



















Preview text:
lOMoAR cPSD| 58707906
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN *** BÀI TẬP LỚN
Môn: Kinh tế đầu tư
Đề tài: Vai trò của nguồn vốn tư nhân và dân cư đối với sự phát triển kinh tế
Việt Nam. Phân tích các giải pháp tăng cường huy động nguồn vốn này cho
hoạt động sản xuất kinh doanh.
Sinh viên thực hiện: Nhóm 6
Lớp: DTKT1154(222)_06
Giảng viên hướng dẫn: ThS. Đinh Thùy Dung Hà Nội – 2023 lOMoAR cPSD| 58707906 MỤC LỤC Trang
PHẦN 1: PHÂN TÍCH VAI TRÒ CỦA NGUỒN VỐN TƯ NHÂN VÀ DÂN CƯ VỚI SỰ
PHÁT TRIỂN KINH TẾ VIỆT NAM..........................................................................................6 I.
KHU VỰC KINH TẾ TƯ NHÂN TẠI VIỆT NAM - NHỮNG CỘT MỐC
QUAN TRỌNG.....................................................................................................................6
1. Doanh nghiệp tư nhân đã phải trải qua một con đường tăng trưởng gập ghềnh, nhiều sóng gió tại Việt
Nam.........................................................................................................6
2. Năm 1986 là một dấu mốc quan trọng cho sự phát triển của khu vực tư nhân..........6
3. Khu vực kinh tế tư nhân của Việt Nam được mở rộng dần từng bước.......................6
4. Luật Doanh nghiệp được ban hành vào năm 1999 đã dẫn đến một sự phát triển bùng
nổ của các doanh nghiệp tư nhân trong nước ở Việt
Nam.................................................7
5. Kể từ năm 1999, khung khổ pháp lý cho khu vực tư nhân ở Việt Nam đã liên tục
được cải thiện.....................................................................................................................8
6. Vào năm 2017, Nghị quyết hội nghị lần thứ 5 Ban chấp hành Trung ương Đảng
khóa XII đã được ban hành, tái khẳng định yêu cầu phát triển kinh tế tư nhân trở
thành động lực của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa.....................................8
7. Sự phát triển khu vực tư nhân ở Việt Nam song hành với những nỗ lực cải cách
doanh nghiệp nhà nước của Chính phủ..............................................................................8
8. Phát triển khu vực kinh tế tư nhân và cải cách DNNN có những tác động tương hỗ,
bổ trợ lẫn nhau....................................................................................................................9 II.
TỔNG QUAN VỀ KHU VỰC KINH TẾ TƯ NHÂN, DÂN CƯ TẠI VIỆT
NAM…...................................................................................................................................9
1. Những đóng góp của kinh tế tư nhân vào nền kinh tế đất
nước....................................9
2. Những hạn chế của thành phần kinh tế tư
nhân..........................................................11 III.
VAI TRÒ CỦA NGUỒN VỐN TƯ NHÂN VÀ DÂN CƯ ĐỐI VỚI SỰ PHÁT lOMoAR cPSD| 58707906
TRIỂN KINH TẾ VIỆT NAM...........................................................................................12
PHẦN 2: PHÂN TÍCH SỰ GIA TĂNG CỦA NGUỒN VỐN NÀY QUA BẢNG SỐ LIỆU
VỀ QUY MÔ CÁC NGUỒN VỐN TRONG NƯỚC HOẶC CƠ CẤU NGUỒN VỐN
TRONG NƯỚC GIAI ĐOẠN 2016 - 2020.................................................................................14 I.
KHÁI NIỆM VỐN ĐẦU TƯ THỰC HIỆN TOÀN XÃ HỘI VÀ PHÂN LOẠI14
1. Khái niệm....................................................................................................................14
2. Phân loại......................................................................................................................14
a. Chia theo nguồn vốn đầu tư..............................................................................14
b. Chia theo khoản mục đầu
tư..............................................................................14 c. Chia theo ngành kinh
tế.....................................................................................14
d. Chia theo địa bàn tỉnh/thành phố trực thuộc Trung
ương.................................14
e. Chia theo loại hình kinh
tế................................................................................14 II.
CƠ CẤU NGUỒN VỐN TRONG NƯỚC GIAI ĐOẠN 2016 – 2020...............15 III.
SO SÁNH VỚI SỰ CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU VỐN TRONG NƯỚC GIAI
ĐOẠN 2011-2015.................................................................................................................17
PHẦN 3: PHÂN TÍCH CÁC GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG HUY ĐỘNG NGUỒN VỐN
NÀY CHO NHỮNG HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT KINH DOANH..........................................20 I.
NHỮNG KHÓ KHĂN, THÁCH THỨC ĐỐI VỚI NGUỒN VỐN TƯ NHÂN.20
1. Khó khăn trong vay vốn............................................................................................20
2. Thiếu khả năng cạnh tranh........................................................................................20
3. Thiếu kinh nghiệm quản lý........................................................................................20
4. Thiếu khả năng đầu tư nghiên cứu và phát triển.......................................................21
5. Khó khăn trong kết nối và mở rộng thị trường..........................................................21
6. Khó khăn trong đối thoại và giải quyết tranh chấp với chính phủ............................21 II.
GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG HUY ĐỘNG NGUỒN VỐN TƯ NHÂN.............22 lOMoAR cPSD| 58707906
1. Tạo ra môi trường kinh doanh thuận lợi....................................................................22
2. Nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp......................................................22
3. Tăng cường quản lý rủi ro tín dụng...........................................................................23
4. Khuyến khích đầu tư thông qua các chính sách hỗ trợ..............................................24
5. Khuyến khích đầu tư thông qua các chính sách hỗ trợ..............................................24 III.
NHỮNG KHÓ KHĂN VÀ THÁCH THỨC ĐỐI VỚI NGUỒN VỐN DÂN CƯ 25
1. Thiếu tiền mặt............................................................................................................25
2. Tỷ lệ lãi suất thấp......................................................................................................25
3. Thiếu kiến thức về tài chính......................................................................................25
4. Rủi ro đầu tư..............................................................................................................26
5. Kinh tế không ổn định...............................................................................................26
IV. CÁC GIẢI PHÁP HUY ĐỘNG NGUỒN VỐN DÂN CƯ..................................26
1. Tăng thu nhập cá nhân..............................................................................................26
2. Tiết kiệm và đầu tư thông minh................................................................................26
3. Vay vốn.....................................................................................................................27
4. Tăng cường giáo dục tài chính..................................................................................27 lOMoAR cPSD| 58707906
PHẦN 1: PHÂN TÍCH VAI TRÒ CỦA NGUỒN VỐN TƯ NHÂN VÀ
DÂN CƯ VỚI SỰ PHÁT TRIỂN KINH TẾ VIỆT NAM
I. KHU VỰC KINH TẾ TƯ NHÂN TẠI VIỆT NAM - NHỮNG CỘT MỐC QUAN TRỌNG
1. Doanh nghiệp tư nhân đã phải trải qua một con đường tăng trưởng gập ghềnh,
nhiều sóng gió tại Việt Nam.
Trong giai đoạn kinh tế kế hoạch hóa tập trung trước đây tại Việt Nam, các doanh
nghiệp tư nhân đã không được chính thức công nhận. Tuy nhiên, trong khoảng thời gian
đó, các doanh nghiệp tư nhân vẫn tồn tại, lấp đầy những khoảng trống mà khu vực Nhà
nước còn để lại. Theo Tổng cục Thống kê, khi đất nước được thống nhất vào năm 1975,
khu vực tư nhân và sản xuất tiểu thủ công nghiệp vẫn chiếm 8,3% tổng sản phẩm quốc nội
của miền Bắc. Vào năm 1986 trước “Đổi mới”, các đơn vị sản xuất tiểu thủ công nghiệp
khu vực tư nhân sử dụng tới 23,3% tổng lực lượng lao động và sản xuất tới 15,3% tổng sản
lượng công nghiệp của ngành công nghiệp tại Việt Nam.
2. Năm 1986 là một dấu mốc quan trọng cho sự phát triển của khu vực tư nhân
Năm 1986, chính sách “Đổi mới” đã được ban hành tại Đại hội Đảng lần thứ VI. Với
chính sách đổi mới, khu vực tư nhân đã được chính thức công nhận là một bộ phận cấu
thành của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và của nền kinh tế nhiều thành
phần. Tác động tức thời của sự công nhận này là sự phát triển mạnh mẽ của các hộ kinh
doanh cá thể. Đây là hình thức kinh tế tư nhân phát triển rõ nét nhất trước khi Luật Doanh
Nghiệp Tư Nhân và Luật Công Ty được chính thức thông qua vào năm 1990. Năm 1989,
trước khi hai luật này được ban hành, đã có tới 333.300 doanh nghiệp kinh doanh cá thể
được đăng ký trên toàn quốc.
3. Khu vực kinh tế tư nhân của Việt Nam được mở rộng dần từng bước
Khu vực kinh tế tư nhân ở Việt Nam sau đó được mở rộng với sự tham gia của các
doanh nghiệp tư nhân nước ngoài khi Luật Đầu tư nước ngoài đầu tiên được thông qua vào
năm 1987. Năm 1990, lần đầu tiên các công ty và doanh nghiệp tư nhân được công nhận
chính thức với sự ra đời của Luật Công Ty và Luật Doanh Nghiệp Tư nhân. Hai luật này đã
tạo nền tảng pháp lý vô cùng cần thiết cho sự thành lập của các doanh nghiệp tư nhân đầu
tiên tại Việt Nam. Tuy nhiên, cần lưu ý rằng các yêu cầu cũng như điều kiện gia nhập thị
trường theo quy định của hai luật này còn hết sức ngặt nghèo khiến việc thành lập doanh
nghiệp vẫn còn rất tốn kém và phức tạp. lOMoAR cPSD| 58707906
4. Luật Doanh nghiệp được ban hành vào năm 1999 đã dẫn đến một sự phát triển
bùng nổ của các doanh nghiệp tư nhân trong nước ở Việt Nam
Với sự ban hành của Luật Doanh Nghiệp, quyền tự do kinh doanh của người dân Việt
Nam chính thức được được công nhận, các doanh nghiệp tư nhân cũng như quyền sở hữu
tư nhân của các doanh nghiệp được bảo vệ. Luật Doanh Nghiệp cũng đã đưa ra những cải
cách mạnh mẽ chưa có tiền lệ về thủ tục đăng ký kinh doanh, loại bỏ vô số rào cản kinh
doanh, và thúc đẩy sự đổi mới trong tư duy của các cơ quan Nhà nước, các bộ, ngành, chính
quyền địa phương về doanh nghiệp tư nhân. Ngay sau khi luật được ban hành, số lượng
doanh nghiệp đăng ký hàng năm tăng lên đáng kể. Hàng tỷ đô la Mỹ đã được các doanh
nhân Việt Nam đầu tư vào nền kinh tế thông qua các doanh nghiệp đăng ký theo Luật Doanh nghiệp.
5. Kể từ năm 1999, khung khổ pháp lý cho khu vực tư nhân ở Việt Nam đã liên lOMoAR cPSD| 58707906
tục được cải thiện
Luật Doanh nghiệp và Luật Đầu tư được sửa đổi vào năm 2004 thông qua thống nhất
các luật khác nhau áp dụng chung cho các nhà đầu tư và doanh nghiệp trong nước, DNNN
và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (doanh nghiệp FDI). Ý tưởng về một khuôn khổ
pháp lý chung áp dụng cho tất cả các nhà đầu tư, không phân biệt hình thức sở hữu, đã trở
thành hiện thực vào năm 2005. Đây là một phần trong quá trình chuẩn bị của Việt Nam cho
việc gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) vào năm 2007. Năm 2014, Luật Doanh
nghiệp và Luật Đầu tư được tiếp tục sửa đổi với một số nội dung cải cách mới.
6. Vào năm 2017, Nghị quyết hội nghị lần thứ 5 Ban chấp hành Trung ương Đảng
khóa XII đã được ban hành, tái khẳng định yêu cầu phát triển kinh tế tư nhân
trở thành động lực của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
Trong vài thập kỷ qua, sự đổi mới trong tư duy của Đảng, thể hiện trong nhiều văn
bản nghị quyết và chiến lược, đóng một vai trò quan trọng trong sự phát triển của khu vực
kinh tế tư nhân. Những thay đổi trong chính sách và tư duy của Đảng đã thực hiện hóa
thông qua các chính sách, luật, quy định và biện pháp khác nhau của Chính phủ nhằm phát
triển khu vực tư nhân nói chung và các doanh nghiệp tư nhân nói riêng ở Việt Nam. Nghị
quyết Hội nghị lần thứ 5 Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về phát triển bền vững
khu vực tư nhân nhấn mạnh yêu cầu tập trung vào chất lượng phát triển và hiệu quả hoạt
động của khu vực tư nhân. Nghị quyết này đề ra mục tiêu 1 triệu các doanh nghiệp trong
khu vực tư nhân đang hoạt động vào năm 2020, và 2 triệu vào năm 2030. Nghị quyết cũng
hướng tới mục tiêu khu vực kinh tế tư nhân sẽ đóng góp 50% cho GDP vào việc chính thức
hóa các hộ kinh doanh, chuyển đổi thành mô hình doanh nghiệp đăng ký chính thức, và
khuyến khích sự hình thành các tập đoàn kinh tế tư nhân đa sở hữu và tư nhân góp vốn vào
các tập đoàn kinh tế nhà nước, có đủ khả năng tham gia mạng sản xuất và chuỗi giá trị khu vực, toàn cầu.
7. Sự phát triển khu vực tư nhân ở Việt Nam song hành với những nỗ lực cải cách
doanh nghiệp nhà nước của Chính phủ
Chính phủ đã khẳng định quyết tâm trong việc cải cách và nâng cao hiệu quả cho khu
vực doanh nghiệp nhà nước. Tuy nhiên, Chính phủ vẫn duy trì sự kỳ vọng cao để khu vực
DNNN như một động lực tăng trưởng, và từ đó lại thực hiện các chính sách hỗ trợ và bảo
vệ khu vực này. Ngay từ giai đoạn đầu của quá trình “Đổi mới”, Chính phủ đã nhận thức
được tầm quan trọng của việc chuyển đổi vai trò của DNNN để khắc phục tình trạng sản
xuất kinh doanh kém hiệu quả khá phổ biến vào thời điểm đó, đồng thời thúc đẩy phát triển lOMoAR cPSD| 58707906
khu vực kinh tế tư nhân, cũng như tạo việc làm và tăng trưởng kinh tế. Ngay từ năm 1992,
các nỗ lực cải cách đã tập trung vào việc cố phần hóa các DNNN- một quá trình nhằm
chuyển các DNNN thành các công ty cổ phần hoặc công ty trách nhiệm hữu hạn. Tuy nhiên,
hầu hết các DNNN được cổ phần hóa thông qua quá trình này đều là các doanh nghiệp nhỏ,
đang làm ăn thua lỗ hoặc không có lợi nhuận. Các DNNN lớn chiếm lĩnh phần lớn các hoạt
động kinh tế và việc làm thì vẫn còn được giữ nguyên (CIEM,2010). Chính phủ đã cổ phần
hóa toàn bộ hoặc một phần 2759 DNN trong giai đoạn từ năm 1999 đến năm 2013 và 445
doanh nghiệp trong giai đoạn từ năm 2014 đến năm 2016.
8. Phát triển khu vực kinh tế tư nhân và cải cách DNNN có những tác động tương
hỗ, bổ trợ lẫn nhau
Bằng chứng từ thực tiễn cho thấy rằng trong khi DNNN có xu hướng nhận được một
tỷ trọng khá lớn về đầu tư, nguồn lực, đóng góp của những doanh nghiệp này cho GDP về
tổng số việc làm được tạo ra là thấp hơn so với doanh nghiệp tư nhân. Khi các DNNN cạnh
tranh với các công ty tư nhân, những doanh nghiệp này luôn được ưu tiên khiến cho các đối
thủ cạnh tranh từ khu vực tư nhân gặp khó khăn trong hoạt động đầu tư và phát triển. Ngoài
việc được ưu tiên tiếp cận các cơ hội về vốn, đất đai và mua sắm công, các DNNN có thể
tận dụng lợi thế của mình để lèo lái trong môi trường pháp lý phức tạp của Việt Nam nhằm
đạt được vị thế thượng phong trong cạnh tranh. Trong nhiều trường hợp, điều này đã gây
bất lợi cho các doanh nghiệp tư nhân. Chính phủ đang theo đuổi kế hoạch cổ phần hóa hầu
hết các DNNN và đặt mục tiêu giảm số DNNN xuống chỉ còn 103 doanh nghiệp vào năm 2020. II.
TỔNG QUAN VỀ KHU VỰC KINH TẾ TƯ NHÂN, DÂN CƯ TẠI VIỆT NAM
1. Những đóng góp của kinh tế tư nhân vào nền kinh tế đất nước
Theo báo cáo Nghiên cứu đánh giá khu vực kinh tế tư nhân Việt Nam (CPSD), do IFC
và Ngân hàng Thế giới thực hiện. Nghiên cứu cho thấy, thời gian qua khu vực kinh tế tư
nhân đã đóng vai trò tiên phong trong sự phát triển vượt bậc của kinh tế Việt Nam nói chung .
Kinh tế tư nhân liên tục duy trì tốc độ tăng trưởng khá, chiếm tỉ trọng 39 - 40% GDP;
thu hút khoảng 85% lực lượng lao động của nền kinh tế, tỷ lệ đóng góp thuế thu nhập doanh
nghiệp chỉ chiếm khoảng 34,1% cao hơn mức đóng góp 27,7% của 17 doanh nghiệp nhà nước (DNNN), lOMoAR cPSD| 58707906
• Góp phần quan trọng trong huy động các nguồn lực xã hội cho đầu tư phát triển
sản xuất kinh doanh, tăng trưởng kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tăng thu
ngân sách nhà nước, tạo việc làm, cải thiện đời sống nhân dân, bảo đảm an sinh xã hội.
• Khu vực kinh tế tư nhân thời gian qua đã tạo ra khoảng 40% GDP, 30% ngân
sách nhà nước, thu hút khoảng 85% lực lượng lao động cả nước.
Hiện, doanh nghiệp tư nhân chiếm khoảng 98% trong tổng số hơn 800.000 doanh
nghiệp đang hoạt động. Trong đó, nhiều doanh nghiệp đã đạt tầm cỡ quốc tế như Vingroup,
T&T Group, Thaco, Vietjet, FLC, Vinamilk,… và có ảnh hưởng đến chuỗi cung ứng toàn
cầu. Hiện nay, Việt Nam có khoảng 29 doanh nghiệp tư nhân có giá trị vốn hóa trên thị
trường chứng khoán vượt con số 1 tỷ USD, có 6 tỷ phú tham gia vào câu lạc bộ tỷ phú thế
giới năm 2021. Nhiều doanh nghiệp tư nhân đạt kim ngạch xuất khẩu cao, đóng góp quan
trọng vào tăng trưởng kinh tế, thu ngân sách và giải quyết việc làm, bảo đảm an sinh xã hội.
Bên cạnh đó, kinh tế tư nhân còn cùng với Nhà nước góp sức phòng, chống dịch bệnh, thiên
tai, cứu trợ nhân dân bị nạn, tài trợ cho các giải thể thao, câu lạc bộ bóng đá, những sự kiện
kinh tế - xã hội lớn của đất nước.
Hiện nay, các doanh nghiệp tư nhân đã có thể làm được những việc mà trước đây chỉ
Nhà nước mới được làm như: xây dựng sân bay, cảng biển quốc tế trị giá hàng nghìn tỷ
đồng; sản xuất ô tô, tham gia vào lĩnh vực hàng không...
Đặc biệt, phải nói đến lĩnh vực sản xuất ô tô, suốt mấy chục năm qua, lực lượng kinh
tế nhà nước đã không thể thực hiện được khát vọng ô tô “made in Vietnam” thì đến nay,
các tập đoàn kinh tế tư nhân là Thaco, VinFast đang biến khát vọng đó thành hiện thực.
Doanh nghiệp Việt đã có thể tự sản xuất ô tô, thậm chí, ô tô Vinfast còn xác lập 3 kỷ lục thế
giới, gồm: chỉ cần 21 tháng để hoàn tất việc xây dựng nhà xưởng, lắp đặt dây chuyền sản
xuất để đi vào sản xuất hàng loạt; cho ra xe mẫu chỉ sau 11 tháng từ khi khởi công nhà máy;
cho ra xe thương mại sau chưa đầy 2 năm.
Các công trình quan trọng trong vận tải như Cảng hàng không quốc tế Vân Đồn,
Cảng tàu khách quốc tế Hạ Long, Cao tốc Hạ Long - Vân Đồn và đang đầu tư cao tốc Vân
Đồn - Móng Cái của Tập đoàn Sun Group. Trong đó, sân bay Vân Đồn được xây dựng chưa
tới 2 năm, là công trình có thời gian xây dựng nhanh nhất Việt Nam, góp phần đưa cảng
hàng không quốc tế Vân Đồn được vinh danh là “Sân bay mới hàng đầu châu Á 2019”. lOMoAR cPSD| 58707906
Kinh tế tư nhân đã và đang lớn mạnh từng ngày và có những đóng góp lớn nền kinh
tế. Cùng với đó là sự phấn đấu, sáng tạo không ngừng trong những lĩnh vực tưởng chừng
Việt Nam không thể làm được. Điều này góp phần đưa tên tuổi của Việt Nam vươn ra trường
quốc tế. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, chất lượng phát triển của khu vực
kinh tế tư nhân vẫn còn hạn chế ở nhiều mặt, chưa thực sự là một động lực quan trọng của nền kinh tế.
2. Những hạn chế của thành phần kinh tế tư nhân
Thứ nhất, khu vực kinh tế tư nhân thiếu sự liên kết, khó tạo ra tiếng nói chung để
nâng cao năng lực cạnh tranh, tham gia đầy đủ vào chuỗi giá trị khu vực và toàn cầu còn
nhiều hạn chế. Hiện chỉ có khoảng 20% doanh nghiệp nhỏ và vừa tham gia một số chuỗi
giá trị toàn cầu, 14% thành công trong việc liên kết với đối tác nước ngoài,
Thứ hai, trình độ quản lý của các chủ doanh nghiệp còn thấp. Các chủ doanh nghiệp
tư nhân trưởng thành qua học hỏi, qua bạn hàng, ước tính khoảng trên 80% trưởng thành từ
kinh nghiệm thực tiễn chỉ có một số được đào tạo qua trường lớp chính quy về quản trị
doanh nghiệp hay quản lý về kinh tế chung. Chính vì quản lý và điều hành dựa vào kinh
nghiệm được tích lũy, chưa qua đào tạo và không có bằng cấp chuyên môn nên các chủ
doanh nghiệp tư nhân khó khăn trong việc cạnh tranh. Hơn nữa trong điều kiện hội nhập
như hiện nay, với kiểu kinh doanh như trên sẽ không còn phù hợp do hiện nay nó là rào cản
sự phát triển của doanh nghiệp, chẳng hạn là làm ăn theo lối chộp giật, khó có khả năng
tiếp thu những cái mới. Bên cạnh đó, vẫn còn tình trạng doanh nghiệp “ma” tiến hành đăng
ký, nhận giấy đăng ký, mã số thuế nhận hóa đơn, không tham gia vào hoạt động sản xuất
kinh doanh, biến mất khỏi địa bàn.
Thứ ba, năng lực công nghệ của các doanh nghiệp còn lạc hậu, đầu tư của doanh
nghiệp cho đổi mới công nghệ chỉ chiếm 0,3% doanh thu, thấp hơn nhiều so với các nước
như Ấn Độ (5%), Hàn Quốc (10%),… Công nghệ lạc hậu dẫn đến năng suất lao động không
cao, khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường thấp, kể cả thị trường trong và
ngoài nước, trong khi cạnh tranh là yếu tố cơ bản để đảm bảo tồn tại và phát triển, là yếu tố
sống còn của doanh nghiệp tư nhân trong giai đoạn hiện nay.
Thứ tư, năng lực cạnh tranh còn hạn chế. Do quy mô nhỏ nên rất nhiều doanh nghiệp
trong nước chưa đủ năng lực cạnh tranh để xuất khẩu sang thị trường nước ngoài, hoặc
tham gia mạng lưới sản xuất toàn cầu. lOMoAR cPSD| 58707906
Thứ năm, trình độ lao động của các doanh nghiệp chủ yếu còn thấp, thiếu nhân lực
giỏi, thường thì lao động không được đào tạo bài bản, kỹ năng thấp. Do đó, doanh nghiệp
khó tiếp thu được những tiến bộ khoa học, năng suất lao động không cao. Còn đối với
những nhân lực giỏi thì học lại không mặn mà với những loại hình này do không đáp ứng
được những tham vọng của họ. Ngoài ra, doanh nghiệp tư nhân thiếu ổn định, tỷ lệ lao động
học việc chiếm tỷ lệ cao, vi phạm chế độ lao động trong việc trả lương, đóng bảo hiểm xã
hội, ngày giờ làm việc,…
Thứ sáu, doanh nghiệp tư nhân luôn ở trong tình trạng thiếu hụt nguồn vốn và dòng
tiền kinh doanh, đặc biệt là đối với các doanh nghiệp ở quy mô vừa, nhỏ và siêu nhỏ. Doanh
nghiệp cho biết khó tiếp cận gói chính sách hỗ trợ giảm lãi suất ngân hàng và giãn thời gian
cho vay; 44% doanh nghiệp được hỏi không tiếp cận được gói hỗ trợ tạm dừng đóng bảo
hiểm xã hội và gần 40% doanh nghiệp cho biết chưa đến được với chính sách gia hạn đóng
thuế thu nhập doanh nghiệp và thuế giá trị gia tăng,... Trong khi nguồn lực hỗ trợ từ Nhà
nước ngặt nghèo thì việc tự lực để tiếp cận nguồn tài chính ngân hàng cũng không thuận lợi và dễ dàng.
Những điểm tồn tại, hạn chế này của khu vực kinh tế tư nhân trên có một phần nguyên
nhân xuất phát từ hạn chế, yếu kém của cơ chế, phương thức quản lý nhà nước về kinh
tế, đặc biệt quản lý nhà nước trong phát triển kinh tế tư nhân. Hệ thống cơ chế, chính
sách về phát triển kinh tế tư nhân còn nhiều bất cập, thiếu đồng bộ, chưa sát thực tế;
môi trường đầu tư kinh doanh còn nhiều hạn chế, tiềm ẩn rủi ro, thiếu minh bạch.
III. VAI TRÒ CỦA NGUỒN VỐN TƯ NHÂN VÀ DÂN CƯ ĐỐI VỚI SỰ PHÁT
TRIỂN KINH TẾ VIỆT NAM
Đại hội lần thứ XIII của Đảng tiếp tục khẳng định vai trò của KTTN là một động lực
quan trọng của nền kinh tế, tạo niềm tin vững chắc cho KTTN phát triển ổn định, lâu dài
trong nền KTTT định hướng XHCN, hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế giới gắn với
nhiệm vụ phát triển đất nước giai đoạn 2021 - 2026 và tầm nhìn 2030, 2045. Có thể khẳng
định KTTN là một động lực quan trọng của nền kinh tế bởi những lý do cơ bản sau:
Một là, vai trò của kinh tế tư nhân đối với nền kinh tế ngày càng quan trọng. Trong
nền KTTT định hướng XHCN, phát triển KTTN là nhân tố không chỉ bảo đảm cho việc
duy trì tốc độ tăng trưởng GDP cao, tạo nguồn thu cho ngân sách nhà nước mà còn tham
gia vào giải quyết hàng loạt những vấn đề xã hội như: tạo việc làm, xóa đói, giảm nghèo,
phát triển nguồn nhân lực,… KTTN liên tục duy trì tốc độ tăng trưởng khá, chiếm tỷ trọng lOMoAR cPSD| 58707906
40-43% GDP; thu hút khoảng 85% lực lượng lao động, góp phần quan trọng trong huy
động các nguồn lực xã hội cho đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh, tăng trưởng kinh tế,
chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tăng thu ngân sách nhà nước, tạo việc làm, cải thiện đời sống
nhân dân, bảo đảm an sinh xã hội.
Hai là, đóng góp vào nền kinh tế và hiệu quả hoạt động của khu vực kinh tế tư nhân
cao, nhiều sáng kiến, đổi mới và sự đột phá được xuất phát từ những DN tư nhân. Hiệu quả
sử dụng vốn đầu tư của khu vực KTTN cao hơn 1,2 lần so với mức bình quân của nền kinh
tế và hơn 1,9 lần so với khu vực nhà nước. Vai trò của KTTN càng trở nên quan trọng hơn
khi mà KH-CN đã và đang trở thành LLSX trực tiếp.
Đóng góp của khu vực kinh tế tư nhân trong cơ cấu GDP luôn ở mức trên 43%GDP
(so với khu vực kinh tế nhà nước 28,9% GDP và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài FDI là
18% GDP). Số lượng DN tư nhân tăng mạnh, đạt hơn 110.000 DN mới (năm 2016). Thương
hiệu của khu vực tư nhân đã không chỉ được ghi nhận ở thị trường trong nước mà cả ở thị
trường khu vực và quốc tế. Đã xuất hiện những tập đoàn kinh tế tư nhân có quy mô lớn cả
về vốn và công nghệ cao.
Ba là, chiến lược kinh tế của Đảng và Nhà nước đang hướng tới việc tạo điều kiện
thuận lợi cho KTTN phát triển mạnh hơn. Chính phủ cam kết sẽ cải thiện môi trường kinh
doanh theo hướng bình đẳng, minh bạch, an toàn và thân thiện, tạo mọi điều kiện để DN,
đặc biệt là các DN tư nhân, DNNVV, DN khởi nghiệp phát triển thuận lợi. Bên cạnh đó,
khu vực tư nhân cũng luôn đổi mới, nâng cao năng lực cạnh tranh để đứng vững trên thị
trường và hoạt động theo cơ chế thị trường.
Bốn là, trong khi nhiều DNNN làm ăn kém hiệu quả với những dự án lớn đang bị thua
lỗ thì vị trí, vai trò của KTTN ngày càng được đánh giá tích cực hơn. Đầu tư tài chính của
nhiều DNNN đạt hiệu quả thấp. Hiệu quả sản xuất kinh doanh kém, gây ra những hậu quả
kinh tế lớn. Một số DNNN chưa thực hiện được vai trò là lực lượng nòng cốt của kinh tế
nhà nước, dẫn dắt, tạo động lực phát triển đối với nền kinh tế.
PHẦN 2: PHÂN TÍCH SỰ GIA TĂNG CỦA NGUỒN VỐN NÀY QUA BẢNG SỐ
LIỆU VỀ QUY MÔ CÁC NGUỒN VỐN TRONG NƯỚC HOẶC CƠ CẤU NGUỒN
VỐN TRONG NƯỚC GIAI ĐOẠN 2016 - 2020.
I. KHÁI NIỆM VỐN ĐẦU TƯ THỰC HIỆN TOÀN XÃ HỘI VÀ PHÂN LOẠI lOMoAR cPSD| 58707906 1. Khái niệm
Vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội là toàn bộ tiền vốn bỏ ra (chi tiêu) để làm tăng hoặc
duy trì năng lực sản xuất và nguồn lực để nâng cao mức sống vật chất và tinh thần của toàn
xã hội trong một thời kỳ nhất định (tháng, quý, năm). 2. Phân loại
a. Chia theo nguồn vốn đầu tư
- Vốn ngân sách nhà nước
- Vốn trái phiếu chính phủ
- Vốn tín dụng đầu tư và phát triển nhà nước
- Vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) và vốn vay ưu đãi của các nhà tài trợ
- Vốn vay gồm vay ngân hàng thương mại và vốn vay từ các nguồn khác
- Vốn tự có - Vốn khác
b. Chia theo khoản mục đầu tư
- Vốn đầu tư xây dựng và lắp đặt thiết bị (vốn xây lắp)
- Vốn đầu tư mua sắm máy móc, thiết bị (vốn thiết bị) - Vốn đầu tư xây dựng
cơ bản khác c. Chia theo ngành kinh tế
- Vốn đầu tư được chia theo các ngành kinh tế trong hệ thống ngành kinh tế Việt Nam (VSIC)
d. Chia theo địa bàn tỉnh/thành phố trực thuộc Trung ương
e. Chia theo loại hình kinh tế
- Vốn đầu tư cho khu vực kinh tế nhà nước
- Vốn đầu tư cho khu vực kinh tế ngoài nhà nước
- Vốn đầu tư cho khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài
II. CƠ CẤU NGUỒN VỐN TRONG NƯỚC GIAI ĐOẠN 2016 – 2020
Cơ cấu vốn đầu tư trong nước giai đoạn 2016-2020
(đơn vị: nghìn tỉ đồng) Nhà nước Ngoài nhà nước FDI Tổng số 2016 557,5 579,7 347,9 1485,1 lOMoAR cPSD| 58707906 2017 594,9 677,5 396,2 1668,6 2018 619,1 803,3 434,2 1856,6 2019 634,9 942,5 469,4 2046,8 2020 729 972,2 463,3 2164,5
(Nguồn: Niên giám thống kê 2016, 2017, 2018, 2019, 2020) (đơn vị: %) Nhà nước Ngoài nhà nước FDI Tổng số 2016 37,5 38,9 23,6 100 2017 35,7 40,6 23,7 100 2018 33,3 43,3 23,4 100 2019 31,1 46 22,9 100 2020 33,7 44,9 21,4 100
(Nguồn: Niên giám thống kê 2016, 2017, 2018, 2019, 2020) lOMoAR cPSD| 58707906 Nhận xét:
Tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội giai đoạn 2016 - 2020 đạt 9,2 triệu tỉ đồng,
bằng 33,7% GDP (mục tiêu 32 - 34%). Cơ cấu đầu tư chuyển dịch tích cực, tỉ trọng đầu tư
của khu vực nhà nước giảm, phù hợp với định hướng cơ cấu lại đầu tư công và giảm dần
sở hữu Nhà nước tại các doanh nghiệp, tập đoàn kinh tế, nhất là các lĩnh vực Nhà nước
không cần nắm giữ cổ phần chi phối. Tỉ trọng vốn đầu tư từ khu vực kinh tế ngoài nhà nước
tăng nhanh từ mức 38,3% năm 2015 lên 44,9% năm 2020. Thu hút vốn đầu tư trực tiếp
nước ngoài (FDI) tăng mạnh, vốn đăng ký đạt mức kỷ lục là 39 tỉ USD (năm 2019).
Cùng với sự phát triển của kinh tế là sự tăng lên của quy mô vốn đầu tư qua các năm
tuân theo mục tiêu phát triển kinh tế giai đoạn 2016-2020. Cơ cấu vốn đầu tư đã dịch chuyển lOMoAR cPSD| 58707906
đúng theo đúng như mục tiêu đã đề ra đó là giảm tỉ lệ đầu tư nhà nước và tăng tỷ trọng đầu
tư từ nguồn vốn trực tiếp nước ngoài (FDI) và vốn từ khu vực tư nhân hộ gia đình.
III. SO SÁNH VỚI SỰ CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU VỐN TRONG NƯỚC GIAI ĐOẠN 2011-2015
Phân tích quy mô và cơ cấu đầu tư toàn xã hội trong giai đoạn 2011-2015
Khởi đầu giai đoạn 2011-2015, để khắc phục những bất cập trong quản lý và sử dụng
vốn đầu tư theo phương thức cũ, việc tái cơ cấu đầu tư, đặc biệt là đầu tư công đã được
thông qua. Qua hơn 3 năm thực hiện, quá trình tái cơ cấu đầu tư công bước đầu đã có chuyển
biến tích cực, tỷ lệ vốn đầu tư/GDP có xu hướng giảm dần. Cùng với đó là quy mô nguồn
vốn đầu tư có chiều hướng tăng dần
Xét về cơ cấu vốn đầu tư, tỷ trọng vốn đầu tư của khu vực kinh tế Nhà nước đã giảm
dần từ 59,1% (năm 2000) xuống còn 33,9% (năm 2008) và tăng nhẹ trở lại lên mức 40,4%
năm 2013 và 38% năm 2015 nhằm duy trì ổn định và phát triển kinh tế khi khu vực đầu tư
ngoài Nhà nước và đầu tư nước ngoài gặp nhiều khó khăn, cầu tăng thấp do chịu tác động
của cuộc khủng hoảng kinh tế. Tỷ trọng vốn đầu tư của khu vực kinh tế ngoài Nhà nước
tăng nhanh (khoảng 16 điểm % từ năm 2001 đến 2015), nguyên nhân chủ yếu là do việc cổ
phần hóa các doanh nghiệp Nhà nước; nhiều cơ sở mở rộng sản xuất kinh doanh và thành
lập mới. Tỷ trọng vốn đầu tư của khu vực có vốn đầu tư nước ngoài không ổn định nhưng
nhìn chung có xu hướng tăng dần. Trong đó, đáng chú ý, trong bối cảnh nền kinh tế thế giới
và trong nước gặp nhiều khó khăn, vốn FDI giải ngân giai đoạn 2011-2015 vẫn duy trì ở
mức khoảng 10,5-12 tỷ USD (trong đó năm 2015 đã tăng mạnh lên mức 14,5 tỷ USD). lOMoAR cPSD| 58707906
Tuy nhiên, quá trình tái cơ cấu đầu tư công có tốc độ triển khai chậm và hiệu quả
chưa đạt kỳ vọng đặt ra.
Tỷ trọng vốn đầu tư của khu vực Nhà nước vẫn ở mức cao (bình quân giai đoạn 2011
– 2015 đạt khoảng 39,1%). Trong đó, vốn từ NSNN tuy có xu hướng giảm nhưng vẫn chiếm
tỷ trọng cao nhất. Riêng năm 2015, vốn từ NSNN tăng cao hơn so với các năm trước do
tính bổ sung thêm 30.000 tỷ đồng giai ngân vốn nước ngoài nguồn ngân sách nhà nước theo
các hiệp định đã ký kết với các nhà tài trợ và tiến độ thực hiện . Vốn tín dụng nhà nước
cũng tăng nhanh trong những năm gần đây.
So sánh tổng hợp các biểu đồ của cả 2 giai đoạn t thấy thấy tỷ trọng vốn đầu tư của
Nhà nước có xu hướng giảm dần, tạo dư địa cho đầu tư từ nguồn FDI và khu vực tư nhân.
Nếu như tỷ trọng vốn đầu tư khu vực nhà nước giai đoạn 2001 - 2010 chiếm trên 50% thì
giai đoạn 2011 - 2020 chỉ còn 37%, trong đó giai đoạn 2016 - 2020 chỉ đạt 34%. Trong khi
đó, khu vực ngoài nhà nước và khu vực FDI chiếm khoảng 35% và 18% trong giai đoạn
2001 - 2010, sau đó tăng lên tương ứng khoảng 38 - 40% và 21 - 23% ở giai đoạn 2011 -
2020 (riêng giai đoạn 2016 - 2020 tương ứng là 42% và 24%). Với sự dịch chuyển tích cực
trong cơ cấu nguồn vốn đầu tư thì vai trò của vốn đầu tư khu vực ngoài nhà nước và khu
vực có vốn đầu tư nước ngoài đối với tăng trưởng kinh tế ngày càng tăng lên.
So sánh trực tiếp giai đoạn 2011-2015 với giai đoạn 2016-2020, quy mô nguồn vốn
tiếp tục tăng lên theo chiều hướng tích cực. Hiệu quả đầu tư cải thiện, hệ số ICOR giai đoạn
2016 - 2019 đạt 6,1 (thấp hơn giai đoạn 2011 - 2015 là 6,3). Cùng với đó, cơ cấu vốn đầu
tư cũng tiếp tục phát triển theo đúng mục tiêu mà Đảng và Nhà nước đã đặt ra, đó là mục
tiêu giảm tỉ trọng vốn đầu tư nhà nước tăng tỷ trọng đầu tư từ nguồn vốn trực tiếp nước
ngoài (FDI) và vốn từ khu vực tư nhân hộ gia đình. lOMoAR cPSD| 58707906
PHẦN 3: PHÂN TÍCH CÁC GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG HUY ĐỘNG
NGUỒN VỐN NÀY CHO NHỮNG HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT KINH DOANH
I. NHỮNG KHÓ KHĂN, THÁCH THỨC ĐỐI VỚI NGUỒN VỐN TƯ NHÂN
Mặc dù đóng góp lớn cho sự phát triển kinh tế, song nguồn vốn tư nhân vẫn gặp
nhiều khó khăn và thách thức, như sau:
1. Khó khăn trong vay vốn
Không đủ tài sản thế chấp: Các doanh nghiệp tư nhân thường không có tài sản thế
chấp đủ đáng giá để đảm bảo khoản vay, do đó ngân hàng sẽ khó lòng cho vay. Trong trường
hợp này, các doanh nghiệp cần tìm kiếm các phương thức khác để tăng khả năng vay vốn,
chẳng hạn như tìm đối tác đầu tư hoặc sử dụng các dịch vụ tài chính không yêu cầu tài sản thế chấp.
Thiếu kinh nghiệm hoạt động: Các doanh nghiệp tư nhân thường mới thành lập và
thiếu kinh nghiệm hoạt động, do đó ngân hàng có thể không tin tưởng vào khả năng của họ để trả nợ.
Khó khăn trong việc đáp ứng các yêu cầu về giấy tờ: Để vay vốn từ ngân hàng, các
doanh nghiệp tư nhân cần phải cung cấp đầy đủ các giấy tờ, tài liệu về hoạt động kinh doanh
của mình. Tuy nhiên, các doanh nghiệp nhỏ thường không có đội ngũ nhân viên phù hợp
để xử lý các giấy tờ này.
Lãi suất cao: Doanh nghiệp tư nhân thường phải trả lãi suất cao hơn so với các
doanh nghiệp lớn hơn vì ngân hàng đánh giá rủi ro cao hơn khi cho vay cho các doanh nghiệp nhỏ.
2. Thiếu khả năng cạnh tranh
Doanh nghiệp tư nhân thường không có nhiều tài nguyên và quy mô lớn như các tập
đoàn lớn, do đó khó cạnh tranh trong các lĩnh vực có tính cạnh tranh cao.
3. Thiếu kinh nghiệm quản lý
Nhiều doanh nghiệp tư nhân mới thành lập chưa có kinh nghiệm quản lý, do đó khó
khăn trong việc tối ưu hóa hoạt động và đảm bảo lợi nhuận. lOMoAR cPSD| 58707906
4. Thiếu khả năng đầu tư nghiên cứu và phát triển
Đa số doanh nghiệp tư nhân không có khả năng đầu tư nghiên cứu và phát triển, do
đó khó cạnh tranh trong các ngành công nghiệp có tính cách mạng cao.
5. Khó khăn trong kết nối và mở rộng thị trường
Thiếu kinh nghiệm và tài nguyên: Các doanh nghiệp mới thành lập thường chưa có
đội ngũ nhân viên có kinh nghiệm hoặc tài nguyên đủ để thực hiện các kế hoạch mở rộng thị trường.
Thiếu thông tin và kết nối: Một số doanh nghiệp không có đủ thông tin về thị trường
tìm kiếm và tạo ra các cơ hội kinh doanh trở nên khó khăn.
Cạnh tranh khốc liệt: Thị trường hiện nay rất cạnh tranh và đầy rủi ro, đặc biệt là
với các doanh nghiệp mới thành lập hoặc nhỏ. Các doanh nghiệp phải có chiến lược
marketing và bán hàng hiệu quả để có thể cạnh tranh với các đối thủ khác
6. Khó khăn trong đối thoại và giải quyết tranh chấp với chính phủ
Doanh nghiệp tư nhân thường khó khăn trong việc đối thoại và giải quyết tranh chấp
với chính phủ do không có sức ảnh hưởng và quyền lực đối với các quyết định của chính phủ.
Sự thiếu thông tin: Các doanh nghiệp tư nhân thường không có đầy đủ thông tin về
quy trình và quy định của chính phủ. Điều này làm cho việc đàm phán và giải quyết tranh chấp trở nên khó khăn.
Sự bất đồng về quan điểm: Chính phủ và các doanh nghiệp tư nhân thường có quan
điểm khác nhau về các vấn đề kinh tế và pháp lý. Điều này dẫn đến sự bất đồng quan điểm
trong khi đàm phán và giải quyết tranh chấp.
Thủ tục phức tạp: Thủ tục giải quyết tranh chấp với chính phủ thường rất phức tạp
và tốn nhiều thời gian. Điều này gây khó khăn cho các doanh nghiệp tư nhân trong việc giải
quyết tranh chấp và tiếp cận với các quan chức chính phủ.
Thiếu sự minh bạch: Các doanh nghiệp tư nhân thường gặp khó khăn trong việc
tìm hiểu về quá trình và quy định của chính phủ do thiếu sự minh bạch trong hoạt động của chính phủ.
Sự kém hiệu quả trong giải quyết tranh chấp: Chính phủ thường có các cơ quan
giải quyết tranh chấp nhưng việc giải quyết này không luôn được thực hiện một cách hiệu lOMoAR cPSD| 58707906
quả. Điều này dẫn đến sự bất mãn và khó khăn trong việc đàm phán và giải quyết tranh chấp.
II. GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG HUY ĐỘNG NGUỒN VỐN TƯ NHÂN
Việc tăng cường huy động nguồn vốn tư nhân cho hoạt động sản xuất kinh doanh ở
Việt Nam có thể được đạt được thông qua các giải pháp sau:
1. Tạo ra môi trường kinh doanh thuận lợi
Để thu hút vốn đầu tư tư nhân, cần phải tạo ra một môi trường kinh doanh thuận lợi,
bao gồm một chính sách thuế hợp lý, thủ tục đầu tư đơn giản, bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ
và giải quyết tranh chấp một cách công bằng. Cụ thể là:
Tạo ra một hệ thống pháp luật và chính sách ổn định và minh bạch: Doanh nghiệp
tư nhân cần sự ổn định và chính sách minh bạch để có thể hoạt động dài hạn và phát triển.
Chính sách pháp luật cần được tạo ra để bảo vệ quyền lợi và tài sản của các doanh nghiệp tư nhân.
Cải thiện môi trường đầu tư: Chính phủ cần thúc đẩy việc đầu tư vào hạ tầng, giảm
thuế, cắt giảm quy định về kinh doanh và thúc đẩy năng lực sản xuất. Điều này sẽ giúp tăng
tính cạnh tranh, tăng hiệu quả hoạt động kinh doanh và tạo ra một môi trường thuận lợi cho doanh nghiệp tư nhân.
Tạo điều kiện cho các doanh nghiệp tư nhân tiếp cận nguồn vốn và thị trường:
Chính phủ cần tạo điều kiện để các doanh nghiệp tư nhân có thể tiếp cận được nguồn vốn
và thị trường. Điều này có thể bao gồm cung cấp thông tin về thị trường, tạo ra các quỹ hỗ
trợ cho doanh nghiệp tư nhân, đẩy mạnh công nghệ thông tin để tiếp cận thị trường và tạo
ra cơ hội kinh doanh cho doanh nghiệp tư nhân.
Tăng cường hỗ trợ đào tạo và phát triển nguồn nhân lực: Chính phủ cần tạo ra
một môi trường đào tạo và phát triển nguồn nhân lực để các doanh nghiệp tư nhân có thể
tiếp cận các nguồn nhân lực chất lượng cao. Điều này sẽ giúp tăng cường khả năng cạnh
tranh và nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp tư nhân.
2. Nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
Doanh nghiệp cần nâng cao năng lực cạnh tranh của mình để thu hút vốn đầu tư.
Điều này bao gồm việc cải thiện chất lượng sản phẩm, nâng cao năng lực sản xuất và quản
lý, phát triển thị trường và mở rộng quy mô sản xuất.