HỌC VIỆN NGÂN HÀNG
KHOA NGÂN HÀNG
----- -----
BÀI TẬP LỚN
HỌC PHẦN: NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
Đề tài: “Đánh giá vai trò của các Ngân hàng thương mại
trong việc hỗ trợ phát triển kinh tế bền vững và phân tích
tác động của xu hướng này tới hoạt động kinh doanh của
Ngân hàng TMCP Quân Đội - MB Bank”
Giảng viên: Nguyễn Thị Diễm Hương
Nhóm 5:
Nguyễn Trần Vân Anh 25A4051652
Phạm Thảo Anh 25A4052017
Trần Hương Giang 25A4052334
Trần Thị Hương Lan 25A4050369
Nguyễn Ngọc Minh 25A4050655
Đồng Thị Thúy 25A4051292
Hà Nội, ngày 27 tháng 4 năm 2024
1
BẢNG PHÂN CÔNG NHIỆM VỤ
STT Mã sinh viên Họ và tên Phân công % Đóng góp
1 25A4051652 Nguyễn Trần Vân Anh Phần 3 (3.2+3.3)
2 25A4052017 Phạm Thảo Anh Phần 1
3 25A4052334 Trần Hương Giang(NT) Phần 2
4 25A4050369 Trần Thị Hương Lan Phần 2
5 25A4050655 Nguyễn Ngọc Minh Phần 3 (3.1) + Mở đầu +
Kết luận + Tổng hợp word
6 25A4051292 Đồng Thị Thúy Phần 3 (3.2+3.3)
2
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU...............................................................................................................5
PHẦN NỘI DUNG........................................................................................................6
Phần 1: Sự cần thiết và xu hướng phát triển kinh tế bền vững trên thế giới và Việt
Nam gần đây...............................................................................................................6
1.1. Tổng quan về phát triển kinh tế bền vững........................................................6
1.2. Sự cần thiết của phát triển kinh tế bền vững hiện nay......................................7
1.3. Xu hướng phát triển kinh tế bền vững gần đây.................................................7
1.3.1. Trên thế giới...............................................................................................7
1.3.2. Tại Việt Nam............................................................................................10
Phần 2: Vai trò của Ngân hàng thương mại trong việc hỗ trợ phát triển kinh tế bền
vững.........................................................................................................................13
2.1. Vai trò của Ngân hàng thương mại trong phát triển bền vững kinh tế............13
2.2. Vai trò của Ngân hàng thương mại trong phát triển bền vững xã hội.............14
2.3. Vai trò của Ngân hàng thương mại trong phát triển bền vững môi trường.....15
Phần 3: Tác động của xu hướng phát triển kinh tế bền vững tới hoạt động kinh doanh
của MB Bank............................................................................................................17
3.1. Tổng quan về MB Bank.................................................................................17
3.2. Tác động của xu hướng phát triển kinh tế bền vững tới hoạt động kinh doanh
của MB Bank........................................................................................................19
3.2.1. Những hoạt động của kinh doanh của MB dưới tác động của phát triển
kinh tế bền vững................................................................................................19
3.2.2. Tác động tích cực.....................................................................................23
3.2.3 Tác động tiêu cực......................................................................................24
3.3. Giải pháp của MB Bank để thúc đẩy phát triển kinh tế bền vững..................24
KẾT LUẬN.................................................................................................................28
TÀI LIỆU THAM KHẢO...........................................................................................29
3
DANH MỤC HÌNH ẢNH
Hình 1: Tăng trưởng toàn cầu năm 2022, ước đạt năm 2023 và dự báo năm 2024 của
các tổ chức quốc tế....................................................................................9
Hình 2: Ước đạt tăng trưởng của khu vực đồng Euro năm 2023 và dự báo tăng trưởng
năm 2024 theo các tổ chức quốc tế................................................................9
Hình 3: Ước tính tăng trưởng của Việt Nam năm 2023 và dự báo tăng trưởng năm
2024 theo một số tổ chức quốc tế................................................................10
Hình 4: Số lao động có việc ở Việt Nam làm quý III và quý IV, giai đoạn 2019-2022
..........................................................................................................11
Hình 5: Dư nợ tín dụng xanh giai đoạn 2015-2022..........................................14
Hình 6: Điểm giao dịch MB Bank tại 3 khu vực trên toàn quốc...........................17
Hình 7: Những đóng góp tiêu biểu mang dấu ấn "xanh" của MB trong năm 2022....22
Hình 8: Thành tựu của MB trong công cuộc chuyển đổi số................................24
4
LỜI MỞ ĐẦU
Trong quá trình phát triển của thế giới, sự phát triển kinh tế đã trở thành một
trong những mục tiêu quan trọng của mỗi khu vực quốc gia. Tuy nhiên, thực tế
đang cho thấy việc tăng trưởng kinh tế không đi đôi vớing cường việc khai thác sử
dụng nguồn tài nguyên hợp thúc đẩy tái tạo năng lượng một cách bền vững. Sự
cạn kiệt ngày càng nhiều các nguồn tài nguyên không tái tạo, biến đổi khí hậu, giảm đa
dạng sinh học tình trạng ô nhiễm môi trường đang đẩy chúng ta đứng trước nguy
hiểm. Mỗi tác động tăng trưởng kinh tế thiếu cân nhắc thể gây mất cân bằng sinh
thái hơn thế còn đe dọa đến trật tự an sinh hội.Trong bối cảnh tình hình xung đột
chính trị diễn ra gay gắt cũng như ảnh hưởng của Đại dịch Covid 19 đã tác động tới
mục tiêu phát triển bền vững giai đoạn 2021-2030. Điều này đặt ra yêu cầu phảisự
điều tiết hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế, bảo đảm an ninh hội bảo vệ môi
trường. Phát triển bền vững, đặc biệt với nền kinh tế xanh, đang trở thành một
nhiệm vụ quan trọng cấp thiết trên toàn thế giới. Tại Việt Nam, phát triển kinh tế
bền vững cũng mục tiêu thiên niên kỷ của quốc gia. Bên cạnh đó, với vai trò cung
ứng và điều chuyển vốn cho nền kinh tế, ngân hàng thương mại đã đóng góp vai trò to
lớn trong quá trình này cùng các chính sách an toàn, hấp dẫn góp phần xây dựng một
tương lai tốt đẹp hơn cho thế hệ tương lai.
Nhận thấy tầm quan trọng của việc phát triển nền kinh tế bền vững, nhóm
chúng em quyết định tìm hiểu đề tài: “Đánh giá vai trò của các Ngân hàng thương mại
trong việc hỗ trợ phát triển kinh tế bền vững phân tích tác động của xu hướng này
tới hoạt động kinh doanh của Ngân hàng TMCP Quân Đội - MB Bank”.
5
PHẦN NỘI DUNG
Phần 1: Sự cần thiết và xu hướng phát triển kinh tế bền vững trên thế giới
và Việt Nam gần đây
1.1. Tổng quan về phát triển kinh tế bền vững
Khái niệm: rất nhiều định nghĩa để nói về phát triển bền vững, chúng ta
thể hiểu đó là một sự phát triển về mọi mặt trong hội hiện tại mà vẫn phải đảm bảo
tiếp tục phát triển trong tương lai xa. Hay nói các khác, phát triển bền vững là việc đáp
ứng được nhu cầu của hiện tại bảo đảm không gây tổn hại đến lợi ích của thế hệ
sau.
Mục tiêu phát triển bền vững: Phát triển bền vững phải dựa trên cơ sở kết hợp
chặt chẽ, hài hoà để vận hành đồng thời ba lĩnh vực then chốt đó là: Kinh tế, xã hội
môi trường. Các tiêu chí đánh giá mức độ phát triển kinh tế nhanh, bền vững có thể
chia thành ba bình diện như sau:
Về kinh tế: Kinh tế tăng trưởng mức ổn định, nền kinh tế được cân
bằng, thúc đẩy khả năng tăng trưởng của nền kinh tế.
Về hội: Đảm bảo một hội công bằng, văn minh, khuyến khích tạo việc
làm cho người lao động, nâng cao hiểu biết và khả năng tiếp cận các dịch vụ công của
người dân.
Về môi trường: Khai thác, sử dụng hiệu quả các nguồn tài nguyên thiên
nhiên, chuyển dần sang nguồn năng lượng tái tạo, năng lượng xanh. Đồng thời đẩy
mạnh sản xuất và tiêu dùng xanh, bền vững.
Rào cản phát triển kinh tế bền vững
Về thể chế và công cụ kinh tế: Chính sách chưa chặt chẽ, cơ chế chính sách còn
thiếu đồng bộ, các công cụ kinh tế chưa mang tính khuyến khích người dân doanh
nghiệp buộc phải tuân thủ theo mô hình phát triển kinh tế bền vững.
Tỷ lệ thất nghiệp: Tiếp cận việc làm, cơ hội kinh tế và giáo dục chất lượng là rất
quan trọng để xóa đói giảm nghèo. Các chương trình phát triển bền vững phải tạo ra
những hội bình đẳng giải quyết những nguyên nhân gốc rễ của vấn đề quan
trọng này. Hiện nay, tỷ lệ thất nghiệp toàn cầu đã giảm đáng kể tuy nhiên, tỷ lệ thất
nghiệp ở thanh niên tiếp tục cao hơn nhiều so với tỷ lệ ở người trưởng thành, cho thấy
những thách thức đang diễn ra trong việc đảm bảo cơ hội việc làm cho thanh niên.
Nguồn lực tài chính: Để theo đuổi mục tiêu phát triển bền vững trong đó
phát triển kinh tế thì nguồn tài chính mà các quốc gia phải chi ra là không hề nhỏ. Thế
nhưng, trong giai đoạn kinh tế đang sự biến động thì việc huy động s dụng
nguồn lực tài chính chưa thực sự hiệu quả. Điều này có thể tác động đến những nỗ lực
phát triển bền vững. Những thách thức kinh tế một khu vực thể gây ra hậu quả
gián tiếp cho các quốc gia khác. Huy động các nguồn lực và đảm bảo tài chính cho các
sáng kiến phát triển bền vững một thách thức lớn. Ngoài ra, khả năng tiếp cận hạn
chế với nguồn tài chính hợp chế tài chính không đầy đủ thể cản trở việc
thực hiện các dự án bền vững, đặc biệt là ở các quốc gia đang phát triển.
Về Chính phủ: một số chính phủ ưu tiên lợi ích kinh tế ngắn hạnn các mục
tiêu bền vững dài hạn, đặc biệt nếu họ phụ thuộc nhiều vào các ngành công nghiệp
6
nhiên liệu hóa thạch truyền thống. Các đảng phái chính trị áp lực của các bên liên
quan có thể tạo ra trở ngại cho việc thực hiện các chính sách phát triển bền vững.
Sự căng thẳng về chính trị cũng làm ảnh hưởng đến việc phát triển kinh tế bền
vững, thu hẹp sự ngoại thương giữa các quốc gia, hạn chế chuỗi cung ứng hàng hoá,
dịch vụ xuyên biên giới, làm tăng áp lực thương mại- đầu tư toàn cầu.
1.2. Sự cần thiết của phát triển kinh tế bền vững hiện nay
Phát triển kinh tế bền vững đang dần trở thành nhiệm vụ cấp bách và quan trọng
hàng đầu của mỗi quốc gia.
Bảo vệ môi trường: Nền kinh tế dựa phần nhiều vào thương mại, phần lớn phụ
thuộc vào tài nguyên thiên nhiên để sản xuất hàng hoá hoặc cung cấp dịch vụ. Tuy
nhiên, việc gia tăng dân số làm cho sự cạnh tranh về nguồn tài nguyên ngày một giảm,
đồng thời những thách thức phát sinh từ biến đổi khí hậu như: Hạn hán, lụt đi kèm
với nhiệt độ tăng đang ảnh hưởng lớn đến người dân trên toàn thế giới, làm gia tăng
nghèo đói, bất ổn… Phát triển kinh tế bền vững đặt mục tiêu bảo vệ môi trường vào
trung tâm, giúp giảm thiểu tác động tiêu cực đến môi trường, bảo vệ nguồn tài nguyên,
đảm bảo sự linh hoạt và khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu bằng cách giảm thiểu
khí thải và đầu tư vào năng lượng tái tạo và công nghệ sạch.
Tăng cường công bằng hội: Phát triển kinh tế bền vững nhấn mạnh vào việc
tạo ra hội công bằng cho tất cả các nhân cộng đồng, giảm bớt bất bình đẳng
tăng cường sự tham gia của tất cả các giai tầng trong hội, hay nói cách khác
huy động được tối đa nguồn lực lao động, giúp mang lại công ăn việc làm cho mọi
người.
Đảm bảo an sinh: Một nền kinh tế được phát triển theo hướng bền vững không
chỉ thể hiện mức tăng lên của GDP còn được phản ánh thông qua chất lượng
tiêu chuẩn sống của người dân ngày một tốt hơn, họ được nâng cao về nhận thức và kỹ
năng chuyên môn. Qua đó an sinh hội được cải thiện, phát triển văn minh
hơn.
Sự ổn định dài hạn: Phát triển kinh tế bền vững luôn hướng đến việc xây dựng
nền kinh tế mạnh mẽ ổn định trong thời gian dài hạn, giảm thiểu rủi ro cho các
doanh nghiệp nhân, từ đó tạo ra môi trường thuận lợi để khuyến khích các nhà
đầu tư địa phương và quốc tế cam kết vào các dự án lâu dài.
1.3. Xu hướng phát triển kinh tế bền vững gần đây
1.3.1. Trên thế giới
Nhận thức được tầm quan trọng của phát triển kinh tế bền vững, một số nước
trên thế giới đã áp dụng những xu hướng xanh nhằm thúc đẩy sự tăng trưởng của nền
kinh tế. “Chương trình nghị sự 2030” sự phát triển bền vững của Liên hợp quốc
tác động lớn đến phương thức tăng trưởng, hợp tác kinh tế, thương mại, đầu toàn
cầu. Năng lượng tái tạo, năng lượng xanh được dự đoán sẽ dẫn đầu xu thế trong tương
lai gần.
Kinh tế tuần hoàn gắn với phát triển bền vững
Khi nguồn tài nguyên ngày càng cạn kiệt cũng lúc tiếng chuông cảnh tỉnh
đến ý thức của con người càng rõ rệt. Người ta bắt đầu chú trọng vào nền kinh tế tuần
hoàn. Trong những năm gần đây, một số quốc gia đã áp dụng công nghệ tái sử dụng
7
các nguồn tài nguyên một cách hiệu quả thông qua đẩy mạnh phát triển kinh tế tuần
hoàn như: Hà Lan, Anh, Thuỵ Điển, Pháp, Ireland,...
Tại châu Âu, lợi ích kinh tế tuần hoàn thể mang lại khoảng 600 tỷ
EURO mỗi năm, tạo ra 580 nghìn việc làm mới và giúp giảm phát thải nhà khí.
Mỗi năm, Ireland sử dụng hơn 100 triệu tấn vật liệu quá nhiều chất thải từ
việc này thường được đưa vào bãi rác hoặcđốt chỉ sau một thời gian ngắn sử dụng.
Tuy nhiên, khi chương trình Kinh tế Tuần hoàn của Ireland được tổ chức đã tạo động
lực thúc đẩy quốc gia này chuyển sang nền kinh tế tuần hoàn. Chương trình này được
thành lập vào năm 2021 do EPA lãnh đạo. Đây là sự kết hợp xây dựng dựa trên
Chương trình ngăn chặn chất thải quốc gia trước đây để hỗ trợ các chương trình chiến
lược, cấp quốc gia nhằm ngăn chặn chất thải thúc đẩy nền kinh tế tuần hoàn
Ireland. Mục tiêu của chương trình hướng đến nền kinh tế tuần hoàn đảm bảo rằng mọi
người sử dụng ít tài nguyên hơn và ngăn ngừa lãng phí để đạt được tăng trưởng kinh tế
bền vững. Theo đó, các sản phẩm được sử dụng chúng một cách tận dụng nhấtthể,
chia sẻ các vật phẩm với người khác để tái sử dụng tăng mức độ tái chế để ít nhất
khôi phục lại giá trị của vật liệu được sử dụng để tạo ra các sản phẩm này.
Mặc một nước đã duy trì tốc độ phát triển nhanh chóng, GDP liên tục
được nâng cao, thế nhưng Trung Quốc cũng đang phải đối mặt với nhiều thách thức
như việc sử dụng tài nguyên thiên nhiên không hợp lý và suy giảm môi trường dẫn đến
bất bình đẳng hội hay mức độ phát thải nhà kính tăng nhanh… Điều đó đặt ra cho
Chính phủ nước này cần có những giải pháp kịp thời để giúp quốc gia tăng trưởng bền
vững. Theo đó, Trung quốc đã tiến hành hình phát triển nền kinh tế carbon thấp.
Với cách thức này, Trung Quốc đẩy mạnh sự phát triển đường sắt trong nội đô thành
phố đường cao tốc giữa các thành phố nhằm thiết lập nên các hệ thống giao thông
đa chiều, đầu các loại xe, phương tiện thải ra lượng carbon thấp như xe điện, phát
triển các nhiên liệu sinh học cho công tác đẩy mạnh phát triển giao thông công cộng;
hạn chế sự gia tăng của các phương tiện cá nhân. Bên cạnh đó, tối ưu hóa cơ cấu năng
lượng như giảm tỷ lệ sử dụng than, phát triển nhà máy điện không sử dụng nhiên liệu
hóa thạch nữa mà chuyển đổi sang sử dụng các dạng năng lượng tái tạo bền vững như
năng lượng mặt trời, năng lượng gió, thuỷ điện…
Kinh tế số phát triển mạnh mẽ
Hầu hết các nền kinh tế lớn trên thế giới đều đồng đưa ra các chiến lược tăng
trưởng kinh tế gắn với sự phát triển của công nghệ số. Australia một trong những
quốc gia tiên phong trong việc chuyển đổi từ thanh toán truyền thống sang sử dụng
thanh toán số và các dịch vụ tài chính công nghệ. Hệ thống thanh toán như Afterpay và
các ứng dụng ngân hàng trên điện thoại di động đang trở thành phổ biến được ưa
chuộng. Tại Mỹ - nơi bắt nguồn của sự bùng nổ công nghệ tin học với nhiều công ty
nổi tiếng như: Apple, Google, Facebook,... đã nhận định đúng về tầm quan trọng của
kinh tế số.
Kinh tế thế giới sẽ được ổn định
Phát triển kinh tế “xanh” sẽ mang đến tác động tích cực cho nền kinh tế thế giới
nói chung, mở ra cơ hội hợp tác thương mại, đầu tư toàn cầu chất lượng và bền vững.
8
Nguồn: EU, IMF, OECD, UN và WB
Hình 1: Tăng trưởng toàn cầu năm 2022, ước đạt năm 2023 và dự báo năm
2024 của các tổ chức quốc tế
Sự tăng trưởng năm 2024 của các nền kinh tế lớn dự báo giảm nhẹđạt 1,5%
với sự phục hồi khu vực đồng Euro tăng trưởng vừa phải Mỹ. Thị trường mới
nổi các nền kinh tế đang phát triển dự báo tăng trưởng ổn định mức 4,1% trong
năm 2024, nhưng khác nhau theo các khu vực.
Nguồn: IMF, OECD, UN, WB
Hình 2: Ước đạt tăng trưởng của khu vực đồng Euro năm 2023 và dự báo tăng
trưởng năm 2024 theo các tổ chức quốc tế
9
Như vậy, ba tổ chức quốc tế bao gồm OECD, WB IMF nhận định tăng
trưởng kinh tế của khu vực đồng Euro dự báo sẽ phục hồi từ mức tăng trưởng thấp,
ước đạt khoảng 0,5% năm 2023 lên mức 0,6% 0,9%, riêng UN dựo tăng trưởng
GDP khu vực đồng Euro đạt 1,1% năm 2024.
1.3.2. Tại Việt Nam
Quan điểm “Phát triển nhanh và bền vững là chủ trương xuyên suốt trong chiến
lược phát triển kinh tế” tiếp tục được Việt Nam khẳng định. Phát triển kinh tế bền
vững Việt Nam luôn dành được sự quan tâm của Đảng Nhà nước với quyết tâm
đổi mới mô hình tăng trưởng từ chiều rộng sang chiều sâu gắn với năng suất lao động,
khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo trong thời kỳ mới.
Kết quả nhận được thông qua việc thực hiện một số chỉ tiêu phát triển kinh tế
bền vững của Việt Nam trong giai đoạn qua: Việt Nam xếp thứ 69/190 về môi trường
kinh doanh theo đánh giá của Ngân hàng Thế giới VB năm 2018, xếp thứ 54/162 quốc
gia lọt vào Top 30% quốc gia dẫn đầu về phát triển bền vững ( chỉ xếp sau Thái Lan
trong ASEAN )
Về quy mô và tốc độ tăng trưởng
Mặc Việt Nam xây dựng Chiến lược phát triển giai đoạn 2021-2030 đứng
trước bối cảnh quốc tế, khu vực nhiều biến động với những lo ngại về căng thẳng
chính trị, chiến tranh thương mại, suy thoái kinh tế, biến đổi khí hậu,...nhưng Việt
Nam vẫn cam kết thực hiện các mục tiêu phát triển bền vững theo “Chương trình nghị
sự 2030” của Liên Hợp Quốc. Quy nền kinh tế Việt Nam luôn duy trì mức tăng
cao, theo số liệu được Bộ Kế hoạch Đầu công bố vào cuối năm 2023, quy
GDP của nền kinh tế đến hết năm 2023 ước đạt khoảng 10,22 triệu tỷ đồng, tương
đương khoảng 430 tỷ USD và đứng thứ 35 trên thế giới. Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) đã
nhận định: “Việt Nam một điểm sáng "trong bức tranh xám màu" của kinh tế toàn
cầu”.
Nguồn: Tổng quan dự báo tình hình kinh tế thế giới quý i và cả năm 2024
Hình 3: Ước tính tăng trưởng của Việt Nam năm 2023 và dự báo tăng trưởng
năm 2024 theo một số tổ chức quốc tế
10
Như vậy, các tổ chức quốc tế đều dự báo tăng trưởng của Việt Nam năm 2024
tăng so với năm 2023, đạt khoảng 5,5% – 6,0%.
Về chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ đạt trên 85% trong GDP cho thấy cơ cấu kinh
tế Việt Nam đang dịch chuyển từ kinh tế nông nghiệp sang công nghiệp, dịch vụ. Qua
đó, càng giúp khẳng định đây hướng đi đúng hiệu quả hơn cho nền kinh tế Việt
Nam với mục tiêu phát triển bền vững. n cạnh đó, Việt Nam đang thời phát
triển mạnh mẽ về lĩnh vực xuất khẩu, đặc biệt là trong ngành sản xuất công nghiệp và
chế biến nên chất lượng tăng trưởng kinh tế từng bước được cải thiện, cấu kinh tế
bước đầu dịch chuyển sang chiều sâu, tăng độ mở nền kinh tế và thu hút nguồn đầu
trực tiếp nước ngoài (FDI) lớn. Đồng thời, Việt Nam cũng tham gia vào nhiều hiệp
định thương mại quốc tế thúc đẩy hợp tác kinh tế với nhiều quốc gia trên thế giới,
từ đó tạo ra nhiều cơ hội mới và giúp định hình lại cấu trúc kinh tế để phát triển mạnh
mẽ và bền vững trong tương lai.
Về thu nhập của người dân và hỗ trợ xóa đói giảm nghèo
GDP trung bình tăng kéo theo đó là GDP bình quân đầu người duy trì mức khá
ổn định từ 4% đến 4,45% hàng năm. Chính phủ đặt mục tiêu đến năm 2030 với lộ
trình đặt ra thu nhập bình quân đầu người khu vực nông thôn đạt 43 triệu trong
2020; 60 triệu vào năm 2025 90 triệu đến năm 2030. Về xoá đói giảm nghèo, năm
2006, Việt Nam tuyên bố hoàn thành mục tiêu phát triển thiên niên kỷ về xóa bỏ tình
trạng nghèo đói cùng cực, về đích trước 10 năm so với thời hạn đặt ra (2015).
Về tạo việc làm
Đối tượng lao động từ 15 tuổi trở lên có việc làm trong quý IV năm 2022 là hơn
51,0 triệu người, tăng 239,4 nghìn người so với quý trước tăng gần 1,8 triệu người
so với cùng kỳ năm trước. (Theo Tổng cục thống kê)
Đơn vị tính: Nghìn người
Nguồn: Gov.vn
Hình 4: Số lao động có việc ở Việt Nam làm quý III và quý IV, giai đoạn 2019-
2022
11
Qua biểu đồ chúng ta có thể thấy, cùng với sự phát triển kinh tếsố người lao
động có việc làm tăng dần theo các quý trong năm. Đây cũng một trong những dấu
hiệu tích cực của Việt Nam khi tiến hành phát triển kinh tế bền vững.
Về năng suất lao động
Trong giai đoạn vừa qua của kinh tế Việt Nam, tốc độ tăng trưởng năng suất lao
động đã có sự cải thiện rệt. Bình quân giai đoạn 2011-2020, tốc độ tăng năng suất
lao động theo giá hiện hành đạt 5,29%, trong đó bình quân giai đoạn 2011-2015 tăng
4,53%; bình quân giai đoạn 2016-2020 tăng 6,05%, vượt mục tiêu đề ra trong Nghị
quyết số 05-NQ/TW, khóa XII 5,5%. Theo đó Việt Nam đã thu hẹp được
khoảng cách với các quốc gia trình độ phát triển cao hơn cùng trong ASEAN. Cụ
thể, năm 2011 năng suất lao động của Singapore, Malaysia, Thái Lan, Indonesia gấp
năng suất lao động của Việt Nam lần lượt tương ứng là 12,4 lần; 4,3 lần; 2,1 lần và 1,7
lần thì đến năm 2022 khoảng cách tương đối này giảm xuống lần lượt còn 8,8 lần; 2,8
lần; 1,5 lần và 1,3 lần.
Về sử dụng tài nguyên thiên nhiên
Công tác quản tài nguyên thiên nhiên tại Việt Nam còn nhiều yếu kém, khai
thác chưa hiệu quả các nguồn tài nguyên, nhất tài nguyên đất, nước. Một số loại tài
nguyên bị lạm dụng quá mức dẫn đến suy kiệt. Ô nhiễm môi trường vẫn tiếp tục gia
tăng, nhất tại các khu đô thị, thành phố lớn làm ảnh hưởng nghiêm trọng tới đời
sống sinh hoạt của người dân và đang trở thành vấn đề nhức nhối trong xã hội.
12
Phần 2: Vai trò của Ngân hàng thương mại trong việc hỗ trợ phát triển kinh tế
bền vững
Ngành ngân hàng được coi huyết mạch của nền kinh tế, trung gian tài
chính, gắn liền và bao trùm mọi hoạt động kinh tế, xã hội. Với các đặc trưng riêng của
mình, hiện nay ngành Ngân hàng đóng một vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ, thúc
đẩy phát triển bền vững của nền kinh tế. thể hiểu phát triển bền vững theo nhiều
nghĩa khác nhau, nhưng về bản, phát triển bền vững sự phát triển sự kết hợp
chặt chẽ, hài hòa giữa 3 mặt, bao gồm: tăng trưởng kinh tế; giải quyết tốt các vấn đề an
sinh xã hội và bảo vệ môi trường.
Bằng việc cung cấp các sản phẩm và dịch vụ tài chính của mình, các ngân hàng
thương mại đã tác động đến phát triển bền vững kinh tế, xã hội và môi trường như sau.
2.1. Vai trò của Ngân hàng thương mại trong phát triển bền vững kinh tế
Thúc đẩy tiếp cận tín dụng cho Doanh nghiệp vừa và nhỏ (SME)
Các ngân hàng thương mại phối hợp cùng các Bộ, ngành trong việc xây dựng
triển khai các chính sách hỗ trợ Doanh nghiệp vừa nhỏ nhằm đáp ứng kịp thời
nhu cầu vốn sản xuất, kinh doanh, đưa ra nhiều chương trình, sản phẩm ưu tiên, hỗ trợ
cho các khách hàng doanh nghiệp.
Mặc SME những khách hàng tính rủi ro cao với ngân hàng, tuy nhiên
thời gian qua rất nhiều ngân hàng thương mại đã cùng đồng nh chia sẻ khó
khăn cho các SME, nhất trong thời kỳ các doanh nghiệp chịu ảnh hưởng nặng nề
của dịch bệnh. Cụ thể, Ngân hàng Nông nghiệp Phát triển Nông thôn Việt Nam
(Agribank) đã dành 30.000 tỷ đồng cho DNNVV vay với lãi suất từ 4,5%/năm, trong
đó 10.000 tỷ đồng dành cho vay ngắn hạn và 20.000 tỷ đồng dành cho vay trung và dài
hạn. Hay Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam (Vietinbank), với mục tiêu tiếp
sức phục hồi sản xuất cùng các doanh nghiệp xuất nhập khẩu vừa nhỏ, đã nhiều
ưu đãi như: lần đầu sử dụng sản phẩm mua bán ngoại tệ, thanh toán quốc tế tài trợ
thương mại sẽ được nhận ưu đãi về tỷ giá ngoại tệ, miễn/giảm dịch vụ và phí bảo hiểm
hàng hóa vận chuyển…
Thúc đẩy ngân hàng xanh, tín dụng xanh - Ngân hàng tạo hội cho
doanh nghiệp phát triển bền vững
Các NHTM đóng vai trò quyết định trong quá trình chuyển đổi kinh tế thông
qua việc hướng các dòng vốn vào hỗ trợ các mục tiêu phát triển bền vững, áp dụng các
nguyên tắc quản trị rủi ro môi trường hội chặt chẽ hơn trong hoạt động cấp tín
dụng. Một trong những xu hướng phát triển hiện nay đó là "Ngân hàng xanh hướng tới
phát triển bền vững”. Thông qua các chính sách tín dụng của mình như cung cấp vốn
khuyến khích các dự án thân thiện với môi trường, tạo ảnh hưởng thông qua các
hoạt động dịch vụ như vấn đầu tư, các ngân hàng thể cung cấp các công cụ
kiến thức để khuyến khích sự phát triển bền vững.
13
Hình 5: Dư nợ tín dụng xanh giai đoạn 2015-2022
Sự vào cuộc tích cực của các TCTD trong những năm qua giúp dòng vốn tín
dụng xanh nhiều chuyển biến tích cực, nhận được nhiều sự quan tâm hạn mức
đầu ngày càng cao. Số liệu từ Vụ Tín dụng các ngành kinh tế, NHNN cho thấy,
ngày 31/12/2022, nợ cấp tín dụng đối với các dự án xanh đạt 500.524 tỷ đồng
(chiếm hơn 4,2% tổng dư nợ toàn nền kinh tế), tăng 12,96% so với cuối năm 2021, chủ
yếu tập trung vào lĩnh vực nông nghiệp xanh (chiếm 31% tổng nợ tín dụng xanh),
năng lượng tái tạo, năng lượng sạch chiếm 46,7%. nợ được đánh giá rủi ro môi
trường hội đạt hơn 2.359 tỷ đồng, chiếm hơn 20% nợ cho vay của nền kinh
tế, tăng 27,69% so với cuối năm 2021, với hơn 1,2 triệu khoản vay.
2.2. Vai trò của Ngân hàng thương mại trong phát triển bền vững xã hội
Trong nhiều năm qua, thực hiện các đường lối chủ trương của Đảng, Nhà nước
ta trong việc bảo đảm an ninh an sinh hội, các ngân hàng thương mại đã đưa ra
các giải pháp, chương trình tín dụng, chính sách cho vay,... giúp người n dễ dàng
vay vốn, góp phần ngăn chặn “tín dụng đen”; tạo thêm nhiều việc làm, cải thiện đời
sống của người dân. Từ đó, giúp đảm bảo an toàn góp phần giải quyết tốt các vấn
đề xã hội.
Thúc đẩy tài chính toàn diện
Theo World Bank (Ngân hàng Thế giới), tài chính toàn diện (TCTD) là việc các
doanh nghiệp nhân khả năng tiếp cận sử dụng các sản phẩm, dịch vụ tài
chính với mức chi phí hợp lý, ít rào cản pháp lý hơnđược cung cấp theo cách thức
trách nhiệm bền vững. Theo đó, TCTD được tiếp cận hiểu theo nghĩa rộng
hơn so với tài chính. Với xu thế phát triển ngày nay, TCTD ngày càngvị trí vai
trò quan trọng đối với sự phát triển bền vững của quốc gia, mang lại lợi ích to lớn cho
hội nền kinh tế. TCTD đã góp phần xóa đói giảm nghèo; đáp ứng nhu cầu vay
vốn; trợ cấp an sinh hội, đặc biệt những người dân khó khăn, dễ bị tổn thương...
Ngoài ra, TCTD còn giúp giảm chi phí trợ cấp cho Chính phủ, tăng tính công khai,
minh bạch, phòng chống tham nhũng.
14
Với phạm vi hoạt động mạng lưới phân phối rộng, các sản phẩm đa dạng,
ngân hàng thương mại có ảnh hưởng mạnh mẽ đến sự phát triển TCTD ở các quốc gia.
Trong Quyết định số 622/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ: Về việc ban hành Kế
hoạch hành động quốc gia thực hiện Chương trình nghị sự 2030 sự phát triển bền
vững đã quy định rõ nhiệm vụ của Ngành ngân hàng như sau:
(i) Tăng cường năng lực các thể chế tài chính trong nước nhằm khuyến khích và
mở rộng khả năng tiếp cận dịch vụ i chính ngân hàng bảo hiểm cho mọi người
(Mục tiêu 8.10 toàn cầu)
(ii) Tăng khả năng tiếp cận của các doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp
vừa nhỏ, đối với các dịch vụ ngân hàng, bao gồm cả dịch vụ tín dụng trong khả
năng chi trả; tăng cường sự tham gia của doanh nghiệp vào thị trường chuỗi giá trị
(Mục tiêu 9.3.a toàn cầu)
(iii) Đảm bảo tăng cường sự đại diệntiếng nói của Việt Nam trong quá trình
ra quyết định tại các tổ chức quốc tế uy tín để đảm bảo quyền lợi cho các quốc gia
đang phát triển tạo điều kiện thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các quốc gia, cụ
thể: Chủ động tích cực tham gia các hoạt động tăng cường tiếng nói vị thế của
Việt Nam tại các định chế kinh tế, tài chính – tiền tệ khu vực và quốc tế như IMF, WB,
ADB, AIIB, IOSCO, các diễn đàn khu vực, quốc tế về tiền tệ, ngân hàng, chứng
khoán, bảo hiểm trong khuôn khổ ASEAN, ASEAN +3, APEC (Mục tiêu 10.5.c toàn
cầu).
Đầu tư có trách nhiệm với cộng đồng
Nhiều ngân hàng thương mại đã dần chú trọng hơn đến việc tăng cường trách
nhiệm xã hội đối với cộng đồng. Thông qua việc cung ứng tín dụng cho doanh nghiệp
và người dân, ngành ngân hàng đã tạo ra những chuyển biến tích cực cho xã hội, trong
đó có một phần ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển bền vững của hoạt động sản xuất -
kinh doanh. Vì vậy, khi ngân hàng không chỉ theo đuổi các mục tiêu kinh tế, mà còn
chú trọng đến các vấn đề xã hội, môi trường, thì tác động của ngành ngân hàng đến
nền kinh tế, xã hội sẽ mang tính toàn diện và nhân văn hơn.
Hiện nay, tại Việt Nam, đã có khá nhiều ngân hàng quan tâm đến việc thực hiện
CSR như Techcombank đã trao 1,2 tỷ đồng cho Quỹ vì người nghèo và Quỹ phát triển
tài năng thể thao TP.HCM thông qua giải chạy quốc tế TP.HCM - Techcombank 2018;
Ngân hàng Sài Gòn (SCB) ủng hộ 500 triệu đồng vào Quỹ vì người nghèo của Ủy ban
Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và 1 tỷ đồng vào Quỹ vì người nghèo của
TP.HCM, thông qua chương trình “Thành phố nghĩa tình - Kết nối yêu thương” do Ủy
ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam TP.HCM tổ chức…
2.3. Vai trò của Ngân hàng thương mại trong phát triển bền vững môi trường
Trong bối cảnh của Việt Nam, vai trò của ngân hàng thương mại trong phát
triển bền vững môi trường càng trở nên quan trọng bởi những vấn đề môi trường đang
ngày càng trở nên nghiêm trọng cần được giải quyết một cách ưu tiên. Ngân hàng
thương mại đóng góp phát triển ủng hộ nền kinh tế xanh bền vững đầy quan
trọng đối với một nền kinh tế bao gồm như sau:
Thứ nhất, hỗ trợ tài chính cho những dự án xanh nhằm khuyến khích đầu
xanh như ngân hàng thương có thể cung cấp vốn vay với lãi suất ưu đãi cho các dự án
xanh, như dự án năng lượng tái tạo, xử nước thải, công nghệ sạch. Lãi suất thấp
15
hơn thể giúp làm giảm rủi ro tài chính đối với các nhà đầu tăng tính khả thi
của các dự án xanh. Cung cấp vốn tài chính cho doanh nghiệp những dự án
mục tiêu tạo ra giá trị kinh tế đồng thời giảm thiểu tác động tiêu cực lên môi trường từ
đó hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp sẽ trách nhiệm hội môi trường..
Cùng với đẩy mạnh hỗ trợ tài chính cho nghiên cứu phát triển bằng cách cung cấp
vốn đầu cho các hoạt động nghiên cứu phát triển trong lĩnh vực công nghệ xanh
và những giải pháp về vấn đề môi trường. Nhờ vậy có thể giúp tăng cường sự sáng tạo
và phát triển các giải pháp mới cho các vấn đề môi trường.
Thứ hai, hỗ trợ các doanh nghiệp/tập đoàn áp dụng công nghệ xanh nhằm giảm
khí thải ra môi trường như ngân hàng thương thể cung cấp vốn vay với lãi suất ưu
đãi hoặc các gói tài chính đặc biệt cho các doanh nghiệp/tập đoàn muốn đầu vào
công nghệ xanh. Vốn vay y thể được s dụng để mua các thiết bị, công nghệ,
hoặc thực hiện các dự án nhằm giảm khí thải ra môi trường.
Thứ ba, đầu vào các dự án về năng lượng tái tạo bằng cách hỗ trợ vấn
đánh giá dự án cung cấp dịch vụ tư vấn và đánh giá về tính khả thi và hiệu quả kinh tế
của các dự án năng lượng tái tạo nhằm giúp các doanh nghiệp tổ chức hiểu hơn
về lợi ích tiềm năng của việc đầu vào năng lượng tái tạo. Bên cạnh đó cung cấp
vốn vay với lãi suất ưu đãi cho các dự án năng lượng tái tạo nhằm giảm thiểu rủi ro tài
chính làm tăng tính khả thi của những dự án này. Ngoài ra, ngân hàng thương mại
có thể tổ chức các chương trình khuyến mãi và khuyến khích đối với các nhà đầu tư và
doanh nghiệp tham gia vào các dự án năng lượng tái tạo.
Cuối cùng, thúc đẩy tài chính xanh xây dựng hệ thống thanh toán của Ngân
hàng thân thiện với môi trường. Bằng cách có thể phát triển các sản phẩm tài chính đặc
biệt như vay vốn xanh, trái phiếu xanh, hoặc quỹ đầu tư xanh để hỗ trợ cho các dự án
xanh. Các sản phẩm nàythể đi kèm với các điều khoản điều kiện hỗ trợ cho các
dự án có ảnh hưởng tích cực đến môi trường. Đồng thời, đẩy mạnh xây dựng hệ thống
thanh toán thân thiện với môi trường như chuyển đổi dần sang thanh toán điện tử bằng
thanh toán qua thẻ ngân hàng, điện tử, các ứng dụng thanh toán trực tuyến giúp
giảm sử dụng tiền mặt giảm lượng giấy tờ tiêu thụ. Nhờ đó ngân hàng thương
mại góp phần giúp giảm lượng rác thải giấy tiền xu, đồng thời giảm tác động đến
môi trường từ việc sản xuất, vận chuyển, xử tiền mặt. Bắt đầu áp dụng những
công nghệ mới như sử dụng công nghệ blockchain áp dụng trong hệ thống thanh toán
chuyển tiền để tăng tính minh bạch giảm thiểu rủi ro gian lận. Nhờ sử dụng
blockchain thể giúp giảm thiểu cần thiết phải các bên trung gian, giảm thiểu số
lượng giao dịch không cần thiết tiêu hao năng lượng, cũng như giảm thiểu lượng
giấy tờ tiêu thụ. Mặt khác, các hệ thống thanh toán chuyển tiền thể được nâng
cấp để sử dụng nguồn năng lượng tái tạo như năng lượng mặt trời gió giúp giảm
lượng khí thải carbon từ hoạt động của hệ thống đóng góp vào việc giảm biến đổi
khí hậu.
16
Phần 3: Tác động của xu hướng phát triển kinh tế bền vững tới hoạt động kinh
doanh của MB Bank
3.1. Tổng quan về MB Bank
Lịch sử hình thành và phát triển của ngân hàng MB Bank
MB Bank - Ngân hàng thương mại cổ phần Quân đội với tên đầy đủ bằng tiếng
anh là Military Commercial Joint stock Bank được thành lập vào ngày 4 tháng 11 năm
1994. Trụ sở chính tại tòa nhà MB, số 18 Văn Lương, Phường Trung Hòa, Quận
Cầu Giấy, Thành phố Hà Nội, Việt Nam. Đến nay, MB có 01 trụ sở chínhhơn 300
điểm giao dịch, bao gồm 296 điểm giao dịch trong nước, 03 chi nhánh nước ngoài tại
Lào và Campuchia và 01 văn phòng đại diện tại Nga.
Nguồn: Baocaothuongnien_2021
Hình 6: Điểm giao dịch MB Bank tại 3 khu vực trên toàn quốc
Sứ mệnh "Vì sự phát triển của đất nước, vì lợi ích của khách hàng" và tầm nhìn
"Trở thành một Ngân hàng thuận tiện nhất với khách hàng" của MB Bank hai cam
kết quan trọng định hình hành động và phát triển của ngân hàng. Trải qua hơn 29 năm
hoạt động, MB đã ghi dấu ấn trong thị trường tài chính bằng tốc độ tăng trưởng vững
vàng mạnh mẽ, MB khẳng định vị thế luôn nằm trong top các ngân hàng hàng đầu
Việt nam về hiệu quả kinh doanh. Cụ thể như sau:
Giai đoạn 1994 - 2004
17
Ngày 4/11/1994, Ngân hàng thương mại cổ phần Quân đội (MB) đi vào hoạt
động tại trụ sở 28A Điện Biên Phủ, Ba Đình, Nội với số vốn gầngày 20 tỷ đồng,
25 cán bộ nhân viên. Trong thời kỳ này, MB đã mạnh mẽ vượt qua khủng hoảng tài
chính Châu Á vào năm 1997 trở thành ngân hàng cổ phần duy nhất lãi. Năm
2000, MB thành lập hai đơn vị Công ty TNHH Chứng khoán Thăng Long (nay
Công ty CP Chứng khoán Ngân hàng TMCP Quân Đội MBS) Công ty Quản nợ
và Khai thác tài sản Ngân hàng TMCP Quân Đội (MBAMC). Năm 2003, MB đã triển
khai một kế hoạch cải tổ toàn diện về hệ thống nhân lực của mình. Năm 2004
một mốc thời gian đánh dấu 10 năm hình thành và phát triển, tổng vốn huy động tăng
511 lần, tổng vốn chủ sở hữu tăng 26 lần, tổng tài sản đạt 7.000 tỷ đồng, lợi nhuận trên
100 tỷ đồng và MB đã đi vào lịch sử là ngân hàng đầu tiên thực hiện việc phát hành cổ
phần thông qua đấu giá ra công chúng, với tổng mệnh giá là 20 tỷ đồng.
Giai đoạn 2005 - 2009
Trong giai đoạn 2005-2009, MB tập trung cao cho chiến lược tăng cường nhân
sự, mở rộng kinh doanh, đổi mới công nghệ, xây dựng thương hiệu, phát triển mạng
lưới, nâng cao chất lượng dịch vụ, tăng cường hợp tác với các đối tác trong ngoài
nước,... Năm 2005 cũng là một năm thành công với thương hiệu MB với việc đoạt giải
thương hiệu mạnh năm 2005 do Thời báo kinh tế phối hợp với Cục Xúc Tiến Thương
Mại (Bộ Thương mại) tổ chức. MB còn kết thỏa thuận ba bên với Vietcombank
Viettel - tập đoàn viễn thông quân đội, nhằm thúc đẩy quá trình thanh toán cước viễn
thông của Viettel, đồng thời đạt thỏa thuận hợp tác với Citibank. Năm 2006 lần lượt
triển khai hai dịch vụ tiện ích miễn phí dành cho khách hàng Mobile Banking
Internet Banking. Năm 2007 MB có các chỉ tiêu kinh doanh tăng trưởng vượt bậc, liên
tục nhận được các giải thưởng về thương hiệu triển khai thành công dự án hiện đại
hóa công nghệ thông tin Core T24 của tập đoàn Temenos (Thụy Sĩ). thể khẳng
định rằng, giai đoạn này đã tạo ra nền tảng vững chắc cho MB để thúc đẩy triển khai
các sáng kiến chiến lược trong tương lai, đồng thời đóng góp vào việc biến MB trở
thành một trong những định chế tài chính hàng đầu tại Việt Nam hiện nay. Năm 2008,
MB tiền hành tái cơ cấu tổ chức và tập đoàn viễn thông quân đội Viettel chính thức trở
thành cổ đông chiến lược. Năm 2009, MB tự hào nhận được Huân chương Lao động
Hạng Ba từ tay Chủ tịch nước, đánh dấu 15 năm tiến bộ và phát triển.
Giai đoạn 2010 - 2016
Năm 2010, MB đã đánh dấu một giai đoạn mới với những thành công mới vững
vàng vị trí một trong năm ngân hàng TMCP hàng đầu Việt Nam. MB chủ trương
nghiên cứu mục tiêu chiến lược phát triển 2011-2015, hình tổ chức kinh doanh
triển khai chiến lược phía Nam và miền Trung- Tây Nguyên. Năm 2011, MB đã thành
công trong quá trình niêm yết cổ phiếu trên Sở giao dịch chứng khoán Tp. HCM
(HSX), bắt đầu từ ngày 1/11/2011. Trong bối cảnh nền kinh tế diễn biến không thuận
lợi, ngành ngân hàng hoạt động khó khăn, MB vẫn duy trì sự kiên định với chiến lược
phát triển bền vững, an toàn. Dấu ấn rệt nhất của MB trong giai đoạn này việc
bức phá lên vị trí đầu bảng trong 3 năm liên tục 2012, 2013 và 2014. Với những thành
tựu đáng kể, năm 2014, MB vinh dự đón nhận Huân chương Lao động Hạng Nhất. Sau
đó, năm 2015, tiếp tục được phong tặng danh hiệu Anh Hùng Lao động.
Giai đoạn 2017 - 2021
18
Năm 2017 là một năm quan trọng khi MB chính thức triển khai chiến lược phát
triển giai đoạn 2017-2021 với phương châm “Tăng trưởng đột phá, Hiệu quả- An
toàn”. Mục tiêu của chiến lược này là đạt vị thế trong Top 5 hệ thống Ngân hàng Việt
Nam về hiệu quả kinh doanh an toàn, đồng thời dẫn đầu trong quá trình số hóa.
Trong các năm này, gặp nhiều khó khăn bởi căng thẳng thương mại giữa Mỹ
Trung Quốc giai đoạn 2016-2021 hay đại dịch Covid- 19 toàn cầu, việc MB có sự tăng
trưởng mạnh mẽ trong hoạt động kinh doanh, hoàn thành xuất sắc các nhiệm vụ, chỉ
tiêu đề ra một kết quả ấn tượng. Năm 2018, MB xếp vị trí thứ 3 trong các ngân
hàng Việt Nam và lọt Top 500 ngân hàng mạnh nhất thuộc khu vực châu Á -Thái Bình
Dương (theo đánh giá của The Asian Banker năm 2018). Năm 2019 tạo dấu ấn kỷ
niệm 25 năm thành lập MB vinh dự đón nhất huân chương bảo vệ Tổ quốc hạng nhất
công bố hệ thống nhận diện thương hiệu mới, lột xác thành một ngân hàng năng
động, trẻ trung. Năm 2020, MB khai trương bắt đầu hoạt động trụ sở mới tại số 18
Văn Lương, Trung Hòa, Cầu Giấy, Nội, đồng thời, MB còn nhận được sự tặng
cờ thi đua dẫn đầu trong cuộc thi đua của ngành Ngân hàng từ Thủ tướng Chính phủ.
MB tự hào tiếp tục nằm trong Top doanh nghiệp đạt lợi nhuận trên 10.000 tỷ đồng,
Top 5 các Ngân hàng tốt nhất Việt Nam, Top 1 về lợi nhuận kinh doanh ngoại tệ Spot
& Swap trong nhóm Ngân hàng TMCP.
Giai đoạn 2022 - hiện nay
Năm 2022, nền kinh tế toàn cầu còn nhiều bất ổn như xung đột Nga-Ukraine đi
kèm với Mỹ châu u tăng cường các biện pháp cấm vận Nga, đặc biệt các thách
thức và cơ hội khi thế giới bước vào kỷ nguyên cách mạng 4.0, MB đã đạt được nhiều
dấu ấn đáng tự hào. Theo đó MB tiếp tục giữ vững vị thế tiên Phong về chuyển đổi số
trong ngành Tài chính - Ngân hàng, Top 5 về lợi nhuận, Top đầu về tỷ suất sinh lời
trên vốn và Top đầu về các chỉ số an toàn, chất lượng tín dụng. Không những thế, MB
liên tục đạt được các thành công trong chuyển đổi số như Top 1 ứng dụng ngân hàng
được tải nhiều nhất trên App Store, Top 10 ứng dụng được yêu thích trên App Store,....
Nỗ lực chuyển đổi số của MB đã được ghi nhận thông qua một cú nhảy vọt đáng chú ý
về quy mô khách hàng. Đến năm 2023, MB đã đạt được con số 26,5 triệu khách hàng,
tăng gấp 8 lần so với năm 2017. Điều này không chỉ là một thành tựu ấn tượng mà còn
là minh chứng cho sự thành công trong chiến lược chuyển đổi số của MB.
3.2. Tác động của xu hướng phát triển kinh tế bền vững tới hoạt động kinh doanh
của MB Bank
3.2.1. Những hoạt động của kinh doanh của MB dưới tác động của phát triển
kinh tế bền vững
Hiện nay, việc đổi mới phát triển kinh tế cùng quan trọng cấp thiết
nhưng chỉ vậy là chưa đủ. Đối với Việt Nam- một nước bị ảnh hưởng nặng nề bởi biến
đổi khí hậu toàn cầu thì việc phát triển đó phải đi đôi với bảo vệ tài nguyên môi
trường. Để có thể thực hiện được sứ mệnh đó, các ngân hàng tại Việt Nam đã và đang
hướng tới những mục tiêu phát triển về phát triển kinh tế bền vững. Trước đó thì trong
định hướng phát triển 2012-2030, Chính phủ của Việt Nam cũng đã phê duyệt bắt
đầu thực hiện chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh chiến lược phát triển ngân
hàng định hướng phát triển tín dụng xanh, ngân hàng xanh.
19
Nhận định về tương lai của chuyển đổi xanh, C.E.O của MBBank Phạm Như
Ánh đã nhấn mạnh vai trò quan trọng của các tiêu chí Môi trường, hộiQuản trị
(ESG) trong quản trị doanh nghiệp: "ESG sẽ không chỉ là lựa chọn mà trở thành yếu tố
sống còn trong tương lai". Từ nhận thức ràng về tầm quan trọng của ESG, MB đã
thiết lập khung tiêu chuẩn ESG (Môi trường, hội, Quản trị), tuân thủ nghiêm
ngặt các chuẩn mực quốc tế, bao gồm việc xây dựng các kịch bản quản rủi ro liên
quan đến môi trường, tích hợp chặt chẽ quản rủi ro khí hậu vào hoạt động kinh
doanh, cũng như đầu vào sở hạ tầng công nghệ hiện đại hỗ trợ quản trị vận
hành theo tiêu chuẩn ESG. (Theo tạp chí điện tử pháp lý, 2023)
Tín dụng xanh tại ngân hàng quân đội MB
MB hướng đến mục tiêu tiên phong trong công cuộc "xanh hóa" nguồn tín
dụng. Cụ thể, năm 2017-2018, Mb đã tiên phong cho vay dự án năng lượng tái tạo
trong khi tại thời điểm đó các dự án về năng lượng tái tạo, điện gió, điện mặt trời
những lĩnh vực mới ở Việt Nam chính vì vậy mà đem đến rất nhiều mối lo ngại về rủi
ro biên lợi nhuận mỏng cho vay lãi suất thấp. Tuy nhiên qua nghiên cứu tìm
hiểu MB đánh giá đây những dự án góp phần tích cực cho hội nên đã tự tin bắt
tay hợp tác.
Tính đến cuối năm 2022, tỷ trọng dư nợ cho vay các dự án của MB đã tăng gấp
2,5 lần so với năm 2020.Trong đó, vốn tài trợ cho các dự án năng lượng tái tạo, năng
lượng sạch chiếm tới hơn 90% hầu như toàn bộ là vốn cho vay trung dài hạn, đánh
dấu sự chuyển đổi định hướng tín dụng theo hướng bền vững tại MB. Đặc biệt, ngân
hàng quân đội cũng đã những quy định cụ thể cho Quỹ thực hiện quảnrủi ro về
môi trường trong các hoạt động tín dụng của mình.
Tính tới hiện tại, MB đang cung cấp tài chính cho hơn 30 dự án điện mặt trời và
điện gió với tổng quy vào khoảng 70.000 tỷ đồng, giúp các chủ đầu tạo ra
khoảng 3.600 MW điệnng lượng tái tạo, góp phần gia tăng nguồn năng lượng sạch
đáp ứng nhu cầung trưởng bền vững của nền kinh tế. Các dự án năng lượng tái tạo
với những nhà đầu thương hiệu uy tín tại các khu vực Nam Trung Bộ, Tây
Nguyên và Tây Nam Bộ… đều đang sự góp sức từ dòng tín dụng do MB cung cấp
và thu xếp.
20

Preview text:

HỌC VIỆN NGÂN HÀNG KHOA NGÂN HÀNG ----- -----  BÀI TẬP LỚN
HỌC PHẦN: NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
Đề tài: “Đánh giá vai trò của các Ngân hàng thương mại
trong việc hỗ trợ phát triển kinh tế bền vững và phân tích
tác động của xu hướng này tới hoạt động kinh doanh của
Ngân hàng TMCP Quân Đội - MB Bank”
Giảng viên: Nguyễn Thị Diễm Hương Nhóm 5:
Nguyễn Trần Vân Anh 25A4051652 Phạm Thảo Anh 25A4052017 Trần Hương Giang 25A4052334
Trần Thị Hương Lan 25A4050369 Nguyễn Ngọc Minh 25A4050655 Đồng Thị Thúy 25A4051292
Hà Nội, ngày 27 tháng 4 năm 2024 1
BẢNG PHÂN CÔNG NHIỆM VỤ STT Mã sinh viên Họ và tên Phân công % Đóng góp 1 25A4051652 Nguyễn Trần Vân Anh Phần 3 (3.2+3.3) 2 25A4052017 Phạm Thảo Anh Phần 1 3 25A4052334 Trần Hương Giang(NT) Phần 2 4 25A4050369 Trần Thị Hương Lan Phần 2 5 25A4050655 Nguyễn Ngọc Minh Phần 3 (3.1) + Mở đầu +
Kết luận + Tổng hợp word 6 25A4051292 Đồng Thị Thúy Phần 3 (3.2+3.3) 2 MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU...............................................................................................................5
PHẦN NỘI DUNG........................................................................................................6
Phần 1: Sự cần thiết và xu hướng phát triển kinh tế bền vững trên thế giới và Việt
Nam gần đây...............................................................................................................6
1.1. Tổng quan về phát triển kinh tế bền vững........................................................6
1.2. Sự cần thiết của phát triển kinh tế bền vững hiện nay......................................7
1.3. Xu hướng phát triển kinh tế bền vững gần đây.................................................7
1.3.1. Trên thế giới...............................................................................................7
1.3.2. Tại Việt Nam............................................................................................10
Phần 2: Vai trò của Ngân hàng thương mại trong việc hỗ trợ phát triển kinh tế bền
vững.........................................................................................................................13
2.1. Vai trò của Ngân hàng thương mại trong phát triển bền vững kinh tế............13
2.2. Vai trò của Ngân hàng thương mại trong phát triển bền vững xã hội.............14
2.3. Vai trò của Ngân hàng thương mại trong phát triển bền vững môi trường.....15
Phần 3: Tác động của xu hướng phát triển kinh tế bền vững tới hoạt động kinh doanh
của MB Bank............................................................................................................17
3.1. Tổng quan về MB Bank.................................................................................17
3.2. Tác động của xu hướng phát triển kinh tế bền vững tới hoạt động kinh doanh
của MB Bank........................................................................................................19
3.2.1. Những hoạt động của kinh doanh của MB dưới tác động của phát triển
kinh tế bền vững................................................................................................19
3.2.2. Tác động tích cực.....................................................................................23
3.2.3 Tác động tiêu cực......................................................................................24
3.3. Giải pháp của MB Bank để thúc đẩy phát triển kinh tế bền vững..................24
KẾT LUẬN.................................................................................................................28
TÀI LIỆU THAM KHẢO...........................................................................................29 3 DANH MỤC HÌNH ẢNH
Hình 1: Tăng trưởng toàn cầu năm 2022, ước đạt năm 2023 và dự báo năm 2024 của
các tổ chức quốc tế....................................................................................9
Hình 2: Ước đạt tăng trưởng của khu vực đồng Euro năm 2023 và dự báo tăng trưởng
năm 2024 theo các tổ chức quốc tế................................................................9
Hình 3: Ước tính tăng trưởng của Việt Nam năm 2023 và dự báo tăng trưởng năm
2024 theo một số tổ chức quốc tế................................................................10
Hình 4: Số lao động có việc ở Việt Nam làm quý III và quý IV, giai đoạn 2019-2022
..........................................................................................................11
Hình 5: Dư nợ tín dụng xanh giai đoạn 2015-2022..........................................14
Hình 6: Điểm giao dịch MB Bank tại 3 khu vực trên toàn quốc...........................17
Hình 7: Những đóng góp tiêu biểu mang dấu ấn "xanh" của MB trong năm 2022....22
Hình 8: Thành tựu của MB trong công cuộc chuyển đổi số................................24 4 LỜI MỞ ĐẦU
Trong quá trình phát triển của thế giới, sự phát triển kinh tế đã trở thành một
trong những mục tiêu quan trọng của mỗi khu vực và quốc gia. Tuy nhiên, thực tế
đang cho thấy việc tăng trưởng kinh tế không đi đôi với tăng cường việc khai thác sử
dụng nguồn tài nguyên hợp lý và thúc đẩy tái tạo năng lượng một cách bền vững. Sự
cạn kiệt ngày càng nhiều các nguồn tài nguyên không tái tạo, biến đổi khí hậu, giảm đa
dạng sinh học và tình trạng ô nhiễm môi trường đang đẩy chúng ta đứng trước nguy
hiểm. Mỗi tác động tăng trưởng kinh tế thiếu cân nhắc có thể gây mất cân bằng sinh
thái hơn thế còn đe dọa đến trật tự an sinh xã hội.Trong bối cảnh tình hình xung đột
chính trị diễn ra gay gắt cũng như ảnh hưởng của Đại dịch Covid 19 đã tác động tới
mục tiêu phát triển bền vững giai đoạn 2021-2030. Điều này đặt ra yêu cầu phải có sự
điều tiết hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế, bảo đảm an ninh xã hội và bảo vệ môi
trường. Phát triển bền vững, đặc biệt là với nền kinh tế xanh, đang trở thành một
nhiệm vụ quan trọng và cấp thiết trên toàn thế giới. Tại Việt Nam, phát triển kinh tế
bền vững cũng là mục tiêu thiên niên kỷ của quốc gia. Bên cạnh đó, với vai trò cung
ứng và điều chuyển vốn cho nền kinh tế, ngân hàng thương mại đã đóng góp vai trò to
lớn trong quá trình này cùng các chính sách an toàn, hấp dẫn góp phần xây dựng một
tương lai tốt đẹp hơn cho thế hệ tương lai.
Nhận thấy tầm quan trọng của việc phát triển nền kinh tế bền vững, nhóm
chúng em quyết định tìm hiểu đề tài: “Đánh giá vai trò của các Ngân hàng thương mại
trong việc hỗ trợ phát triển kinh tế bền vững và phân tích tác động của xu hướng này
tới hoạt động kinh doanh của Ngân hàng TMCP Quân Đội - MB Bank”. 5 PHẦN NỘI DUNG
Phần 1: Sự cần thiết và xu hướng phát triển kinh tế bền vững trên thế giới và Việt Nam gần đây
1.1. Tổng quan về phát triển kinh tế bền vững

Khái niệm: Có rất nhiều định nghĩa để nói về phát triển bền vững, chúng ta có
thể hiểu đó là một sự phát triển về mọi mặt trong xã hội hiện tại mà vẫn phải đảm bảo
tiếp tục phát triển trong tương lai xa. Hay nói các khác, phát triển bền vững là việc đáp
ứng được nhu cầu của hiện tại mà bảo đảm không gây tổn hại đến lợi ích của thế hệ sau.
Mục tiêu phát triển bền vững: Phát triển bền vững phải dựa trên cơ sở kết hợp
chặt chẽ, hài hoà để vận hành đồng thời ba lĩnh vực then chốt đó là: Kinh tế, xã hội và
môi trường. Các tiêu chí đánh giá mức độ phát triển kinh tế nhanh, bền vững có thể
chia thành ba bình diện như sau:
Về kinh tế: Kinh tế tăng trưởng ở mức ổn định, nền kinh tế vĩ mô được cân
bằng, thúc đẩy khả năng tăng trưởng của nền kinh tế.
Về xã hội: Đảm bảo một xã hội công bằng, văn minh, khuyến khích tạo việc
làm cho người lao động, nâng cao hiểu biết và khả năng tiếp cận các dịch vụ công của người dân.
Về môi trường: Khai thác, sử dụng có hiệu quả các nguồn tài nguyên thiên
nhiên, chuyển dần sang nguồn năng lượng tái tạo, năng lượng xanh. Đồng thời đẩy
mạnh sản xuất và tiêu dùng xanh, bền vững.
Rào cản phát triển kinh tế bền vững
Về thể chế và công cụ kinh tế: Chính sách chưa chặt chẽ, cơ chế chính sách còn
thiếu đồng bộ, các công cụ kinh tế chưa mang tính khuyến khích người dân và doanh
nghiệp buộc phải tuân thủ theo mô hình phát triển kinh tế bền vững.
Tỷ lệ thất nghiệp: Tiếp cận việc làm, cơ hội kinh tế và giáo dục chất lượng là rất
quan trọng để xóa đói giảm nghèo. Các chương trình phát triển bền vững phải tạo ra
những cơ hội bình đẳng và giải quyết những nguyên nhân gốc rễ của vấn đề quan
trọng này. Hiện nay, tỷ lệ thất nghiệp toàn cầu đã giảm đáng kể tuy nhiên, tỷ lệ thất
nghiệp ở thanh niên tiếp tục cao hơn nhiều so với tỷ lệ ở người trưởng thành, cho thấy
những thách thức đang diễn ra trong việc đảm bảo cơ hội việc làm cho thanh niên.
Nguồn lực tài chính: Để theo đuổi mục tiêu phát triển bền vững trong đó có
phát triển kinh tế thì nguồn tài chính mà các quốc gia phải chi ra là không hề nhỏ. Thế
nhưng, trong giai đoạn kinh tế đang có sự biến động thì việc huy động và sử dụng
nguồn lực tài chính chưa thực sự hiệu quả. Điều này có thể tác động đến những nỗ lực
phát triển bền vững. Những thách thức kinh tế ở một khu vực có thể gây ra hậu quả
gián tiếp cho các quốc gia khác. Huy động các nguồn lực và đảm bảo tài chính cho các
sáng kiến phát triển bền vững là một thách thức lớn. Ngoài ra, khả năng tiếp cận hạn
chế với nguồn tài chính hợp lý và cơ chế tài chính không đầy đủ có thể cản trở việc
thực hiện các dự án bền vững, đặc biệt là ở các quốc gia đang phát triển.
Về Chính phủ: một số chính phủ ưu tiên lợi ích kinh tế ngắn hạn hơn các mục
tiêu bền vững dài hạn, đặc biệt nếu họ phụ thuộc nhiều vào các ngành công nghiệp 6
nhiên liệu hóa thạch truyền thống. Các đảng phái chính trị và áp lực của các bên liên
quan có thể tạo ra trở ngại cho việc thực hiện các chính sách phát triển bền vững.
Sự căng thẳng về chính trị cũng làm ảnh hưởng đến việc phát triển kinh tế bền
vững, thu hẹp sự ngoại thương giữa các quốc gia, hạn chế chuỗi cung ứng hàng hoá,
dịch vụ xuyên biên giới, làm tăng áp lực thương mại- đầu tư toàn cầu.
1.2. Sự cần thiết của phát triển kinh tế bền vững hiện nay
Phát triển kinh tế bền vững đang dần trở thành nhiệm vụ cấp bách và quan trọng
hàng đầu của mỗi quốc gia.
Bảo vệ môi trường: Nền kinh tế dựa phần nhiều vào thương mại, phần lớn phụ
thuộc vào tài nguyên thiên nhiên để sản xuất hàng hoá hoặc cung cấp dịch vụ. Tuy
nhiên, việc gia tăng dân số làm cho sự cạnh tranh về nguồn tài nguyên ngày một giảm,
đồng thời những thách thức phát sinh từ biến đổi khí hậu như: Hạn hán, lũ lụt đi kèm
với nhiệt độ tăng đang ảnh hưởng lớn đến người dân trên toàn thế giới, làm gia tăng
nghèo đói, bất ổn… Phát triển kinh tế bền vững đặt mục tiêu bảo vệ môi trường vào
trung tâm, giúp giảm thiểu tác động tiêu cực đến môi trường, bảo vệ nguồn tài nguyên,
đảm bảo sự linh hoạt và khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu bằng cách giảm thiểu
khí thải và đầu tư vào năng lượng tái tạo và công nghệ sạch.
Tăng cường công bằng xã hội: Phát triển kinh tế bền vững nhấn mạnh vào việc
tạo ra cơ hội công bằng cho tất cả các cá nhân và cộng đồng, giảm bớt bất bình đẳng
và tăng cường sự tham gia của tất cả các giai tầng trong xã hội, hay nói cách khác là
huy động được tối đa nguồn lực lao động, giúp mang lại công ăn việc làm cho mọi người.
Đảm bảo an sinh: Một nền kinh tế được phát triển theo hướng bền vững không
chỉ thể hiện ở mức tăng lên của GDP mà còn được phản ánh thông qua chất lượng và
tiêu chuẩn sống của người dân ngày một tốt hơn, họ được nâng cao về nhận thức và kỹ
năng chuyên môn. Qua đó mà an sinh xã hội được cải thiện, phát triển và văn minh hơn.
Sự ổn định dài hạn: Phát triển kinh tế bền vững luôn hướng đến việc xây dựng
nền kinh tế mạnh mẽ và ổn định trong thời gian dài hạn, giảm thiểu rủi ro cho các
doanh nghiệp và cá nhân, từ đó tạo ra môi trường thuận lợi để khuyến khích các nhà
đầu tư địa phương và quốc tế cam kết vào các dự án lâu dài.
1.3. Xu hướng phát triển kinh tế bền vững gần đây 1.3.1. Trên thế giới
Nhận thức được tầm quan trọng của phát triển kinh tế bền vững, một số nước
trên thế giới đã áp dụng những xu hướng xanh nhằm thúc đẩy sự tăng trưởng của nền
kinh tế. “Chương trình nghị sự 2030” vì sự phát triển bền vững của Liên hợp quốc có
tác động lớn đến phương thức tăng trưởng, hợp tác kinh tế, thương mại, đầu tư toàn
cầu. Năng lượng tái tạo, năng lượng xanh được dự đoán sẽ dẫn đầu xu thế trong tương lai gần. 
Kinh tế tuần hoàn gắn với phát triển bền vững
Khi nguồn tài nguyên ngày càng cạn kiệt cũng là lúc tiếng chuông cảnh tỉnh
đến ý thức của con người càng rõ rệt. Người ta bắt đầu chú trọng vào nền kinh tế tuần
hoàn. Trong những năm gần đây, một số quốc gia đã áp dụng công nghệ tái sử dụng 7
các nguồn tài nguyên một cách hiệu quả thông qua đẩy mạnh phát triển kinh tế tuần
hoàn như: Hà Lan, Anh, Thuỵ Điển, Pháp, Ireland,...
Tại châu Âu, lợi ích mà kinh tế tuần hoàn có thể mang lại là khoảng 600 tỷ
EURO mỗi năm, tạo ra 580 nghìn việc làm mới và giúp giảm phát thải nhà khí.
Mỗi năm, Ireland sử dụng hơn 100 triệu tấn vật liệu và quá nhiều chất thải từ
việc này thường được đưa vào bãi rác hoặc lò đốt chỉ sau một thời gian ngắn sử dụng.
Tuy nhiên, khi chương trình Kinh tế Tuần hoàn của Ireland được tổ chức đã tạo động
lực thúc đẩy quốc gia này chuyển sang nền kinh tế tuần hoàn. Chương trình này được
thành lập vào năm 2021 và do EPA lãnh đạo. Đây là sự kết hợp và xây dựng dựa trên
Chương trình ngăn chặn chất thải quốc gia trước đây để hỗ trợ các chương trình chiến
lược, cấp quốc gia nhằm ngăn chặn chất thải và thúc đẩy nền kinh tế tuần hoàn ở
Ireland. Mục tiêu của chương trình hướng đến nền kinh tế tuần hoàn đảm bảo rằng mọi
người sử dụng ít tài nguyên hơn và ngăn ngừa lãng phí để đạt được tăng trưởng kinh tế
bền vững. Theo đó, các sản phẩm được sử dụng chúng một cách tận dụng nhất có thể,
chia sẻ các vật phẩm với người khác để tái sử dụng và tăng mức độ tái chế để ít nhất
khôi phục lại giá trị của vật liệu được sử dụng để tạo ra các sản phẩm này.
Mặc dù là một nước đã duy trì tốc độ phát triển nhanh chóng, GDP liên tục
được nâng cao, thế nhưng Trung Quốc cũng đang phải đối mặt với nhiều thách thức
như việc sử dụng tài nguyên thiên nhiên không hợp lý và suy giảm môi trường dẫn đến
bất bình đẳng xã hội hay mức độ phát thải nhà kính tăng nhanh… Điều đó đặt ra cho
Chính phủ nước này cần có những giải pháp kịp thời để giúp quốc gia tăng trưởng bền
vững. Theo đó, Trung quốc đã tiến hành mô hình phát triển nền kinh tế carbon thấp.
Với cách thức này, Trung Quốc đẩy mạnh sự phát triển đường sắt trong nội đô thành
phố và đường cao tốc giữa các thành phố nhằm thiết lập nên các hệ thống giao thông
đa chiều, đầu tư các loại xe, phương tiện thải ra lượng carbon thấp như xe điện, phát
triển các nhiên liệu sinh học cho công tác đẩy mạnh phát triển giao thông công cộng;
hạn chế sự gia tăng của các phương tiện cá nhân. Bên cạnh đó, tối ưu hóa cơ cấu năng
lượng như giảm tỷ lệ sử dụng than, phát triển nhà máy điện không sử dụng nhiên liệu
hóa thạch nữa mà chuyển đổi sang sử dụng các dạng năng lượng tái tạo bền vững như
năng lượng mặt trời, năng lượng gió, thuỷ điện… 
Kinh tế số phát triển mạnh mẽ
Hầu hết các nền kinh tế lớn trên thế giới đều đồng đưa ra các chiến lược tăng
trưởng kinh tế gắn với sự phát triển của công nghệ số. Australia là một trong những
quốc gia tiên phong trong việc chuyển đổi từ thanh toán truyền thống sang sử dụng
thanh toán số và các dịch vụ tài chính công nghệ. Hệ thống thanh toán như Afterpay và
các ứng dụng ngân hàng trên điện thoại di động đang trở thành phổ biến và được ưa
chuộng. Tại Mỹ - nơi bắt nguồn của sự bùng nổ công nghệ tin học với nhiều công ty
nổi tiếng như: Apple, Google, Facebook,... đã nhận định đúng về tầm quan trọng của kinh tế số. 
Kinh tế thế giới sẽ được ổn định
Phát triển kinh tế “xanh” sẽ mang đến tác động tích cực cho nền kinh tế thế giới
nói chung, mở ra cơ hội hợp tác thương mại, đầu tư toàn cầu chất lượng và bền vững. 8
Nguồn: EU, IMF, OECD, UN và WB
Hình 1: Tăng trưởng toàn cầu năm 2022, ước đạt năm 2023 và dự báo năm
2024 của các tổ chức quốc tế
Sự tăng trưởng năm 2024 của các nền kinh tế lớn dự báo giảm nhẹ và đạt 1,5%
với sự phục hồi ở khu vực đồng Euro và tăng trưởng vừa phải ở Mỹ. Thị trường mới
nổi và các nền kinh tế đang phát triển dự báo tăng trưởng ổn định ở mức 4,1% trong
năm 2024, nhưng khác nhau theo các khu vực.
Nguồn: IMF, OECD, UN, WB
Hình 2: Ước đạt tăng trưởng của khu vực đồng Euro năm 2023 và dự báo tăng
trưởng năm 2024 theo các tổ chức quốc tế 9
Như vậy, ba tổ chức quốc tế bao gồm OECD, WB và IMF nhận định tăng
trưởng kinh tế của khu vực đồng Euro dự báo sẽ phục hồi từ mức tăng trưởng thấp,
ước đạt khoảng 0,5% năm 2023 lên mức 0,6% – 0,9%, riêng UN dự báo tăng trưởng
GDP khu vực đồng Euro đạt 1,1% năm 2024.
1.3.2. Tại Việt Nam
Quan điểm “Phát triển nhanh và bền vững là chủ trương xuyên suốt trong chiến
lược phát triển kinh tế” tiếp tục được Việt Nam khẳng định. Phát triển kinh tế bền
vững ở Việt Nam luôn dành được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước với quyết tâm
đổi mới mô hình tăng trưởng từ chiều rộng sang chiều sâu gắn với năng suất lao động,
khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo trong thời kỳ mới.
Kết quả nhận được thông qua việc thực hiện một số chỉ tiêu phát triển kinh tế
bền vững của Việt Nam trong giai đoạn qua: Việt
Nam xếp thứ 69/190 về môi trường
kinh doanh theo đánh giá của Ngân hàng Thế giới VB năm 2018, xếp thứ 54/162 quốc
gia lọt vào Top 30% quốc gia dẫn đầu về phát triển bền vững ( chỉ xếp sau Thái Lan trong ASEAN ) 
Về quy mô và tốc độ tăng trưởng
Mặc dù Việt Nam xây dựng Chiến lược phát triển giai đoạn 2021-2030 đứng
trước bối cảnh quốc tế, khu vực có nhiều biến động với những lo ngại về căng thẳng
chính trị, chiến tranh thương mại, suy thoái kinh tế, biến đổi khí hậu,...nhưng Việt
Nam vẫn cam kết thực hiện các mục tiêu phát triển bền vững theo “Chương trình nghị
sự 2030” của Liên Hợp Quốc. Quy mô nền kinh tế Việt Nam luôn duy trì mức tăng
cao, theo số liệu được Bộ Kế hoạch và Đầu tư công bố vào cuối năm 2023, quy mô
GDP của nền kinh tế đến hết năm 2023 ước đạt khoảng 10,22 triệu tỷ đồng, tương
đương khoảng 430 tỷ USD và đứng thứ 35 trên thế giới. Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) đã
nhận định: “Việt Nam là một điểm sáng "trong bức tranh xám màu" của kinh tế toàn cầu”.
Nguồn: Tổng quan dự báo tình hình kinh tế thế giới quý i và cả năm 2024
Hình 3: Ước tính tăng trưởng của Việt Nam năm 2023 và dự báo tăng trưởng
năm 2024 theo một số tổ chức quốc tế 10
Như vậy, các tổ chức quốc tế đều dự báo tăng trưởng của Việt Nam năm 2024
tăng so với năm 2023, đạt khoảng 5,5% – 6,0%. 
Về chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ đạt trên 85% trong GDP cho thấy cơ cấu kinh
tế Việt Nam đang dịch chuyển từ kinh tế nông nghiệp sang công nghiệp, dịch vụ. Qua
đó, càng giúp khẳng định đây là hướng đi đúng và hiệu quả hơn cho nền kinh tế Việt
Nam với mục tiêu phát triển bền vững. Bên cạnh đó, Việt Nam đang ở thời kì phát
triển mạnh mẽ về lĩnh vực xuất khẩu, đặc biệt là trong ngành sản xuất công nghiệp và
chế biến nên chất lượng tăng trưởng kinh tế từng bước được cải thiện, cơ cấu kinh tế
bước đầu dịch chuyển sang chiều sâu, tăng độ mở nền kinh tế và thu hút nguồn đầu tư
trực tiếp nước ngoài (FDI) lớn. Đồng thời, Việt Nam cũng tham gia vào nhiều hiệp
định thương mại quốc tế và thúc đẩy hợp tác kinh tế với nhiều quốc gia trên thế giới,
từ đó tạo ra nhiều cơ hội mới và giúp định hình lại cấu trúc kinh tế để phát triển mạnh
mẽ và bền vững trong tương lai. 
Về thu nhập của người dân và hỗ trợ xóa đói giảm nghèo
GDP trung bình tăng kéo theo đó là GDP bình quân đầu người duy trì mức khá
ổn định từ 4% đến 4,45% hàng năm. Chính phủ đặt mục tiêu đến năm 2030 với lộ
trình đặt ra là thu nhập bình quân đầu người khu vực nông thôn đạt 43 triệu trong
2020; 60 triệu vào năm 2025 và 90 triệu đến năm 2030. Về xoá đói giảm nghèo, năm
2006, Việt Nam tuyên bố hoàn thành mục tiêu phát triển thiên niên kỷ về xóa bỏ tình
trạng nghèo đói cùng cực, về đích trước 10 năm so với thời hạn đặt ra (2015). 
Về tạo việc làm
Đối tượng lao động từ 15 tuổi trở lên có việc làm trong quý IV năm 2022 là hơn
51,0 triệu người, tăng 239,4 nghìn người so với quý trước và tăng gần 1,8 triệu người
so với cùng kỳ năm trước. (Theo Tổng cục thống kê)
Đơn vị tính: Nghìn người Nguồn: Gov.vn
Hình 4: Số lao động có việc ở Việt Nam làm quý III và quý IV, giai đoạn 2019- 2022 11
Qua biểu đồ chúng ta có thể thấy, cùng với sự phát triển kinh tế là số người lao
động có việc làm tăng dần theo các quý trong năm. Đây cũng là một trong những dấu
hiệu tích cực của Việt Nam khi tiến hành phát triển kinh tế bền vững. 
Về năng suất lao động
Trong giai đoạn vừa qua của kinh tế Việt Nam, tốc độ tăng trưởng năng suất lao
động đã có sự cải thiện rõ rệt. Bình quân giai đoạn 2011-2020, tốc độ tăng năng suất
lao động theo giá hiện hành đạt 5,29%, trong đó bình quân giai đoạn 2011-2015 tăng
4,53%; bình quân giai đoạn 2016-2020 tăng 6,05%, vượt mục tiêu đề ra trong Nghị
quyết số 05-NQ/TW, khóa XII là 5,5%. Theo đó mà Việt Nam đã thu hẹp được
khoảng cách với các quốc gia có trình độ phát triển cao hơn cùng trong ASEAN. Cụ
thể, năm 2011 năng suất lao động của Singapore, Malaysia, Thái Lan, Indonesia gấp
năng suất lao động của Việt Nam lần lượt tương ứng là 12,4 lần; 4,3 lần; 2,1 lần và 1,7
lần thì đến năm 2022 khoảng cách tương đối này giảm xuống lần lượt còn 8,8 lần; 2,8
lần; 1,5 lần và 1,3 lần. 
Về sử dụng tài nguyên thiên nhiên
Công tác quản lý tài nguyên thiên nhiên tại Việt Nam còn nhiều yếu kém, khai
thác chưa hiệu quả các nguồn tài nguyên, nhất là tài nguyên đất, nước. Một số loại tài
nguyên bị lạm dụng quá mức dẫn đến suy kiệt. Ô nhiễm môi trường vẫn tiếp tục gia
tăng, nhất là tại các khu đô thị, thành phố lớn làm ảnh hưởng nghiêm trọng tới đời
sống sinh hoạt của người dân và đang trở thành vấn đề nhức nhối trong xã hội. 12
Phần 2: Vai trò của Ngân hàng thương mại trong việc hỗ trợ phát triển kinh tế bền vững
Ngành ngân hàng được coi là huyết mạch của nền kinh tế, là trung gian tài
chính, gắn liền và bao trùm mọi hoạt động kinh tế, xã hội. Với các đặc trưng riêng của
mình, hiện nay ngành Ngân hàng đóng một vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ, thúc
đẩy phát triển bền vững của nền kinh tế. Có thể hiểu phát triển bền vững theo nhiều
nghĩa khác nhau, nhưng về cơ bản, phát triển bền vững là sự phát triển có sự kết hợp
chặt chẽ, hài hòa giữa 3 mặt, bao gồm: tăng trưởng kinh tế; giải quyết tốt các vấn đề an
sinh xã hội và bảo vệ môi trường.
Bằng việc cung cấp các sản phẩm và dịch vụ tài chính của mình, các ngân hàng
thương mại đã tác động đến phát triển bền vững kinh tế, xã hội và môi trường như sau.
2.1. Vai trò của Ngân hàng thương mại trong phát triển bền vững kinh tế
Thúc đẩy tiếp cận tín dụng cho Doanh nghiệp vừa và nhỏ (SME)
Các ngân hàng thương mại phối hợp cùng các Bộ, ngành trong việc xây dựng
và triển khai các chính sách hỗ trợ Doanh nghiệp vừa và nhỏ nhằm đáp ứng kịp thời
nhu cầu vốn sản xuất, kinh doanh, đưa ra nhiều chương trình, sản phẩm ưu tiên, hỗ trợ
cho các khách hàng doanh nghiệp.
Mặc dù SME là những khách hàng có tính rủi ro cao với ngân hàng, tuy nhiên
thời gian qua có rất nhiều ngân hàng thương mại đã cùng đồng hành và chia sẻ khó
khăn cho các SME, nhất là trong thời kỳ các doanh nghiệp chịu ảnh hưởng nặng nề
của dịch bệnh. Cụ thể, Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam
(Agribank) đã dành 30.000 tỷ đồng cho DNNVV vay với lãi suất từ 4,5%/năm, trong
đó 10.000 tỷ đồng dành cho vay ngắn hạn và 20.000 tỷ đồng dành cho vay trung và dài
hạn. Hay Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam (Vietinbank), với mục tiêu tiếp
sức phục hồi sản xuất cùng các doanh nghiệp xuất nhập khẩu vừa và nhỏ, đã có nhiều
ưu đãi như: lần đầu sử dụng sản phẩm mua bán ngoại tệ, thanh toán quốc tế và tài trợ
thương mại sẽ được nhận ưu đãi về tỷ giá ngoại tệ, miễn/giảm dịch vụ và phí bảo hiểm hàng hóa vận chuyển…
Thúc đẩy ngân hàng xanh, tín dụng xanh - Ngân hàng tạo cơ hội cho
doanh nghiệp phát triển bền vững
Các NHTM đóng vai trò quyết định trong quá trình chuyển đổi kinh tế thông
qua việc hướng các dòng vốn vào hỗ trợ các mục tiêu phát triển bền vững, áp dụng các
nguyên tắc quản trị rủi ro môi trường và xã hội chặt chẽ hơn trong hoạt động cấp tín
dụng. Một trong những xu hướng phát triển hiện nay đó là "Ngân hàng xanh hướng tới
phát triển bền vững”. Thông qua các chính sách tín dụng của mình như cung cấp vốn
và khuyến khích các dự án thân thiện với môi trường, tạo ảnh hưởng thông qua các
hoạt động dịch vụ như tư vấn đầu tư, các ngân hàng có thể cung cấp các công cụ và
kiến thức để khuyến khích sự phát triển bền vững. 13
Hình 5: Dư nợ tín dụng xanh giai đoạn 2015-2022
Sự vào cuộc tích cực của các TCTD trong những năm qua giúp dòng vốn tín
dụng xanh có nhiều chuyển biến tích cực, nhận được nhiều sự quan tâm và hạn mức
đầu tư ngày càng cao. Số liệu từ Vụ Tín dụng các ngành kinh tế, NHNN cho thấy,
ngày 31/12/2022, dư nợ cấp tín dụng đối với các dự án xanh đạt 500.524 tỷ đồng
(chiếm hơn 4,2% tổng dư nợ toàn nền kinh tế), tăng 12,96% so với cuối năm 2021, chủ
yếu tập trung vào lĩnh vực nông nghiệp xanh (chiếm 31% tổng dư nợ tín dụng xanh),
năng lượng tái tạo, năng lượng sạch chiếm 46,7%. Dư nợ được đánh giá rủi ro môi
trường và xã hội đạt hơn 2.359 tỷ đồng, chiếm hơn 20% dư nợ cho vay của nền kinh
tế, tăng 27,69% so với cuối năm 2021, với hơn 1,2 triệu khoản vay.
2.2. Vai trò của Ngân hàng thương mại trong phát triển bền vững xã hội
Trong nhiều năm qua, thực hiện các đường lối chủ trương của Đảng, Nhà nước
ta trong việc bảo đảm an ninh và an sinh xã hội, các ngân hàng thương mại đã đưa ra
các giải pháp, chương trình tín dụng, chính sách cho vay,... giúp người dân dễ dàng
vay vốn, góp phần ngăn chặn “tín dụng đen”; tạo thêm nhiều việc làm, cải thiện đời
sống của người dân. Từ đó, giúp đảm bảo an toàn và góp phần giải quyết tốt các vấn đề xã hội.
Thúc đẩy tài chính toàn diện
Theo World Bank (Ngân hàng Thế giới), tài chính toàn diện (TCTD) là việc các
doanh nghiệp và cá nhân có khả năng tiếp cận và sử dụng các sản phẩm, dịch vụ tài
chính với mức chi phí hợp lý, ít rào cản pháp lý hơn và được cung cấp theo cách thức
có trách nhiệm và bền vững. Theo đó, TCTD được tiếp cận và hiểu theo nghĩa rộng
hơn so với tài chính. Với xu thế phát triển ngày nay, TCTD ngày càng có vị trí và vai
trò quan trọng đối với sự phát triển bền vững của quốc gia, mang lại lợi ích to lớn cho
xã hội và nền kinh tế. TCTD đã góp phần xóa đói giảm nghèo; đáp ứng nhu cầu vay
vốn; trợ cấp an sinh xã hội, đặc biệt là những người dân khó khăn, dễ bị tổn thương...
Ngoài ra, TCTD còn giúp giảm chi phí trợ cấp cho Chính phủ, tăng tính công khai,
minh bạch, phòng chống tham nhũng. 14
Với phạm vi hoạt động và mạng lưới phân phối rộng, các sản phẩm đa dạng,
ngân hàng thương mại có ảnh hưởng mạnh mẽ đến sự phát triển TCTD ở các quốc gia.
Trong Quyết định số 622/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ: Về việc ban hành Kế
hoạch hành động quốc gia thực hiện Chương trình nghị sự 2030 vì sự phát triển bền
vững
đã quy định rõ nhiệm vụ của Ngành ngân hàng như sau:
(i) Tăng cường năng lực các thể chế tài chính trong nước nhằm khuyến khích và
mở rộng khả năng tiếp cận dịch vụ tài chính ngân hàng và bảo hiểm cho mọi người (Mục tiêu 8.10 toàn cầu)
(ii) Tăng khả năng tiếp cận của các doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp
vừa và nhỏ, đối với các dịch vụ ngân hàng, bao gồm cả dịch vụ tín dụng trong khả
năng chi trả; tăng cường sự tham gia của doanh nghiệp vào thị trường và chuỗi giá trị
(Mục tiêu 9.3.a toàn cầu)
(iii) Đảm bảo tăng cường sự đại diện và tiếng nói của Việt Nam trong quá trình
ra quyết định tại các tổ chức quốc tế có uy tín để đảm bảo quyền lợi cho các quốc gia
đang phát triển và tạo điều kiện thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các quốc gia, cụ
thể: Chủ động và tích cực tham gia các hoạt động tăng cường tiếng nói và vị thế của
Việt Nam tại các định chế kinh tế, tài chính – tiền tệ khu vực và quốc tế như IMF, WB,
ADB, AIIB, IOSCO, các diễn đàn khu vực, quốc tế về tiền tệ, ngân hàng, chứng
khoán, bảo hiểm trong khuôn khổ ASEAN, ASEAN +3, APEC (Mục tiêu 10.5.c toàn cầu).
Đầu tư có trách nhiệm với cộng đồng
Nhiều ngân hàng thương mại đã dần chú trọng hơn đến việc tăng cường trách
nhiệm xã hội đối với cộng đồng. Thông qua việc cung ứng tín dụng cho doanh nghiệp
và người dân, ngành ngân hàng đã tạo ra những chuyển biến tích cực cho xã hội, trong
đó có một phần ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển bền vững của hoạt động sản xuất -
kinh doanh. Vì vậy, khi ngân hàng không chỉ theo đuổi các mục tiêu kinh tế, mà còn
chú trọng đến các vấn đề xã hội, môi trường, thì tác động của ngành ngân hàng đến
nền kinh tế, xã hội sẽ mang tính toàn diện và nhân văn hơn.
Hiện nay, tại Việt Nam, đã có khá nhiều ngân hàng quan tâm đến việc thực hiện
CSR như Techcombank đã trao 1,2 tỷ đồng cho Quỹ vì người nghèo và Quỹ phát triển
tài năng thể thao TP.HCM thông qua giải chạy quốc tế TP.HCM - Techcombank 2018;
Ngân hàng Sài Gòn (SCB) ủng hộ 500 triệu đồng vào Quỹ vì người nghèo của Ủy ban
Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và 1 tỷ đồng vào Quỹ vì người nghèo của
TP.HCM, thông qua chương trình “Thành phố nghĩa tình - Kết nối yêu thương” do Ủy
ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam TP.HCM tổ chức…
2.3. Vai trò của Ngân hàng thương mại trong phát triển bền vững môi trường
Trong bối cảnh của Việt Nam, vai trò của ngân hàng thương mại trong phát
triển bền vững môi trường càng trở nên quan trọng bởi những vấn đề môi trường đang
ngày càng trở nên nghiêm trọng và cần được giải quyết một cách ưu tiên. Ngân hàng
thương mại đóng góp và phát triển ủng hộ nền kinh tế xanh và bền vững đầy quan
trọng đối với một nền kinh tế bao gồm như sau:
Thứ nhất, hỗ trợ tài chính cho những dự án xanh nhằm khuyến khích đầu tư
xanh như ngân hàng thương có thể cung cấp vốn vay với lãi suất ưu đãi cho các dự án
xanh, như dự án năng lượng tái tạo, xử lý nước thải, và công nghệ sạch. Lãi suất thấp 15
hơn có thể giúp làm giảm rủi ro tài chính đối với các nhà đầu tư và tăng tính khả thi
của các dự án xanh. Cung cấp vốn và tài chính cho doanh nghiệp và những dự án có
mục tiêu tạo ra giá trị kinh tế đồng thời giảm thiểu tác động tiêu cực lên môi trường từ
đó hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp sẽ có trách nhiệm xã hội và môi trường..
Cùng với đẩy mạnh hỗ trợ tài chính cho nghiên cứu và phát triển bằng cách cung cấp
vốn đầu tư cho các hoạt động nghiên cứu và phát triển trong lĩnh vực công nghệ xanh
và những giải pháp về vấn đề môi trường. Nhờ vậy có thể giúp tăng cường sự sáng tạo
và phát triển các giải pháp mới cho các vấn đề môi trường.
Thứ hai, hỗ trợ các doanh nghiệp/tập đoàn áp dụng công nghệ xanh nhằm giảm
khí thải ra môi trường như ngân hàng thương có thể cung cấp vốn vay với lãi suất ưu
đãi hoặc các gói tài chính đặc biệt cho các doanh nghiệp/tập đoàn muốn đầu tư vào
công nghệ xanh. Vốn vay này có thể được sử dụng để mua các thiết bị, công nghệ,
hoặc thực hiện các dự án nhằm giảm khí thải ra môi trường.
Thứ ba, đầu tư vào các dự án về năng lượng tái tạo bằng cách hỗ trợ tư vấn và
đánh giá dự án cung cấp dịch vụ tư vấn và đánh giá về tính khả thi và hiệu quả kinh tế
của các dự án năng lượng tái tạo nhằm giúp các doanh nghiệp và tổ chức hiểu rõ hơn
về lợi ích và tiềm năng của việc đầu tư vào năng lượng tái tạo. Bên cạnh đó cung cấp
vốn vay với lãi suất ưu đãi cho các dự án năng lượng tái tạo nhằm giảm thiểu rủi ro tài
chính và làm tăng tính khả thi của những dự án này. Ngoài ra, ngân hàng thương mại
có thể tổ chức các chương trình khuyến mãi và khuyến khích đối với các nhà đầu tư và
doanh nghiệp tham gia vào các dự án năng lượng tái tạo.
Cuối cùng, thúc đẩy tài chính xanh và xây dựng hệ thống thanh toán của Ngân
hàng thân thiện với môi trường. Bằng cách có thể phát triển các sản phẩm tài chính đặc
biệt như vay vốn xanh, trái phiếu xanh, hoặc quỹ đầu tư xanh để hỗ trợ cho các dự án
xanh. Các sản phẩm này có thể đi kèm với các điều khoản và điều kiện hỗ trợ cho các
dự án có ảnh hưởng tích cực đến môi trường. Đồng thời, đẩy mạnh xây dựng hệ thống
thanh toán thân thiện với môi trường như chuyển đổi dần sang thanh toán điện tử bằng
thanh toán qua thẻ ngân hàng, ví điện tử, và các ứng dụng thanh toán trực tuyến giúp
giảm sử dụng tiền mặt và giảm lượng giấy tờ tiêu thụ. Nhờ đó mà ngân hàng thương
mại góp phần giúp giảm lượng rác thải giấy và tiền xu, đồng thời giảm tác động đến
môi trường từ việc sản xuất, vận chuyển, và xử lý tiền mặt. Bắt đầu áp dụng những
công nghệ mới như sử dụng công nghệ blockchain áp dụng trong hệ thống thanh toán
và chuyển tiền để tăng tính minh bạch và giảm thiểu rủi ro gian lận. Nhờ sử dụng
blockchain có thể giúp giảm thiểu cần thiết phải có các bên trung gian, giảm thiểu số
lượng giao dịch không cần thiết và tiêu hao năng lượng, cũng như giảm thiểu lượng
giấy tờ tiêu thụ. Mặt khác, các hệ thống thanh toán và chuyển tiền có thể được nâng
cấp để sử dụng nguồn năng lượng tái tạo như năng lượng mặt trời và gió giúp giảm
lượng khí thải carbon từ hoạt động của hệ thống và đóng góp vào việc giảm biến đổi khí hậu. 16
Phần 3: Tác động của xu hướng phát triển kinh tế bền vững tới hoạt động kinh doanh của MB Bank
3.1. Tổng quan về MB Bank
Lịch sử hình thành và phát triển của ngân hàng MB Bank
MB Bank - Ngân hàng thương mại cổ phần Quân đội với tên đầy đủ bằng tiếng
anh là Military Commercial Joint stock Bank được thành lập vào ngày 4 tháng 11 năm
1994. Trụ sở chính tại tòa nhà MB, số 18 Lê Văn Lương, Phường Trung Hòa, Quận
Cầu Giấy, Thành phố Hà Nội, Việt Nam. Đến nay, MB có 01 trụ sở chính và hơn 300
điểm giao dịch, bao gồm 296 điểm giao dịch trong nước, 03 chi nhánh nước ngoài tại
Lào và Campuchia và 01 văn phòng đại diện tại Nga.
Nguồn: Baocaothuongnien_2021
Hình 6: Điểm giao dịch MB Bank tại 3 khu vực trên toàn quốc
Sứ mệnh "Vì sự phát triển của đất nước, vì lợi ích của khách hàng" và tầm nhìn
"Trở thành một Ngân hàng thuận tiện nhất với khách hàng" của MB Bank là hai cam
kết quan trọng định hình hành động và phát triển của ngân hàng. Trải qua hơn 29 năm
hoạt động, MB đã ghi dấu ấn trong thị trường tài chính bằng tốc độ tăng trưởng vững
vàng và mạnh mẽ, MB khẳng định vị thế luôn nằm trong top các ngân hàng hàng đầu
Việt nam về hiệu quả kinh doanh. Cụ thể như sau: Giai đoạn 1994 - 2004 17
Ngày 4/11/1994, Ngân hàng thương mại cổ phần Quân đội (MB) đi vào hoạt
động tại trụ sở 28A Điện Biên Phủ, Ba Đình, Hà Nội với số vốn gầngày 20 tỷ đồng,
25 cán bộ nhân viên. Trong thời kỳ này, MB đã mạnh mẽ vượt qua khủng hoảng tài
chính Châu Á vào năm 1997 và trở thành ngân hàng cổ phần duy nhất có lãi. Năm
2000, MB thành lập hai đơn vị Công ty TNHH Chứng khoán Thăng Long (nay là
Công ty CP Chứng khoán Ngân hàng TMCP Quân Đội MBS) và Công ty Quản lý nợ
và Khai thác tài sản Ngân hàng TMCP Quân Đội (MBAMC). Năm 2003, MB đã triển
khai một kế hoạch cải tổ toàn diện về hệ thống và nhân lực của mình. Năm 2004 là
một mốc thời gian đánh dấu 10 năm hình thành và phát triển, tổng vốn huy động tăng
511 lần, tổng vốn chủ sở hữu tăng 26 lần, tổng tài sản đạt 7.000 tỷ đồng, lợi nhuận trên
100 tỷ đồng và MB đã đi vào lịch sử là ngân hàng đầu tiên thực hiện việc phát hành cổ
phần thông qua đấu giá ra công chúng, với tổng mệnh giá là 20 tỷ đồng. Giai đoạn 2005 - 2009
Trong giai đoạn 2005-2009, MB tập trung cao cho chiến lược tăng cường nhân
sự, mở rộng kinh doanh, đổi mới công nghệ, xây dựng thương hiệu, phát triển mạng
lưới, nâng cao chất lượng dịch vụ, tăng cường hợp tác với các đối tác trong và ngoài
nước,... Năm 2005 cũng là một năm thành công với thương hiệu MB với việc đoạt giải
thương hiệu mạnh năm 2005 do Thời báo kinh tế phối hợp với Cục Xúc Tiến Thương
Mại (Bộ Thương mại) tổ chức. MB còn ký kết thỏa thuận ba bên với Vietcombank và
Viettel - tập đoàn viễn thông quân đội, nhằm thúc đẩy quá trình thanh toán cước viễn
thông của Viettel, đồng thời đạt thỏa thuận hợp tác với Citibank. Năm 2006 lần lượt
triển khai hai dịch vụ tiện ích miễn phí dành cho khách hàng là Mobile Banking Và
Internet Banking. Năm 2007 MB có các chỉ tiêu kinh doanh tăng trưởng vượt bậc, liên
tục nhận được các giải thưởng về thương hiệu và triển khai thành công dự án hiện đại
hóa công nghệ thông tin Core T24 của tập đoàn Temenos (Thụy Sĩ). Có thể khẳng
định rằng, giai đoạn này đã tạo ra nền tảng vững chắc cho MB để thúc đẩy triển khai
các sáng kiến chiến lược trong tương lai, đồng thời đóng góp vào việc biến MB trở
thành một trong những định chế tài chính hàng đầu tại Việt Nam hiện nay. Năm 2008,
MB tiền hành tái cơ cấu tổ chức và tập đoàn viễn thông quân đội Viettel chính thức trở
thành cổ đông chiến lược. Năm 2009, MB tự hào nhận được Huân chương Lao động
Hạng Ba từ tay Chủ tịch nước, đánh dấu 15 năm tiến bộ và phát triển. Giai đoạn 2010 - 2016
Năm 2010, MB đã đánh dấu một giai đoạn mới với những thành công mới vững
vàng ở vị trí là một trong năm ngân hàng TMCP hàng đầu Việt Nam. MB chủ trương
nghiên cứu mục tiêu chiến lược phát triển 2011-2015, mô hình tổ chức kinh doanh và
triển khai chiến lược phía Nam và miền Trung- Tây Nguyên. Năm 2011, MB đã thành
công trong quá trình niêm yết cổ phiếu trên Sở giao dịch chứng khoán Tp. HCM
(HSX), bắt đầu từ ngày 1/11/2011. Trong bối cảnh nền kinh tế diễn biến không thuận
lợi, ngành ngân hàng hoạt động khó khăn, MB vẫn duy trì sự kiên định với chiến lược
phát triển bền vững, an toàn. Dấu ấn rõ rệt nhất của MB trong giai đoạn này là việc
bức phá lên vị trí đầu bảng trong 3 năm liên tục 2012, 2013 và 2014. Với những thành
tựu đáng kể, năm 2014, MB vinh dự đón nhận Huân chương Lao động Hạng Nhất. Sau
đó, năm 2015, tiếp tục được phong tặng danh hiệu Anh Hùng Lao động. Giai đoạn 2017 - 2021 18
Năm 2017 là một năm quan trọng khi MB chính thức triển khai chiến lược phát
triển giai đoạn 2017-2021 với phương châm “Tăng trưởng đột phá, Hiệu quả- An
toàn”. Mục tiêu của chiến lược này là đạt vị thế trong Top 5 hệ thống Ngân hàng Việt
Nam về hiệu quả kinh doanh và an toàn, đồng thời dẫn đầu trong quá trình số hóa.
Trong các năm này, dù gặp nhiều khó khăn bởi căng thẳng thương mại giữa Mỹ và
Trung Quốc giai đoạn 2016-2021 hay đại dịch Covid- 19 toàn cầu, việc MB có sự tăng
trưởng mạnh mẽ trong hoạt động kinh doanh, hoàn thành xuất sắc các nhiệm vụ, chỉ
tiêu đề ra là một kết quả ấn tượng. Năm 2018, MB xếp ở vị trí thứ 3 trong các ngân
hàng Việt Nam và lọt Top 500 ngân hàng mạnh nhất thuộc khu vực châu Á -Thái Bình
Dương (theo đánh giá của The Asian Banker năm 2018). Năm 2019 tạo dấu ấn kỷ
niệm 25 năm thành lập MB vinh dự đón nhất huân chương bảo vệ Tổ quốc hạng nhất
và công bố hệ thống nhận diện thương hiệu mới, lột xác thành một ngân hàng năng
động, trẻ trung. Năm 2020, MB khai trương và bắt đầu hoạt động trụ sở mới tại số 18
Lê Văn Lương, Trung Hòa, Cầu Giấy, Hà Nội, đồng thời, MB còn nhận được sự tặng
cờ thi đua dẫn đầu trong cuộc thi đua của ngành Ngân hàng từ Thủ tướng Chính phủ.
MB tự hào tiếp tục nằm trong Top doanh nghiệp đạt lợi nhuận trên 10.000 tỷ đồng,
Top 5 các Ngân hàng tốt nhất Việt Nam, Top 1 về lợi nhuận kinh doanh ngoại tệ Spot
& Swap trong nhóm Ngân hàng TMCP.
Giai đoạn 2022 - hiện nay
Năm 2022, nền kinh tế toàn cầu còn nhiều bất ổn như xung đột Nga-Ukraine đi
kèm với Mỹ và châu u tăng cường các biện pháp cấm vận Nga, đặc biệt là các thách
thức và cơ hội khi thế giới bước vào kỷ nguyên cách mạng 4.0, MB đã đạt được nhiều
dấu ấn đáng tự hào. Theo đó MB tiếp tục giữ vững vị thế tiên Phong về chuyển đổi số
trong ngành Tài chính - Ngân hàng, Top 5 về lợi nhuận, Top đầu về tỷ suất sinh lời
trên vốn và Top đầu về các chỉ số an toàn, chất lượng tín dụng. Không những thế, MB
liên tục đạt được các thành công trong chuyển đổi số như Top 1 ứng dụng ngân hàng
được tải nhiều nhất trên App Store, Top 10 ứng dụng được yêu thích trên App Store,....
Nỗ lực chuyển đổi số của MB đã được ghi nhận thông qua một cú nhảy vọt đáng chú ý
về quy mô khách hàng. Đến năm 2023, MB đã đạt được con số 26,5 triệu khách hàng,
tăng gấp 8 lần so với năm 2017. Điều này không chỉ là một thành tựu ấn tượng mà còn
là minh chứng cho sự thành công trong chiến lược chuyển đổi số của MB.
3.2. Tác động của xu hướng phát triển kinh tế bền vững tới hoạt động kinh doanh của MB Bank
3.2.1. Những hoạt động của kinh doanh của MB dưới tác động của phát triển kinh tế bền vững
Hiện nay, việc đổi mới phát triển kinh tế là vô cùng quan trọng và cấp thiết
nhưng chỉ vậy là chưa đủ. Đối với Việt Nam- một nước bị ảnh hưởng nặng nề bởi biến
đổi khí hậu toàn cầu thì việc phát triển đó phải đi đôi với bảo vệ tài nguyên môi
trường. Để có thể thực hiện được sứ mệnh đó, các ngân hàng tại Việt Nam đã và đang
hướng tới những mục tiêu phát triển về phát triển kinh tế bền vững. Trước đó thì trong
định hướng phát triển 2012-2030, Chính phủ của Việt Nam cũng đã phê duyệt và bắt
đầu thực hiện chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh và chiến lược phát triển ngân
hàng định hướng phát triển tín dụng xanh, ngân hàng xanh. 19
Nhận định về tương lai của chuyển đổi xanh, C.E.O của MBBank Phạm Như
Ánh đã nhấn mạnh vai trò quan trọng của các tiêu chí Môi trường, Xã hội và Quản trị
(ESG) trong quản trị doanh nghiệp: "ESG sẽ không chỉ là lựa chọn mà trở thành yếu tố
sống còn trong tương lai". Từ nhận thức rõ ràng về tầm quan trọng của ESG, MB đã
thiết lập khung tiêu chuẩn ESG (Môi trường, Xã hội, và Quản trị), tuân thủ nghiêm
ngặt các chuẩn mực quốc tế, bao gồm việc xây dựng các kịch bản quản lý rủi ro liên
quan đến môi trường, tích hợp chặt chẽ quản lý rủi ro khí hậu vào hoạt động kinh
doanh, cũng như đầu tư vào cơ sở hạ tầng công nghệ hiện đại hỗ trợ quản trị và vận
hành theo tiêu chuẩn ESG. (Theo tạp chí điện tử pháp lý, 2023) 
Tín dụng xanh tại ngân hàng quân đội MB
MB hướng đến mục tiêu tiên phong trong công cuộc "xanh hóa" nguồn tín
dụng. Cụ thể, năm 2017-2018, Mb đã tiên phong cho vay dự án năng lượng tái tạo
trong khi tại thời điểm đó các dự án về năng lượng tái tạo, điện gió, điện mặt trời là
những lĩnh vực mới ở Việt Nam chính vì vậy mà đem đến rất nhiều mối lo ngại về rủi
ro và biên lợi nhuận mỏng vì cho vay lãi suất thấp. Tuy nhiên qua nghiên cứu và tìm
hiểu MB đánh giá đây là những dự án góp phần tích cực cho xã hội nên đã tự tin bắt tay hợp tác.
Tính đến cuối năm 2022, tỷ trọng dư nợ cho vay các dự án của MB đã tăng gấp
2,5 lần so với năm 2020.Trong đó, vốn tài trợ cho các dự án năng lượng tái tạo, năng
lượng sạch chiếm tới hơn 90% và hầu như toàn bộ là vốn cho vay trung dài hạn, đánh
dấu sự chuyển đổi định hướng tín dụng theo hướng bền vững tại MB. Đặc biệt, ngân
hàng quân đội cũng đã có những quy định cụ thể cho Quỹ thực hiện quản lý rủi ro về
môi trường trong các hoạt động tín dụng của mình.
Tính tới hiện tại, MB đang cung cấp tài chính cho hơn 30 dự án điện mặt trời và
điện gió với tổng quy mô vào khoảng 70.000 tỷ đồng, giúp các chủ đầu tư tạo ra
khoảng 3.600 MW điện năng lượng tái tạo, góp phần gia tăng nguồn năng lượng sạch
đáp ứng nhu cầu tăng trưởng bền vững của nền kinh tế. Các dự án năng lượng tái tạo
với những nhà đầu tư có thương hiệu và uy tín tại các khu vực Nam Trung Bộ, Tây
Nguyên và Tây Nam Bộ… đều đang có sự góp sức từ dòng tín dụng do MB cung cấp và thu xếp. 20