



















Preview text:
HỌC VIỆN NGÂN HÀNG BÀI TẬP LỚN
MÔN NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
TÊN ĐỀ TÀI: PHÁT TRIỂN TÀI CHÍNH TOÀN DIỆN NGÂN HÀNG
NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
Giáo viên hướng dẫn: Nguyễn Thị Diễm Hương Mã lớp: 232FIN17A20
Nhóm sinh viên thực hiện: 4 Số từ: 7891 1. Đào Xuân Thắng : 25A4013369 2. Nguyễn Thị Hậu : 25A4060529 3. Nguyễn Đoan Trang : 25A4021106 4. Dương Phạm Nhật Khôi : 25A4010144 5. Trần Đức Mạnh : 25A4010735 6. Hoàng Thị Thúy Hiền : 25A4012398
HỌC VIỆN NGÂN HÀNG BÀI TẬP LỚN
MÔN NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
TÊN ĐỀ TÀI: PHÁT TRIỂN TÀI CHÍNH TOÀN DIỆN NGÂN HÀNG
NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
Giáo viên hướng dẫn: Nguyễn Thị Diễm Hương Mã lớp: 232FIN17A20 Họ và tên MSV Tỉ lệ đóng góp Chữ ký xác nhận Đào Xuân Thắng 25A4013369 18% Nguyễn Thị Hậu 25A4060529 18% Nguyễn Đoan Trang 25A4021106 18.25% Dương Phạm Nhật Khôi 25A4010144 17.25% Trần Đức Mạnh 25A4010735 17.5% Hoàng Thị Thúy Hiền 25A4012398 11% MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN.....................................................................................................................1
LỜI MỞ ĐẦU.....................................................................................................................2
CHƯƠNG I: SỰ CẦN THIẾT VÀ XU HƯỚNG PHÁT TRIỂN TÀI CHÍNH TOÀN
DIỆN TRÊN THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM GẦN ĐÂY....................................................3
1. Đặt vấn đề.....................................................................................................................3
2. Tổng quan về tài chính toàn diện................................................................................3
2.1 Định nghĩa tài chính toàn diện............................................................................3
2.2 Vai trò của tài chính toàn diện...........................................................................3
3. Thực trạng phát triển tài chính toàn diện trên thế giới.............................................4
4. Xu hướng phát triển tài chính toàn diện ở Việt Nam................................................5
CHƯƠNG II: VAI TRÒ CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI TRONG PHÁT
TRIỂN TÀI CHÍNH TOÀN DIỆN...................................................................................9
1. Mức độ tiếp cận các dịch vụ tín dụng.........................................................................9
1.1 Mức độ tiếp cận các dịch vụ tín dụng của người dân.......................................9
1.2 Doanh nghiệp.......................................................................................................9
2. Mức độ sử dụng các sản phẩm và dịch vụ tài chính gia tăng..................................10
3. Chất lượng các dịch vụ được cải thiện......................................................................11
CHƯƠNG III TÁC ĐỘNG CỦA XU HƯỚNG PHÁT TRIỂN TÀI CHÍNH TOÀN
DIỆN TỚI HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA NGÂN HÀNG AGRIBANK......... 12
1. Cơ hội.......................................................................................................................... 12
2. Thách thức..................................................................................................................12
3. Các sản phẩm ngân hàng Agribank tung ra thị trường nhằm mục tiêu phát triển
tài chính toàn diện..........................................................................................................12
4. Agribank tạo dựng kênh phân phối để phù hợp với xu thế phát triển tài chính
toàn diện của đất nước...................................................................................................14
5. Agribank tham gia vào quá trình giáo dục, nâng cao nhận thức về tầm quan trọng
của phát triển tài chính toàn diện.................................................................................14
LỜI KẾT LUẬN.............................................................................................................. 16
LỜI CAM ĐOAN.. ..........................................................................................................17
TÀI LIỆU THAM KHẢO...............................................................................................18 LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên, chúng em xin cảm ơn trường Học viện Ngân Hàng đã đưa bộ môn
Ngân hàng thương mại vào chương trình đào tạo cũng như các thầy cô giảng dạy, những
người đã hướng dẫn các phương pháp học tập, nghiên cứu, tạo điều kiện giúp chúng em
có thêm những kiến thức, kỹ năng hữu ích giúp cho sau này.
Chúng em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến cô Nguyễn Thị Diễm Hương, giảng viên
khoa ngân hàng đã đồng hành cùng lớp trong học phần Ngân hàng thương mại và tận tình
hướng dẫn cung cấp cho chúng em những kiến thức bổ ích liên quan đến môn học để từ
đó giúp chúng em có thể hoàn thành bài tập lớn này. Nhưng do chưa có nhiều kinh
nghiệm làm đề tài cũng như vốn kiến thức còn hạn chế nên bài luận sẽ khó tránh được
những thiếu sót trong quá trình nghiên cứu và trình bày. Chúng em mong nhận được sự
góp ý, nhận xét của quý thầy cô để kiến thức của nhóm em trong lĩnh vực này được hoàn
thiện hơn đồng thời có điều kiện nâng bổ sung, nâng cao ý thức của bản thân.
Chúng em xin trân trọng cảm ơn! LỜI MỞ ĐẦU
Trong những năm gần đây, đặc biệt là kể từ sau cuộc khủng hoảng tài chính toàn
cầu 2007-2008, các tổ chức quốc tế như Ngân hàng Thế giới, Quỹ Tiền tệ Quốc tế đã nêu
bật tầm quan trọng của tài chính toàn diện. Nhóm G20 đã coi tài chính toàn diện là một
trong những trụ cột chính trong định hướng phát triển của mình tại Hội nghị thượng đỉnh
Pittsburgh năm 2009. Tháng 10 năm 2013, Ngân hàng Thế giới đã đưa ra mục tiêu toàn
cầu về phổ cập tiếp cận tới các dịch vụ tài chính cơ bản như là một mốc quan trọng
hướng tới tài chính toàn diện đầy đủ. Liên Hợp Quốc đã nhấn mạnh tài chính toàn diện là
một giải pháp quan trọng để đạt 07 trong 17 Mục tiêu phát triển bền vững đến năm 2030.
Các nhà hoạch định chính sách cấp quốc gia và quốc tế đều nhận định tài chính toàn diện
là một ưu tiên phát triển quan trọng. Hiện tại, 2/3 cơ quan quản lý tài chính và ngân hàng
trung ương trên thế giới được trao thêm nhiệm vụ tài chính toàn diện bên cạnh nhiệm vụ
giữ ổn định thị trường tài chính. Trong hơn 60 quốc gia cam kết tăng cường tài chính
toàn diện thì tất cả các nước đều đang xây dựng và thực thi Chiến lược tài chính toàn diện
quốc gia (32 quốc gia đã thực thi và 27 quốc gia đang triển khai).Trên thực tế việc triển
khai tài chính toàn diện còn gặp nhiều khó khăn trong việc cung cấp các dịch vụ tài chính
với chi phí hợp lý cho các bộ phận xã hội có hoàn cảnh khó khăn và thu nhập thấp. Cùng
với đó, các rào cản về tài chính toàn diện là chi phí, tiếp cận địa lí và thiếu nhận dạng
khách hàng. Như vậy, có thể thấy rằng, tìm hiểu về xu hướng phát triển tài chính toàn
diện trên thế giới là rất cần thiết để làm rõ những thành công và hạn chế, từ đó giúp các
nhà hoạch định chính sách đưa ra những chiến lược phù hợp nhằm phát triển tài chính toàn diện tại Việt Nam.
CHƯƠNG I: SỰ CẦN THIẾT VÀ XU HƯỚNG PHÁT TRIỂN TÀI CHÍNH TOÀN
DIỆN TRÊN THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM GẦN ĐÂY 1. Đặt vấn đề.
Tài chính toàn diện đang là chủ đề quan tâm của toàn thế giới. Theo số liệu của G.
WorldBank (2014) trong những năm gần đây đã có trên 50 quốc gia đặt mục tiêu chính
thức phát triển tài chính toàn diện. Bài viết dựa trên dữ liệu Global Findex database
(2017), (WB) về đo lường và giám sát tài chính toàn diện để phân tích thực trạng phát
triển tài chính toàn diện của các quốc gia trong đó có Việt Nam, từ đó đề ra một số giải
pháp, khuyến nghị nhằm phát triển tài chính toàn diện ở nước ta trong giai đoạn tới. Để
thực hiện mục tiêu này, cấu trúc bài viết gồm: Tổng quan về tài chính toàn diện bao gồm
khái niệm, vai trò của TCTD; Thực trạng về phát triển TCTD trên thế giới và ở nước ta
trong các năm gần đây; Phân tích, đánh giá thực trạng phát triển tài chính toàn diện thông
qua kết quả đạt được và một số vấn đề còn tồn tại để làm cơ sở đề ra các giải pháp và khuyến nghị.
2. Tổng quan về tài chính toàn diện
2.1 Định nghĩa tài chính toàn diện.
Theo Ngân hàng Thế giới (WB), tài chính toàn diện có nghĩa là các cá nhân và
doanh nghiệp có thể tiếp cận và sử dụng các sản phẩm và dịch vụ tài chính, các giao dịch,
thanh toán, tiết kiệm, tín dụng và bảo hiểm. Đáp ứng nhu cầu của họ và có mức chi phí
hợp lý, được cung cấp theo một cách thức có trách nhiệm và bền vững.
Liên minh Tài chính Toàn diện (AFI) định nghĩa về tài chính toàn diện là việc cung
cấp cho người sử dụng các dịch vụ tài chính sẵn có với mức chi phí hợp lý; làm cho
khách hàng sử dụng các dịch vụ tài chính một cách thường xuyên; đưa ra những dịch vụ
tài chính được thiết kế phù hợp với nhu cầu của người sử dụng.
Tổng quát , Tài chính toàn diện là việc cung cấp dịch vụ tài chính phù hợp và thuận
tiện cho tất cả các thành phần trong xã hội, đặc biệt đối với người có thu nhập thấp và dễ
bị tổn thương nhằm tăng cường cơ hội tiếp cận tài chính, góp phần luân chuyển dòng vốn
đầu tư và tiết kiệm trong xã hội, qua đó thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và ổn định tài chính.
2.2 Vai trò của tài chính toàn diện.
Tài chính toàn diện được coi là có vị trí rất quan trọng đối với sự phát triển bền
vững của một quốc gia. Khía cạnh quan trọng nhất của tài chính toàn diện là tiếp cận tài chính.
Vai trò của tài chính toàn diện với xã hội và nền kinh tế :
- Tài chính toàn diện có thể tạo ra những tác động tích cực như: gia tăng tiết kiệm
và đầu tư, qua đó, thúc đẩy quá trình tăng trưởng kinh tế.
- Tiếp cận dịch vụ ngân hàng giúp các cá nhân và doanh nghiệp tìm được nguồn
lực để đáp ứng những nhu cầu như vay vốn cho các cơ hội kinh doanh, đầu tư cho con cái
học hành, hoặc dành tiền tiết kiệm khi về hưu…
- Vay vốn ngân hàng còn giúp người nông dân, người nghèo sẽ tránh được vòng
luẩn quẩn khi phải đi vay ở khu vực không chính thức với lãi suất cao.
Vai trò của tài chính toàn diện với Chính phủ:
- Giảm bớt chi phí cho các chương trình trợ cấp an sinh xã hội thông qua việc chi
trả qua tài khoản ngân hàng, làm tăng sự minh bạch, phòng chống tham nhũng tích cực
hơn, nhờ đó quản lý xã hội tốt hơn. Một xã hội với cơ hội tiếp cận dịch vụ tài chính mở
rộng cho tất cả mọi người sẽ tăng cường sự tham gia của họ vào cuộc sống cộng đồng nói
chung, cải thiện công bằng và bình đẳng, năng lực của toàn xã hội theo đó cũng được nâng lên.
Vai trò của tài chính toàn diện đối với các tổ chức tài chính:
- Tài chính toàn diện giúp các tổ chức tài chính mở rộng đối tượng phục vụ tới tất
cả nhóm người trong xã hội, tạo cơ hội cho họ phát triển đa dạng sản phẩm dịch vụ, mở
rộng cơ sở khách hàng và theo đó là lợi nhuận tăng lên.
3. Thực trạng phát triển tài chính toàn diện trên thế giới.
Đến nay, trên toàn thế giới đã có hơn 80 quốc gia đã và đang triển khai Chiến lược
tài chính toàn diện quốc gia. Các quốc gia theo đuổi mục tiêu tài chính toàn diện đều đưa
ra nhiều giải pháp áp dụng những đổi mới sáng tạo trong lĩnh vực công nghệ tài chính,
tập trung vào việc giảm chi phí, an toàn và thuận tiện, nhờ đó nâng cao khả năng tiếp cận
dịch vụ tài chính cho người dân. Kết quả triển khai thực hiện tài chính toàn diện ở những
quốc gia này được ghi nhận đã đóng góp lớn vào xóa đói, giảm nghèo, tạo việc làm, tăng
sinh kế cho người dân và doanh nghiệp, hỗ trợ ổn định tài chính và thúc đẩy tăng trưởng
kinh tế một cách bền vững. Thành công nhất có thể kể đến những quốc gia như, Brazil ở
Nam Mỹ, Tanzania ở châu Phi hay Ấn Độ, Malaysia ở châu Á.Tầm quan trọng của tài
chính toàn diện đã được khẳng định trên phạm vi toàn cầu khi Liên hợp quốc xác định,
đây là một giải pháp quan trọng để đạt 7 trong 17 mục tiêu phát triển bền vững đến năm
2030. Nhóm G20 đã coi tài chính toàn diện là một trong những trụ cột chính trong định
hướng phát triển từ năm 2009. Các nước ASEAN cũng xác định tài chính toàn diện là 1
trong 3 trụ cột cho Tầm nhìn ASEAN 2025 và đã thành lập Ủy ban Công tác về tài chính
toàn diện (WC-FINC) từ năm 2016 với mục tiêu hợp tác thúc đẩy tài chính toàn diện ở
các nước thành viên và trong khu vực.
Tình hình phát triển tài chính toàn diện ở một số
quốc gia trên thế giới
- Tại Ấn độ: tài chính toàn diện được triển khai lần đầu tiên vào năm 2005. Địa điểm
triển khai là ngôi làng Mangalam. Tháng 11/2005, các ngân hàng được khuyến cáo lập tài
khoản ngân hàng “no-frill” cơ bản với số dư tối thiểu thấp hoặc bằng 0 cũng như phí mở
rộng tiếp cận các tài khoản này đến phần lớn dân số. Ngân hàng Trung ương Ấn Độ cũng
yêu cầu các ngân hàng phải cung cấp tài liệu hướng dẫn sử dụng cho các khách hàng cá
nhân bằng ngôn ngữ của từng khu vực ở Ấn Độ, nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho tất cả
các khách hàng khi đến giao dịch với ngân hàng. Chính phủ Ấn Độ ban hành nhiều chính
sách để cải cách hệ thống thanh toán, từng bước tăng cường sự tiện ích và bảo mật nhằm
thu hút người dân sử dụng các dịch vụ ngân hàng, hạn chế trao đổi tiền mặt và thúc đẩy
thanh toán điện tử. Ngoài ra, Ấn Độ đã xây dựng hệ thống nhận dạng quốc gia dựa trên
sinh trắc học, trực tuyến, có thể kiểm chứng bằng kỹ thuật số vào thời điểm chương trình
phát triển tài chính toàn diện ra mắt. Đây là DPG đầu tiên của Ấn Độ và dựa trên các giao
thức mở, đảm bảo khả năng tương tác. Vì có thể xác minh danh tính bằng điện tử nên đã
mở ra cơ hội đổi mới ngành công nghệ tài chính chưa từng có.Việc xây dựng thành công
cơ sở hạ tầng công cộng kỹ thuật số đã giúp Ấn Độ tăng cường khả năng tiếp cận tài
chính toàn diện và cung cấp dịch vụ công (DVC) cho người dân Trong báo cáo c . ó tiêu đề
“Khuyến nghị chính sách của G20 nhằm thúc đẩy tài chính toàn diện và tăng năng suất
thông qua cơ sở hạ tầng công cộng kỹ thuật số”, WB cho biết tác động của cơ sở hạ tầng
công cộng kỹ thuật số (DPI) của Ấn Độ, India Stack, đã vượt xa mục tiêu tài chính toàn
diện, trợ giúp hỗ trợ y tế, giáo dục, phát triển bền vững."India Stack minh họa cho cách
tiếp cận kết hợp ID số, thanh toán tương tác và xác thực thông tin số. Chỉ trong 6 năm, tỷ
lệ phổ cập tài chính tại Ấn Độ đã đạt 80% - một kỳ tích mà lẽ ra phải mất gần 5 thập kỷ
nếu không có cách tiếp cận DPI”. Theo báo cáo, nền tảng UPI đã trở nên phổ biến mạnh
mẽ ở Ấn Độ với hơn 9,41 tỷ giao dịch chỉ trong tháng 5/2023. Trong năm tài chính 2022 -
2023, tổng giá trị giao dịch UPI đạt gần 50% GDP của Ấn Độ.Cơ sở hạ tầng công cộng
kỹ thuật số India Stack đã thu hút sự chú ý và quan tâm từ khắp nơi trên thế giới nhờ cách
tiếp cận sáng tạo để giải quyết các thách thức như xác minh danh tính, tiếp cận tài chính
và cung cấp DVC kỹ thuật số.
- Tại Malaysia: Tài chính toàn diện được triển khai tại Malaysia từ 2001.Sàn giao dịch
chứng khoán của Malaysia, đã phát triển và mở rộng trở thành một trung tâm tài chính
quan trọng trong khu vực Đông Nam Á. Malaysia ưu tiên nền tảng cho các ngân hàng số,
đây sẽ là thời điểm cơ hội để các công ty dịch vụ tài chính khai thác các công nghệ thế hệ
tiếp theo như đám mây, đồng thời định hình hướng đi và tăng trưởng mới cho ngành.
Việc sử dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong các dịch vụ tài chính dường như đang tạo ra niềm
tin lớn hơn ở người tiêu dùng.Nghiên cứu đã cho thấy rằng với 63% người được hỏi cho
rằng điện thoại di động bây giờ quan trọng hơn ví của họ khi thực hiện các giao dịch tài
chính.Các công nghệ thế hệ tiếp theo trong ngân hàng như nhận dạng khuôn mặt cũng
đang trở thành giao diện bảo mật đáng tin cậy cho người tiêu dùng Malaysia. Trong khi
hơn một nửa số người Malaysia được khảo sát cảm thấy thoải mái với việc các tổ chức
dịch vụ tài chính có quyền truy cập vào dữ liệu của họ, thì niềm tin vẫn là ưu tiên hàng
đầu khi chọn nhà cung cấp.
4. Xu hướng phát triển tài chính toàn diện ở Việt Nam.
Thực trạng phát triển tài chính toàn diện ở Việt Nam
Ở Việt Nam, thời gian qua Chính phủ đã xây dựng và ban hành nhiều chính sách
liên quan đến tài chính toàn diện quốc gia như: Đề án phát triển thanh toán không dùng
tiền mặt tại Việt Nam giai đoạn 2016-2020 (Quyết định số 2545/QĐ-TTg, ngày
30/12/2016 của Thủ tướng Chính phủ); Đề án nâng cao khả năng tiếp cận dịch vụ ngân
hàng cho nền kinh tế (Quyết định số 1726/QĐ-TTg, ngày 05/9/2016 của Thủ tướng
Chính phủ). Đặc biệt, Chiến lược tài chính toàn diện quốc gia đến năm 2025, định hướng
đến năm 2030 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 149/QĐ-TTg, ngày 22/01/2020.
Hiện nay phát triển TCTD ở Việt Nam đã đạt được một số kết quả đáng ghi nhận:
Một là, trong những năm vừa qua NHNN đã áp dụng nhiều chính sách để phát triển
TCTD như thực hiện Đề án thanh toán không dùng tiền mặt, bên cạnh đó, NHNN đã và
đang triển khai nhiều chương trình, dự án về nâng cấp cơ sở hạ tầng ngân hàng, đẩy mạnh
phát triển tổ chức các mạng lưới Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt
Nam, Ngân hàng Chính sách Xã hội, các tổ chức tài chính vi mô.
Hai là, việc tiếp cận và sử dụng dịch vụ tại các tổ chức tài chính chính thức của
người dân Việt Nam đã gia tăng trong những năm qua, bằng chứng là tỷ lệ người trưởng
thành có tài khoản tại các tổ chức tài chính đã tăng lên trong những năm vừa qua. Đây có
thể coi là tiền đề để người dân tìm hiểu và sử dụng các dịch vụ khác của ngân hàng cũng
như các tổ chức tài chính khác.
Ba là, tỷ lệ người trưởng thành có tài khoản tiết kiệm, có khoản vay ở nước ta gia
tăng, điều đó cho thấy ngân hàng đã thay đổi phương thức giao dịch để thu hút được sự
quan tâm của người dân, nhất là người dân vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa, miền biên
giới hải đảo và người có thu nhập không ổn định lựa chọn vay vốn ngân hàng thay vì các
tổ chức tài chính không chính thức với lãi suất cao và gửi tiết kiệm tại ngân hàng để phục
vụ chi tiêu và đầu tư trong tương lai.
Bốn là, tỷ lệ người trưởng thành sở hữu thẻ ghi nợ và thẻ tín dụng tăng trong các
năm qua, đồng thời như ghi nhận của NHNN giá trị các giao dịch thanh toán không sử
dụng tiền mặt của nước ta đã tăng đột biến trong năm nay. Điều đó cho thấy nhận thức về
thanh toán không sử dụng tiền mặt của người dân đã tăng lên rõ rệt.
SỐ LƯỢNG THẺ NGÂN HÀNG(*)
(Tại thời điểm cuối Quý III/2023) Chỉ tiêu
Giá trị (Triệu thẻ)
Tổng số lượng thẻ nội địa đang lưu hành 102,15
Tổng số lượng thẻ quốc tế đang lưu hành 38,54
Nguồn: Vụ Thanh toán NHNNVN
Một số khó khăn, thách thức
Bên cạnh kết quả tích cực đã đạt được, theo Ngân hàng Nhà nước (2022), việc triển
khai thực hiện chiến lược tài chính toàn diện quốc gia vẫn gặp không ít khó khăn, thách thức.
Thứ nhất, khuôn khổ pháp lý hiê Œn hành còn bất cập, chưa bắt kịp đòi hỏi của thực
tiễn, nhất là trong bối cảnh phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghê Œ, xuất hiê Œn thêm
các kênh phân phối, sản phẩm, dịch vụ tài chính mới dựa trên đổi mới sáng tạo và ứng
dụng công nghệ số nhưng cũng tiềm ẩn rủi ro.
Thứ hai, mạng lưới chi nhánh, phòng giao dịch, hê Œ thống POS/ATM của các tổ
chức tín dụng phân bố chủ yếu ở khu vực thành thị, các khu kinh tế phát triển, khu đông
dân cư, trong khi còn hạn chế tại các địa bàn nông thôn, vùng sâu, vùng xa.
Thứ ba, thanh toán không dùng tiền mặt mặc dù đã đạt được những kết quả đáng
kể, tuy nhiên một bộ phận dân cư, đặc biệt là nhóm người cao tuổi, người dân ở vùng
nông thôn, vùng sâu, vùng xa vẫn chưa sử dụng phổ biến hình thức thanh toán này.
Thứ tư, sản xuất nông nghiệp còn thiếu các biện pháp, công cụ phòng ngừa để hạn
chế rủi ro, chính sách bảo hiểm nông nghiệp chậm triển khai; các cơ chế hỗ trợ tiếp cận
vốn cho doanh nghiê Œp nhỏ và vừa thông qua bảo lãnh của Quỹ bảo lãnh tín dụng, hỗ trợ
vốn của Quỹ phát triển doanh nghiê Œp nhỏ và vừa chưa đạt được như kỳ vọng.
Thứ năm, cơ sở dữ liệu về tài chính toàn diện vẫn chưa hoàn thiện, tạo không ít
khó khăn cho công tác giám sát, đánh giá việc thực thi các nhiệm vụ, giải pháp của Chiến
lược tài chính toàn diện.
Thứ sáu, công tác truyền thông về tài chính toàn diê Œn chưa thực sự đa dạng, phong phú.
Ngoài ra, sự bùng phát của đại dịch Covid-19 đã để lại những hệ quả nặng nề đến
mọi mặt của đời sống kinh tế - xã hội, hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp
và đời sống của người dân khó khăn cũng có tác đô Œng không nhỏ tới kết quả thực hiê Œn
các mục tiêu của Chiến lược tài chính toàn diện quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030.
Đề xuất giải pháp
Đối với Chính phủ- Ngân hàng Nhà nước.
Một là, Chính phủ và NHNN cần phổ cập hóa kiến thức về dịch vụ tài chính đến
cho người dân, nhất là người dân khu vực nông thôn, vùng sâu, vùng xa thông qua các
buổi tập huấn, hội thảo, nói chuyện hoặc các chương trình trò chơi truyền hình…
Hai là, Chính phủ và NHNN cần nghiên cứu và hoàn thiện khuôn khổ hành lang
pháp lý về các hoạt động của TCTD, nhất là các hoạt động tài chính mang tính chất hiện
đại như thanh toán không sử dụng tiền mặt, thanh toán phi tiếp xúc, QR Code, thanh toán
điện tử, đồng thời hoàn thiện các cơ sở pháp lý cho các công ty công nghệ (fintech) hoạt động.
Ba là, cho đến nay, việc chi trả các khoản trợ cấp, hỗ trợ của Chính phủ đến người
nghèo, người có hoàn cảnh khó khăn đang được thực hiện chủ yếu thông qua việc chi trả
bằng tiền mặt. Do đó, để khuyến khích người dân tiếp cận TCTD, Chính phủ và NHNN
cần từng bước tạo điều kiện để ban hành các quy định về chi trả các khoản trợ cấp, hỗ trợ,
lương hưu thông qua tài khoản ngân hàng, đẩy mạnh chuyển khoản và các hình thức
thanh toán không dùng tiền mặt.
Bốn là, NHNN cần tăng cường đầu tư cơ sở hạ tầng thông tin, dịch vụ tài chính
nhằm đảm bảo hoạt động thông suốt và ổn định của hệ thống tài chính trên phạm vi cả
nước, đồng thời khuyến khích các tổ chức tài chính mở rộng chi nhánh, phòng giao dịch
tại các vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa, để từ đó TCTD đến với toàn bộ người dân
trong cả nước đặc biệt là các vùng này với tiêu chí tới tổ chức tài chính nào cũng như nhau.
Đối với các tổ chức tài chính
Một là, phối hợp với Chính phủ, NHNN trong việc phổ cập kiến thức cơ bản về
dịch vụ tài chính dành cho mọi người dân, nhất là người dân khu vực nông thôn, miền
núi, hải đảo… bằng các hình thức như tổ chức các buổi nói chuyện, hội thảo, tờ rơi…
Hai là, nắm bắt tâm lý người dân để thiết kế những sản phẩm dịch vụ phù hợp với
nhu cầu của từng phân khúc khách hàng. Thực hiện đa dạng hóa tín dụng nông thôn
nhằm đáp ứng nhu cầu đi vay của người nông dân và người dân có thu nhập thấp. Ngoài
ra, các tổ chức tài chính cần nghiên cứu và cung ứng các sản phẩm tiết kiệm phù hợp với
những khách hàng này, tạo điều kiện cho người nghèo cũng có thể tiết kiệm để phục vụ nhu cầu trong tương lai.
Ba là, có thể xem xét để mở các văn phòng đại diện, có thể lắp đặt các trụ ATM,
máy POS tại các khu vực nông thôn để người dân có thể dễ dàng sử dụng các dịch vụ tài chính ngân hàng.
Bốn là, tiếp tục phát triển các sản phẩm mang tính xu hướng thời đại như Internet
banking, mobile banking… Ngoài ra, có thể liên kết với các công ty fintech để cho ra đời
các sản phẩm dịch vụ sáng tạo như ví điện tử, thanh toán bằng quét mã QR để phục vụ tối
đa nhu cầu của người dân, kích thích phát triển TCTD.
CHƯƠNG II: VAI TRÒ CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI TRONG PHÁT
TRIỂN TÀI CHÍNH TOÀN DIỆN
1. Mức độ tiếp cận các dịch vụ tín dụng.
1.1 Mức độ tiếp cận các dịch vụ tín dụng của người dân
Ở Việt Nam hiện nay, theo số liệu của Ngân hàng Nhà nước, tính đến tháng
18/5/2023, tỷ lệ người dân trưởng thành sử dụng dịch vụ thanh toán điện tử, tỷ lệ dịch vụ
công của Ngân hàng Nhà nước đủ điều kiện được nâng cấp lên mức độ 4. Thống đốc
NHNN Nguyễn Thị Hồng cũng thông tin thêm, có khoảng 74,63% người trưởng thành tại
Việt Nam đã có tài khoản ngân hàng. Trong đó, hơn 70% được mở tại khu vực nông
thôn, vùng sâu, vùng xa. Như vậy, chúng ta có thể thấy mức độ tiếp cận với các dịch vụ
tín dụng tại Việt Nam đang ngày càng phủ sóng rộng rãi trên cả nước đúng với mục tiêu
của tài chính toàn diện. 1.2 Doanh nghiệp
ThS. Nguyễn Quốc Hưng nêu trong Tạp chí Ngân hàng trong bối cảnh kinh tế thị
trường, giống như các doanh nghiệp khác, DNNVV cũng sử dụng vốn tín dụng từ ngân
hàng để đáp ứng nhu cầu vốn và tối ưu hóa hiệu quả sử dụng vốn.
1.2.1 Giải quyết bài toán thiếu vốn cho các DNNVV, giúp doanh nghiệp chớp thời
cơ, nâng cao khả năng cạnh tranh trên thị trường.
Theo báo Tuổi Trẻ Online, anh Trung Hiếu, chủ một công ty sản xuất bao bì cho
biết, cuối năm 2021 đến 3 tháng đầu năm 2022 là cơ hội quan trọng cần tận dụng để thu
lời vì thuộc giai đoạn nhiều lễ tết, hội họp. "Khoảng 2 tháng nay, tình hình kinh doanh
của công ty tích cực lên khá rõ ràng. Tôi đang nghiên cứu vay thêm vốn để tranh thủ lực đẩy thị trường".
Các chuyên gia cho rằng doanh nghiệp nhỏ và vừa thu hút khoảng 70% tín dụng từ
các ngân hàng. Vốn tín dụng ngân hàng giúp DNNVV tăng cường hiệu quả sử dụng vốn
và làm cho nền kinh tế trở nên khỏe mạnh hơn.
1.2.2 DNNVV nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, góp phần lành mạnh hóa nền kinh tế.
DNNVV chiếm khoảng 97% tổng số doanh nghiệp hoạt động tại Việt Nam, đóng
góp khoảng 45% vào GDP, 31% vào tổng số thu ngân sách và tạo ra hơn 5 triệu việc làm.
Tại Hội thảo “Giải pháp tín dụng cho doanh nghiệp nhỏ và vừa”, đại diện Hiệp hội
DNNVV Hà Nội nhấn mạnh tầm quan trọng của vốn tín dụng ngân hàng đối với
DNNVV. Vốn tín dụng ngân hàng giúp đảm bảo hoạt động liên tục của DNNVV, nâng
cao hiệu quả sử dụng vốn, hình thành cơ cấu vốn tối ưu và tập trung vốn sản xuất, nâng
cao khả năng cạnh tranh của DNNVV.
1.2.3 Động lực thúc đ>y các DNNVV nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh
của doanh nghiệp trên thị trường.
Hiện nay, các dịch vụ của ngân hàng đã tiếp cận được với các doanh nghiệp nói
chung và các DNNVV nói riêng. Các ngân hàng đang nỗ lực kích cầu thị trường thông
qua các giải pháp đa dạng như:
Các NHTM xây dựng chính sách lãi suất linh hoạt theo đối tượng vay vốn,
giảm bớt các khoản chi phí khác kèm theo khi vay vốn.
Cụ thể, Agribank là một trong những ngân hàng hàng đầu thực hiện các chương
trình hỗ trợ vốn cho DNNVV, kết hợp với các ưu đãi như miễn phí hoặc giảm phí các
dịch vụ ngân hàng. Trong đó có DNNVV với mức lãi suất cho vay ngắn hạn tối đa
4,5%/năm, lãi suất cho vay trung, dài hạn 7,5%/năm, thấp hơn rất nhiều so với lãi suất
cho vay thông thường (theo số liệu 2021).
Tăng cường các hoạt động tư vấn và hỗ trợ, tháo gỡ khó khăn cho DNNVV.
Ttích cực triển khai kết nối ngân hàng - DNNVV. Đây là kênh tiếp cận vốn nhanh,
hiệu quả góp phần tháo gỡ khó khăn cho sản xuất - kinh doanh. Ngoài ra DNNVV còn
được miễn, giảm phí và giá các sản phẩm bán chéo như: phí thanh toán, phí bảo hiểm, phí
mở tài khoản tiền gửi thanh toán, … Chính vì vậy, nhiều chương trình đã thực sự tạo ra
những cú hích lớn góp phần vào tăng trưởng kinh tế đối với DNNVV. Lãi suất cho vay
theo đó đã được kéo xuống mức thấp nhất trong vòng vài năm trở lại đây, vượt qua kỳ
vọng của nhiều doanh nghiệp và chuyên gia.
NHTM thành lập bộ phận chuyên trách hỗ trợ DNNVV hoàn thiện hồ sơ, thủ tục vay vốn.
Để hỗ trợ cho việc vay vốn của DNNVV, các ngân hàng thường thành lập bộ phận
chuyên trách hỗ trợ trong việc hoàn thiện hồ sơ và thủ tục vay vốn. Điều này giúp
DNNVV tiếp cận vốn dễ dàng hơn và giảm bớt thời gian thẩm định.
NHTM áp dụng linh hoạt điều kiện tài sản đảm bảo, tăng tỷ lệ cấp tín dụng so
với giá trị tài sản đảm bảo.
Ngoài ra, một số chi nhánh ngân hàng đã hợp tác với các tổ chức tài chính khác để
tạo ra Quỹ bảo lãnh tín dụng DNNVV, giúp DNNVV tiếp cận vốn vay thông qua bảo
lãnh của Quỹ, đồng thời giảm thời gian và công sức trong quá trình thẩm định hồ sơ vay vốn.
2. Mức độ sử dụng các sản phẩm và dịch vụ tài chính gia tăng
-Thanh toán không sử dụng tiền mặt đang trở thành một xu hướng không thể tránh
khỏi trong quá trình phát triển kinh tế thương mại toàn cầu. Việt Nam đã và đang đi theo
xu hướng này với những thành tựu ban đầu đáng chú ý. Thúc đẩy thanh toán không sử
dụng tiền mặt là một trong những chủ trương quan trọng nhằm thúc đẩy Chiến lược tài
chính toàn diện quốc gia đến năm 2025, và định hướng đến năm 2030 của Chính phủ.
-Trong thời gian gần đây, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) cùng với các
bộ, ngành, địa phương và các cơ quan liên quan đã cùng nhau tăng cường nhận thức về
tài chính toàn diện, cũng như cải thiện khả năng tiếp cận dịch vụ tài chính của các ngân
hàng thương mại (NHTM). Các phương tiện thanh toán không sử dụng tiền mặt, kèm
theo hỗ trợ từ công nghệ và dịch vụ ngân hàng, đã tiếp tục được phát triển mạnh mẽ, phù
hợp với xu hướng thanh toán của các quốc gia trong khu vực và trên thế giới.
Hầu hết các ngân hàng đã cung cấp các dịch vụ tiện ích như thanh toán tiền điện,
nước, cước phí điện thoại, viễn thông, phí bảo hiểm, và học phí thông qua kênh Internet
banking và Mobile banking. Cũng, các NHTM đã hợp tác với Tổng cục Hải quan để giảm
tỷ lệ nộp thuế điện tử, chiếm khoảng 90% tổng thu ngân sách Nhà nước từ ngành Hải
quan. Các ngân hàng cũng đã tích cực hợp tác với các doanh nghiệp lớn để tận dụng lợi
ích của mỗi bên trong việc cung cấp sản phẩm và dịch vụ cho khách hàng.
Các phương tiện thanh toán qua Internet, Mobile và QR Code đang tăng trưởng
nhanh chóng. Hiện có 85 tổ chức triển khai dịch vụ thanh toán qua Internet và 52 tổ chức
thực hiện qua Mobile. Tăng trưởng về số lượng giao dịch qua Internet và Mobile đã đạt
mức bình quân 46,48% và 90,12% qua các năm tương ứng. Riêng về thanh toán qua QR
Code, từ năm 2018 đến nay, tăng trưởng về số lượng giao dịch qua QR Code đã đạt mức bình quân 471,13%.
Hạ tầng thanh toán đã được đầu tư và mở rộng cả về quy mô và chất lượng. Hiện
có trên 78 tổ chức triển khai dịch vụ thanh toán qua Internet và hơn 47 tổ chức cung ứng
dịch vụ thanh toán qua điện thoại di động. Trên thị trường, hiện có hơn 19.000 ATM và
hơn 280.000 POS, cùng với hơn 500.000 điểm chấp nhận thanh toán qua QR Code.
3. Chất lượng các dịch vụ được cải thiện
Về thực trạng Việt Nam còn là quốc gia đang phát triển với nền kinh tế năng động
và thu nhập của người dân tăng trưởng mỗi năm. Với mật độ dân số trẻ cao và thu nhập
ngày càng tăng, nhu cầu mua sắm và tiêu dùng và nhu cầu về các dịch vụ tài chính cá
nhân không ngừng tăng lên. Với những tiềm năng này, phát triển dịch vụ tài chính cá
nhân đang trở thành một trong những định hướng chiến lược của các ngân hàng thương
mại. Thực tế cho thấy, dịch vụ tài chính cá nhân tại các ngân hàng hiện nay ngày càng đa
dạng tạo cho khách hàng nhiều cơ hội lựa chọn, đáp ứng nhu cầu tiết kiệm, đầu tư, tiêu
dùng và thanh toán. Theo thống kê của Ngân hàng Nhà nước, Việt Nam có khoảng 183 tổ
chức tín dụng và gần 1.200 quỹ tín dụng nhân dân; 22 công ty tài chính được cấp phép
hoạt động với 13 chi nhánh, 43 văn phòng đại diện và 53.516 điểm giới thiệu dịch vụ tại 63/63 tỉnh, thành phố.
Các dịch vụ tín dụng của các ngân hàng thương mại ngày càng được đổi mới và
cải thiện phù hợp với thời đại và nhu cầu của khách hàng, đặc biệt nhắm tới các đối
tượng khách hàng trẻ. Các dịch vụ thanh toán qua mã QR, chuyển khoản định danh, sử
dụng thẻ ngân hàng để thanh toán ngày càng được sử dụng nhiều tạo áp lực cho sự đổi
mới và nâng cao chất lượng dịch vụ của các ngân hàng thương mại. Từ đó tạo tiền đề cho
mục tiêu tài chính toàn diện do Chính phủ đặt ra.
Cùng với sự phát triển của CNTT và viễn thông, hoạt động thanh toán tại Việt
Nam cũng có những bước phát triển vượt bậc với hàng loạt các loại hình dịch vụ TTKDTM mới ra đời.
Đặc biệt, trong thanh toán dịch vụ công, một điểm đáng mừng là hệ thống thanh
toán điện tử liên ngân hàng đã được kết nối với toàn bộ 63 Kho bạc Nhà nước cấp tỉnh
trong cả nước, đáp ứng được nhu cầu thu, chi ngân sách của người dân và doanh nghiệp
một cách nhanh chóng, kịp thời.
Ông Phạm Tiến Dũng - Vụ trưởng Vụ Thanh toán cũng thông tin, hiện đã có 50
ngân hàng hoàn thành kết nối thanh toán thuế điện tử với cơ quan thuế, hải quan trên 63
tỉnh/thành phố, 95% số thu ngân sách qua hải quan được thực hiện qua ngân hàng; 99%
doanh nghiệp đăng ký nộp thuế điện tử; 27 ngân hàng và 10 tổ chức trung gian thanh toán
đã phối hợp thu tiền điện, doanh thu tiền điện của tổng công ty thuộc Tập đoàn Điện lực
Việt Nam thanh toán qua ngân hàng lên tới gần 90%;... 30 bệnh viện đã kết nối triển khai
thanh toán viện phí điện tử, tổng số tiền chi các chế độ bảo hiểm xã hội, trợ cấp thất
nghiệp qua tài khoản cá nhân trên cả nước chiếm khoảng 23 % tổng số tiền chi..
CHƯƠNG III TÁC ĐỘNG CỦA XU HƯỚNG PHÁT TRIỂN TÀI CHÍNH TOÀN
DIỆN TỚI HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA NGÂN HÀNG AGRIBANK 1. Cơ hội
Mở rộng dịch vụ tài chính: Agribank có thể tận dụng xu hướng phát triển tài chính
để mở rộng danh mục dịch vụ, bao gồm tăng cường sản phẩm và dịch vụ tiết kiệm, cho
vay, và các sản phẩm tài chính khác để phục vụ nhu cầu đa dạng của khách hàng.
Kỹ thuật số hóa: Agribank có thể đầu tư vào công nghệ để tăng cường trải nghiệm
khách hàng thông qua các dịch vụ trực tuyến, ứng dụng di động, và các công cụ kỹ thuật
số khác. Điều này giúp tăng cường sự thuận tiện và tiết kiệm thời gian cho khách hàng.
Phát triển các sản phẩm tài chính mới: Agribank có thể sử dụng các dữ liệu và
thông tin phân tích để phát triển các sản phẩm và dịch vụ tài chính mới phù hợp với nhu
cầu của thị trường và khách hàng.
Mở rộng quan hệ đối tác: Agribank có thể hợp tác với các tổ chức tài chính khác
và các doanh nghiệp trong và ngoài nước để mở rộng mạng lưới và cung cấp các dịch vụ tài chính đa dạng. 2. Thách thức
Cạnh tranh từ các ngân hàng khác: Trong một môi trường ngân hàng cạnh tranh,
Agribank phải đối mặt với sự cạnh tranh từ các ngân hàng khác, bao gồm cả các ngân
hàng kỹ thuật số mới nổi, các ngân hàng thương mại và các tổ chức tài chính khác.
Thích nghi với công nghệ mới: Việc phát triển công nghệ và sự xuất hiện của các
công nghệ mới như trí tuệ nhân tạo, blockchain và các dịch vụ tài chính kỹ thuật số đang
thay đổi cách mà ngân hàng hoạt động. Agribank cần đầu tư vào nền tảng công nghệ phù
hợp và đào tạo nhân viên để thích nghi với các thay đổi này.
Bảo mật và quyền riêng tư: Việc tăng cường dịch vụ trực tuyến và sử dụng dữ liệu
khách hàng đồng nghĩa với việc phải đối mặt với các thách thức liên quan đến bảo mật
thông tin và quyền riêng tư.
Quản lý chi phí: Việc mở rộng danh mục dịch vụ và đầu tư vào công nghệ đòi hỏi
sự đầu tư tài chính đáng kể từ Agribank. Do đó, quản lý chi phí trở thành một thách thức
quan trọng để duy trì lợi nhuận và cạnh tranh.
Xu hướng tài chính toàn diện yêu cầu các ngân hàng phải tuân thủ các quy định và
luật pháp quốc tế, bao gồm các quy định về giao dịch tài chính quốc tế và chuẩn Basel.
3. Các sản phẩm ngân hàng Agribank tung ra thị trường nhằm mục tiêu phát triển tài chính toàn diện
Xu thế chung của các Ngân hàng là sự dịch chuyển kênh phân phối sản phẩm dịch
vụ ngân hàng truyền thống từ các chi nhánh, quầy giao dịch, ATM vật lý sang các kênh
số hóa, giúp tương tác khách hàng nhiều và hiệu quả hơn. Và Agribank cũng không nằm
ngoài xu thế này khi đã chủ động tích cực đa dạng hóa, nâng cao chất lượng SPDV trên
nền tảng công nghệ thông tin hiện đại, đáp ứng ngày càng đa dạng nhu cầu của khách hàng.
Đối với nhóm SPDV Thẻ, Agribank đã triển khai thêm nhiều sản phẩm, chức năng
tiện ích mới phù hợp với cách mạng công nghiệp 4.0 như: thanh toán bằng QR Code,
Samsung Pay, thanh toán thẻ không tiếp xúc (Contactless) - công nghệ mới nhằm tối ưu
hóa tiện ích, gia tăng tính bảo mật và rút ngắn thời gian giao dịch cho chủ thẻ.....
( Agribank hiện có trên 200 SPDV được chia thành các nhóm gồm: Nhóm SP Huy động
vốn; Nhóm dịch vụ thanh toán trong nước; Nhóm dịch vụ Thẻ; Nhóm dịch vụ Thanh toán
quốc tế; Nhóm dịch vụ Kinh doanh ngoại hối; Nhóm dịch vụ Kiều hối; Nhóm dịch vụ
Ngân hàng điện tử E-Banking; Nhóm dịch vụ ngân quỹ và quản lý tiền tệ; Nhóm dịch vụ
ủy thác đại lý; Nhóm SPDV liên kết…)
Agribank triển khai mở rộng dịch vụ thẻ trên ứng dụng Agribank E-Mobile
Banking với tốc độ tăng rất cao, đặc biệt là dịch vụ chuyển tiền liên ngân hàng. Agribank
đã triển khai thành công nhiều sản phẩm, chức năng, tiện ích mới trong lĩnh vực thẻ, bao
gồm: Triển khai mở rộng chức năng rút tiền bằng mã (Cash by Code); Triển khai mở
rộng Chương trình tích lũy điểm thưởng dành cho khách hàng trung thành đối với thẻ tín
dụng Agribank; Hoàn thành test, lấy chứng chỉ và triển khai mở rộng dịch vụ chấp nhận
thanh toán thẻ không tiếp xúc thương hiệu Visa tại POS Agribank trong toàn hệ thống;
Triển khai thí điểm thành công nghiệp vụ phát hành thẻ trả trước vô danh; Hoàn thành
triển khai thí điểm dịch vụ tiền gửi trực tuyến tại CDM; Triển khai dịch vụ bảo hiểm
dành cho chủ thẻ quốc tế với nhiều cải tiến trong thông báo chủ thẻ, chứng nhận bảo hiểm, v.v…
Agribank đẩy nhanh tiến độ triển khai, sớm hoàn thành các dự án CNTT hỗ trợ
triển khai SPDV như dự án E- Banking, quản lý quan hệ khách hàng (CRM)…, qua đó
xây dựng nền tảng dịch vụ đa kênh, khách hàng có thể sử dụng dịch vụ ngân hàng qua
nhiều kênh khác nhau, đặc biệt là Mobile Banking và Internet Banking… Bên cạnh đầu
tư cho hệ thống máy móc, phần mềm ứng dụng, Agribank tăng cường chú trọng đầu tư
cho con người có trình độ làm chủ công nghệ. Tất cả để nhằm giảm thiểu một cách tối đa
thủ tục giấy tờ hành chính, thời gian đi lại, tiếp cận và sử dụng dịch vụ, làm tăng sự hài
lòng của khách hàng đối với các sản phẩm dịch vụ của Agribank, hướng đến mục tiêu là
ngân hàng hiện đại hàng đầu tại Việt Nam.
Tích hợp trong mỗi kios Agribank Digital là hàng loạt công nghệ hiện đại, tân tiến
nhất hiện nay như định danh điện tử (eKYC); nhận diện sinh trắc học (khuôn mặt Face
ID, nhận diện vân tay)... với khả năng an toàn và bảo mật cao. Mỗi máy Agribank Digital
được trang bị đầy đủ các chức năng nghiệp vụ của một phòng giao dịch ngân hàng như
định danh, đăng ký thông tin sinh trắc học khuôn mặt, vân tay; đăng ký mở tài khoản,
phát hành thẻ trực tuyến; đăng ký dịch vụ ngân hàng điện tử; đăng ký vay vốn trực tuyến;
các giao dịch tài chính bằng sinh trắc học. Với trải nghiệm Agribank Digital, mọi giao
dịch được tự động hóa với tốc độ xử lý nhanh chóng, độ chính xác cao. đồng thời trao
quyền cho khách hàng tự phục vụ các nhu cầu giao dịch của mình mà vẫn dễ sử dụng,
phù hợp với khu vực nông thôn và miền núi.
Agribank cung cấp dịch vụ thẻ, dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt trên địa
bàn huyện, thị xã, thị trấn với các giao dịch thuộc lĩnh vực dịch vụ công (thanh toán hóa
đơn điện, nước, điện thoại, học phí, viện phí,v.v…), thanh toán vật tư nông nghiệp đầu
vào, thanh toán nông sản đầu ra của khách hàng hộ sản xuất, cá nhân, v.v…. Sản phẩm
Thẻ Lộc Việt Agribank tích hợp hai ứng dụng thẻ “ghi nợ” và “tín dụng” trên cùng một
con chip với đầy đủ các tính năng của thẻ ghi nợ nội địa cũng như thẻ tín dụng nội địa
hạng chuẩn, giúp khách hàng tiện lợi hơn khi thanh toán, bảo mật cao nhờ công nghệ thẻ
chip hiện đại. Nhờ những tính năng ưu việt, sản phẩm Thẻ Lộc Việt Agribank đã dành
được "Giải thưởng Sao Khuê năm 2022".
Bên cạnh đó, Agribank có quan hệ hợp tác chặt chẽ với các công ty tài chính -
công nghệ FinTech như VNPay, Momo, BankPlus, Payoo, … nhằm tận dụng mô hình
kinh doanh tinh gọn, hướng tới trải nghiệm khách hàng và sự đổi mới, sáng tạo của FinTech.
Bên cạnh duy trì mô hình ngân hàng số (Agribank Digital), Agribank tiếp tục thử
nghiệm và triển khai theo lộ trình ứng dụng căn cước công dân gắn chip vào hoạt động
giao dịch. Với hình thức này, khách hàng đến Agribank giao dịch chỉ cần chọn dịch vụ và
ký duy nhất 01 chữ ký mà không cần viết hay điền bất kỳ thông tin gì bằng tay.
=> Có thể thấy, các mô hình kinh doanh mới dựa trên công nghệ số như ngân hàng di
động, đại lý ngân hàng, cùng với các sản phẩm, dịch vụ như ví điện tử, tiền di động tạo ra
các phương thức giao dịch mới, dễ dàng tiếp cận hơn cho người dân, kể cả những người
không có tài khoản ngân hàng sống ở vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa, qua đó thúc
đẩy mạnh mẽ hơn tài chính toàn diện.
4. Agribank tạo dựng kênh phân phối để phù hợp với xu thế phát triển tài chính
toàn diện của đất nước
Song hành với các kênh phân phối truyền thống, Agribank đẩy mạnh các kênh
phân phối ngân hàng số, nâng cấp toàn bộ hệ thống ATM, EDC/POS chấp nhận thanh
toán thẻ Chip đối với các Tổ chức thẻ quốc tế: Visa, MasterCard, JCB,… Agribank đầu
tư, trang bị hệ thống cơ sở hạ tầng, phát triển mạnh các phương thức thanh toán điện tử
như ngân hàng trực tuyến, thanh toán qua Internet, điện thoại di động, thanh toán không
tiếp xúc và chấp nhận thanh toán thẻ không tiếp xúc các thương hiệu thẻ quốc tế như
Visa, Master Card tại POS..., áp dụng các biện pháp an ninh, tiêu chuẩn bảo mật mới, tiên
tiến phù hợp với xu hướng thanh toán trên thế giới, đảm bảo thanh toán nhanh chóng, an
ninh an toàn, tiện lợi. Agribank mở rộng chức năng rút tiền bằng mã (Cash by Code) tại
ATM, dịch vụ thanh toán QR Code, chấp nhận thanh toán thẻ không tiếp xúc thương hiệu
Visa tại POS, thí điểm thành công dịch vụ tiền gửi trực tuyến tại CDM… Đây là bước
tiến mới của Agribank trong chiến lược tự động hóa các giao dịch ngân hàng, gia tăng
tiện ích và đa dạng hóa SPDV.
Agribank mở rộng chức năng rút tiền bằng mã (Cash by Code) tại ATM, dịch vụ
thanh toán QR Code, chấp nhận thanh toán thẻ không tiếp xúc thương hiệu Visa tại POS,
thí điểm thành công dịch vụ tiền gửi trực tuyến tại CDM… Đây là bước tiến mới của
Agribank trong chiến lược tự động hóa các giao dịch ngân hàng, gia tăng tiện ích và đa dạng hóa SPDV.
Các kênh phân phối SPDV của Agribank đa dạng gồm: Kênh phân phối SPDV
truyền thống (2.233 chi nhánh, phòng giao dịch gồm:158 chi nhánh loại 1, loại 2; 784 chi
nhánh loại 3 và 1290 phòng giao dịch; 7 công ty trực thuộc; 03 Văn phòng đại diện và 01
Chi nhánh nước ngoài; Điểm giao dịch lưu động); Kênh phân phối qua ATM và
EDC/POS (2.626 ATM và 19.015 EDC/POS); Kênh phân phối qua Mobile Banking;
Kênh phân phối qua Internet Banking; Kênh phân phối qua kết nối thanh toán với khách
hàng (CMS); Kênh phân phối với các ngân hàng đại lý (Agribank hiện duy trì quan hệ đại
lý với 825 ngân hàng tại 86 quốc gia và vùng lãnh thổ).
5. Agribank tham gia vào quá trình giáo dục, nâng cao nhận thức về tầm quan
trọng của phát triển tài chính toàn diện
Hướng đến mục tiêu góp phần nâng cao nhâ Œ
n thức và khuyến khích người dân
hiểu đúng về vai tròn phát triển tài chính toàn diện và sử dụng dịch vụ tài chính ngân
hàng an toàn, hiê Œu quả, Agribank cùng các cơ quan thông tấn báo chí, Vụ Truyền thông
NHNN triển khai các hoạt đô Œng truyền thông giáo dục tài chính đưa công chúng đến gần
hơn với các dịch vụ ngân hàng thông qua phối hợp thực hiê Œn mô Œt số chương trình có tính
lan tỏa trong cô Œng đồng như “Những đứa trẻ thông thái”, “Tiền khéo Tiền khôn”, “Đồng
tiền thông thái”, “Hiểu đúng về tiền”, “Tay hòm chìa khóa”… Thông qua các chương
trình truyền thông này, nhận thức và thói quen của người dân về các sản phẩm, dịch vụ
ngân hàng đã thay đổi rõ nét, nâng cao khả năng tiếp cận các sản phẩm dịch vụ ngân
hàng, từ đó góp phần thúc đẩy thanh toán không dùng tiền mặt và thực hiện các mục tiêu
của Chiến lược tài chính toàn diện quốc gia. Đặc biệt tiếp cận tới học sinh sinh viên, là
đối tượng rất cần có sự hiểu biết đúng và đầy đủ về các vấn đề tài chính ngân hàng trong
bối cảnh xã hội phát triển và chuyển đổi số như hiện nay. Agribank và ban tổ chức
chương trình cũng đã trao tặng đến các em học sinh tại các điểm trường hơn 3200 cuốn
sách “Khéo khôn với tiền” để các em có nguồn thông tin về việc sử dụng tiền, sản phẩm
dịch vụ tài chính ngân hàng một cách chính thống và an toàn; một số bộ máy tính để giáo
viên và các em học sinh có thiết bị tiếp cận với kiến thức mới và thông tin từ các chương
trình Giáo dục tài chính trực tuyến.
Thời gian tới, chương trình giáo dục tài chính sẽ tập trung vào nội dung cung cấp
thông tin về các dịch vụ ngân hàng như thanh toán, tiết kiệm, vay vốn… và hướng tới
công chúng ở vùng sâu, vùng xa, giới trẻ và các nhóm ít thông tin về tài chính nhằm tiếp
tục góp phần tăng cường khả năng tiếp cận dịch vụ tài chính, thúc đẩy thanh toán không
dùng tiền mặt tại Việt Nam. Agribank tiếp tục tham gia cùng NHNN thực hiện các
chương trình truyền thông giáo dục tài chính cộng đồng với mong muốn ngày càng nhiều
người dân trên khắp mọi vùng, miền đất nước nắm bắt thông tin, kiến thức, sử dụng các
dịch vụ tài chính ngân hàng, cùng hướng đến mục tiêu chung thực hiện thành công Chiến
lược quốc gia về tài chính toàn diện. LỜI KẾT LUẬN
Xu hướng phát triển tài chính toàn diện đang trở thành một yếu tố quan trọng trong
kinh tế hiện đại. Điều này liên quan đến việc tăng cường sự phát triển và tích hợp của các
lĩnh vực tài chính khác nhau như ngân hàng, bảo hiểm, chứng khoán, quỹ đầu tư và dịch
vụ tài chính khác. Để đạt được tài chính toàn diện, cần tạo ra môi trường thuận lợi để các
ngân hàng và các tổ chức tài chính khác hoạt động một cách hiệu quả và cải thiện quy
trình giao dịch tài chính. Đồng thời, cần tăng cường quản lý rủi ro tài chính để đảm bảo
tính ổn định và bảo vệ các nhà đầu tư. Xu hướng này cũng đòi hỏi sự cải thiện trong việc
tiếp cận và sử dụng dịch vụ tài chính của cả người dân và doanh nghiệp. Cần đảm bảo
rằng mọi người, bao gồm cả người nghèo và nhóm thấp kế, có khả năng tiếp cận các sản
phẩm và dịch vụ tài chính cơ bản để phát triển tài chính cá nhân và doanh nghiệp. Ngoài
ra, tài chính toàn diện cũng đòi hỏi sự phát triển của hệ thống tài chính kỹ thuật số, trong
đó công nghệ thông tin và truyền thông được sử dụng để cung cấp dịch vụ tài chính trực
tuyến và không cần đến sự can thiệp của các tổ chức truyền thống.
Từ việc phát triển tài chính toàn diện, có thể đảm bảo sự tăng trưởng bền vững và
phát triển kinh tế. Nó cũng có thể góp phần trong việc giảm thiểu bất bình đẳng kinh tế
trong xã hội và đem lại lợi ích cho tất cả các bên liên quan. Do đó, xu hướng này đang
nhận được sự quan tâm và ủng hộ từ phía các chính phủ, tổ chức phi chính phủ và cộng
đồng quốc tế và vai trò của các ngân hàng thương mại trong vấn đề này được khẳng định là vô cùng quan trọng.