát hiện biển thủ) mà không có bằng chứng độc lập, cho thấy KTV đã không duy trì thái độ hoài nghi nghề nghiệp.
2. Vi phạm yêu cầu về Thu thập đầy đủ bằng chứng kiểm toán thích hợp
- Mục tiêu tổng thể của KTV là đạt được sự đảm bảo hợp lý rằng báo cáo tài chính không còn sai sót trọng yếu, bằng cách thu thập đầy đủ bằng chứng kiểm toán thích hợp.
- Đối với các ngoại lệ (sai biệt) từ thư xác nhận, KTV có trách nhiệm điều tra chúng để xác định liệu chúng có phải là dấu hiệu của sai sót hay không.
- Nếu KTV nghi ngờ về độ tin cậy của thông tin phản hồi (trong trường hợp này là lời giải thích và bảng kê của nhân viên), KTV phải thu thập thêm bằng chứng kiểm toán để giải quyết nghi ngờ.
- Trong trường hợp các sai biệt do chênh lệch thời gian, KTV phải thực hiện các thủ tục kiểm toán thay thế, ví dụ như kiểm tra việc thu tiền sau ngày khóa sổ kế toán, kiểm tra các chứng từ gốc (hợp đồng, hóa đơn, tài liệu gửi hàng), hoặc kiểm tra các bút toán cuối kỳ để xác định tính đúng kỳ.
- Việc KTV Lân dựa hoàn toàn vào bảng kê giải thích của nhân viên đơn vị để kết luận "không có sai sót trọng yếu" cho thấy KTV đã không thu thập đầy đủ bằng chứng kiểm toán thích hợp để chứng minh rằng số dư Nợ phải thu là trung thực và hợp lý.
Hậu quả của việc Lân không tuân thủ VSA 200 là đã bỏ sót một gian lận (biển thủ tài sản) trọng yếu (hàng trăm triệu đồng), dẫn đến việc đưa ra ý kiến chấp nhận toàn phần không phù hợp đối với báo cáo tài chính chứa đựng sai sót trọng yếu do gian lận.