HỌC VIỆN NGÂN HÀNG
KHOA NGÂN HÀNG
Bài t p l n
Học phần: Ngân hàng thương mại
Đ tài: H th ng ngân hàng th ng m i ệố ươ
t i Mỹ
Giảng viên hướng dẫn: Tạ Thanh Huyền
Lớp học phần: FIN 17A-01
Nhóm thực hiện: Nhóm 6
Bùi Thị Huế – 22A4010543 (Nhóm trưởng)
Bùi Thị Ánh Minh – 22A4010535
Nguyễn Huyền Trang – 22A4011064
Hoàng Thị Thu – 22A4060017
Dương Thúy Nga – 22A4010887
Hà Nội, ngày 23 tháng 03 năm 2021
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU…………………………………………………………………….2
NỘI DUNG………………………………………………………………….3
I, Phần lý luận……………………………………………………………….3
1.Khái niệm, chức năng của NHTM…………….…………….…………….3
2. Vai trò và vị trí của NHTM………………………………………………..5
3. So sánh NHTM với các tổ chức tài chính khác…………….……………6
II. Hệ thống NHTM của Hoa Kỳ……………………………..…………….7
1. Sự ra đời của NHTM Hoa Kỳ……………...……………….…………...7
2.Đặc điểm hệ thống NHTM Hoa Kỳ……………..………….…………... 8
3. Vai trò của NHTM đối với nền kinh tế Hoa Kỳ…………...…..….……10
4.Các hoạt động của NHTM Hoa Kỳ……………………………….…….11
5.Tổng quan hệ thống NHTM Hoa Kỳ năm 2020……….………......……16
III. So sánh NHTM Mỹ và Việt Nam …………………………….……….18
1. Giống nhau………………………………...………………….………...18
2. Khác nhau………………………………...…………………..………...20
KẾT LUẬN…………………………………………………….…………. .24
TÀI LIỆU THAM KHẢO……………………………………....................25
1
Lời mở đầu
Hiện nay trong xu thế hội nhập mạnh mẽ của nền kinh tế thế giới, thị trường tài chính
đóng vai trò rất quan trọng. Đối với một số quốc gia trên thế giới thì nhu cầu về vốn đầu
tư là rất lớn. Để đáp ứng nhu cầu này thì các quốc gia đã đưa ra những biện pháp để thu
hút vốn cả trong nước và ngoài nước. Từ đó, hoạt động của các tổ chức tài chính trên thế
giới đã ra đời và phát triển mạnh mẽ trong đó phải kể đến hệ thống ngân hàng. Hệ thống
này đã giúp các quốc gia điều hành nền kinh tế thông qua các định chế tài chính, các
chính sách tiền tệ và lãi suất.
Mỹ một quốc gia nền kinh tế phát triển lớn mạnh năng động. Mỗi biến động
kinh tế của Mỹ đều tác động tới nền kinh tế toàn cầu. Trong những năm gần đây với sự
ảnh hưởng của đại dịch Covid-19 đã làm cho nền kinh tế Mỹ khủng hoảng trầm trọng
nhưng ngành ngân hàng lại có doanh thu tăng do thu được từ quản lí tài sản, phí bảo lãnh
tăng lên nhờ làn sóng phát hành trái phiếu – IPO,…Từ đây ta thấy được mặc dù hệ thống
tài chính Mỹ phụ thuộc vào thị trường nhưng hệ thống ngân hàng đặc biệt ngân hàng
thương mại vẫn đóng vai trò quan trọng đối với nền kinh tế Mỹ.
Việt Nam là một quốc gia với thị trường tài chính phụ thuộc vào ngân hàng ít nhiều
chịu sự tác động của nền kinh tế Mỹ toàn cầu. Do đó việc tìm hiểu cập nhật những
tin tức mới trên thế giới cùng quan trọng. Hiểu được tính cấp thiết đó chúng em đã
lựa chọn đề tài “Hệ thống ngân hàng thương mại của Mỹ, liên hệ sự giống khác nhau
với hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam”
Bài tiểu luận sử dụng một số tài liệu trong nước nước ngoài, chúng em sẽ trích
dẫn phần cuối của tiểu luận. Mặc đã làm hết khả năng của mình nhưng do trình độ,
kinh nghiệm còn hạn chế chắc chắn không tránh khỏi những sai sót, chúng em hy vọng
nhận xét, đánh giá góp ý để bào tiểu luận được hoàn thiện nhất. Chúng em chân
thành cảm ơn.
2
I.CƠ SỞ LÝ THUYẾT
1. Khái niệm, chức năng ngân hàng thương mại
1.1. Định nghĩa Ngân hàng thương mại:
Ngân hàng thương mại là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân
hàng các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật các tổ chức tín dụng
nhằm mục tiêu lợi nhuận.
Hoạt động ngân hàng việc kinh doanh, cung ứng thường xuyên một hoặc một số các
nghiệp vụ sau đây: nhận tiền gửi, cấp tín dụng, cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài
khoản.
1.2. Chức năng ngân hàng thương mại:
Chức năng trung gian tín dụng: Được xem chức năng quan trọng nhất của Ngân
hàng thương mại. Khi thực hiện chức năng trung gian tín dụng, NHTM đóng vai trò
cầu nối giữa người thừa vốn người nhu cầu về vốn. Với chức năng này, ngân hàng
thương mại vừa đóng vai trò nhận tiền gửi, vừa đóng vai trò người cho vay hưởng
lợi nhuận khoản chênh lệch giữa lãi suất nhận gửi lãi suất cho vay góp phần tạo
lợi ích cho tất cả các bên tham gia: người gửi tiền và người đi vay...
Chức năng trung gian thanh toán: Ở đây NHTM đóng vai trò là thủ quỹ cho các doanh
nghiệp và cá nhân, thực hiện các thanh toán theo yêu cầu của khách hàng như trích tiền từ
tài khoản tiền gửi của họ để thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ hoặc nhập vào tài khoản
tiền gửi của khách hàng tiền thu bán hàng và các khoản thu khác theo lệnh của họ.
Các NHTM cung cấp cho khách hàng nhiều phương tiện thanh toán tiện lợi như séc, ủy
nhiệm chi, ủy nhiệm thu, thẻ rút tiền, thẻ thanh toán, thẻ tín dụng… Tùy theo nhu cầu,
khách hàng thể chọn cho mình phương thức thanh toán phù hợp. Chức năng này
hình trung đã thúc đẩy lưu thông hàng hóa, đẩy nhanh tốc độ thanh toán, tốc độ lưu
chuyển vốn, từ đó góp phần phát triển kinh tế.
Chức năng tạo tiền: Tạo tiền một chức năng quan trọng, phản ánh bản chất của
NHTM. Với mục tiêu tìm kiếm lợi nhuận như một yêu cầu chính cho sự tồn tại
phát triển của mình, các NHTM với nghiệp vụ kinh doanh mang tính đặc thù của mình đã
vô hình trung thực hiện chức năng tạo tiền cho nền kinh tế.
Chức năng tạo tiền được thực thi trên sở hai chức năng khác của NHTM chức
năng tín dụng chức năng thanh toán. Thông qua chức năng trung gian tín dụng, ngân
hàng sử dụng số vốn huy động được để cho vay, số tiền cho vay ra lại được khách hàng
sử dụng để mua hàng hóa, thanh toán dịch vụ trong khi số trên tài khoản tiền gửi
thanh toán của khách hàng vẫn được coi một bộ phận của tiền giao dịch, được họ sử
dụng để mua hàng hóa, thanh toán dịch vụ… Với chức năng này, hệ thống NHTM đã làm
tăng tổng phương tiện thanh toán trong nền kinh tế, đáp ứng nhu cầu thanh toán, chi trả
của xã hội. NHTM tạo tiền phụ thuộc vào tỉ lệ dự trữ bắt buộc của ngân hàng trung ương
đã áp dụng đối với NHTM. Do vậy ngân hàng trung ương có thể tăng tỉ lệ này khi lượng
cung tiền vào nền kinh tế lớn.
3
2. Vị trí, vai trò của NHTM trong HTTC
2.1. Vị trí
Trong các trung gian tài chính thì NHTM một tỏ chức quan trọng nhất, giữ
khoảng 2/3 tài sản trong hệ thống ngân hàng. Chính vậy NHTM tổ chức trung
gian tài chính vai trò quan trọng nhất trong tài chính gián tiếp, khả năng chi phối
hoạt động của hệ thống tài chính
Thứ nhất, NHTM là một trung gian tài chính có số lượng lớn nhất trong hệ thống các tổ
chức tài chính thực hiện phần lớn các hoạt động của các trung gian tài chính nói
chung.
NHTM tập trung huy động vốn ngân hàng bằng cách nhận tiền gửi của dân chúng
dưới các hình thức tiền gửi có kỳ hạn, không kỳ hạn tiền gửi tiết kiệm. Với số vốn đó
ngân hàng tiến hành cho vay các doanh nghiệp, cá nhân nhu cầu về vốn.một trung
gian tài chính giữa nhà tiết kiệm nhà đầu tư, NHTM thu lợi nhuận thông qua chênh
lệch lãi suất vay và lãi suất huy động.
Thứ hai, NHTM đóng vai trò quan trọng trong việc đáp ứng đầy đủ lợi ích của hệ thống
tài chính. NHTM cho phép tiết kiệm thời gian, chi phí để thu thậpxử thông tin cho
những người cho vay cũng như người đi vay. Trên cơ sở đó hạ thấp chi phí sử dụng vốn.
NHTM cho phép tiết kiệm được chi phí giao dịch giữa người đi vay người cho vay.
Thông thường một cá nhân đi vay hoặc cho vay trên thị trường tài chính phải chịu chi phí
giao dịch cao vì vậy đối với cả hai đều không có lợi. Sự có mặt của NHTM đã giải quyết
được tình hình trên. NHTM tổ chức thường xuyên nhận tiền gửi cho vay do đó chi
phí giao dịch sẽ giảm đi rất nhiều, đồng thời huy động một lượng vốn lớn để phát triển
kinh tế.
Như vậy, NHTM đóng vai trò cực kỳ quan trọng trong hệ thống tài chính, góp phần
đẩy nhanh tốc độ lưu chuyển vốn trên thị trường, thúc đẩy phát triển kinh tế.
2.2Vai trò của NHTM đối với sự phát triển kinh tế.
Vai trò trung gian: Chuyển các khoản tiết kiệm, chủ yếu từ hộ gia đình, thành các
khoản tín dụng cho các tổ chức kinh doanh các thành phần khác để đầu vào nhà
cửa, thiết bị và các tài sản khác.
Vai trò thanh toán: Thay mặt khách hàng thực hiện thanh toán cho việc mua hàng hóa
dịch vụ (như bằng cách phát hành trừ sec, cung cấp lưới thanh toán điện tử, kết
nối các quỹ và phân phối tiền giấy và tiển đúc).
Vai trò người bảo lãnh: Cam kết trả nợ cho khách hàng khi khách hàng mất khả năng
thanh toán (chẳng hạn phát hành thư tín dụng).
Vai trò thực hiện chính sách: Thực hiện các chính sách của chính phủ, góp phần điều
tiết sự tăng trưởng kinh tế và theo đuổi mục tiêu xã hội.
3.So sánh ngân hàng thương mại với các tổ chức tài chính khác
4
3.1 Giống nhau:
Ngân hàng thương mại các tổ chức tài chính phi ngân hàng đều là các 1 tổ chức hoạt
động trong lĩnh vực tài chính, tiền tệ.
Đều chịu sự điều chỉnh của Pháp luật ngân hàng và tiền tệ.
3.2 Khác nhau:
Tiêu chí Ngân hàng thương mại Tổ chức tài chính
Nguồn vốnCác khoản tiền nhận gửi, các khoản tiền đi
vay và các khoản tiền tự có
Vốn tự góp, các quỹ trợ cấp; từ các
hợp đồng bảo hiểm với khách
hàng; phát hành thương phiếu, cổ
phiếu trái khoản để dùng tiền
thu được cho vay.
Đặc điểm
Nhận tiền gửi
Nhận gửi tiết kiệm (đi vay) các khoản tiền
nhỏ với lãi suất thấp hơn và cho vay lại các
khoản lớn hơn với lãi suất cao
Không được nhận tiền gửi
Đi vay các khoản lớn cho vay
các khoản nhỏ
Hoạt động
Chịu sự quản lý của nhà nước và sự ràng
buộc về tiền gửi dự trữ; bảo hiểm các
khoản vay.
Cho vay với mọi đối tượng không hạn chế
(trừ Chính phủ để đảm bảo nó không nắm
các khoản đầu tư quá mạo hiểm dẫn tới vỡ
nợ) gồm các cá nhân tập thể vay theo nhiều
mục đích: mua nhà đầu tư,…
Không được tham gia vào thị trường
chứng khoán nhằm giảm nguy cơ vỡ nợ,
rủi ro pháp lý
Không bị nhà nước ràng buộc chặt
chẽ như các ngân hàng thương mại.
Các tổ chức tài chính lại chủ yếu
đầu bất động sản, cổ phiếu
thương phiếu,…
Khả năng
sinh lợi
nhuận
thể nhận tiền gửi xoay vòng đồng
tiền, có thể đem cho vay qua các hoạt động
của Ngân hàng nó đã tạo ra 1 hệ số tiền.
Các tổ chức tài chính không làm
được điều này.
II. Hệ thống ngân hàng thương mại Hoa Kỳ
1. Sự ra đời của NHTM Hoa Kỳ
5
Vào ngày 4/1/1782, ngân hàng thương mại đầu tiên Mỹ - Bank of North America
khai trương, đã cấp một lượng lớn các khoản vay cho cả khu vực công và tư nhân. Người
dân New York, do Alexander Hamilton lãnh đạo người Bostonians do William
Phillips lãnh đạo, không chịu thua kém đến đầu năm 1784 đã thành lập các ngân hàng
thương mại của riêng họ. Vào cuối thế kỉ 18, các nhà lãnh đạo trọng thương ở hơn 1 chục
thành phố khác cũng thành lập các ngân hàng thương mại như ngân hàng New York,
ngân hàng Hoa Kỳ,…
Sau năm 1800, số lượng, vốn được phép tài sản của các ngân hàng thương mại đã
tăng lên nhanh chóng. Ngay từ năm 1820, tài sản của các ngân hàng thương mại Hoa Kỳ
đã bằng khoảng 50% tổng sản lượng của Hoa Kỳ, một con sốcác lĩnh vực ngân hàng
thương mại của hầu hết các quốc gia trên thế giới không thể đạt được vào năm 1990.
Hiện tại thì ngân hàng thương mại Hoa Kỳ vẫn đóng vai trò quan trọng đặc biệt
trung gian tài chính giúp vận hành dòng vốn đầu tư trên toàn thị trường.
2. Đặc điểm hệ thống ngân hàng thương mại Hoa Kỳ
2.1 Đặc điểm của hệ thống ngân hàng Hoa Kỳ
Thứ nhất, hệ thống tài chính của Hoa Kỳ phụ thuộc vào thị trường do đó khối lượng tín
dụng ngân hàng cung ứng rất nhỏ thường chỉ cung cấp các dịch vụ nhận tiền gửi, cho
vay truyền thống. Vốn chủ yếu huy động trên thị trường chứng khoán nhưng không thể
phủ nhận vai trò của hệ thống ngân hàng đối với hệ thống tài chính Hoa Kỳ.
Thứ hai, hệ thống ngân hàng Hoa Kỳ sự phân hóa về quy tài sản vô cùng lớn
trung bình tổng tài sản của một ngân hàng lớn ở Mỹ gấp 450 lần quy mô của tổng tài sản
ngân hàng thương mại nhỏ, điều nay dẫn đến tình trạng “too big to fail” tức những ngân
hàng quá lớn thì không thể sụp đổ.
Thứ ba, đặc điểm của ngành ngân hàng Hoa Kỳ các tổ chức ngân hàng được điều
hành, giám sát và quản lý ở cả cấp tiểu bang và liên bang, số lượng rất lớn các ngân hàng
rất nhỏ các ngân hàng Hoa Kỳ thẩm quyền hạn chế hơn trong việc cung cấp các
dịch vụ tài chính liên quan đến chứng khoán, bảo hiểm bất động sản so với các ngân
hàng nước ngoài ở nhiều nước.
Thứ , một điểm khác biệt chính khác của thị trường ngân hàng Hoa Kỳ thiếu sự
phân nhánh đầy đủ trên toàn quốc cho các ngân hàng thương mại. Chỉ mới khoảng 10
năm kể từ khi các ngân hàng được phép mở rộng trên khắp các tiểu bang thậm chí
6
ngày nay khôngngân hàng nào có mặt tất cả 50 tiểu bang. Yếu tố này, cùng với các
hạn chế của Cục Dự trữ Liên bang Hoa Kỳ đối với hoạt động cho vay ngân hàng, nói
chung dẫn đến việc nhiều công ty Hoa Kỳ bất kỳ quy nào một vài hoặc trong
một số trường hợp là hàng chục hoặc thậm chí hàng trăm mối quan hệ ngân hàng.
Thứ năm, yếu tố quan trọng trong môi trường ngân hàng Hoa Kỳ là vai trò của Cục Dự
trữ Liên bang trong việc quản lý hệ thống thanh toán.
Thứ sáu, Hoa Kỳ, bản chất chiều sâu của mối quan hệ giữa khách hàng ngân
hàng bị ảnh hưởng bởi cả các quy định và thực tiễn kinh doanh. Điều này có nghĩa là các
khách hàng Hoa Kỳ cần nắm giữ số ngoại tệ phải nắm giữ bên ngoài Hoa Kỳ. Ngoài
ra còn có các giới hạn về số tiền mà ngân hàng có thể cho bất kỳ khách hàng nào vay, dẫn
đến mối quan hệ giữa các ngân hàng Hoa Kỳ và khách hàng của họ nhiều hơn so với các
quốc gia khác. Một thực tiễn độc đáo khác nhiều ngân hàng Hoa Kỳ tuân theo mối
quan hệ định giá “không theo nhóm” với các khách hàng doanh nghiệp của họ.
2.2 Đặc trưng của ngân hàng thương mại Hoa Kỳ
Một đặc trưng nổi bật nhất của hệ thống ngân hàng Hoa Kỳ chính hệ thống ngân
hàng song nh hệ thống trong đó các ngân hàng thương mại(dual banking system)
được phép hoạt động như ngân hàng quốc gia hoặc ngân hàng bang Hệ thống ngân hàng.
này được ra đời trong thời kỳ Nội chiến Hoa Kỳ. Ngày nay, hệ thống ngân hàng kép
cho phép sự tồn tại của hai cấu trúc điều tiết khác nhau ngân hàng nhà nước quốc
gia. Điều này dẫn đến sự khác biệt về cách thức quản tín dụng, giới hạn cho vay hợp
pháp và các biến thể của các quy định từ tiểu bang. Cấu trúc này đã trải qua thời gian thử
nghiệm hầu hết các nhà kinh tế đều đồng ý rằng cần thiết cho hệ thống ngân
hàng. Ngân hàng quốc gia cung cấp tính hiệu quả bắt nguồn từ tính kinh tế quy mô và sản
phẩm cùng với những cải tiến dịch vụ nhờ áp dụng các nguồn lực tốt hơn. Mặt khác, các
ngân ng nhà nước nhanh nhẹn linh hoạt hơn để đáp ứng nhu cầu riêng của khách
hàng ở chính quốc gia của họ, có thể mang lại nhiều giá trị hơn cho khách hàng.
Ngày nay, hệ thống ngân hàng song hành cho phép cùng tồn tại hai cấu trúc điều tiết
khác nhau cho các ngân hàng tiểu bang và ngân hàng quốc gia. Điều này dẫn đến sự khác
biệt trong cách tín dụng được quy định, giới hạn cho vay hợp pháp các biến thể của
quy định từ tiểu bang này sang tiểu bang khác.
3. Vai trò của ngân hàng thương mại đối với nền kinh tế Hoa Kỳ
7
Thứ nhất, vai trò của ngân hàng thương mại trong phát triển kinh tế Mỹ chủ yếu như
một trung gian tài chính. Trong vai trò này, các ngân hàng thương mại giúp vận hành
dòng vốn đầu trên toàn thị trường. chế phân bổ vốn trong nền kinh tế này được
thực hiện thông qua quá trình cho vay, giúp các ngân hàng đánh giá rủi ro tài chính.
Thứ hai, ngân hàng thương mại đóng vai trò như người nắm toàn quyền kiểm soát rủi
ro. Điều này giúp làm giảm bớt nguy thiệt hại tài chính. Từ đó tạo ra một nguồn vốn
lớn hơn để ngân hàng tiếp tục cho vay, hỗ trợ phát triển kinh tế.
Thứ ba, các ngân hàng thương mại cũng hỗ trợ chính phủ liên bang với vai trò như một
quan phát triển kinh tế. Nhìn chung, các ngân hàng thương mại Mỹ giúp quỹ chi tiêu
của chính phủ bằng cách mua trái phiếu do Bộ Tài chính Mỹ phát hành. Về ngắn dài
hạn, trái phiếu kho bạc sẽ hỗ trợ các hoạt động, chương trình tài chính của chính phủ
cũng như bù đắp thâm hụt chi tiêu.
Thứ, ngân hàng thương mại cũng hỗ trợ cho vay doanh nghiệp theo nhiều cách khác
nhau. Chủ doanh nghiệp thể nhận được một khoản vay để giải quyết các chi phí ban
đầu của một doanh nghiệp nhỏ. Sau khi có vốn, các doanh nghiệp nhỏ có thể bắt đầu hoạt
động tham gia vào kế hoạch phát triển. Tác động tổng hợp của các hoạt động doanh
nghiệp nhỏ là tạo ra một tỷ lệ việc làm đáng kể cho cả nước Mỹ.
Thứ năm, ngân hàng thương mại cũng cung cấp các loại tài khoản nhằm cất giữ hoặc
tạo ra của cải nhân. Đổi lại, tiền gửi vào ngân hàng thương mại được sử dụng để cho
vay và đầu tư.
Như vậy, mặc hệ thống tài chính phụ thuộc vào thị trường nhưng không thể phủ
nhận vai trò mà ngân hàng thương mại đã tạo ra cho nền kinh tế Mỹ. Hệ thống ngân hàng
nói chung ngân hàng thương mại nói riêng đã góp phần tạo nên một nền kinh tế Mỹ
sống động và phát triển như ngày nay.
4. Các hoạt động của ngân hàng thương mại Hoa Kỳ
4.1 Phương thức luân chuyển vốn
Hệ thống tài chính Mỹ cũng giống như các hệ thống tài chính khác, sự luân chuyển vốn
đều diễn ra bằng cả 2 phương thức: Luân chuyển vốn trực tiếp (thị trường tài chính)
luân chuyển vốn gián tiếp( trung gian tài chính).
8
Kênh dẫn vốn trực tiếp: Với sự thống trị của đồng Đô La Mỹ trên thế giới, thị trường
ngoại hối, thị trường tiền tệthị trường chứng khoán của Mỹ hoạt động rất hiệu quả và
làm “ông chùm” trên thị trường tài chính thế giới. không chỉ lớn về khối lượng giao
dịch, giá trị giao dịch còn rất đông các thành viên tham giao, đặc biệt các NHTW
các nước khác trên thế giới. Sự huy động vốn cũng như đầu vốn đây rất hiệu quả.
“Không quá khó để huy động vốn từ thị trường chứng khoán Mỹ” là một nhận định trên
một tờ báo.
Kênh dẫn vốn gián tiếp: Ngoài các loại tiền gửi như của Việt Nam thì Mỹ còn các
loại tiền gửi đặc biệt. Đó là tiền gửi phối hợp giữa tiền gửi dùng séc và tiền gửi tiết kiệm
vào các tài khoản giao dịch bao gồm lệnh rút tiền giao dịch dịch vụ chuyển ngân tự
động thông qua việc cho vay với lãi suất lớn hơn lãi suất họ trả cho những người gửi
tiết kiệm.
4.2 Tạo vốn
Do hệ thống tài chính Mỹ hệ thống tài chính dựa vào thị trường nên khối lượng tín
dụng ngân hàng cung ứng là rất nhỏ( đối với doanh nghiệp với tín dụng dài hạn thậm chí
bằng 0).Vốn chủ yếu được huy động trên thị trường chứng khoán-nơi náo nhiệt
nhộn nhịp nhất trên thị trường tài chính Mỹ, thị trường chứng khoán vai trò tích cực
hơn là ngân hàng trong việc tài trợ vốn và cung cấp các công cụ quản lí rủi ro cho các chủ
thể kinh tế, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp nhỏ huy động vốn mở rộng phát triển
sản xuất, tạo đà cho sự đổi mới liên tục trong toàn bộ nền kinh tế theo đó sự tăng
trưởng,phát triển kinh tế
Mỹ đã áp dụng những chính sách, quy định hạn chế đối với hệ thống ngân hàng để thúc
đẩy doanh nghiệp tìm nguồn tài trợ từ thị trường chứng khoán theo đó thúc đẩy sự
phát triển của thị trường chứng khoán.
Đầu cho chứng khoán cũng một biện pháp cùng quan trọng để huy động vốn.
Đây là nguồn lợi rất lớn đối với không chỉ các trung gian tài chính Mỹ mà với bất kì nước
nào. Nếu tính về thời hạn có những chứng khoán có thời hạn rất ngắn mà chỉ có ở Mỹ chỉ
9
thời hạn24h thỏa ước mua lại do ngân hàng thương mại phát hành để vay trong
24h gọi là thỏa ước qua đêm. Trong thị trường, người cần vốn là các doanh nghiệp, các tổ
chức kinh doanh trong ngoài nước. Mỹ vốn của các tổ chức Ngân hàng cũng như
các trung gian tài chính khác không được phân bố rộng rãi mà chỉ tập trung trong tay của
1 số cổ đông lớn. Vì thế quá trình huy động cũng như cung ứng vốn là vô cùng tiện lợi và
nhanh chóng. Các trung gian tài chính sẽ đáp ứng đầy đủ kịp thời nhu cầu vốn đồng
thời cũng nhận được các khoản lợi nhất định nên các trung gian tài chính của Mỹ luôn
1 nguồn vốn rất lớn dự trữ đảm bảo nguồn vốn luôn được khai thông trong thị trường tiền
tệ. Hơn nữa cấu trúc của hệ thống các trung gian tài chính của M cũng rất thông suốt
mạch lạc khiến cho khả năng huy động cung ứng vốn rất nhanh chóng kịp thời đồng
thời cũng huy động được 1 lượng vốn lớn trong thời gian ngắn đảm bảo cho các hoạt
động kinh doanh.
4.3 Cho vay
Đối với bất kỳ ngân hàng nào, một trong những dịch vụ quan trọng nhất mà ngân hàng
thương mại cung cấp cho vay. Khi nền kinh tế Hoa Kỳ tiếp tục phát triển, nhu cầu về
các khoản vay để bắt đầu kinh doanh mới hoặc mở rộng một doanh nghiệp hiện tại cũng
sẽ tăng lên. Vào tháng 10 năm 2020, giá trị các khoản cho vay của các ngân hàng thương
mại Hoa Kỳ lên tới hơn 14,9 nghìn tỷ đô la, tăng so với khoảng 13,7 nghìn tỷ trong năm
trước đó. Các ngân hàng thương mại cũng đã phát hành khoảng 924 tỷ đô la Mỹ cho các
cá nhân vay qua thẻ tín dụng và các kế hoạch liên quan khác trong năm 2019.
10
Đơn vị: Tỷ đô la Mỹ
Nguồn: Hội đồng Thống đốc của Hệ thống Dự trữ Liên bang
Khoản cho vay thương mại công nghiệp của tất ccác ngân hàng thương mại tính
đến tháng 2/2021 2,589,9703 tỷ đô la Mỹ. Trong giai đoạn đầu năm 2018-2020 khoản
cho vay thương mại công nghiệp xu hướng tăng khá chậm nhưng từ tháng 2/2020
khoản cho vay này biến động đáng kể, tăng đột biến từ tháng 2 đến tháng 5 sau đó
giảm mạnh đến cuối năm 2020. Ngoài ra, m 2019 giá trị các khoản cho vay nhân
thông qua thẻ tín dụng các kế hoạch liên quan do các ngân hàng thương mại được
FDIC bảo hiểm tại Mỹ đạt 924,46 tỷ USD; Thu nhập lãi của các ngân hàng thương mại
được FDIC bảo hiểm đạt 653,68 tỷ USD; Chi phí lãi vay của các ngân hàng thương mại
được FDIC bảo hiểm đạt 148,38 tỷ USD.
4.4 Đầu tư tài chính
Đây là một hình thức đầu chủ yếu thông qua hình thức mua chứng khoán (chứng
khoán vốn - cổ phiếu hoặc chứng khoán nợ - trái phiếu) hoặc các công cụ tài chính khác.
Nhà đầu tài chính thông thường nhắm vào mục đích mua bán chứ ít khi làm tăng
giá trị thực của công ty mà họ đầu tư vào. Đây còn là hoạt động sử dụng vốn nhàn rỗi với
mục tiêu tìm kiếm lợi nhuận, gia tăng giá trị vốn đầu ban đầu với chiến lược lâu dài,
chủ yếu mua chứng khoán, trái phiếu hoặc các công cụ tài chính. Bên cạnh đó,hoạt động
đầu tư tài chính giúp đa dạng hóa danh mục sản phẩm và phân tán ủi ro trong kinh doanh
11
Thông thường chứng khoán họ đầu những chứng khoán an toàn nhất như trái
phiếu kho bạc đến những khoản đầu tương đối an toàn. Ngoài ra, tín phiếu kho bạc
cũng chứng khoán an toàn cho nhà đầu Mỹ, được phát hành bởi chính phủ Mỹ,
thể mua trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua bán đấu giá. Giá trị khoản đầu của ngân
hàng thương mại Mỹ trong các nghĩa vụ ngân khố đạt 619,6 tỷ USD.
Điển hình như các ngân hàng thương mại Hoa Kỳ đã bổ sung 66 tỷ USD trái phiếu
Kho bạc vào tháng 7/2020 và 228 tỷ USD trong vòng 12 tháng, lên tổng cộng 1,14 nghìn
tỷ USD, theo công bố dữ liệu của Cục Dự trữ Liên bang trên bảng cân đối ngân hàng,
khối lượng chiếm 4.3% tổng số nợ của Hoa Kỳ.
4.5 Giao dịch ngoại hối
Giao dịch ngoại hối thị trường nơi bạn có thể trao đổi ngoại hối/ngoại tệ sự mua
bán trao đổi hàng hóa ngoại tệ các giấy tờ giá trị thanh toán bằng ngoại tệ trên thị
trường quốc tế, và đây là loại thị trường tài chính lớn số một thế giới, với lượng tiền giao
dịch mỗi ngày đạt đến con số 5,3 nghìn tỷ USD mỗi ngày.
12
Một trong các trường ngoại hối lớn nhất thế giới hoạt động 24/24 giờ thị trường
ngoại hối Mỹ-một trong các thị trường lớn nhất tính thanh khoản cao nhất trên thế
giới. Theo ước tính thì doanh số toàn cầu của thị trường ngoại hối Mỹ đạt mức khoảng
1.500 tỷ đô la Mỹ một ngày, gấp vài lần so với doanh số thị trường trái phiếu Chính phủ
Mỹ, thị trường lớn thứ hai thế giới. Theo ước tính của Ngân hàng thế giới thì lượng giao
dịch Trái phiếu công ty tại Mỹ vào khoảng 17 tỷ USD mỗi ngày. Thị trường cổ phiếu
Mỹ luôn được coi thị trường quan trọng ng đầu thế giới. Đồng tiền được giao dịch
nhiều nhất trên thị trường này đô la Mỹ. Đồng đô la Mỹ đồng tiền được mua bán
nhiều nhất trên thế giới cho đến nay, đây một trong hai đồng tiền được sử dụng trong
hơn 87% các giao dịch ngoại hối, tương đương với khoảng 1.300 tỷ đô la Mỹ một ngày.
Hơn thế nữa, đô la Mỹ còn là đồng tiền yết giá trong các giao dịch ngoại hối, là đồng tiền
phải sử dụng do sức ép thương mại tài chính. Thực tế thương mại cho thấy các giao
dịch ngoại hối giữa hai đồng tiền với nhau thường phải thông qua đồng tiền thứ ba như là
một đồng tiền yết giá chứ ít khi hai đồng tiền trực tiếp trao đổi với nhau (trừ những ngoại
tệ mạnh với nhau).
5.Tổng hệ thống ngân hàng thương mại tại Hoa Kỳ năm 2020
Tăng trưởng trung bình toàn ngành 2015–2020, 3,5% Ngành Ngân hàng Thương mại
đã được hưởng lợi từ việc cải thiện tâm lý kinh doanh và lãi suất tăng trong phần lớn thời
gian 5 năm đến năm 2020. Các ngân hàng thương mại kiếm được phần lớn doanh thu
thông qua chênh lệch lãi suất giữa tiền gửi của khách hàng tiền cho vay. Các ngân
hàng chấp nhận tiền gửi và gửi chúng vào tài khoản tiết kiệm và các sản phẩm như chứng
chỉ tiền gửi, nơi không thể rút tiền trong một thời gian nhất định. Các ngân hàng trả lãi
cho người gửi tiền đối với khoản tiền này cho vay các khoản tiền gửi này với lãi suất
cao hơn dưới dạng thế chấp, cho vay mua ô tô, cho vay cá nhân hoặc cho vay kinh doanh
nhỏ. Doanh thu thường được tính bằng chênh lệch giữa các tài khoản có lãi và các khoản
cho vay, kết hợp với doanh thu không có lãi, chẳng hạn như ghi nợ.
Doanh thu các ngân hàng thương mại hàng đầu ở Mỹ năm 2019
13
Đơn vị: Tỷ đô la Mỹ
Năm 2020, JP Morgan Chasengân hàng thương mạidoanh thu cao nhất Hoa Kỳ,
với tổng doanh thu 142,42 tỷ đô la Mỹ. Ngoài JP Morgan Chase, Bank of America,
Wells Fargo Citigroup cũng đứng đầu bảng xếp hạng trong năm đó. Bên cạnh đó JP
Morgan Chase cũng là nhà phát hành thẻ ngân hàng thương mại hàng đầu trong cùng năm
đó Các ngân hàng thương mại nền tảng của kinh doanh tài chính Hoa Kỳ. Số
lượng ngân hàng thương mại được FDIC bảo hiểm giảm đều đặn trong thập kỷ qua, tính
đến năm 2020 Hoa Kỳ 4.519 ngân ng thương mại, ít hơn năm trước khoảng 200
ngân hàng.
ƯU ĐIỂM: Ngân hàng thương mại giúp vận hành dòng vốn đầu tư trên toàn thị trường.
chế phân bổ vốn trong nền kinh tế này được thực hiện thông qua quá trình cho vay,
giúp các ngân hàng đánh giá rủi ro tài chính. Hệ thống tiền tệ dựa vào thị trường nên
cung cấp công cụ quản rủi ro đa dạng hơn, tạo hội huy động vốn cho các doanh
nghiệp. Quá trình huy động vốn cùng nhanh chóng quy lớn vốn của các tổ
chức Ngân hàng cũng như các trung gian tài chính chỉ tập trung ở một số cổ đông lớn, đối
tượng để huy động vốn nhiều: quỹ trợ cấp, công ty bảo hiểm,...
14
Ưu điểm khác đó khả năng cung cấp giá thấp của các ngân hàng thương mại. Họ hoạt
động giống như các công ty bán buôn mua với s lượng lớn bán với giá chiết
khấu. Hầu hết các ngân hàng thương mại sẽ không tính phí mở hoặc duy trì tài khoản séc
tài khoản tiết kiệm, các khoản vay bất động sản của họ thường được cung cấp với
lãi suất thấp.
NHƯỢC ĐIỂM: Các ngân hàng tham gia vào bảo lãnh phát hành đầu chứng
khoán thể dẫn đến rủi ro cho các khách hàng gửi tiền Chính phủ phải đứng ra cứu
vớt. Hơn nữa sự sụp đổ của các ngân hàng thương mại thể làm mất niềm tin của dân
chúng vào hệ thống ngân hàng dẫn tới đổ vỡ hệ thống tài chính. Ngân hàng thương
mại được trợ cấp một phần bảo hiểm tiền gửi do đó được phép huy động vốn nhàn rỗi
trong dân rẻ hơn thông qua các khoản tiết kiệm. Do đó nếu cho phép kinh doanh ngân
hàng đầu tư, họ thể cạnh tranh tốt hơn các đối thủ ngân hàng đầu khác không
hoạt động ngân hàng thương mại.
III. SO SÁNH NHTM MỸ VÀ VIỆT NAM
1 Giống nhau:
Thị trường tài chính đều bao gồm thị trường vốn và thị trường tiền tệ
Thị trường vốn bao gồm tín phiếu kho bạc đều do Chính phủ phát hành, chứng chỉ
tiền gửi, thương phiếu, vay liên ngân hàng, hoạt động mua bán lại thị trường chứng
khoán,... Thị trường tiền tệ gồm trái phiếu, cổ phiếu,..
Đều có các nghiệp vụ của NHTM
Huy động vốn: nhận tiền gửi, các loại tiền bao gồm tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi
dùng sec, tiền gửi tiết kiệm, tiền gửi có thấu chi.
Nghiệp vụ đầu tư vốn bao gồm cho vay và đầu tư chứng khoán
Phương thức luân chuyển vốn
15
Hệ thống tài chính Mỹ và hệ thống tài chính Việt Nam cũng giống như các hệ thống tài
chính khác, sự luân chuyển vốn đều diễn ra bằng cả 2 phương thức: Luân chuyển vốn
trực tiếp (thị trường tài chính) và luân chuyển vốn gián tiếp (trung gian tài chính).
2. Khác nhau:
2.1 Mỹ
Hệ thống tài chính dựa vào thị trường
Nguồn tài trợ chính của nền kinh tế thị trường tài chính chủ yếu thị trường vốn
thị trường chứng khoán. Hành vi của các chủ thể trong hệ thống tài chính ưu thích
rủi ro nắm giữ nhiều cổ phiếu có rủi ro cao. Mô hình tổ chức ngân hàng là các ngân hàng
thường chi cung cấp các dịch vụ nhận tiền gửi - cho vay truyền thống. Thị trường tạo ra
thông tin công khai, tổng hợp thành giá cả (giá chứng khoán tổng hợp của thông tin
được công bố.
Tạo vốn
Mỹ khối lượng tín dụng ngân ng cung ứng rất nhỏ vốn chủ yếu được huy
động trên thị trường chứng khoán. Đầu cho chứng khoán cũng một biện pháp
cùng quan trọng để huy động vốn. Đây nguồn lợi rất lớn đối với không chỉ các trung
gian tài chính Mỹ mà với bất kì nước nào.
Giao dịch ngoại hối
Giao dịch ngoại hối loại thị trường tài chính lớn số một thế giới, với lượng tiền giao
dịch mỗi ngày đạt đến con số 5,3 nghìn tỷ USD mỗi ngày. Đồng đô la Mỹ đồng tiền
được sử dụng trong hơn 87% các giao dịch ngoại hối, tương đương với khoảng 1.300 tỷ
đô la Mỹ một ngày. Hơn thế nữa, đô la Mỹ còn đồng tiền yết giá trong các giao dịch
ngoại hối, là đồng tiền phải sử dụng do sức ép thương mại và tài chính.
2.2 Việt Nam:
Hệ thống tài chính dựa vào ngân hàng
16
Khác với hệ thống tài chính dựa vào thị trường, nguồn tài trợ chính của nền kinh tế là tín
dụng ngân hàng. Hành vi của các chủ thể trong hệ thống tài chính ngại rủi ro chủ yếu
nắm giữ tiền mặt tiền gửi rủi ro thấp. hình tổ chức ngân hàng ngân hàng đa
năng ngoài dịch vụ ngân hàng truyền thống còn cung cấp một loạt các dịch vụ tài chính
khác như bảo lãnh phát hành, kinh doanh chứng khoán, bảo hiểm,...
Tạo vốn
Khác với ngân hàng thương mại Mỹ, vốn của ngân hàng thương mại Việt Nam gồm vốn
thuộc sở hữu của Ngân hàng (vốn tự có), vốn huy động và các nguồn vốn khác.
Vốn tự của NHTM những giá trị tiền tệ do NHTM tạo lập được, thuộc sở hữu của
Ngân hàng. Vốn tự có được coi như tài sản đảm bảo gây lòng tin đối với khách hàng, duy
trì khả năng thanh toán trong trường hợp Ngân hàng gặp nhiều thua lỗ. còn một
trong những căn cứ quyết định đến quy mô và khối lượng huy động vốn của Ngân hàng.
Vốn huy động những giá trị tiền tệ Ngân hàng huy động được từ các tổ chức kinh
tế các nhân trong hội thông qua quá trình thực hiện các nghiệp vụ tín dụng,
thanh toán, các nghiệp vụ kinh doanh khác được dùng để kinh doanh. Bản chất
của vốn huy động tài sản thuộc các chủ sở hữu khác nhau. Vốn huy động đóng vai trò
hết sức quan trọng trong hoạt động kinh doanh của Ngân hàng. Vốn huy động bao gồm:
Tiền gửi của khách hàng, vốn đi vay, vốn phát hành các chứng từ có giá.
Các nguồn vốn khác gồm vốn tiếp nhận và các loại nguồn vốn khác: gồm vốn tài trợ, vốn
đầu phát triển, vốn uỷ thác chương trình, dự án xây dựng bản tập trung của Nhà
nước hay trợ giúp cho đầu tư phát triển những chương trình, dự án có mục tiêu kinh tế, xã
hội riêng.
Trong năm 2020, Ngân hàng Nhà nước đã 3 lần ra quyết định giảm đồng bộ các mức lãi
suất điều hành với tổng mức giảm tới 1,5-2%/năm. Theo đó, mức trần lãi suất tiền gửi kỳ
hạn dưới 6 tháng đã giảm xuống mức 4%/năm. Lãi suất cho vay ngắn hạn tối đa bằng
VND đối với các lĩnh vực ưu tiên cũng giảm về 4,5%/năm.
Giao dịch ngoại hối
17
Để thấy rõ thực trạng hoạt động kinh doanh ngoaị hối của các NHTM Việt Nam hiện nay
trong bối cảnh tác động của căng thẳng thương mại Mỹ Trung Quốc, trong Báo cáo tài
chính hết quý I/2019 cho thấy, số lượng ngân hàng có lợi nhuận tăng chiếm đa số. Xét về
giá trị tuyệt đối, Vietcombank vẫn NHTM lợi nhuận cao nhất ngành. Hoạt động
dịch vụ đạt lãi thuần trên 1.069 tỷ đồng, tăng 21%, hoạt động kinh doanh ngoại hối
vàng cũng đạt 928 tỷ đồng, tăng 51%. Nhìn lại trong năm 2018, dựa trên báo cáo tài
chính hết quý 3/2018, kết quả tổng hợp cho thấy, 20 ngân hàng có lãi thuần từ kinh doanh
ngoại hối, đạt hơn 4.200 tỷ đồng trong 9 tháng đầu năm 2018, tăng 32% so với cùng kỳ
năm 2017, cho thấy đây vẫn là mảng kinh doanh hấp dẫn; đồng thời các NHTM cũng chủ
động, linh hoạt, có kinh nghiệm hơn phòng ngừa rủi ro tốt hơn. Riêng quý 3/2018, 20
ngân hàng này có lãi 1.290 tỷ đồng từ kinh doanh ngoại hối. Đây quý sự biến động
mạnh nhất của NDT VND so với USD, tức mức độ rủi ro lớn nhất, nhưng các
NHTM Việt Nam vẫn duy trì được số lãi ổn định từ hoạt động kinh doanh này.
18
Kết luận
Từ việc so sánh hệ thống ngân hàng thương mại Mỹ Việt Nam ta thấy được tầm
quan trọng của hệ thống ngân hàng đối với tất cả các quốc gia. Cần xây dựng một hệ
thống ngân hàng tiềm lực vững mạnh, nhanh chóng đa dạng các hình thức huy
động vốn kết hợp với phát triển thị trường tài chính nhằm huy động hết công suất vốn
trong nước nước ngoài để phát triển, ổn định nền kinh tế trong giai đoạn khó khăn do
dịch Covid-19 gây ra. Từ đó, đưa đất nước phát triển hùng mạnh, nâng cao đời sống cho
nhân dân.
19

Preview text:

HỌC VIỆN NGÂN HÀNG KHOA NGÂN HÀNG Bài tập lớn
Học phần: Ngân hàng thương mại Đ ề tài: H ệ th
ố ng ngân hàng th ươ ng m ạ i t i ạ Mỹ
Giảng viên hướng dẫn: Tạ Thanh Huyền
Lớp học phần: FIN 17A-01
Nhóm thực hiện: Nhóm 6
Bùi Thị Huế – 22A4010543 (Nhóm trưởng)
Bùi Thị Ánh Minh – 22A4010535
Nguyễn Huyền Trang – 22A4011064
Hoàng Thị Thu – 22A4060017
Dương Thúy Nga – 22A4010887
Hà Nội, ngày 23 tháng 03 năm 2021 MỤC LỤC
MỞ ĐẦU…………………………………………………………………….2
NỘI DUNG………………………………………………………………….3
I, Phần lý luận……………………………………………………………….3
1.Khái niệm, chức năng của NHTM…………….…………….…………….3
2. Vai trò và vị trí của NHTM………………………………………………..5
3. So sánh NHTM với các tổ chức tài chính khác…………….……………6
II. Hệ thống NHTM của Hoa Kỳ……………………………..…………….7
1. Sự ra đời của NHTM Hoa Kỳ……………...……………….…………...7
2.Đặc điểm hệ thống NHTM Hoa Kỳ……………..………….…………... 8
3. Vai trò của NHTM đối với nền kinh tế Hoa Kỳ…………...…..….……10
4.Các hoạt động của NHTM Hoa Kỳ……………………………….…….11
5.Tổng quan hệ thống NHTM Hoa Kỳ năm 2020……….………......……16
III. So sánh NHTM Mỹ và Việt Nam …………………………….……….18
1. Giống nhau………………………………...………………….………...18
2. Khác nhau………………………………...…………………..………...20
KẾT LUẬN…………………………………………………….…………. .24
TÀI LIỆU THAM KHẢO……………………………………....................25 1 Lời mở đầu
Hiện nay trong xu thế hội nhập mạnh mẽ của nền kinh tế thế giới, thị trường tài chính
đóng vai trò rất quan trọng. Đối với một số quốc gia trên thế giới thì nhu cầu về vốn đầu
tư là rất lớn. Để đáp ứng nhu cầu này thì các quốc gia đã đưa ra những biện pháp để thu
hút vốn cả trong nước và ngoài nước. Từ đó, hoạt động của các tổ chức tài chính trên thế
giới đã ra đời và phát triển mạnh mẽ trong đó phải kể đến hệ thống ngân hàng. Hệ thống
này đã giúp các quốc gia điều hành nền kinh tế thông qua các định chế tài chính, các
chính sách tiền tệ và lãi suất.
Mỹ là một quốc gia có nền kinh tế phát triển lớn mạnh và năng động. Mỗi biến động
kinh tế của Mỹ đều tác động tới nền kinh tế toàn cầu. Trong những năm gần đây với sự
ảnh hưởng của đại dịch Covid-19 đã làm cho nền kinh tế Mỹ khủng hoảng trầm trọng
nhưng ngành ngân hàng lại có doanh thu tăng do thu được từ quản lí tài sản, phí bảo lãnh
tăng lên nhờ làn sóng phát hành trái phiếu – IPO,…Từ đây ta thấy được mặc dù hệ thống
tài chính Mỹ phụ thuộc vào thị trường nhưng hệ thống ngân hàng đặc biệt là ngân hàng
thương mại vẫn đóng vai trò quan trọng đối với nền kinh tế Mỹ.
Việt Nam là một quốc gia với thị trường tài chính phụ thuộc vào ngân hàng và ít nhiều
chịu sự tác động của nền kinh tế Mỹ và toàn cầu. Do đó việc tìm hiểu và cập nhật những
tin tức mới trên thế giới là vô cùng quan trọng. Hiểu được tính cấp thiết đó chúng em đã
lựa chọn đề tài “Hệ thống ngân hàng thương mại của Mỹ, liên hệ sự giống và khác nhau
với hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam”
Bài tiểu luận có sử dụng một số tài liệu trong nước và nước ngoài, chúng em sẽ trích
dẫn ở phần cuối của tiểu luận. Mặc dù đã làm hết khả năng của mình nhưng do trình độ,
kinh nghiệm còn hạn chế chắc chắn không tránh khỏi những sai sót, chúng em hy vọng
cô nhận xét, đánh giá và góp ý để bào tiểu luận được hoàn thiện nhất. Chúng em chân thành cảm ơn. 2 I.CƠ SỞ LÝ THUYẾT
1. Khái niệm, chức năng ngân hàng thương mại
1.1. Định nghĩa Ngân hàng thương mại:
Ngân hàng thương mại là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân
hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật các tổ chức tín dụng
nhằm mục tiêu lợi nhuận.
Hoạt động ngân hàng là việc kinh doanh, cung ứng thường xuyên một hoặc một số các
nghiệp vụ sau đây: nhận tiền gửi, cấp tín dụng, cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản.
1.2. Chức năng ngân hàng thương mại:
Chức năng trung gian tín dụng: Được xem là chức năng quan trọng nhất của Ngân
hàng thương mại. Khi thực hiện chức năng trung gian tín dụng, NHTM đóng vai trò là
cầu nối giữa người thừa vốn và người có nhu cầu về vốn. Với chức năng này, ngân hàng
thương mại vừa đóng vai trò nhận tiền gửi, vừa đóng vai trò là người cho vay và hưởng
lợi nhuận là khoản chênh lệch giữa lãi suất nhận gửi và lãi suất cho vay và góp phần tạo
lợi ích cho tất cả các bên tham gia: người gửi tiền và người đi vay...
Chức năng trung gian thanh toán: Ở đây NHTM đóng vai trò là thủ quỹ cho các doanh
nghiệp và cá nhân, thực hiện các thanh toán theo yêu cầu của khách hàng như trích tiền từ
tài khoản tiền gửi của họ để thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ hoặc nhập vào tài khoản
tiền gửi của khách hàng tiền thu bán hàng và các khoản thu khác theo lệnh của họ.
Các NHTM cung cấp cho khách hàng nhiều phương tiện thanh toán tiện lợi như séc, ủy
nhiệm chi, ủy nhiệm thu, thẻ rút tiền, thẻ thanh toán, thẻ tín dụng… Tùy theo nhu cầu,
khách hàng có thể chọn cho mình phương thức thanh toán phù hợp. Chức năng này vô
hình trung đã thúc đẩy lưu thông hàng hóa, đẩy nhanh tốc độ thanh toán, tốc độ lưu
chuyển vốn, từ đó góp phần phát triển kinh tế.
Chức năng tạo tiền: Tạo tiền là một chức năng quan trọng, phản ánh rõ bản chất của
NHTM. Với mục tiêu là tìm kiếm lợi nhuận như là một yêu cầu chính cho sự tồn tại và
phát triển của mình, các NHTM với nghiệp vụ kinh doanh mang tính đặc thù của mình đã
vô hình trung thực hiện chức năng tạo tiền cho nền kinh tế.
Chức năng tạo tiền được thực thi trên cơ sở hai chức năng khác của NHTM là chức
năng tín dụng và chức năng thanh toán. Thông qua chức năng trung gian tín dụng, ngân
hàng sử dụng số vốn huy động được để cho vay, số tiền cho vay ra lại được khách hàng
sử dụng để mua hàng hóa, thanh toán dịch vụ trong khi số dư trên tài khoản tiền gửi
thanh toán của khách hàng vẫn được coi là một bộ phận của tiền giao dịch, được họ sử
dụng để mua hàng hóa, thanh toán dịch vụ… Với chức năng này, hệ thống NHTM đã làm
tăng tổng phương tiện thanh toán trong nền kinh tế, đáp ứng nhu cầu thanh toán, chi trả
của xã hội. NHTM tạo tiền phụ thuộc vào tỉ lệ dự trữ bắt buộc của ngân hàng trung ương
đã áp dụng đối với NHTM. Do vậy ngân hàng trung ương có thể tăng tỉ lệ này khi lượng
cung tiền vào nền kinh tế lớn. 3
2. Vị trí, vai trò của NHTM trong HTTC 2.1. Vị trí
Trong các trung gian tài chính thì NHTM là một tỏ chức quan trọng nhất, nó giữ
khoảng 2/3 tài sản có trong hệ thống ngân hàng. Chính vì vậy NHTM là tổ chức trung
gian tài chính có vai trò quan trọng nhất trong tài chính gián tiếp, có khả năng chi phối
hoạt động của hệ thống tài chính
Thứ nhất, NHTM là một trung gian tài chính có số lượng lớn nhất trong hệ thống các tổ
chức tài chính và thực hiện phần lớn các hoạt động của các trung gian tài chính nói chung.
NHTM tập trung và huy động vốn ngân hàng bằng cách nhận tiền gửi của dân chúng
dưới các hình thức tiền gửi có kỳ hạn, không kỳ hạn và tiền gửi tiết kiệm. Với số vốn đó
ngân hàng tiến hành cho vay các doanh nghiệp, cá nhân có nhu cầu về vốn. Là một trung
gian tài chính giữa nhà tiết kiệm và nhà đầu tư, NHTM thu lợi nhuận thông qua chênh
lệch lãi suất vay và lãi suất huy động.
Thứ hai, NHTM đóng vai trò quan trọng trong việc đáp ứng đầy đủ lợi ích của hệ thống
tài chính. NHTM cho phép tiết kiệm thời gian, chi phí để thu thập và xử lý thông tin cho
những người cho vay cũng như người đi vay. Trên cơ sở đó hạ thấp chi phí sử dụng vốn.
NHTM cho phép tiết kiệm được chi phí giao dịch giữa người đi vay và người cho vay.
Thông thường một cá nhân đi vay hoặc cho vay trên thị trường tài chính phải chịu chi phí
giao dịch cao vì vậy đối với cả hai đều không có lợi. Sự có mặt của NHTM đã giải quyết
được tình hình trên. NHTM là tổ chức thường xuyên nhận tiền gửi và cho vay do đó chi
phí giao dịch sẽ giảm đi rất nhiều, đồng thời huy động một lượng vốn lớn để phát triển kinh tế.
Như vậy, NHTM đóng vai trò cực kỳ quan trọng trong hệ thống tài chính, nó góp phần
đẩy nhanh tốc độ lưu chuyển vốn trên thị trường, thúc đẩy phát triển kinh tế.
2.2 Vai trò của NHTM đối với sự phát triển kinh tế.
Vai trò trung gian: Chuyển các khoản tiết kiệm, chủ yếu từ hộ gia đình, thành các
khoản tín dụng cho các tổ chức kinh doanh và các thành phần khác để đầu tư vào nhà
cửa, thiết bị và các tài sản khác.
Vai trò thanh toán: Thay mặt khách hàng thực hiện thanh toán cho việc mua hàng hóa
và dịch vụ (như bằng cách phát hành và bù trừ sec, cung cấp lưới thanh toán điện tử, kết
nối các quỹ và phân phối tiền giấy và tiển đúc).
Vai trò người bảo lãnh: Cam kết trả nợ cho khách hàng khi khách hàng mất khả năng
thanh toán (chẳng hạn phát hành thư tín dụng).
Vai trò thực hiện chính sách: Thực hiện các chính sách của chính phủ, góp phần điều
tiết sự tăng trưởng kinh tế và theo đuổi mục tiêu xã hội.
3.So sánh ngân hàng thương mại với các tổ chức tài chính khác 4 3.1 Giống nhau:
Ngân hàng thương mại các tổ chức tài chính phi ngân hàng đều là các 1 tổ chức hoạt
động trong lĩnh vực tài chính, tiền tệ.
Đều chịu sự điều chỉnh của Pháp luật ngân hàng và tiền tệ. 3.2 Khác nhau: Tiêu chí Ngân hàng thương mại Tổ chức tài chính
Vốn tự góp, các quỹ trợ cấp; từ các
Nguồn vốnCác khoản tiền nhận gửi, các khoản tiền đi hợp đồng bảo hiểm với khách
vay và các khoản tiền tự có
hàng; phát hành thương phiếu, cổ
phiếu và trái khoản để dùng tiền thu được cho vay. Nhận tiền gửi
Không được nhận tiền gửi
Đặc điểm Nhận gửi tiết kiệm (đi vay) các khoản tiền Đi vay các khoản lớn và cho vay
nhỏ với lãi suất thấp hơn và cho vay lại cáccác khoản nhỏ
khoản lớn hơn với lãi suất cao
Chịu sự quản lý của nhà nước và sự ràng
buộc về tiền gửi dự trữ; bảo hiểm các khoản vay.
Cho vay với mọi đối tượng không hạn chế
(trừ Chính phủ để đảm bảo nó không nắm Không bị nhà nước ràng buộc chặt
các khoản đầu tư quá mạo hiểm dẫn tới vỡ chẽ như các ngân hàng thương mại.
Hoạt động nợ) gồm các cá nhân tập thể vay theo nhiều Các tổ chức tài chính lại chủ yếu
mục đích: mua nhà đầu tư,…
đầu tư bất động sản, cổ phiếu và
Không được tham gia vào thị trường thương phiếu,…
chứng khoán nhằm giảm nguy cơ vỡ nợ, rủi ro pháp lý
Khả năng Có thể nhận tiền gửi và xoay vòng đồng sinh lợi
tiền, có thể đem cho vay qua các hoạt động Các tổ chức tài chính không làm nhuận
của Ngân hàng nó đã tạo ra 1 hệ số tiền. được điều này.
II. Hệ thống ngân hàng thương mại Hoa Kỳ
1. Sự ra đời của NHTM Hoa Kỳ 5
Vào ngày 4/1/1782, ngân hàng thương mại đầu tiên ở Mỹ - Bank of North America
khai trương, đã cấp một lượng lớn các khoản vay cho cả khu vực công và tư nhân. Người
dân New York, do Alexander Hamilton lãnh đạo và người Bostonians do William
Phillips lãnh đạo, không chịu thua kém và đến đầu năm 1784 đã thành lập các ngân hàng
thương mại của riêng họ. Vào cuối thế kỉ 18, các nhà lãnh đạo trọng thương ở hơn 1 chục
thành phố khác cũng thành lập các ngân hàng thương mại như ngân hàng New York, ngân hàng Hoa Kỳ,…
Sau năm 1800, số lượng, vốn được phép và tài sản của các ngân hàng thương mại đã
tăng lên nhanh chóng. Ngay từ năm 1820, tài sản của các ngân hàng thương mại Hoa Kỳ
đã bằng khoảng 50% tổng sản lượng của Hoa Kỳ, một con số mà các lĩnh vực ngân hàng
thương mại của hầu hết các quốc gia trên thế giới không thể đạt được vào năm 1990.
Hiện tại thì ngân hàng thương mại ở Hoa Kỳ vẫn đóng vai trò quan trọng đặc biệt là
trung gian tài chính giúp vận hành dòng vốn đầu tư trên toàn thị trường.
2. Đặc điểm hệ thống ngân hàng thương mại Hoa Kỳ
2.1 Đặc điểm của hệ thống ngân hàng Hoa Kỳ
Thứ nhất, hệ thống tài chính của Hoa Kỳ phụ thuộc vào thị trường do đó khối lượng tín
dụng ngân hàng cung ứng là rất nhỏ thường chỉ cung cấp các dịch vụ nhận tiền gửi, cho
vay truyền thống. Vốn chủ yếu huy động trên thị trường chứng khoán nhưng không thể
phủ nhận vai trò của hệ thống ngân hàng đối với hệ thống tài chính Hoa Kỳ.
Thứ hai, hệ thống ngân hàng Hoa Kỳ có sự phân hóa về quy mô tài sản là vô cùng lớn
trung bình tổng tài sản của một ngân hàng lớn ở Mỹ gấp 450 lần quy mô của tổng tài sản
ngân hàng thương mại nhỏ, điều nay dẫn đến tình trạng “too big to fail” tức những ngân
hàng quá lớn thì không thể sụp đổ.
Thứ ba, đặc điểm của ngành ngân hàng Hoa Kỳ là các tổ chức ngân hàng được điều
hành, giám sát và quản lý ở cả cấp tiểu bang và liên bang, số lượng rất lớn các ngân hàng
rất nhỏ và các ngân hàng Hoa Kỳ có thẩm quyền hạn chế hơn trong việc cung cấp các
dịch vụ tài chính liên quan đến chứng khoán, bảo hiểm và bất động sản so với các ngân
hàng nước ngoài ở nhiều nước.
Thứ tư, một điểm khác biệt chính khác của thị trường ngân hàng Hoa Kỳ là thiếu sự
phân nhánh đầy đủ trên toàn quốc cho các ngân hàng thương mại. Chỉ mới khoảng 10
năm kể từ khi các ngân hàng được phép mở rộng trên khắp các tiểu bang và thậm chí 6
ngày nay không có ngân hàng nào có mặt ở tất cả 50 tiểu bang. Yếu tố này, cùng với các
hạn chế của Cục Dự trữ Liên bang Hoa Kỳ đối với hoạt động cho vay ngân hàng, nói
chung dẫn đến việc nhiều công ty Hoa Kỳ ở bất kỳ quy mô nào có một vài hoặc trong
một số trường hợp là hàng chục hoặc thậm chí hàng trăm mối quan hệ ngân hàng.
Thứ năm, yếu tố quan trọng trong môi trường ngân hàng Hoa Kỳ là vai trò của Cục Dự
trữ Liên bang trong việc quản lý hệ thống thanh toán.
Thứ sáu, ở Hoa Kỳ, bản chất và chiều sâu của mối quan hệ giữa khách hàng và ngân
hàng bị ảnh hưởng bởi cả các quy định và thực tiễn kinh doanh. Điều này có nghĩa là các
khách hàng Hoa Kỳ cần nắm giữ số dư ngoại tệ phải nắm giữ bên ngoài Hoa Kỳ. Ngoài
ra còn có các giới hạn về số tiền mà ngân hàng có thể cho bất kỳ khách hàng nào vay, dẫn
đến mối quan hệ giữa các ngân hàng Hoa Kỳ và khách hàng của họ nhiều hơn so với các
quốc gia khác. Một thực tiễn độc đáo khác là nhiều ngân hàng Hoa Kỳ tuân theo mối
quan hệ định giá “không theo nhóm” với các khách hàng doanh nghiệp của họ.
2.2 Đặc trưng của ngân hàng thương mại Hoa Kỳ
Một đặc trưng nổi bật nhất của hệ thống ngân hàng Hoa Kỳ chính là hệ thống ngân
hàng song hành (dual banking system) là hệ thống trong đó các ngân hàng thương mại
được phép hoạt động như ngân hàng quốc gia hoặc ngân hàng bang. Hệ thống ngân hàng
này được ra đời trong thời kỳ Nội chiến ở Hoa Kỳ. Ngày nay, hệ thống ngân hàng kép
cho phép sự tồn tại của hai cấu trúc điều tiết khác nhau ở ngân hàng nhà nước và quốc
gia. Điều này dẫn đến sự khác biệt về cách thức quản lý tín dụng, giới hạn cho vay hợp
pháp và các biến thể của các quy định từ tiểu bang. Cấu trúc này đã trải qua thời gian thử
nghiệm và hầu hết các nhà kinh tế đều đồng ý rằng nó là cần thiết cho hệ thống ngân
hàng. Ngân hàng quốc gia cung cấp tính hiệu quả bắt nguồn từ tính kinh tế quy mô và sản
phẩm cùng với những cải tiến dịch vụ nhờ áp dụng các nguồn lực tốt hơn. Mặt khác, các
ngân hàng nhà nước nhanh nhẹn và linh hoạt hơn để đáp ứng nhu cầu riêng của khách
hàng ở chính quốc gia của họ, có thể mang lại nhiều giá trị hơn cho khách hàng.
Ngày nay, hệ thống ngân hàng song hành cho phép cùng tồn tại hai cấu trúc điều tiết
khác nhau cho các ngân hàng tiểu bang và ngân hàng quốc gia. Điều này dẫn đến sự khác
biệt trong cách tín dụng được quy định, giới hạn cho vay hợp pháp và các biến thể của
quy định từ tiểu bang này sang tiểu bang khác.
3. Vai trò của ngân hàng thương mại đối với nền kinh tế Hoa Kỳ 7
Thứ nhất, vai trò của ngân hàng thương mại trong phát triển kinh tế Mỹ chủ yếu như là
một trung gian tài chính. Trong vai trò này, các ngân hàng thương mại giúp vận hành
dòng vốn đầu tư trên toàn thị trường. Cơ chế phân bổ vốn trong nền kinh tế này được
thực hiện thông qua quá trình cho vay, giúp các ngân hàng đánh giá rủi ro tài chính.
Thứ hai, ngân hàng thương mại đóng vai trò như người nắm toàn quyền kiểm soát rủi
ro. Điều này giúp làm giảm bớt nguy cơ thiệt hại tài chính. Từ đó tạo ra một nguồn vốn
lớn hơn để ngân hàng tiếp tục cho vay, hỗ trợ phát triển kinh tế.
Thứ ba, các ngân hàng thương mại cũng hỗ trợ chính phủ liên bang với vai trò như một
cơ quan phát triển kinh tế. Nhìn chung, các ngân hàng thương mại Mỹ giúp quỹ chi tiêu
của chính phủ bằng cách mua trái phiếu do Bộ Tài chính Mỹ phát hành. Về ngắn và dài
hạn, trái phiếu kho bạc sẽ hỗ trợ các hoạt động, chương trình tài chính của chính phủ
cũng như bù đắp thâm hụt chi tiêu.
Thứ tư, ngân hàng thương mại cũng hỗ trợ cho vay doanh nghiệp theo nhiều cách khác
nhau. Chủ doanh nghiệp có thể nhận được một khoản vay để giải quyết các chi phí ban
đầu của một doanh nghiệp nhỏ. Sau khi có vốn, các doanh nghiệp nhỏ có thể bắt đầu hoạt
động và tham gia vào kế hoạch phát triển. Tác động tổng hợp của các hoạt động doanh
nghiệp nhỏ là tạo ra một tỷ lệ việc làm đáng kể cho cả nước Mỹ.
Thứ năm, ngân hàng thương mại cũng cung cấp các loại tài khoản nhằm cất giữ hoặc
tạo ra của cải cá nhân. Đổi lại, tiền gửi vào ngân hàng thương mại được sử dụng để cho vay và đầu tư.
Như vậy, mặc dù hệ thống tài chính phụ thuộc vào thị trường nhưng không thể phủ
nhận vai trò mà ngân hàng thương mại đã tạo ra cho nền kinh tế Mỹ. Hệ thống ngân hàng
nói chung và ngân hàng thương mại nói riêng đã góp phần tạo nên một nền kinh tế Mỹ
sống động và phát triển như ngày nay.
4. Các hoạt động của ngân hàng thương mại Hoa Kỳ
4.1 Phương thức luân chuyển vốn
Hệ thống tài chính Mỹ cũng giống như các hệ thống tài chính khác, sự luân chuyển vốn
đều diễn ra bằng cả 2 phương thức: Luân chuyển vốn trực tiếp (thị trường tài chính) và
luân chuyển vốn gián tiếp( trung gian tài chính). 8
Kênh dẫn vốn trực tiếp: Với sự thống trị của đồng Đô La Mỹ trên thế giới, thị trường
ngoại hối, thị trường tiền tệ và thị trường chứng khoán của Mỹ hoạt động rất hiệu quả và
làm “ông chùm” trên thị trường tài chính thế giới. Nó không chỉ lớn về khối lượng giao
dịch, giá trị giao dịch mà còn rất đông các thành viên tham giao, đặc biệt là các NHTW
các nước khác trên thế giới. Sự huy động vốn cũng như đầu tư vốn ở đây rất hiệu quả.
“Không quá khó để huy động vốn từ thị trường chứng khoán Mỹ” là một nhận định trên một tờ báo.
Kênh dẫn vốn gián tiếp: Ngoài các loại tiền gửi như của Việt Nam thì Mỹ còn có các
loại tiền gửi đặc biệt. Đó là tiền gửi phối hợp giữa tiền gửi dùng séc và tiền gửi tiết kiệm
vào các tài khoản giao dịch bao gồm lệnh rút tiền giao dịch và dịch vụ chuyển ngân tự
động thông qua việc cho vay với lãi suất lớn hơn lãi suất mà họ trả cho những người gửi tiết kiệm. 4.2 Tạo vốn
Do hệ thống tài chính Mỹ là hệ thống tài chính dựa vào thị trường nên khối lượng tín
dụng ngân hàng cung ứng là rất nhỏ( đối với doanh nghiệp với tín dụng dài hạn thậm chí
là bằng 0).Vốn chủ yếu được huy động trên thị trường chứng khoán-nơi náo nhiệt và
nhộn nhịp nhất trên thị trường tài chính Mỹ, thị trường chứng khoán có vai trò tích cực
hơn là ngân hàng trong việc tài trợ vốn và cung cấp các công cụ quản lí rủi ro cho các chủ
thể kinh tế, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp nhỏ huy động vốn mở rộng và phát triển
sản xuất, tạo đà cho sự đổi mới liên tục trong toàn bộ nền kinh tế và theo đó là sự tăng
trưởng,phát triển kinh tế
Mỹ đã áp dụng những chính sách, quy định hạn chế đối với hệ thống ngân hàng để thúc
đẩy doanh nghiệp tìm nguồn tài trợ từ thị trường chứng khoán và theo đó thúc đẩy sự
phát triển của thị trường chứng khoán.
Đầu tư cho chứng khoán cũng là một biện pháp vô cùng quan trọng để huy động vốn.
Đây là nguồn lợi rất lớn đối với không chỉ các trung gian tài chính Mỹ mà với bất kì nước
nào. Nếu tính về thời hạn có những chứng khoán có thời hạn rất ngắn mà chỉ có ở Mỹ chỉ 9
có thời hạn là 24h có thỏa ước mua lại do ngân hàng thương mại phát hành để vay trong
24h gọi là thỏa ước qua đêm. Trong thị trường, người cần vốn là các doanh nghiệp, các tổ
chức kinh doanh trong và ngoài nước. Ở Mỹ vốn của các tổ chức Ngân hàng cũng như
các trung gian tài chính khác không được phân bố rộng rãi mà chỉ tập trung trong tay của
1 số cổ đông lớn. Vì thế quá trình huy động cũng như cung ứng vốn là vô cùng tiện lợi và
nhanh chóng. Các trung gian tài chính sẽ đáp ứng đầy đủ kịp thời nhu cầu vốn và đồng
thời cũng nhận được các khoản lợi nhất định nên các trung gian tài chính của Mỹ luôn có
1 nguồn vốn rất lớn dự trữ đảm bảo nguồn vốn luôn được khai thông trong thị trường tiền
tệ. Hơn nữa cấu trúc của hệ thống các trung gian tài chính của Mỹ cũng rất thông suốt
mạch lạc khiến cho khả năng huy động và cung ứng vốn rất nhanh chóng kịp thời đồng
thời cũng huy động được 1 lượng vốn lớn trong thời gian ngắn đảm bảo cho các hoạt động kinh doanh. 4.3 Cho vay
Đối với bất kỳ ngân hàng nào, một trong những dịch vụ quan trọng nhất mà ngân hàng
thương mại cung cấp là cho vay. Khi nền kinh tế Hoa Kỳ tiếp tục phát triển, nhu cầu về
các khoản vay để bắt đầu kinh doanh mới hoặc mở rộng một doanh nghiệp hiện tại cũng
sẽ tăng lên. Vào tháng 10 năm 2020, giá trị các khoản cho vay của các ngân hàng thương
mại Hoa Kỳ lên tới hơn 14,9 nghìn tỷ đô la, tăng so với khoảng 13,7 nghìn tỷ trong năm
trước đó. Các ngân hàng thương mại cũng đã phát hành khoảng 924 tỷ đô la Mỹ cho các
cá nhân vay qua thẻ tín dụng và các kế hoạch liên quan khác trong năm 2019. 10 Đơn vị: Tỷ đô la Mỹ
Nguồn: Hội đồng Thống đốc của Hệ thống Dự trữ Liên bang
Khoản cho vay thương mại và công nghiệp của tất cả các ngân hàng thương mại tính
đến tháng 2/2021 là 2,589,9703 tỷ đô la Mỹ. Trong giai đoạn đầu năm 2018-2020 khoản
cho vay thương mại và công nghiệp có xu hướng tăng khá chậm nhưng từ tháng 2/2020
khoản cho vay này có biến động đáng kể, tăng đột biến từ tháng 2 đến tháng 5 sau đó
giảm mạnh đến cuối năm 2020. Ngoài ra, năm 2019 giá trị các khoản cho vay cá nhân
thông qua thẻ tín dụng và các kế hoạch liên quan do các ngân hàng thương mại được
FDIC bảo hiểm tại Mỹ đạt 924,46 tỷ USD; Thu nhập lãi của các ngân hàng thương mại
được FDIC bảo hiểm đạt 653,68 tỷ USD; Chi phí lãi vay của các ngân hàng thương mại
được FDIC bảo hiểm đạt 148,38 tỷ USD. 4.4 Đầu tư tài chính
Đây là một hình thức đầu tư chủ yếu thông qua hình thức mua chứng khoán (chứng
khoán vốn - cổ phiếu hoặc chứng khoán nợ - trái phiếu) hoặc các công cụ tài chính khác.
Nhà đầu tư tài chính thông thường nhắm vào mục đích mua và bán chứ ít khi làm tăng
giá trị thực của công ty mà họ đầu tư vào. Đây còn là hoạt động sử dụng vốn nhàn rỗi với
mục tiêu tìm kiếm lợi nhuận, gia tăng giá trị vốn đầu tư ban đầu với chiến lược lâu dài,
chủ yếu mua chứng khoán, trái phiếu hoặc các công cụ tài chính. Bên cạnh đó,hoạt động
đầu tư tài chính giúp đa dạng hóa danh mục sản phẩm và phân tán ủi ro trong kinh doanh 11
Thông thường chứng khoán mà họ đầu tư là những chứng khoán an toàn nhất như trái
phiếu kho bạc đến những khoản đầu tư tương đối an toàn. Ngoài ra, tín phiếu kho bạc
cũng là chứng khoán an toàn cho nhà đầu tư Mỹ, nó được phát hành bởi chính phủ Mỹ,
có thể mua trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua bán đấu giá. Giá trị khoản đầu tư của ngân
hàng thương mại Mỹ trong các nghĩa vụ ngân khố đạt 619,6 tỷ USD.
Điển hình như các ngân hàng thương mại Hoa Kỳ đã bổ sung 66 tỷ USD trái phiếu
Kho bạc vào tháng 7/2020 và 228 tỷ USD trong vòng 12 tháng, lên tổng cộng 1,14 nghìn
tỷ USD, theo công bố dữ liệu của Cục Dự trữ Liên bang trên bảng cân đối ngân hàng,
khối lượng chiếm 4.3% tổng số nợ của Hoa Kỳ.
4.5 Giao dịch ngoại hối
Giao dịch ngoại hối là thị trường nơi bạn có thể trao đổi ngoại hối/ngoại tệ là sự mua
bán trao đổi hàng hóa ngoại tệ và các giấy tờ có giá trị thanh toán bằng ngoại tệ trên thị
trường quốc tế, và đây là loại thị trường tài chính lớn số một thế giới, với lượng tiền giao
dịch mỗi ngày đạt đến con số 5,3 nghìn tỷ USD mỗi ngày. 12
Một trong các trường ngoại hối lớn nhất thế giới hoạt động 24/24 giờ là thị trường
ngoại hối Mỹ-một trong các thị trường lớn nhất và có tính thanh khoản cao nhất trên thế
giới. Theo ước tính thì doanh số toàn cầu của thị trường ngoại hối Mỹ đạt mức khoảng
1.500 tỷ đô la Mỹ một ngày, gấp vài lần so với doanh số thị trường trái phiếu Chính phủ
Mỹ, thị trường lớn thứ hai thế giới. Theo ước tính của Ngân hàng thế giới thì lượng giao
dịch Trái phiếu công ty tại Mỹ là vào khoảng 17 tỷ USD mỗi ngày. Thị trường cổ phiếu
Mỹ luôn được coi là thị trường quan trọng hàng đầu thế giới. Đồng tiền được giao dịch
nhiều nhất trên thị trường này là đô la Mỹ. Đồng đô la Mỹ là đồng tiền được mua bán
nhiều nhất trên thế giới cho đến nay, đây là một trong hai đồng tiền được sử dụng trong
hơn 87% các giao dịch ngoại hối, tương đương với khoảng 1.300 tỷ đô la Mỹ một ngày.
Hơn thế nữa, đô la Mỹ còn là đồng tiền yết giá trong các giao dịch ngoại hối, là đồng tiền
phải sử dụng do sức ép thương mại và tài chính. Thực tế thương mại cho thấy các giao
dịch ngoại hối giữa hai đồng tiền với nhau thường phải thông qua đồng tiền thứ ba như là
một đồng tiền yết giá chứ ít khi hai đồng tiền trực tiếp trao đổi với nhau (trừ những ngoại tệ mạnh với nhau).
5.Tổng hệ thống ngân hàng thương mại tại Hoa Kỳ năm 2020
Tăng trưởng trung bình toàn ngành 2015–2020, 3,5% Ngành Ngân hàng Thương mại
đã được hưởng lợi từ việc cải thiện tâm lý kinh doanh và lãi suất tăng trong phần lớn thời
gian 5 năm đến năm 2020. Các ngân hàng thương mại kiếm được phần lớn doanh thu
thông qua chênh lệch lãi suất giữa tiền gửi của khách hàng và tiền cho vay. Các ngân
hàng chấp nhận tiền gửi và gửi chúng vào tài khoản tiết kiệm và các sản phẩm như chứng
chỉ tiền gửi, nơi không thể rút tiền trong một thời gian nhất định. Các ngân hàng trả lãi
cho người gửi tiền đối với khoản tiền này và cho vay các khoản tiền gửi này với lãi suất
cao hơn dưới dạng thế chấp, cho vay mua ô tô, cho vay cá nhân hoặc cho vay kinh doanh
nhỏ. Doanh thu thường được tính bằng chênh lệch giữa các tài khoản có lãi và các khoản
cho vay, kết hợp với doanh thu không có lãi, chẳng hạn như ghi nợ.
Doanh thu các ngân hàng thương mại hàng đầu ở Mỹ năm 2019 13 Đơn vị: Tỷ đô la Mỹ
Năm 2020, JP Morgan Chase là ngân hàng thương mại có doanh thu cao nhất Hoa Kỳ,
với tổng doanh thu là 142,42 tỷ đô la Mỹ. Ngoài JP Morgan Chase, Bank of America,
Wells Fargo và Citigroup cũng đứng đầu bảng xếp hạng trong năm đó. Bên cạnh đó JP
Morgan Chase cũng là nhà phát hành thẻ ngân hàng thương mại hàng đầu trong cùng năm
đó Các ngân hàng thương mại là nền tảng của kinh doanh và tài chính ở Hoa Kỳ. Số
lượng ngân hàng thương mại được FDIC bảo hiểm giảm đều đặn trong thập kỷ qua, tính
đến năm 2020 ở Hoa Kỳ có 4.519 ngân hàng thương mại, ít hơn năm trước khoảng 200 ngân hàng.
ƯU ĐIỂM: Ngân hàng thương mại giúp vận hành dòng vốn đầu tư trên toàn thị trường.
Cơ chế phân bổ vốn trong nền kinh tế này được thực hiện thông qua quá trình cho vay,
giúp các ngân hàng đánh giá rủi ro tài chính. Hệ thống tiền tệ dựa vào thị trường nên
cung cấp công cụ quản lí rủi ro đa dạng hơn, tạo cơ hội huy động vốn cho các doanh
nghiệp. Quá trình huy động vốn vô cùng nhanh chóng và quy mô lớn vì vốn của các tổ
chức Ngân hàng cũng như các trung gian tài chính chỉ tập trung ở một số cổ đông lớn, đối
tượng để huy động vốn nhiều: quỹ trợ cấp, công ty bảo hiểm,... 14
Ưu điểm khác đó là khả năng cung cấp giá thấp của các ngân hàng thương mại. Họ hoạt
động giống như các công ty bán buôn mua với số lượng lớn và bán với giá chiết
khấu. Hầu hết các ngân hàng thương mại sẽ không tính phí mở hoặc duy trì tài khoản séc
và tài khoản tiết kiệm, và các khoản vay bất động sản của họ thường được cung cấp với lãi suất thấp.
NHƯỢC ĐIỂM: Các ngân hàng tham gia vào bảo lãnh phát hành và đầu tư chứng
khoán có thể dẫn đến rủi ro cho các khách hàng gửi tiền và Chính phủ phải đứng ra cứu
vớt. Hơn nữa sự sụp đổ của các ngân hàng thương mại có thể làm mất niềm tin của dân
chúng vào hệ thống ngân hàng và dẫn tới đổ vỡ hệ thống tài chính. Ngân hàng thương
mại được trợ cấp một phần bảo hiểm tiền gửi do đó được phép huy động vốn nhàn rỗi
trong dân rẻ hơn thông qua các khoản tiết kiệm. Do đó nếu cho phép kinh doanh ngân
hàng đầu tư, họ có thể cạnh tranh tốt hơn các đối thủ ngân hàng đầu tư khác không có
hoạt động ngân hàng thương mại.
III. SO SÁNH NHTM MỸ VÀ VIỆT NAM 1 Giống nhau:
Thị trường tài chính đều bao gồm thị trường vốn và thị trường tiền tệ
Thị trường vốn bao gồm tín phiếu kho bạc đều do Chính phủ phát hành, chứng chỉ
tiền gửi, thương phiếu, vay liên ngân hàng, hoạt động mua bán lại thị trường chứng
khoán,... Thị trường tiền tệ gồm trái phiếu, cổ phiếu,..
Đều có các nghiệp vụ của NHTM
Huy động vốn: nhận tiền gửi, các loại tiền bao gồm tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi
dùng sec, tiền gửi tiết kiệm, tiền gửi có thấu chi.
Nghiệp vụ đầu tư vốn bao gồm cho vay và đầu tư chứng khoán
Phương thức luân chuyển vốn 15
Hệ thống tài chính Mỹ và hệ thống tài chính Việt Nam cũng giống như các hệ thống tài
chính khác, sự luân chuyển vốn đều diễn ra bằng cả 2 phương thức: Luân chuyển vốn
trực tiếp (thị trường tài chính) và luân chuyển vốn gián tiếp (trung gian tài chính). 2. Khác nhau: 2.1 Mỹ
Hệ thống tài chính dựa vào thị trường
Nguồn tài trợ chính của nền kinh tế là thị trường tài chính mà chủ yếu là thị trường vốn
và thị trường chứng khoán. Hành vi của các chủ thể trong hệ thống tài chính là ưu thích
rủi ro nắm giữ nhiều cổ phiếu có rủi ro cao. Mô hình tổ chức ngân hàng là các ngân hàng
thường chi cung cấp các dịch vụ nhận tiền gửi - cho vay truyền thống. Thị trường tạo ra
thông tin công khai, tổng hợp thành giá cả (giá chứng khoán là tổng hợp của thông tin được công bố. Tạo vốn
Mỹ có khối lượng tín dụng ngân hàng cung ứng là rất nhỏ mà vốn chủ yếu được huy
động trên thị trường chứng khoán. Đầu tư cho chứng khoán cũng là một biện pháp vô
cùng quan trọng để huy động vốn. Đây là nguồn lợi rất lớn đối với không chỉ các trung
gian tài chính Mỹ mà với bất kì nước nào.
Giao dịch ngoại hối
Giao dịch ngoại hối là loại thị trường tài chính lớn số một thế giới, với lượng tiền giao
dịch mỗi ngày đạt đến con số 5,3 nghìn tỷ USD mỗi ngày. Đồng đô la Mỹ là đồng tiền
được sử dụng trong hơn 87% các giao dịch ngoại hối, tương đương với khoảng 1.300 tỷ
đô la Mỹ một ngày. Hơn thế nữa, đô la Mỹ còn là đồng tiền yết giá trong các giao dịch
ngoại hối, là đồng tiền phải sử dụng do sức ép thương mại và tài chính. 2.2 Việt Nam:
Hệ thống tài chính dựa vào ngân hàng 16
Khác với hệ thống tài chính dựa vào thị trường, nguồn tài trợ chính của nền kinh tế là tín
dụng ngân hàng. Hành vi của các chủ thể trong hệ thống tài chính là ngại rủi ro chủ yếu
nắm giữ tiền mặt và tiền gửi có rủi ro thấp. Mô hình tổ chức ngân hàng là ngân hàng đa
năng ngoài dịch vụ ngân hàng truyền thống còn cung cấp một loạt các dịch vụ tài chính
khác như bảo lãnh phát hành, kinh doanh chứng khoán, bảo hiểm,... Tạo vốn
Khác với ngân hàng thương mại Mỹ, vốn của ngân hàng thương mại Việt Nam gồm vốn
thuộc sở hữu của Ngân hàng (vốn tự có), vốn huy động và các nguồn vốn khác.
Vốn tự có của NHTM là những giá trị tiền tệ do NHTM tạo lập được, thuộc sở hữu của
Ngân hàng. Vốn tự có được coi như tài sản đảm bảo gây lòng tin đối với khách hàng, duy
trì khả năng thanh toán trong trường hợp Ngân hàng gặp nhiều thua lỗ. Nó còn là một
trong những căn cứ quyết định đến quy mô và khối lượng huy động vốn của Ngân hàng.
Vốn huy động là những giá trị tiền tệ mà Ngân hàng huy động được từ các tổ chức kinh
tế và các cá nhân trong xã hội thông qua quá trình thực hiện các nghiệp vụ tín dụng,
thanh toán, các nghiệp vụ kinh doanh khác và được dùng để kinh doanh. Bản chất
của vốn huy động là tài sản thuộc các chủ sở hữu khác nhau. Vốn huy động đóng vai trò
hết sức quan trọng trong hoạt động kinh doanh của Ngân hàng. Vốn huy động bao gồm:
Tiền gửi của khách hàng, vốn đi vay, vốn phát hành các chứng từ có giá.
Các nguồn vốn khác gồm vốn tiếp nhận và các loại nguồn vốn khác: gồm vốn tài trợ, vốn
đầu tư phát triển, vốn uỷ thác chương trình, dự án xây dựng cơ bản tập trung của Nhà
nước hay trợ giúp cho đầu tư phát triển những chương trình, dự án có mục tiêu kinh tế, xã hội riêng.
Trong năm 2020, Ngân hàng Nhà nước đã 3 lần ra quyết định giảm đồng bộ các mức lãi
suất điều hành với tổng mức giảm tới 1,5-2%/năm. Theo đó, mức trần lãi suất tiền gửi kỳ
hạn dưới 6 tháng đã giảm xuống mức 4%/năm. Lãi suất cho vay ngắn hạn tối đa bằng
VND đối với các lĩnh vực ưu tiên cũng giảm về 4,5%/năm.
Giao dịch ngoại hối 17
Để thấy rõ thực trạng hoạt động kinh doanh ngoaị hối của các NHTM Việt Nam hiện nay
trong bối cảnh tác động của căng thẳng thương mại Mỹ – Trung Quốc, trong Báo cáo tài
chính hết quý I/2019 cho thấy, số lượng ngân hàng có lợi nhuận tăng chiếm đa số. Xét về
giá trị tuyệt đối, Vietcombank vẫn là NHTM có lợi nhuận cao nhất ngành. Hoạt động
dịch vụ đạt lãi thuần trên 1.069 tỷ đồng, tăng 21%, hoạt động kinh doanh ngoại hối và
vàng cũng đạt 928 tỷ đồng, tăng 51%. Nhìn lại trong năm 2018, dựa trên báo cáo tài
chính hết quý 3/2018, kết quả tổng hợp cho thấy, 20 ngân hàng có lãi thuần từ kinh doanh
ngoại hối, đạt hơn 4.200 tỷ đồng trong 9 tháng đầu năm 2018, tăng 32% so với cùng kỳ
năm 2017, cho thấy đây vẫn là mảng kinh doanh hấp dẫn; đồng thời các NHTM cũng chủ
động, linh hoạt, có kinh nghiệm hơn và phòng ngừa rủi ro tốt hơn. Riêng quý 3/2018, 20
ngân hàng này có lãi 1.290 tỷ đồng từ kinh doanh ngoại hối. Đây là quý có sự biến động
mạnh nhất của NDT và VND so với USD, tức là có mức độ rủi ro lớn nhất, nhưng các
NHTM Việt Nam vẫn duy trì được số lãi ổn định từ hoạt động kinh doanh này. 18 Kết luận
Từ việc so sánh hệ thống ngân hàng thương mại Mỹ và Việt Nam ta thấy rõ được tầm
quan trọng của hệ thống ngân hàng đối với tất cả các quốc gia. Cần xây dựng một hệ
thống ngân hàng có tiềm lực vững mạnh, nhanh chóng và đa dạng các hình thức huy
động vốn kết hợp với phát triển thị trường tài chính nhằm huy động hết công suất vốn
trong nước và nước ngoài để phát triển, ổn định nền kinh tế trong giai đoạn khó khăn do
dịch Covid-19 gây ra. Từ đó, đưa đất nước phát triển hùng mạnh, nâng cao đời sống cho nhân dân. 19