HỌC VIỆN NGÂN HÀNG
KHOA NGÂN HÀNG
BÀI TẬP LỚN
Đề Tài: VAI TRÒ CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
TRONG PHÁT TRIỂN TÀI CHÍNH TOÀN DIỆN VÀ
TÁC ĐỘNG CỦA XU HƯỚNG PHÁT TRIỂN TÀI CHÍNH
TOÀN DIỆN TỚI HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA ACB
Giảng viên: Trần Hải Yến
Học phần: Ngân hàng thương mại
Mã môn học: - Nhóm: 23FIN17A01 12
Sinh viên thực hiện:
Hà Nội, 2024
1. 1. Phạm Hoa Tú Linh
2. 2. Bùi Thị Hà
3. 3. Vũ Ngọc Anh
4. 4. Trần Thị Liên
5. 5. Hoàng Thị Lan Anh
6. 6. Nguyễn Thị Thu Giang
7. 7. Nguyễn Thị Thanh Ngoan
MỤC LỤC
DANH MỤC VIẾT TẮT...........................................................................................................i
LỜI CẢM ƠN...........................................................................................................................ii
LỜI CAM ĐOAN....................................................................................................................iii
LỜI MỞ ĐẦU..........................................................................................................................iv
Chương 1: SỰ CẦN THIẾTXU HƯỚNG PHÁT TRIỂN TÀI CHÍNH TOÀN DIỆN
TRÊN THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM HIỆN NAY......................................................................1
1.1. Khái quát về tài chính toàn diện....................................................................................1
1.1.1. Định nghĩa tài chính toàn diện................................................................................1
1.1.2. Vai trò của tài chính toàn diện.................................................................................1
1.1.3. Những rào cản đối với tài chính toàn diện..............................................................2
1.1.4. Các thước đo tài chính toàn diện.............................................................................3
1.2. Sự cần thiết của tài chính toàn diện...............................................................................3
1.3. Xu hướng phát triển tài chính toàn diện........................................................................5
1.3.1. Trên thế giới............................................................................................................5
1.3.2. Việt Nam.................................................................................................................6
Chương 2: VAI TRÒ CỦA CÁC NHTM TRONG PHÁT TRIỂN TÀI CHÍNH TOÀN
DIỆN TÀI CHÍNH TOÀN DIỆN..........................................................................................10
2.1. Vai trò của NHTM trong phát triển tài chính toàn diện...............................................10
2.2. Đánh giá vai trò của NHTM trong phát triển tài chính toàn diện ở Việt Nam.............11
2.2.1. Mức độ bao phủ của hệ thống ngân hàng..............................................................11
2.2.2 Tính sẵn có của các dịch vụ ngân hàng..................................................................12
2.2.3 Mức độ sử dụng các hệ thống ngân hàng...............................................................13
Chương 3: TÁC ĐỘNG CỦA XU HƯỚNG PHÁT TRIỂN TÀI CHÍNH TOÀN DIỆN
TỚI HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA NHTM ACB......................................................16
3.1. Giới thiệu Ngân hàng ACB.........................................................................................16
3.2. Tác động của xu hướng phát triển tài chính toàn diện tới hoạt động kinh doanh của
NHTM ACB.......................................................................................................................17
3.2.1. Hoạt động huy động vốn.......................................................................................17
3.2.2. Hoạt động cho vay................................................................................................18
3.2.3. Hoạt động phát triển sản phẩm.............................................................................19
3.2.4. Kết quả kinh doanh của ngân hàng.......................................................................20
3.3. Rào cản, thách thức mà Ngân hàng ACB cần phải đối mặt.........................................22
3.4. Khuyến nghị cho hoạt động kinh doanh của Ngân hàng ACB....................................23
TÀI LIỆU THAM KHẢO......................................................................................................25
DANH MỤC VIẾT TẮT
STT Từ viết tắt Từ đầy đủ
1 NHTM Ngân hàng thương mại
2 TCTD Tài chính toàn diện
3 NHNN Ngân hàng nhà nước
4 TMCP Thương mại cổ phần
5 ATM Automatic teller machine
6 POS Point of Sale
7 VNĐ Việt Nam đồng
i
LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên, chúng em xin chân thành cảm ơn đến thầy trong Ban Giám đốc, các
phòng, khoa, bộ môn cùng các quý thầy cô của Học viện Ngân hàng đã tạo điều kiện thuận lợi
về cơ sở vật chất cũng như môi trường để chúng em được tiếp cận với môn Ngân hàng thương
mại. Đặc biệt em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến Trần Hải Yến người đã trực tiếp giảng
dạy chúng em, tận tình hướng dẫn chúng em trong suốt quá trình học tập.
Tuy nhiên, do vốn kiến thức còn nhiều hạn chế khả năng tiếp thu thực tế còn nhiều bỡ
ngỡ. Mặc chúng em đã cố gắng hết sức nhưng chắc chắn bài tập lớn khó thể tránh khỏi
những thiếu sót nhiều chỗ còn chưa chính xác, kính mong xem xét góp ý để bài tập
lớn của nhóm 12 chúng em được hoàn thiện, chỉn chu hơn.
Chúng em xin chân thành cảm ơn!
ii
LỜI CAM ĐOAN
Chúng em xin cam đoan những kết quả nghiên cứu được thể hiện trong bài tập lớn môn
Ngân hàng thương mại với đề tài “Vai trò của ngân hàng thương mại trong phát triển tài chính
toàn diện và xu hướng phát triển tài chính toàn diện tới hoạt động kinh doanh của ACB” này là
sản phẩm riêng của cả nhóm và không bất kỳ sự gian lận hay sao chép nào. Toàn bộ nội
dung của bài tập lớn đều được trình bày dựa trên quan điểm, kiến thức nhân, tích lũy, chọn
lọc và tìm hiểu từ nhiều nguồn tài liệu đáng tin cậy, có đính kèm chi tiết và hợp lệ.
Chúng em xin hoàn toàn chịu trách nhiệm và hình thức kỷ luật theo quy định nếu phát hiện
bất kỳ sai phạm hoặc gian lận nào.
Hà Nội, ngày 12 tháng 4 năm 2024
Nhóm sinh viên thực hiện
NHÓM 12
iii
LỜI MỞ ĐẦU
Trong xu thế hội nhập, đổi mới sáng tạo phát triển mạnh mẽ. Thế giới chúng ta đang
thời đại 4.0 thời kì công nghệ, kinh tế thế giới thì ngày càng phát triển với trình độ cao thì nền
kinh tế của Việt Nam ta cũng đang dần phát triển theo xu hướng hội nhập quốc tế. Các doanh
nghiệp Việt Nam thì ngày càng đa dạng hóa, phong phú về các ngành nghề kinh doanh, hoạt
động một cách sôi nổi, đòi hỏi các biện pháp kinh tế của nhà nước cũng cần phải đổi mới để có
thể đáp ứng yêu cầu của nền kinh tế. Việc phát triển tài chính toàn diện trở thành mục tiêu
quan trọng, vấn đề được nhiều nước trên thế giới quan tâm, hướng tới. Và Việt Nam chúng
ta cũng không ngoại lệ, phát triển tài chính toàn diện vấn đề được Đảng Nhà nước quan
tâm, đổi mới hình tăng trưởng từ chiều rộng sang chiều sâu gắn với năng suất lao động
khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo. Chúng em tập trung phân tích sự cấp thiết của xu hướng
tài chính toàn diện, trên sở đó tập trung đánh giá vai trò của ngân hàng thương mại trong
công cuộc phát triển tài chính toàn diện đưa ra dụ tiêu biểu Ngân hàng ACB để phân
tích việc xu thế tài chính toàn diện tác động đến các hoạt động của ngân hàng.
iv
Chương 1: SỰ CẦN THIẾT VÀ XU HƯỚNG PHÁT TRIỂN TÀI CHÍNH
TOÀN DIỆN TRÊN THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM HIỆN NAY
1.1. Khái quát về tài chính toàn diện
1.1.1. Định nghĩa tài chính toàn diện
Tổ chức tài chính hàng đầu thế giới là Ngân hàng Thế giới (World Bank) đãđịnh nghĩa
như sau về tài chính toàn diện: “Tài chính toàn diện có nghĩacác cá nhân và doanh nghiệp
có thể tiếp cận và sdụng các sản phẩm dịch vụ tài chính - các giao dịch, thanh toán, tiết
kiệm, tín dụng và bảo hiểm - đáp ứng nhu cầu của họ và có mức chi phí hợp lý, được cung cấp
theo một cách thức có trách nhiệm và bền vững”.
Liên minh Tài chính Toàn diện (AFI), cũng định nghĩa về tài chính toàn diện theo một cách
rộng hơn đa chiều hơn, nhấn mạnh đến cả khía cạnh chất lượng sử dụng dịch vụ. Theo đó,
tài chính toàn diệnViệc cung cấp cho người sử dụng các dịch vụ tài chính sẵn với mức
chi phí hợp lý; làm cho khách hàng sử dụng các dịch vụ tài chính một cách thường xuyên; đưa
ra những dịch vụ tài chính được thiết kế phù hợp với nhu cầu của người sử dụng”.
Tổng quát lại, tài chính toàn diện tất cả việc cung cấp các dịch vụ tài chính chính thức
(thanh toán, chuyển tiền, tiết kiệm tín dụng, bảo hiểm) một cách thuận tiện, phù hợp với nhu
cầu và chi phí tới tất cả người dân. Tài chính toàn diện không chỉ giới hạn trong việc cải thiện
khả năng tiếp cận tín dụng bao gồm cả nâng cao hiểu biết về tài chính cho người dân
bảo vệ người tiêu dùng.
1.1.2. Vai trò của tài chính toàn diện
Tài chính toàn diện đóng vai trò rất quan trọng đối với sự phát triển bền vững nền kinh tế,
xã hội của một quốc gia đặc biệt là ở các quốc gia đang phát triển như Việt Nam. Vai trò của tài
chính toàn diện được thể hiện trên những khía cạnh sau:
Thứ nhất, tài chính toàn diện thúc đẩy tăng trưởng kinh tế thông qua tăng cường khả năng
huy động vốn, tài chính toàn diện giúp huy động vốn hiệu quả từ các nguồn lực nhàn rỗi trong
xã hội các khoản tiết kiệm , đặc biệt từ người thu nhập thấp và dễ bị tổn thương. Nguồn
vốn này được sử dụng cho các hoạt động đầu tư, sản xuất kinh doanh, góp phần thúc đẩy tăng
trưởng kinh tế. Bên cạnh đó còn giúp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, khi người dân
doanh nghiệp quyền tiếp cận các dịch vụ tài chính phù hợp, họ sẽ sử dụng vốn hiệu quả
hơn, tránh lãng phí và đầu tư vào những dự án có tiềm năng sinh lời cao.
Thứ hai, tài chính toàn diện góp phần cải thiện thu nhập, xóa đói giảm nghèo tăng phúc
lợi cho người nghèo được tiếp cận các sản phẩm, dịch vụ tài chính như tiết kiệm, dịch vụ thanh
toán, chuyển tiền, tín dụng bảo hiểm. Giúp người nghèo tăng khả năng tích lũy tài sản,
chống chịu trước những sốc kinh tế cũng như giảm thiểu được rủi ro trong kinh tế. Đồng
thời giúp họ vốn đầu sản xuất kinh doanh, cải thiện thu nhập tăng cường khả năng tiếp
cận các dịch vụ thiết yếu như giáo dục, y tế, nhà ở,...
1
Thứ ba, tài chính toàn diện góp phần hạn chế thông tin tài chính bất đối xứng, giảm chi phí
giao dịch ký kết hợp đồng. Các chính sách tài chính toàn diện hiệu quả tác động lên các ngành
kinh tế, góp phần giảm nghèo và tăng trưởng kinh tế nhanh.
Thứ , tài chính toàn diện còn giúp Chính phủ giảm bớt chi phí cho các chương trình trợ
cấp an sinh hội thông qua việc chi trả qua tài khoản ngân hàng, làm tăng sự minh bạch,
phòng chống tham nhũng tích cực hơn, nhờ đó quản hội tốt hơn. Một hội với hội
tiếp cận dịch vụ tài chính mở rộng cho tất cả mọi người sẽ tăng cường sự tham gia của họ vào
cuộc sống cộng đồng nói chung, cải thiện công bằng bình đẳng, năng lực của toàn hội
theo đó cũng được nâng lên. Không chỉ thế tài chính toàn diện còn đóng gópo tăng trưởng
kinh tế thông qua tạo giá trị cho các doanh nghiệp nhỏ, đem lại tác động lớn cho việc cải thiện
các chỉ số phát triển con người như y tế, dinh dưỡng, giáo dục và đẩy lùi bất bình đẳng, nghèo
đói.
Cuối cùng, tài chính toàn diện còn nâng cao năng lực tài chính cho người dân. Giúp người
dân hiểu biết về tài chính nâng cao kiến thức kỹ năng về tài chính, từ đó thể đưa ra các
quyết định tài chính sáng suốt. Cũng như bảo vệ người tiêu dùng khỏi các sản phẩm dịch
vụ tài chính lừa đảo, không an toàn.
1.1.3. Những rào cản đối với tài chính toàn diện
Rào cản về phía cung: Hệ thống thanh toán chưa hoàn thiện, đặc biệt khu vực nông
thôn và vùng sâu vùng xa. Mạng lưới chi nhánh ngân hàng và tổ chức tài chính vi mô còn hạn
chế, chất lượng dịch vụ còn tương đối thấp. Sản phẩm dịch vụ tài chính chưa đa dạng, chủ
yếu dành cho người thu nhập cao doanh nghiệp, những yêu cầu về hồ giấy tờ cần
để mở tài khoản trên thực tế đã loại trừ nhiều người ở khu vực nông thôn hay những người lao
động tự do,những người khó chứng minh thu nhập hay nơi cư trú chính thức. Ngoài ra còn
chưa đáp ứng được nhu cầu của ngườithu nhập thấp và dễ bị tổn thương và chi phí dịch vụ
cao. Bên cạnh đó còn thiếu hụt về nguồn nhân lực trình độ chuyên môn cao am hiểu
kiến thức về tài chính toàn diện, cũng như năng lực quản lý rủi ro còn hạn chế.
Rào cản về phía cầu: Nhận thức về tài chính của người dân chưa hiểu về lợi ích cũng
như chưa kiến thức hiểu biết về tài chính toàn diện. Người dân thường xu hướng e ngại
rủi ro khi sử dụng các dịch vụ tài chính, đặc biệt các dịch vụ mới. Khả năng tiếp cận tài
chính đối với người có thu nhập thấp thường gặp khó khăn chủ yếu là do thiếu tài sản thế chấp,
thủ tục vay vốn phức tạp hay chi phí giao dịch cao. Cũng như năng lực tài chính của người dân
còn hạn chế về kỹ năng quản lý tài chính.
Rào cản về môi trường pháp: Hệ thống pháp luật liên quan đến tài chính toàn diện chưa
hoàn thiện, thiếu đồng bộ cập nhật, quy định về hoạt động còn lỏng lẻo. Cũng như việc
giám sát quản các hoạt động tài chính còn lỏng lẻo, tạo điều kiện cho các hoạt động lừa
đảo và gian lận xảy ra.
2
Rào cản về văn hóa, ngôn ngữ: Một số người dân còn có quan niệm truyền thống về tiền tệ,
họ thích tích trữ tiền mặt hơn là sử dụng các dịch vụ tài chính. Cũng như một số người dân gặp
khó khăn trong việc sử dụng các dịch vụ tài chính do không biết ngôn ngữ.
1.1.4. Các thước đo tài chính toàn diện
Tài chính toàn diện được đo lường dựa trên 03 khía cạnh mức độ bao phủ của các tổ
chức tín dụng, mức độ s dụng các sản phẩm dịch vụ tài chính, chất lượng sản phẩm
dịch vụ tài chính.
Nhóm chỉ số thể hiện mức độ bao phủ của các tở chức tín dụng: bao gồm số lượng chi
nhánh/phòng giao dịch trên một kilomet vuông (1000
m2
) hay trên 1000 dân, số lượng máy
ATM trên một kilomet vuông (1000
m2
) hay trên 1000 dân.
Nhóm chỉ số thể hiện mức độ sử dụng các sản phẩm và dịch vụ tài chính: là các chỉ số liên
quan tới tần suất sử dụng sản phẩm và dịch vụ tài chính như phần trăm số lượng tài khoản tiền
gửi ghi nợ trên tổng dân số, số lượng giao dịch trên mỗi tài khoản tiền gửi, số lượng giao
dịch điện tử.
Nhóm chỉ số thể hiện chất lượng sản phẩm dịch vụ tài chính: Thước đo này đánh giá mức
độ phù hợp của các sản phẩm dịch vụ tài chính với nhu cầu của người dân. Cũng như các
chỉ số phản ánh nhận thức tài chính của người trưởng thành, hành vi ứng xử đối với các vấn đề
tài chính của người trưởng thành, yêu cầu về minh bạch thông tin, chế giải quyết tranh
chấp, rào cản khi tiếp cận dịch vụ tài chính…
Hiện nay, các tổ chức quốc tế, các quốc gia triển khai chương trình tài chính toàn diện đã
thống nhất sử dụng 24 tiêu chí đánh giá tài chính toàn diện do G20 đưa ra tại hội nghị Thượng
đỉnh Saint Petersburg năm 2012 dựa trên 3 khía cạnh trên.
1.2. Sự cần thiết của tài chính toàn diện
Tài chính toàn diện mang lại những lợi ích, tác động tích cực đến sự phát triển kinh tế,
hội, đặc biệt hướng lợi ích đến các đối tượng có năng lực tài chính trung bình thấp và dễ bị tổn
thương.
Sự cần thiết của tài chính toàn diện:
a) Cải thiện đời sống
Giúp người dân quản tài chính hiệu quả, chi tiêu hợp lý, tiết kiệm đầu cho
tương lai.
Tăng cường khả năng ứng phó với rủi ro tài chính, giảm bớt gánh nặng kinh tế trước
những biến động bất ngờ.
Góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống, tạo điều kiện cho việc học tập, phát triển
kinh tế và an sinh xã hội.
b) Thúc đẩy bình đẳng
Tài chính toàn diện mang lại khả năng tiếp cận với các dịch vụ tài chính các hội
tài chính, tạo điều kiện để nâng cao năng lực tài chính, địa vị, thu nhập cho mọi người
3
bất kể giới tính, đặc biệt là những nhóm yếu thế như người nghèo, người thu nhập thấp,
phụ nữ, khu vực nông thôn. Từ đó góp phần rút ngắn khoảng cách giới, bình đẳng trong
cộng đồng.
Giảm thiểu bất bình đẳng thu nhập, tạo điều kiện cho mọi người tham gia vào nền kinh
tế một cách bình đẳng.
c) Tạo điều kiện cho mọi người khả năng công cụ để quản tiết kiệm tiền của
họ; hỗ trợ phát triển đối với doanh nghiệp
Với sự hỗ trợ đắc lực của yếu tố công nghệ, việc tiếp cận và sử dụng với nhiều dịch vụ
tài chính an toàn, đảm bảo, mở ra cho nhân doanh nghiệp vừa nhỏ các hội
tiết kiệm và đầu tư an toàn.
Cung cấp nguồn vốn cho doanh nghiệp hoạt động, đầu tư và mở rộng kinh doanh.
Giúp doanh nghiệp quản lý rủi ro tài chính, nâng cao hiệu quả hoạt động.
Thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và tạo ra việc làm.
d) Thúc đẩy tăng trưởng kinh tế
Tăng cường huy động vốn và sử dụng hiệu quả nguồn lực tài chính trong xã hội.
Khuyến khích đầu tư, tiết kiệm và khởi nghiệp.
Góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế bền vững.
e) Trang bị các kỹ năng và kiến thức để đưa ra các quyết định tài chính đúng đắn
Tài chính toàn diện trang bị cho các nhân, tổ chức các kiến thức về tài chính để
thể đưa ra những quyết định đầu tư, tiết kiệm tiêu dùng thông minh cũng như khả
năng lên kế hoạch quản lý tài chính
Ngày càng xây dựng được một sức khoẻ tài chính vững vàng hơn trong tương lai cho cá
nhân và cho doanh nghiệp.
f) Xoá đói giảm nghèo
Cơ hội tiếp cận với các dịch vụ tài chính: tiết kiệm, tín dụng, bảo hiểm và nhiều các quỹ
tài chính, tổ chức tài chính chính thống,… mang lại cho người lao động thu nhập trung
bình thấp nhiều lựa chọn với mức chi phí hợp lý, nhằm giải quyết các vấn đề tài
chính các nhân.
Giảm thiểu rủi ro rơi vào bẫy tín dụng đen, gây ảnh hưởng tiêu cựcn cuộc sống nói
chung và tài chính cá nhân nói riêng.
Kết luận: Tài chính toàn diện đóng vai trò quan trọng trong việc cải thiện đời sống của
người dân, thúc đẩy phát triển kinh tế giảm nghèo. Cần sự phối hợp của các bên liên
quan, bao gồm chính phủ, các tổ chức tài chính, doanh nghiệp người dân để thúc đẩy tài
chính toàn diện một cách hiệu quả và bền vững.
4
1.3. Xu hướng phát triển tài chính toàn diện
1.3.1. Trên thế giới
Đến nay, trên toàn thế giới đã hơn 80 quốc gia đã đang triển khai Chiến lược tài
chính toàn diện quốc gia. Các quốc gia theo đuổi mục tiêu tài chính toàn diện đều đưa ra nhiều
giải pháp áp dụng những đổi mới sáng tạo trong lĩnh vực công nghệ tài chính, tập trung vào
việc giảm chi phí, an toàn thuận tiện, nhờ đó nâng cao khảng tiếp cận dịch vụ tài chính
cho người dân, đặc biệt những người từ trước đến nay chưa được các ngân hàng phục vụ.
Kết quả triển khai thực hiện tài chính toàn diện những quốc gia này được ghi nhận đã đóng
góp lớn vào xóa đói, giảm nghèo, tạo việc làm, tăng sinh kế cho người dân doanh nghiệp,
hỗ trợ ổn định tài chính thúc đẩy tăng trưởng kinh tế một cách bền vững. Thành công nhất
thể kể đến những quốc gia như Colombia, Brazil Nam Mỹ, Tanzania, Kenya châu Phi
hay Ấn Độ, Malaysia ở châu Á. Trong số đó:
Malaysia: đạt được một mức độ cao nhất về tài chính toàn diện, với 96% người trưởng
thành có tài khoản tính đến cuối năm 2019.
Kenya: M-Pesa, dịch vụ thanh toán di động, đã giúp gia tăng tỷ lệ người dân tài
khoản ngân hàng.
Ấn Độ: Pradhan Mantri Jan Dhan Yojana (PMJDY), chương trình tài chính toàn diện
quốc gia, đã mở tài khoản ngân hàng cho hàng triệu người dân.
Indonesia: Laku Pandai, chương trình đại ngân hàng, đã giúp người dân khu vực
nông thôn tiếp cận các dịch vụ tài chính.
Cơ chế phối hợp triển khai thực hiện Chiến lược tài chính toàn diện:
a) Cấp quốc gia
Thành lập ban chỉ đạo hoặc ủy ban tài chính toàn diện quốc gia, với sự tham gia của các
bên liên quan như chính phủ, các tổ chức tài chính, doanh nghiệp và người dân.
Phát triển thực hiện chiến lược tài chính toàn diện quốc gia, bao gồm các mục tiêu,
nhiệm vụ và giải pháp cụ thể.
Phân công trách nhiệm cho các bên liên quan trong việc triển khai chiến lược.
b) Cấp địa phương
Thành lập ban chỉ đạo hoặc ủy ban tài chính toàn diện cấp địa phương.
Phối hợp với các bên liên quan để triển khai các hoạt động tài chính toàn diện phù hợp
với điều kiện địa phương.
c) Một số mô hình phối hợp hiệu quả
Mô hình "Hội đồng tư vấn tài chính toàn diện": được áp dụng ở Kenya, với sự tham gia
của các bên liên quan từ khu vực công và tư nhân.
Mô hình "Nhóm công tác tài chính toàn diện": được áp dụng ở Indonesia, tập trung vào
việc phối hợp các hoạt động giữa các bộ, ngành và cơ quan liên quan.
5
Theo World Bank (2018), trong số tất cả các quốc gia đã và đang triển khai Chiến lược tài
chính toàn diện quốc gia, kể cả các nước một đơn vị đầu mối duy nhất thì cũng thường
xuyên có sự tham gia của nhiều bên liên quan.
Tại Jamaica, để triển khai Chiến lược tài chính toàn diện, Hội đồng Quốc gia về tài chính
toàn diện được thành lập, trong đó gồm ba cấu phần chính: Ban chỉ đạo về tài chính toàn diện,
Ban tham vấn các bên liên quan (khu vực tư nhân, xã hội dân sự) và Ban thư ký kỹ thuật.
Tại Tanzania, khuôn khổ i chính toàn diện bao gồm cả chế kiểm tra, giám sát thực
hiện để bảo đảm rằng các bên liên quan phải triển khai những lĩnh vực ưu tiên chủ yếu. ba
cấp được thành lập, gồm: Hội đồng quốc gia (National Council - NC), Ban chỉ đạo quốc gia
(National Steering Committee - NSC) Ủy ban Kỹ thuật quốc gia (National Technical
Committee - NTC) về tài chính toàn diện. Ngân hàng Trung ương Tanzania thư thường
trực cho tất cả các Ủy ban.
1.3.2. Việt Nam
a) Định hướng thúc đẩy tài chính toàn diện
Tại Việt Nam, khái niệm i chính toàn diện được định nghĩa trong Chiến lược tài chính
toàn diện quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030 như sau: “Tài chính toàn diện là
việc mọi người dân doanh nghiệp được tiếp cậnsử dụng các sản phẩm dịch vụ tài chính
một cách thuận tiện, phù hợp nhu cầu, với chi phí hợp lý, được cung cấp một cách trách
nhiệm bền vững, trong đó chú trọng đến nhóm người nghèo, người thu nhập thấp, người
yếu thế, doanh nghiệp nhỏ và vừa, doanh nghiệp siêu nhỏ”.
Mục tiêu
Mục tiêu chung: Mọi người dân doanh nghiệp đều được tiếp cận sử dụng các sản
phẩm, dịch vụ tài chính phù hợp nhu cầu, an toàn, thuận tiện, với chi phí hợp lý, do các tổ chức
được cấp phép cung ứng một cách có trách nhiệm và bền vững.
Trong đó, chỉ tiêu đặt ra là phấn đấu đạt được:
Tăng tỷ lệ người trưởng thành có tài khoản ngân hàng thanh toán hoạt động từ 80% đến
cuối năm 2025.
Tiến tới mỗi người trưởng thành ít nhất một tài khoản giao dịch tại ngân hàng hoặc
các tổ chức được phép khác vào năm 2030.
Ít nhất 20 chi nhánh, phòng giao dịch của NHTM trên 100.000 người trưởng thành.
Ít nhất 50% tổng số xã có điểm cung ứng dịch vụ tài chính (chi nhánh, phòng giao dịch
của tổ chức tín dụng và đại lý ngân hàng; ngoại trừ điểm cung ứng dịch vụ tài chính của
Ngân hàng Chính sách xã hội)
Ít nhất 25%-30% người trưởng thành gửi tiết kiệm tại tổ chức tín dụng.
Số lượng giao dịch thanh toán không dùng tiền mặt đạt tốc độ tăng từ 20%-25% hàng
năm.
Ít nhất 250.000 doanh nghiệp nhỏ và vừa có dư nợ tại các tổ chức tín dụng.
6
Dư nợ tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn trên tổng dư nợ tín dụng đối
với nền kinh tế đạt 25%; doanh thu phí bảo hiểm bình quân GDP là 3,5%.
Ít nhất 70% người trưởng thành thông tin về lịch sử tín dụng trong hệ thống thông
tin tín dụng của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.
Một số định hướng cụ thể
Phát triển tài chính vi mô: Hỗ trợ các tổ chức tài chính vi cung cấp các sản phẩm,
dịch vụ tài chính phù hợp với nhu cầu của người nghèo và người thu nhập thấp.
Phát triển tài chính công nghệ: Khuyến khích ứng dụng công nghệ trong cung cấp dịch
vụ tài chính, đặc biệt là thanh toán điện tử.
Phát triển tài chính xanh: Hỗ trợ các tổ chức tài chính cung cấp các sản phẩm, dịch vụ
tài chính cho các dự án bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu
b) Thực trạng tài chính toàn diện
Cơ hội:
Thực tế qua hơn 3 năm, Việt Nam đã nỗ lực triển khai đồng bộ các nhiệm vụ, giải
pháp của Chiến lược tài chính toàn diện đạt được nhiều thành tựu đáng kể trong
việc nâng cao khả năng tiếp cận sản phẩm, dịch vụi chính cho người dân, doanh
nghiệp trong nền kinh tế. Theo đó, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam - quan đầu
mối về tài chính toàn diện đã phối hợp với các bộ, ngành, địa phương, các quan
liên quan để nâng cao nhận thức về tài chính toàn diện cũng như phối hợp với
các NHTM trong việc cải thiện khả năng tiếp cận dịch vụ tài chính. Qua đó, công
tác giáo dục tài chính, nâng cao năng lực kiến thức tài chính, bảo vệ người tiêu
dùng tài chính đã được quan tâm, tích cực triển khai.
Đặc biệt, một số giải pháp quan trọng góp phần đẩy mạnh khả năng tiếp cận các sản
phẩm, dịch vụ tài chính của người dân doanh nghiệp đã được các bộ, ngành tích
cực phối hợp thực hiện như: ban hành quy định cho phép mở tài khoản thanh toán
bằng phương thức điện tử; triển khai thí điểm dùng tài khoản viễn thông thanh toán
cho các hàng hóa, dịch vụ giá trị nhỏ như Mobile Money; xây dựng chính
thức vận hành hệ thống Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư...
sở hạ tầng tài chính tiếp tục được hoàn thiê n tăng hiê u quả sử dụng. Ngân
hàng Nhà nước tiếp tục đầu tư, nâng cấp các hê thống thanh toán quan trọng.
Công tác truyền thông về hoạt động thanh toán dịch vụ ngân hàng được đẩy
mạnh. Thông qua đó, đẩy mạnh thực hiện Đề án phát triển thanh toán không dùng
tiền mặt tại Việt Nam Đề án nâng cao khả năng tiếp cận dịch vụ ngân hàng cho
nền kinh tế.
Các sản phẩm, dịch vụ tài chính bản, hướng đến những đối tượng mục tiêu của
tài chính toàn diện được tích cực cải thiê n. Ngân hàng Nhà nước đã chỉ đạo các
NHTM, tổ chức trung gian thanh toán. Qua đó, các NHTM Việt Nam sự chuyển
biến rệt, quan tâm nhiều hơn tới cung cấp dịch vụ, sản phẩm cho những thành
7
phần kinh tế trước đây vốn không phải đối tượng chú trọng của ngân hàng. Phần
lớn các ngân hàng đã cung cấp các dịch vụ tiện ích như: thanh toán tiền điện, nước,
cước phí điện thoại, viễn thông, phí bảo hiểm, thu học phí thông qua kênh Internet
banking Mobile banking. Các ngân hàng cũng phối hợp Tổng cục Hải quan cho
việc nộp thuế… Mặt khác, các ngân hàng còn tích cực hợp tác với các doanh nghiệp
lớn để tận dụng lợi thế của mỗi bên trong việc cung cấp các sản phẩm, dịch vụ tới số
đông khách hàng.
Ngoài ra, hệ thống các tổ chức tín dụng Việt Nam ngày càng phát triển hiệu quả,
bền vững. Cùng với đó, dịch vụ tài chính số đạt tốc độ tăng trưởng cao, đem lại
nhiều hội cho ngân hàng cũng như giúp cho khách hàng tiếp cận sản phẩm dịch
vụ đa dạng tiện ích phù hợp với nhu cầu với chi phí thấp… Năm 2022, thanh
toán qua kênh Internet tăng 89,36% về số lượng và 40,55% về giá trị; qua kênh điện
thoại di động tăng 116,1% về số lượng 92,3% về giá trị; qua phương thức QR
code tăng 182,5% về số lượng 210,6% về giá trị, tỷ trọng các giao dịch rút tiền
mặt xử lý qua hệ thống Napas đã giảm từ 12% năm 2021 xuống chỉ còn 6,56% năm
2022.
Một số khó khăn, thách thức:
Bên cạnh kết quả tích cực đã đạt được, theo Ngân hàng Nhà nước (2022), việc triển khai
thực hiện chiến lược tài chính toàn diện quốc gia vẫn gặp không ít khó khăn, thách thức.
Thứ nhất, khuôn khổ pháp hiê n hành còn bất cập, chưa bắt kịp đòi hỏi của thực
tiễn, nhất trong bối cảnh phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghê , xuất hiê n
thêm các kênh phân phối, sản phẩm, dịch vụ tài chính mới dựa trên đổi mới sáng tạo
và ứng dụng công nghệ số nhưng cũng tiềm ẩn rủi ro.
Thứ hai, mạng lưới chi nhánh, phòng giao dịch, hê thống POS/ATM của các tổ chức
tín dụng phân bố chủ yếu khu vực thành thị, các khu kinh tế phát triển, khu đông
dân cư, trong khi còn hạn chế tại các địa bàn nông thôn, vùng sâu, vùng xa.
Thứ ba, thanh toán không dùng tiền mặt mặc dù đã đạt được những kết quả đáng kể,
tuy nhiên một bộ phận dân cư, đặc biệt nhóm người cao tuổi, người dân vùng
nông thôn, vùng sâu, vùng xa vẫn chưa sử dụng phổ biến hình thức thanh toán này.
Thứ , sản xuất nông nghiệp còn thiếu các biện pháp, công cụ phòng ngừa để hạn
chế rủi ro, chính sách bảo hiểm nông nghiệp chậm triển khai; cácchế hỗ trợ tiếp
cận vốn cho doanh nghiê p nhỏ vừa thông qua bảo lãnh của Quỹ bảo lãnh tín
dụng, hỗ trợ vốn của Quỹ phát triển doanh nghiê p nhỏ và vừa chưa đạt được như kỳ
vọng.
Thứ năm, cơ sở dữ liệu về tài chính toàn diện vẫn chưa hoàn thiện, tạo không ít khó
khăn cho công tác giám sát, đánh giá việc thực thi các nhiệm vụ, giải pháp của
Chiến lược tài chính toàn diện.
8
Thứ sáu, công tác truyền thông về tài chính toàn diê n chưa thực sự đa dạng, phong
phú.
Ngoài ra, sự bùng phát của đại dịch Covid-19 đã để lại những hệ quả nặng nề đến
mọi mặt của đời sống kinh tế - hội, hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh
nghiệp và đời sống của người dân khó khăn cũng có tác đông không nhỏ tới kết quả
thực hiê n các mục tiêu của Chiến lược tài chính toàn diện quốc gia đến năm 2025,
định hướng đến năm 2030.
Khung khổ chiến lược:
Chiến lược được xây dựng trên năm nguyên tắc cơ bản, đó là có sự tham gia và phối
hợp chặt chẽ của tất cả các ngành, lĩnh vực.
Ứng dụng công nghệ hiện đại, đổi mới sáng tạo.
Đảm bảo sự an toàn, hiệu quả và bền vững của hệ thống tài chính, an toàn, bảo mật
thông tin cho khách hàng.
Áp dụng kinh nghiệm quốc tế về các giải pháp đột phá thúc đẩy tài chính toàn diện.
Chiến lược đã đặt ra mục tiêu tổng quát cùng sáu mục tiêu cụ thể, chín chỉ tiêu đánh
giá, và sáu nhóm nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu.
9
Chương 2: VAI TRÒ CỦA CÁC NHTM TRONG PHÁT TRIỂN
TÀI CHÍNH TOÀN DIỆN
2.1. Vai trò của NHTM trong phát triển tài chính toàn diện
Nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng: các NHTM luôn đóng vai trò vô cùng quan trọng trong việc
thực hiện tài chính toàn diện các quốc gia như Ravikumar (2012), Abbey, Odonkor
Boateng (2014), Hastak Gaikwad (2015), Garg (2015). Với lợi thế mạng lưới rộng rãi, sản
phẩm dịch vụ đa dạng, ngân hàng đóng vai trò chủ đạo trong việc cung cấp các sản phẩm tài
chính đến cho các đối tượng dân cư trong nền kinh tế.
Thông qua nghiên cứu của Neha Garg (2015) và Raihanath. MH, K. P. Pavithran (2014) đã
chỉ ra một số yếu tố chính để thấy được vai trò cùng to lớn của các NHTM trong việc
thúc đẩy tài chính toàn diện. Cụ thể đó là:
Thứ nhất: Sự sẵn của các sản phẩm ngân hàng. Trước đây, đối với người dân mức
thu nhập thấp, việc tiếp cận tới các sản phẩm ngân hàng là rất khó khăn. Không phải người dân
nào cũng khả năng nhu cầu vay vốn, đầu tư, tiết kiệm. Tuy nhiên trong thời gian qua,
nhờ sự cải tiến, phát triển của khoa học, công nghệ cũng như các chính sách hỗ trợ đã giúp khả
năng tiếp cận các dịch vụ tài chính thông qua ngân hàng của người nghèo bắt đầu gia tăng.
Chính điều này đóng góp một phần không nhỏ vào công cuộc phát triển tài chính toàn diện.
Thứ hai: Khả năng tiếp cận của các chi nhánh ngân hàng. Những quốc gia mức độ tài
chính toàn diện thấp thường do nhóm khách hàng gặp khó khăn hoặc mất nhiều thời gian, công
sức hơn trong việc tiếp cận với các dịch vụ tài chính kênh phân phối của ngân hàng. Hệ
thống các NHTM với mạng lưới rộng khắp, các quy định thành lập chi nhánh tại các quốc gia
giúp mang các sản phẩm dịch vụ tới người dân từ các thành phố lớn tới nông thôn đô thị
nghèo. Bởi vậy thể nói rằng, tại một số quốc gia trên thế giới, mật độ dân số trên một ngân
hàng được coi chỉ tiêu đánh giá mức độ, vai trò của ngân hàng đối với phát triển tài chính
toàn diện.
Thứ ba: Mobile banking. Mobile banking cung cấp chức năng xem xét về mức độ giao
dịch tài khoản, kiểm tra giao dịch trên tài khoản, thanh toán online qua điện thoại di động một
cách nhanh chóng, thuận tiện, dễ dàng. Điều này khuyến khích s lượng lớn người sử dụng
giao dịch ngân hàng qua điện thoại di động, mua bán hàng hóa qua internet hoặc tin nhắn điện
thoại, chuyển tiền online, thanh toán hàng hóa tại các điểm bán. Với sự phát triển không
ngừng, kèm theo việc áp dụng công nghệ thông tin hiện đại, ngân hàng đã và đang đáp ứng đầy
đủ các nhu cầu khách hàng mọi lúc, mọi nơi.
Thứ tư: Nâng cao dân trí tài chính. Một bộ phận khách hàng không có lợi thế nằm ngoài
hệ thống ngân hàng do sự thiếu hiểu biết về hệ thống tài chính. Cung cấp dịch vụ tìm hiểu về
tài chính chức năng cốt lõi của tổ chức tài chính. Ngân hàng thực hiện các chức năng giúp
nâng cao hiểu biết của người dân về tài chính như: cung cấp thông tin liên quan đến dịch vụ tài
chính, mở rộng giáo dục tài chính, cung cấp các sản phẩm tài chính điện tử… Mục tiêu cuối
10
cùng mang lại cho người dân hiểu được lợi ích nhân khi sử dụng các dịch vụ tài chính
cũng như có những kiến thức nhất định về quản lý tài chính cá nhân.
2.2. Đánh giá vai trò của NHTM trong phát triển tài chính toàn diện ở Việt Nam
NHTM đóng vai trò trụ cột trong việc thúc đẩy tài chính toàn diện Việt Nam, góp phần
hiện thực hóa mục tiêu đưa dịch vụ tài chính đến với mọi người dân, đặc biệt các nhóm đối
tượng khó tiếp cận. Để đánh giá phát triển tài chính toàn diện thông qua ngân hàng tại Việt
Nam, ta xét tới ba nhóm chỉ tiêu chính:
Mức độ bao phủ của hệ thống ngân hàng.
Tính sẵn có của các dịch vụ ngân hàng.
Mức độ sử dụng các hệ thống ngân hàng.
2.2.1. Mức độ bao phủ của hệ thống ngân hàng
Số lượng các ngân hàng trong hệ thống có tác động tới lượng người có thể tiếp cận và được
sử dụng các dịch vụ ngân hàng tài chính chính thức. Lượng ngân hàng càng nhiều thì mức độ
bao phủ của hệ thống ngân hàng càng lớn (Ravikumar, 2012). Từ đó, đối với một hệ thống tài
chính toàn diện, các dịch vụ ngân hàng nên có càng nhiều người dùng càng tốt, nghĩa là một hệ
thống tài chính thâm nhập rộng rãi giữa những người dùng của nó.
Bảng 2.1: Mức độ bao phủ của chi nhánh ngân hàng tại Việt Nam giai đoạn 2012 – 2018
Nguồn: WB, IMF
Ta thấy được rằng, nhìn chung xu hướng tăng trưởng đều đặn, về mức độ bao phủ của
các chi nhánh ngân hàng theo địa lý: cứ mỗi 1000km2 thì có 6,4 chi nhánh ngân hàng vào năm
2012, trong khi con sốy vào năm 2018 8,64. Tương tự như vậy về mức độ bao phủ của
chi nhánh ngân hàng theo dân số, nếu trong năm 2012 3,1 chi nhánh trên mỗi 100.000
người trưởng thành thì con số này đến năm 2016 3,92 chi nhánh. một sự giảm nhẹ v
mức độ bao phủ của chi nhánh ngân hàng trong năm 2015, nguyên nhân chính là do ba thương
vụ NHNN mua lại ngân hàng yếu kém để tái cơ cấu các ngân hàng này.
V t Nam nằm trong nhóm các quốc giasố lượng tài khoản trên 1.000 người thấp. Bình
quân cứ 1.000 người V t Nam có 783,01 tài khoản, thấp hơn so với bình quân chung của khối
các nước ASEAN. Điều này có thể được lý giải do các nguyên nhân chính sau:
(1) Do người dân V t Nam vẫn duy trì thói quen sdụng tiền t chưa hoàn toàn tin
tưởng vào hê thống tài chính của quốc gia.
(2) Do thu nhập của người dân Việt Nam còn thấp, dẫn đến nhu cầu sử dụng các dịch vụ
ngân hàng thấp, cũng như tâm lý e ngại, chưa sự tin tưởng vào các tổ chức tài chính. Tỷ lệ
11
nghèo ở Việt Nam còn khá cao, với khoảng 30% dân số nằm trong nhóm ít an toàn về kinh tế
diện nghèo, thường những hộ nghèo tập trung những vùng cao nguyên vùng núi
(World Bank, 2018). Đây chính con số mang tính thử thách khá lớn cho quá trình thực thi
Chiến lược phát triển tài chính toàn diện quốc gia.
(3) Chưa có nhiều chi nhánh các ngân hàng ở những vùng nông thôn, cao nguyên, miền núi
khiến cho khả năng tiếp cận đối với nhóm khách hàng ở đây càng khó khăn hơn.
Mặc dù, ngân hàng số đang xu hướng trong tương lai, nhưng việc nhiều ngân hàng
không ngừng mở rộng độ phủ của mình tại các địa phương cho thấy việc tiếp cận khách hàng
một cách trực tiếp vẫn được nhà băng chú trọng. Theo chuyên gia, việc các ngân hàng vẫn tiếp
tục kế hoạch mở rộng thêm độ phủ sóng của mình xuất phát từ tâm thói quen của đa
số người dân. Thực tế, rất nhiều ATM hiện nay được đặt trong các phòng giao dịch của ngân
hàng, người dân hoàn toàn có thể thao tác một số tính năng giao dịch phổ biến và đơn giản như
rút/chuyển tiền liên ngân hàng nhưng theo thói quen, họ vẫn tiến tới quầy giao dịch trực tiếp.
Bên cạnh đó, “ở những nơi có tỷ lệ người dân sử dụng Internet và điện thoại để xử lý giao dịch
thấp, sự hiện diện vật bằng các phòng giao dịch/chi nhánh vẫn được nhiều ngân hàng chú
trọng. Cùng với đó nâng cao chất lượng dịch vụ, vấn hỗ trợ thủ tục cho khách hàng.
Trong giai đoạn trước khi thể chuyển dịch sang kênh số, thì nhà băng sẽ tiếp tục gia tăng
mở rộng độ phủ sóng của mình, để tiếp cận gần hơn với khách hàng” – theo chuyên gia.
Thực tế Việt Nam hiện nay, sự mặt của các NHTM sẽ tạo ra tính cạnh tranh hơn về
tính đa dạng của dịch vụ tài chính, thể đem lại tiện ích cao hơn cho người dân, nhất
những khu vực vùng sâu, vùng xa, từ đó thúc đẩy kinh tế những khu vực này phát triển.
Nhóm nghiên cứu của ThS. Lương Minhvà TS. Đỗ Thị Hồng Hạnh (Học viện Ngân hàng)
nhận định: Việt Nam, mở rộng mạng lưới kinh doanh của các ngân hàng được xem một
trong những chìa khoá để phổ cập các dịch vụ tài chính tới mọi đối tượng dân cư. Khi hiện
nay, khoảng 80% nguồn vốn phục vụ đầucho nền kinh tế bắt nguồn từ khu vực các TCTD,
chủ lực là hệ thống ngân hàng. Nhưng mức độ bao phủ của các TCTD vùng sâu, vùng xa,
vùng kinh tế khó khăn vẫn còn khiêm tốn. Do đó, theo nhóm nghiên cứu, phát triển mạng lưới
điểm giao dịch tiếp cận nhiều hơn nữa tới người dân nhu cầu cấp thiết thực tế cũng cho
thấy giải pháp đã giải quyết được phần nào bài toán về khoảng cách tiếp cận dịch vụ ngân
hàng.
2.2.2 Tính sẵn có của các dịch vụ ngân hàng
Theo số liê u từ khảo sát của IMF năm 2020, bình quân qua các năm của cả khối ASEAN,
cứ 100.000 người dân sẽ 8.796 chi nhánh ngân ng 48.605 máy ATM phục vụ. Trong
đó, Brunei, Indonesia, Thái Lan Malaysia 4 quốc gia s lượng chi nhánh ngân ng
khá cao, bình quân mỗi năm cứ 100.000 người dân ở các nước này lần lượt có 20,66 chi nhánh;
15,87 chi nhánh; 11,83 chi nhánh và 10,68 chi nhánh. Các quốc gia còn lại số lượng chi nhánh
ngân hàng thấp hơn so với bình quân chung, bao gồm Campuchia, Philippines và V t Nam,
trong đó V t Nam con số này chỉ ở mức 3,63 chi nhánh ngân hàng.
12
Bảng 2.2: Chỉ số về tính sẵn có của dịch vụ tài chính của các nước ASEAN giai đoạn 2010 - 2019
Nguồn: IMF Financial Access Survey
Qua số liệu tính toán cho thấy, Việt Nammức độ tài chính toàn diện trung bình. Tốc độ
thay đổi chỉ số về tính sẵn có của các dịch vụ tài chính từ năm 2010 – 2019 tăng khá đều, song
tốc độ không nhanh bằng các nước khác như Brunei, Thái Lan,…
Sở dĩ chỉ số tài chính toàn diện được cải thiện do Chính phủ đã kịp thời ban hành những đề
án thiết thực như đề án thanh toán không dùng tiền mặt. Dưới sự chỉ đạo của Chính phủ,
NHNN đã chủ trương mở rộng các nguồn tín dụng ngân hàng cho vay với lãi suất thời hạn
hợp lý, đặc biệt các khoản vay không cần tài sản thế chấp dịch vụ cung cấp phục vụ tận
thôn xóm, thủ tục nhanh gọn. Dịch vụ này chủ yếu cung cấp cho người dân nghèo, cận nghèo,
có thu nhập thấp và hoàn cảnh đặc biệt khó khăn để phát triển kinh tế gia đình. Từ đó làm tăng
hội tiếp cận nguồn vốn tín dụng chính thức từ hệ thống ngân hàng, đáp ứng nhu cầu vay
tiêu dùngphát triển sản xuất, xóa đối giảm nghèo. Từ đó đã giúp các dịch vụ ngân hàng đa
dạng, phù hợp hơn với nhu cầu của người dân, cơ hội để thúc đẩy phát triển tài chính toàn
diện đất nước.
Sự phát triển, quá trình chuyển đổi snhững tiến bộ của công nghệ từ cuộc cách mạng
công nghệ 4.0 đã đang tác động không nhỏ tới xu hướng phát triển hình ngân hàng số
ngày càng rõ nét. Ngày càng nhiều người dùng có nhu cầu sử dụng các tài khoản ngân hàng để
thực hiện các dịch vụ thanh toán online. Ngân hàng không ngừng cải tiến và đưa ra những dịch
vụ như thanh toán tiền điện, nước, wifi thông qua app ngân hàng, gửi tiết kiệm online,… để
đáp ứng nhu cầu sử dụng, nâng cao trải nghiệm khách hàng, từ đó góp phần thúc đẩy tài chính
toàn diện.
2.2.3 Mức độ sử dụng các hệ thống ngân hàng
Nếu chỉ xét về tài khoản ngân hàng thì chưa đủ đối với hệ thống tài chính toàn diện, cần
xem xét đến trường hợp các dịch vụ ngân hàngđược sử dụng đầy đủ hay không, đặc biệt là
2 dịch vụ cơ bản: gửi tiềnsử dụng. Theo đó, có thể sử dụng tỷ lệ huy động trên GDP và tín
13

Preview text:

HỌC VIỆN NGÂN HÀNG KHOA NGÂN HÀNG BÀI TẬP LỚN
Đề Tài: VAI TRÒ CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
TRONG PHÁT TRIỂN TÀI CHÍNH TOÀN DIỆN VÀ
TÁC ĐỘNG CỦA XU HƯỚNG PHÁT TRIỂN TÀI CHÍNH
TOÀN DIỆN TỚI HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA ACB
Giảng viên: Trần Hải Yến
Học phần: Ngân hàng thương mại
Mã môn học: 23FIN17A01 - Nhóm: 12
Sinh viên thực hiện: 1. 1. Phạm Hoa Tú Linh 2. 2. Bùi Thị Hà 3. 3. Vũ Ngọc Anh 4. 4. Trần Thị Liên 5. 5. Hoàng Thị Lan Anh 6. 6. Nguyễn Thị Thu Giang
7. 7. Nguyễn Thị Thanh Ngoan Hà Nội, 2024 MỤC LỤC
DANH MỤC VIẾT TẮT...........................................................................................................i
LỜI CẢM ƠN...........................................................................................................................ii
LỜI CAM ĐOAN....................................................................................................................iii
LỜI MỞ ĐẦU..........................................................................................................................iv
Chương 1: SỰ CẦN THIẾT VÀ XU HƯỚNG PHÁT TRIỂN TÀI CHÍNH TOÀN DIỆN
TRÊN THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM HIỆN NAY......................................................................1
1.1. Khái quát về tài chính toàn diện....................................................................................1
1.1.1. Định nghĩa tài chính toàn diện................................................................................1
1.1.2. Vai trò của tài chính toàn diện.................................................................................1
1.1.3. Những rào cản đối với tài chính toàn diện..............................................................2
1.1.4. Các thước đo tài chính toàn diện.............................................................................3
1.2. Sự cần thiết của tài chính toàn diện...............................................................................3
1.3. Xu hướng phát triển tài chính toàn diện........................................................................5
1.3.1. Trên thế giới............................................................................................................5
1.3.2. Việt Nam.................................................................................................................6
Chương 2: VAI TRÒ CỦA CÁC NHTM TRONG PHÁT TRIỂN TÀI CHÍNH TOÀN
DIỆN TÀI CHÍNH TOÀN DIỆN..........................................................................................10
2.1. Vai trò của NHTM trong phát triển tài chính toàn diện...............................................10
2.2. Đánh giá vai trò của NHTM trong phát triển tài chính toàn diện ở Việt Nam.............11
2.2.1. Mức độ bao phủ của hệ thống ngân hàng..............................................................11
2.2.2 Tính sẵn có của các dịch vụ ngân hàng..................................................................12
2.2.3 Mức độ sử dụng các hệ thống ngân hàng...............................................................13
Chương 3: TÁC ĐỘNG CỦA XU HƯỚNG PHÁT TRIỂN TÀI CHÍNH TOÀN DIỆN
TỚI HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA NHTM ACB......................................................16
3.1. Giới thiệu Ngân hàng ACB.........................................................................................16
3.2. Tác động của xu hướng phát triển tài chính toàn diện tới hoạt động kinh doanh của
NHTM ACB.......................................................................................................................17
3.2.1. Hoạt động huy động vốn.......................................................................................17
3.2.2. Hoạt động cho vay................................................................................................18
3.2.3. Hoạt động phát triển sản phẩm.............................................................................19
3.2.4. Kết quả kinh doanh của ngân hàng.......................................................................20
3.3. Rào cản, thách thức mà Ngân hàng ACB cần phải đối mặt.........................................22
3.4. Khuyến nghị cho hoạt động kinh doanh của Ngân hàng ACB....................................23
TÀI LIỆU THAM KHẢO......................................................................................................25 DANH MỤC VIẾT TẮT STT Từ viết tắt Từ đầy đủ 1 NHTM Ngân hàng thương mại 2 TCTD Tài chính toàn diện 3 NHNN Ngân hàng nhà nước 4 TMCP Thương mại cổ phần 5 ATM Automatic teller machine 6 POS Point of Sale 7 VNĐ Việt Nam đồng i LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên, chúng em xin chân thành cảm ơn đến thầy cô trong Ban Giám đốc, các
phòng, khoa, bộ môn cùng các quý thầy cô của Học viện Ngân hàng đã tạo điều kiện thuận lợi
về cơ sở vật chất cũng như môi trường để chúng em được tiếp cận với môn Ngân hàng thương
mại. Đặc biệt em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến cô Trần Hải Yến – người đã trực tiếp giảng
dạy chúng em, tận tình hướng dẫn chúng em trong suốt quá trình học tập.
Tuy nhiên, do vốn kiến thức còn nhiều hạn chế và khả năng tiếp thu thực tế còn nhiều bỡ
ngỡ. Mặc dù chúng em đã cố gắng hết sức nhưng chắc chắn bài tập lớn khó có thể tránh khỏi
những thiếu sót và nhiều chỗ còn chưa chính xác, kính mong cô xem xét và góp ý để bài tập
lớn của nhóm 12 chúng em được hoàn thiện, chỉn chu hơn.
Chúng em xin chân thành cảm ơn! ii LỜI CAM ĐOAN
Chúng em xin cam đoan những kết quả nghiên cứu được thể hiện trong bài tập lớn môn
Ngân hàng thương mại với đề tài “Vai trò của ngân hàng thương mại trong phát triển tài chính
toàn diện và xu hướng phát triển tài chính toàn diện tới hoạt động kinh doanh của ACB” này là
sản phẩm riêng của cả nhóm và không có bất kỳ sự gian lận hay sao chép nào. Toàn bộ nội
dung của bài tập lớn đều được trình bày dựa trên quan điểm, kiến thức cá nhân, tích lũy, chọn
lọc và tìm hiểu từ nhiều nguồn tài liệu đáng tin cậy, có đính kèm chi tiết và hợp lệ.
Chúng em xin hoàn toàn chịu trách nhiệm và hình thức kỷ luật theo quy định nếu phát hiện
bất kỳ sai phạm hoặc gian lận nào.
Hà Nội, ngày 12 tháng 4 năm 2024
Nhóm sinh viên thực hiện NHÓM 12 iii LỜI MỞ ĐẦU
Trong xu thế hội nhập, đổi mới sáng tạo và phát triển mạnh mẽ. Thế giới chúng ta đang ở
thời đại 4.0 thời kì công nghệ, kinh tế thế giới thì ngày càng phát triển với trình độ cao thì nền
kinh tế của Việt Nam ta cũng đang dần phát triển theo xu hướng hội nhập quốc tế. Các doanh
nghiệp Việt Nam thì ngày càng đa dạng hóa, phong phú về các ngành nghề kinh doanh, hoạt
động một cách sôi nổi, đòi hỏi các biện pháp kinh tế của nhà nước cũng cần phải đổi mới để có
thể đáp ứng yêu cầu của nền kinh tế. Việc phát triển tài chính toàn diện trở thành mục tiêu
quan trọng, là vấn đề được nhiều nước trên thế giới quan tâm, hướng tới. Và Việt Nam chúng
ta cũng không ngoại lệ, phát triển tài chính toàn diện là vấn đề được Đảng và Nhà nước quan
tâm, đổi mới mô hình tăng trưởng từ chiều rộng sang chiều sâu gắn với năng suất lao động
khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo. Chúng em tập trung phân tích sự cấp thiết của xu hướng
tài chính toàn diện, trên cơ sở đó tập trung đánh giá vai trò của ngân hàng thương mại trong
công cuộc phát triển tài chính toàn diện và đưa ra ví dụ tiêu biểu là Ngân hàng ACB để phân
tích việc xu thế tài chính toàn diện tác động đến các hoạt động của ngân hàng. iv
Chương 1: SỰ CẦN THIẾT VÀ XU HƯỚNG PHÁT TRIỂN TÀI CHÍNH
TOÀN DIỆN TRÊN THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM HIỆN NAY
1.1. Khái quát về tài chính toàn diện
1.1.1. Định nghĩa tài chính toàn diện

Tổ chức tài chính hàng đầu thế giới là Ngân hàng Thế giới (World Bank) đã có định nghĩa
như sau về tài chính toàn diện: “Tài chính toàn diện có nghĩa là các cá nhân và doanh nghiệp
có thể tiếp cận và sử dụng các sản phẩm và dịch vụ tài chính - các giao dịch, thanh toán, tiết
kiệm, tín dụng và bảo hiểm - đáp ứng nhu cầu của họ và có mức chi phí hợp lý, được cung cấp
theo một cách thức có trách nhiệm và bền vững
”.
Liên minh Tài chính Toàn diện (AFI), cũng định nghĩa về tài chính toàn diện theo một cách
rộng hơn và đa chiều hơn, nhấn mạnh đến cả khía cạnh chất lượng sử dụng dịch vụ. Theo đó,
tài chính toàn diện là “Việc cung cấp cho người sử dụng các dịch vụ tài chính sẵn có với mức
chi phí hợp lý; làm cho khách hàng sử dụng các dịch vụ tài chính một cách thường xuyên; đưa
ra những dịch vụ tài chính được thiết kế phù hợp với nhu cầu của người sử dụng
”.
Tổng quát lại, tài chính toàn diện là tất cả việc cung cấp các dịch vụ tài chính chính thức
(thanh toán, chuyển tiền, tiết kiệm tín dụng, bảo hiểm) một cách thuận tiện, phù hợp với nhu
cầu và chi phí tới tất cả người dân. Tài chính toàn diện không chỉ giới hạn trong việc cải thiện
khả năng tiếp cận tín dụng mà bao gồm cả nâng cao hiểu biết về tài chính cho người dân và
bảo vệ người tiêu dùng.
1.1.2. Vai trò của tài chính toàn diện
Tài chính toàn diện đóng vai trò rất quan trọng đối với sự phát triển bền vững nền kinh tế,
xã hội của một quốc gia đặc biệt là ở các quốc gia đang phát triển như Việt Nam. Vai trò của tài
chính toàn diện được thể hiện trên những khía cạnh sau:
Thứ nhất, tài chính toàn diện thúc đẩy tăng trưởng kinh tế thông qua tăng cường khả năng
huy động vốn, tài chính toàn diện giúp huy động vốn hiệu quả từ các nguồn lực nhàn rỗi trong
xã hội các khoản tiết kiệm , đặc biệt là từ người có thu nhập thấp và dễ bị tổn thương. Nguồn
vốn này được sử dụng cho các hoạt động đầu tư, sản xuất kinh doanh, góp phần thúc đẩy tăng
trưởng kinh tế. Bên cạnh đó nó còn giúp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, khi người dân và
doanh nghiệp có quyền tiếp cận các dịch vụ tài chính phù hợp, họ sẽ sử dụng vốn hiệu quả
hơn, tránh lãng phí và đầu tư vào những dự án có tiềm năng sinh lời cao.
Thứ hai, tài chính toàn diện góp phần cải thiện thu nhập, xóa đói giảm nghèo và tăng phúc
lợi cho người nghèo được tiếp cận các sản phẩm, dịch vụ tài chính như tiết kiệm, dịch vụ thanh
toán, chuyển tiền, tín dụng và bảo hiểm. Giúp người nghèo tăng khả năng tích lũy tài sản,
chống chịu trước những cú sốc kinh tế cũng như giảm thiểu được rủi ro trong kinh tế. Đồng
thời giúp họ có vốn đầu tư sản xuất kinh doanh, cải thiện thu nhập tăng cường khả năng tiếp
cận các dịch vụ thiết yếu như giáo dục, y tế, nhà ở,... 1
Thứ ba, tài chính toàn diện góp phần hạn chế thông tin tài chính bất đối xứng, giảm chi phí
giao dịch ký kết hợp đồng. Các chính sách tài chính toàn diện hiệu quả tác động lên các ngành
kinh tế, góp phần giảm nghèo và tăng trưởng kinh tế nhanh.
Thứ tư, tài chính toàn diện còn giúp Chính phủ giảm bớt chi phí cho các chương trình trợ
cấp an sinh xã hội thông qua việc chi trả qua tài khoản ngân hàng, làm tăng sự minh bạch,
phòng chống tham nhũng tích cực hơn, nhờ đó quản lý xã hội tốt hơn. Một xã hội với cơ hội
tiếp cận dịch vụ tài chính mở rộng cho tất cả mọi người sẽ tăng cường sự tham gia của họ vào
cuộc sống cộng đồng nói chung, cải thiện công bằng và bình đẳng, năng lực của toàn xã hội
theo đó cũng được nâng lên. Không chỉ thế tài chính toàn diện còn đóng góp vào tăng trưởng
kinh tế thông qua tạo giá trị cho các doanh nghiệp nhỏ, đem lại tác động lớn cho việc cải thiện
các chỉ số phát triển con người như y tế, dinh dưỡng, giáo dục và đẩy lùi bất bình đẳng, nghèo đói.
Cuối cùng, tài chính toàn diện còn nâng cao năng lực tài chính cho người dân. Giúp người
dân hiểu biết về tài chính nâng cao kiến thức và kỹ năng về tài chính, từ đó có thể đưa ra các
quyết định tài chính sáng suốt. Cũng như bảo vệ người tiêu dùng khỏi các sản phẩm và dịch
vụ tài chính lừa đảo, không an toàn.
1.1.3. Những rào cản đối với tài chính toàn diện
Rào cản về phía cung: Hệ thống thanh toán chưa hoàn thiện, đặc biệt là ở khu vực nông
thôn và vùng sâu vùng xa. Mạng lưới chi nhánh ngân hàng và tổ chức tài chính vi mô còn hạn
chế, chất lượng dịch vụ còn tương đối thấp. Sản phẩm và dịch vụ tài chính chưa đa dạng, chủ
yếu dành cho người có thu nhập cao và doanh nghiệp, những yêu cầu về hồ sơ giấy tờ cần có
để mở tài khoản trên thực tế đã loại trừ nhiều người ở khu vực nông thôn hay những người lao
động tự do, là những người khó chứng minh thu nhập hay nơi cư trú chính thức. Ngoài ra còn
chưa đáp ứng được nhu cầu của người có thu nhập thấp và dễ bị tổn thương và chi phí dịch vụ
cao. Bên cạnh đó còn thiếu hụt về nguồn nhân lực có trình độ chuyên môn cao và am hiểu có
kiến thức về tài chính toàn diện, cũng như năng lực quản lý rủi ro còn hạn chế.
Rào cản về phía cầu: Nhận thức về tài chính của người dân chưa hiểu rõ về lợi ích cũng
như chưa có kiến thức hiểu biết về tài chính toàn diện. Người dân thường có xu hướng e ngại
rủi ro khi sử dụng các dịch vụ tài chính, đặc biệt là các dịch vụ mới. Khả năng tiếp cận tài
chính đối với người có thu nhập thấp thường gặp khó khăn chủ yếu là do thiếu tài sản thế chấp,
thủ tục vay vốn phức tạp hay chi phí giao dịch cao. Cũng như năng lực tài chính của người dân
còn hạn chế về kỹ năng quản lý tài chính.
Rào cản về môi trường pháp lý: Hệ thống pháp luật liên quan đến tài chính toàn diện chưa
hoàn thiện, thiếu đồng bộ và cập nhật, quy định về hoạt động còn lỏng lẻo. Cũng như việc
giám sát và quản lý các hoạt động tài chính còn lỏng lẻo, tạo điều kiện cho các hoạt động lừa
đảo và gian lận xảy ra. 2
Rào cản về văn hóa, ngôn ngữ: Một số người dân còn có quan niệm truyền thống về tiền tệ,
họ thích tích trữ tiền mặt hơn là sử dụng các dịch vụ tài chính. Cũng như một số người dân gặp
khó khăn trong việc sử dụng các dịch vụ tài chính do không biết ngôn ngữ.
1.1.4. Các thước đo tài chính toàn diện
Tài chính toàn diện được đo lường dựa trên 03 khía cạnh là mức độ bao phủ của các tổ
chức tín dụng, mức độ sử dụng các sản phẩm và dịch vụ tài chính, và chất lượng sản phẩm dịch vụ tài chính.
Nhóm chỉ số thể hiện mức độ bao phủ của các tở chức tín dụng: bao gồm số lượng chi
nhánh/phòng giao dịch trên một kilomet vuông (1000 m2) hay trên 1000 dân, số lượng máy
ATM trên một kilomet vuông (1000 m2) hay trên 1000 dân.
Nhóm chỉ số thể hiện mức độ sử dụng các sản phẩm và dịch vụ tài chính: là các chỉ số liên
quan tới tần suất sử dụng sản phẩm và dịch vụ tài chính như phần trăm số lượng tài khoản tiền
gửi và ghi nợ trên tổng dân số, số lượng giao dịch trên mỗi tài khoản tiền gửi, số lượng giao dịch điện tử.
Nhóm chỉ số thể hiện chất lượng sản phẩm dịch vụ tài chính: Thước đo này đánh giá mức
độ phù hợp của các sản phẩm và dịch vụ tài chính với nhu cầu của người dân. Cũng như các
chỉ số phản ánh nhận thức tài chính của người trưởng thành, hành vi ứng xử đối với các vấn đề
tài chính của người trưởng thành, yêu cầu về minh bạch thông tin, cơ chế giải quyết tranh
chấp, rào cản khi tiếp cận dịch vụ tài chính…
Hiện nay, các tổ chức quốc tế, các quốc gia triển khai chương trình tài chính toàn diện đã
thống nhất sử dụng 24 tiêu chí đánh giá tài chính toàn diện do G20 đưa ra tại hội nghị Thượng
đỉnh Saint Petersburg năm 2012 dựa trên 3 khía cạnh trên.
1.2. Sự cần thiết của tài chính toàn diện
Tài chính toàn diện mang lại những lợi ích, tác động tích cực đến sự phát triển kinh tế, xã
hội, đặc biệt hướng lợi ích đến các đối tượng có năng lực tài chính trung bình thấp và dễ bị tổn thương.
Sự cần thiết của tài chính toàn diện: a) Cải thiện đời sống
Giúp người dân quản lý tài chính hiệu quả, chi tiêu hợp lý, tiết kiệm và đầu tư cho tương lai.
Tăng cường khả năng ứng phó với rủi ro tài chính, giảm bớt gánh nặng kinh tế trước
những biến động bất ngờ.
Góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống, tạo điều kiện cho việc học tập, phát triển
kinh tế và an sinh xã hội. b) Thúc đẩy bình đẳng
Tài chính toàn diện mang lại khả năng tiếp cận với các dịch vụ tài chính và các cơ hội
tài chính, tạo điều kiện để nâng cao năng lực tài chính, địa vị, thu nhập cho mọi người 3
bất kể giới tính, đặc biệt là những nhóm yếu thế như người nghèo, người thu nhập thấp,
phụ nữ, khu vực nông thôn. Từ đó góp phần rút ngắn khoảng cách giới, bình đẳng trong cộng đồng.
Giảm thiểu bất bình đẳng thu nhập, tạo điều kiện cho mọi người tham gia vào nền kinh
tế một cách bình đẳng.
c) Tạo điều kiện cho mọi người có khả năng và công cụ để quản lý và tiết kiệm tiền của
họ; hỗ trợ phát triển đối với doanh nghiệp
Với sự hỗ trợ đắc lực của yếu tố công nghệ, việc tiếp cận và sử dụng với nhiều dịch vụ
tài chính an toàn, đảm bảo, mở ra cho cá nhân và doanh nghiệp vừa và nhỏ các cơ hội
tiết kiệm và đầu tư an toàn.
Cung cấp nguồn vốn cho doanh nghiệp hoạt động, đầu tư và mở rộng kinh doanh.
Giúp doanh nghiệp quản lý rủi ro tài chính, nâng cao hiệu quả hoạt động.
Thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và tạo ra việc làm.
d) Thúc đẩy tăng trưởng kinh tế
Tăng cường huy động vốn và sử dụng hiệu quả nguồn lực tài chính trong xã hội.
Khuyến khích đầu tư, tiết kiệm và khởi nghiệp.
Góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế bền vững.
e) Trang bị các kỹ năng và kiến thức để đưa ra các quyết định tài chính đúng đắn
Tài chính toàn diện trang bị cho các cá nhân, tổ chức các kiến thức về tài chính để có
thể đưa ra những quyết định đầu tư, tiết kiệm và tiêu dùng thông minh cũng như khả
năng lên kế hoạch quản lý tài chính
Ngày càng xây dựng được một sức khoẻ tài chính vững vàng hơn trong tương lai cho cá nhân và cho doanh nghiệp. f) Xoá đói giảm nghèo
Cơ hội tiếp cận với các dịch vụ tài chính: tiết kiệm, tín dụng, bảo hiểm và nhiều các quỹ
tài chính, tổ chức tài chính chính thống,… mang lại cho người lao động thu nhập trung
bình và thấp có nhiều lựa chọn với mức chi phí hợp lý, nhằm giải quyết các vấn đề tài chính các nhân.
Giảm thiểu rủi ro rơi vào bẫy tín dụng đen, gây ảnh hưởng tiêu cực lên cuộc sống nói
chung và tài chính cá nhân nói riêng.
Kết luận: Tài chính toàn diện đóng vai trò quan trọng trong việc cải thiện đời sống của
người dân, thúc đẩy phát triển kinh tế và giảm nghèo. Cần có sự phối hợp của các bên liên
quan, bao gồm chính phủ, các tổ chức tài chính, doanh nghiệp và người dân để thúc đẩy tài
chính toàn diện một cách hiệu quả và bền vững. 4
1.3. Xu hướng phát triển tài chính toàn diện
1.3.1. Trên thế giới

Đến nay, trên toàn thế giới đã có hơn 80 quốc gia đã và đang triển khai Chiến lược tài
chính toàn diện quốc gia. Các quốc gia theo đuổi mục tiêu tài chính toàn diện đều đưa ra nhiều
giải pháp áp dụng những đổi mới sáng tạo trong lĩnh vực công nghệ tài chính, tập trung vào
việc giảm chi phí, an toàn và thuận tiện, nhờ đó nâng cao khả năng tiếp cận dịch vụ tài chính
cho người dân, đặc biệt là những người từ trước đến nay chưa được các ngân hàng phục vụ.
Kết quả triển khai thực hiện tài chính toàn diện ở những quốc gia này được ghi nhận đã đóng
góp lớn vào xóa đói, giảm nghèo, tạo việc làm, tăng sinh kế cho người dân và doanh nghiệp,
hỗ trợ ổn định tài chính và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế một cách bền vững. Thành công nhất
có thể kể đến những quốc gia như Colombia, Brazil ở Nam Mỹ, Tanzania, Kenya ở châu Phi
hay Ấn Độ, Malaysia ở châu Á. Trong số đó:
Malaysia: đạt được một mức độ cao nhất về tài chính toàn diện, với 96% người trưởng
thành có tài khoản tính đến cuối năm 2019.
Kenya: M-Pesa, dịch vụ thanh toán di động, đã giúp gia tăng tỷ lệ người dân có tài khoản ngân hàng.
Ấn Độ: Pradhan Mantri Jan Dhan Yojana (PMJDY), chương trình tài chính toàn diện
quốc gia, đã mở tài khoản ngân hàng cho hàng triệu người dân.
Indonesia: Laku Pandai, chương trình đại lý ngân hàng, đã giúp người dân ở khu vực
nông thôn tiếp cận các dịch vụ tài chính.
Cơ chế phối hợp triển khai thực hiện Chiến lược tài chính toàn diện: a) Cấp quốc gia
Thành lập ban chỉ đạo hoặc ủy ban tài chính toàn diện quốc gia, với sự tham gia của các
bên liên quan như chính phủ, các tổ chức tài chính, doanh nghiệp và người dân.
Phát triển và thực hiện chiến lược tài chính toàn diện quốc gia, bao gồm các mục tiêu,
nhiệm vụ và giải pháp cụ thể.
Phân công trách nhiệm cho các bên liên quan trong việc triển khai chiến lược. b) Cấp địa phương
Thành lập ban chỉ đạo hoặc ủy ban tài chính toàn diện cấp địa phương.
Phối hợp với các bên liên quan để triển khai các hoạt động tài chính toàn diện phù hợp
với điều kiện địa phương.
c) Một số mô hình phối hợp hiệu quả
Mô hình "Hội đồng tư vấn tài chính toàn diện": được áp dụng ở Kenya, với sự tham gia
của các bên liên quan từ khu vực công và tư nhân.
Mô hình "Nhóm công tác tài chính toàn diện": được áp dụng ở Indonesia, tập trung vào
việc phối hợp các hoạt động giữa các bộ, ngành và cơ quan liên quan. 5
Theo World Bank (2018), trong số tất cả các quốc gia đã và đang triển khai Chiến lược tài
chính toàn diện quốc gia, kể cả ở các nước có một đơn vị đầu mối duy nhất thì cũng thường
xuyên có sự tham gia của nhiều bên liên quan.
Tại Jamaica, để triển khai Chiến lược tài chính toàn diện, Hội đồng Quốc gia về tài chính
toàn diện được thành lập, trong đó gồm ba cấu phần chính: Ban chỉ đạo về tài chính toàn diện,
Ban tham vấn các bên liên quan (khu vực tư nhân, xã hội dân sự) và Ban thư ký kỹ thuật.
Tại Tanzania, khuôn khổ tài chính toàn diện bao gồm cả cơ chế kiểm tra, giám sát thực
hiện để bảo đảm rằng các bên liên quan phải triển khai những lĩnh vực ưu tiên chủ yếu. Có ba
cấp được thành lập, gồm: Hội đồng quốc gia (National Council - NC), Ban chỉ đạo quốc gia
(National Steering Committee - NSC) và Ủy ban Kỹ thuật quốc gia (National Technical
Committee - NTC) về tài chính toàn diện. Ngân hàng Trung ương Tanzania là thư ký thường
trực cho tất cả các Ủy ban.
1.3.2. Việt Nam
a) Định hướng thúc đẩy tài chính toàn diện
Tại Việt Nam, khái niệm tài chính toàn diện được định nghĩa trong Chiến lược tài chính
toàn diện quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030 như sau: “Tài chính toàn diện là
việc mọi người dân và doanh nghiệp được tiếp cận và sử dụng các sản phẩm dịch vụ tài chính
một cách thuận tiện, phù hợp nhu cầu, với chi phí hợp lý, được cung cấp một cách có trách
nhiệm và bền vững, trong đó chú trọng đến nhóm người nghèo, người thu nhập thấp, người
yếu thế, doanh nghiệp nhỏ và vừa, doanh nghiệp siêu nhỏ”. Mục tiêu
Mục tiêu chung: Mọi người dân và doanh nghiệp đều được tiếp cận và sử dụng các sản
phẩm, dịch vụ tài chính phù hợp nhu cầu, an toàn, thuận tiện, với chi phí hợp lý, do các tổ chức
được cấp phép cung ứng một cách có trách nhiệm và bền vững.
Trong đó, chỉ tiêu đặt ra là phấn đấu đạt được:
Tăng tỷ lệ người trưởng thành có tài khoản ngân hàng thanh toán hoạt động từ 80% đến cuối năm 2025.
Tiến tới mỗi người trưởng thành có ít nhất một tài khoản giao dịch tại ngân hàng hoặc
các tổ chức được phép khác vào năm 2030.
Ít nhất 20 chi nhánh, phòng giao dịch của NHTM trên 100.000 người trưởng thành.
Ít nhất 50% tổng số xã có điểm cung ứng dịch vụ tài chính (chi nhánh, phòng giao dịch
của tổ chức tín dụng và đại lý ngân hàng; ngoại trừ điểm cung ứng dịch vụ tài chính của
Ngân hàng Chính sách xã hội)
Ít nhất 25%-30% người trưởng thành gửi tiết kiệm tại tổ chức tín dụng.
Số lượng giao dịch thanh toán không dùng tiền mặt đạt tốc độ tăng từ 20%-25% hàng năm.
Ít nhất 250.000 doanh nghiệp nhỏ và vừa có dư nợ tại các tổ chức tín dụng. 6
Dư nợ tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn trên tổng dư nợ tín dụng đối
với nền kinh tế đạt 25%; doanh thu phí bảo hiểm bình quân GDP là 3,5%.
Ít nhất 70% người trưởng thành có thông tin về lịch sử tín dụng trong hệ thống thông
tin tín dụng của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.
Một số định hướng cụ thể
Phát triển tài chính vi mô: Hỗ trợ các tổ chức tài chính vi mô cung cấp các sản phẩm,
dịch vụ tài chính phù hợp với nhu cầu của người nghèo và người thu nhập thấp.
Phát triển tài chính công nghệ: Khuyến khích ứng dụng công nghệ trong cung cấp dịch
vụ tài chính, đặc biệt là thanh toán điện tử.
Phát triển tài chính xanh: Hỗ trợ các tổ chức tài chính cung cấp các sản phẩm, dịch vụ
tài chính cho các dự án bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu
b) Thực trạng tài chính toàn diện Cơ hội:
Thực tế qua hơn 3 năm, Việt Nam đã nỗ lực triển khai đồng bộ các nhiệm vụ, giải
pháp của Chiến lược tài chính toàn diện và đạt được nhiều thành tựu đáng kể trong
việc nâng cao khả năng tiếp cận sản phẩm, dịch vụ tài chính cho người dân, doanh
nghiệp trong nền kinh tế. Theo đó, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam - cơ quan đầu
mối về tài chính toàn diện đã phối hợp với các bộ, ngành, địa phương, các cơ quan
có liên quan để nâng cao nhận thức về tài chính toàn diện cũng như phối hợp với
các NHTM trong việc cải thiện khả năng tiếp cận dịch vụ tài chính. Qua đó, công
tác giáo dục tài chính, nâng cao năng lực và kiến thức tài chính, bảo vệ người tiêu
dùng tài chính đã được quan tâm, tích cực triển khai.
Đặc biệt, một số giải pháp quan trọng góp phần đẩy mạnh khả năng tiếp cận các sản
phẩm, dịch vụ tài chính của người dân và doanh nghiệp đã được các bộ, ngành tích
cực phối hợp thực hiện như: ban hành quy định cho phép mở tài khoản thanh toán
bằng phương thức điện tử; triển khai thí điểm dùng tài khoản viễn thông thanh toán
cho các hàng hóa, dịch vụ có giá trị nhỏ như Mobile Money; xây dựng và chính
thức vận hành hệ thống Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư...
Cơ sở hạ tầng tài chính tiếp tục được hoàn thiê ‘ n và tăng hiê ‘u quả sử dụng. Ngân
hàng Nhà nước tiếp tục đầu tư, nâng cấp các hê ‘ thống thanh toán quan trọng.
Công tác truyền thông về hoạt động thanh toán và dịch vụ ngân hàng được đẩy
mạnh. Thông qua đó, đẩy mạnh thực hiện Đề án phát triển thanh toán không dùng
tiền mặt tại Việt Nam và Đề án nâng cao khả năng tiếp cận dịch vụ ngân hàng cho nền kinh tế.
Các sản phẩm, dịch vụ tài chính cơ bản, hướng đến những đối tượng mục tiêu của
tài chính toàn diện được tích cực cải thiê ‘n. Ngân hàng Nhà nước đã chỉ đạo các
NHTM, tổ chức trung gian thanh toán. Qua đó, các NHTM Việt Nam có sự chuyển
biến rõ rệt, quan tâm nhiều hơn tới cung cấp dịch vụ, sản phẩm cho những thành 7
phần kinh tế trước đây vốn không phải là đối tượng chú trọng của ngân hàng. Phần
lớn các ngân hàng đã cung cấp các dịch vụ tiện ích như: thanh toán tiền điện, nước,
cước phí điện thoại, viễn thông, phí bảo hiểm, thu học phí thông qua kênh Internet
banking và Mobile banking. Các ngân hàng cũng phối hợp Tổng cục Hải quan cho
việc nộp thuế… Mặt khác, các ngân hàng còn tích cực hợp tác với các doanh nghiệp
lớn để tận dụng lợi thế của mỗi bên trong việc cung cấp các sản phẩm, dịch vụ tới số đông khách hàng.
Ngoài ra, hệ thống các tổ chức tín dụng Việt Nam ngày càng phát triển hiệu quả,
bền vững. Cùng với đó, dịch vụ tài chính số đạt tốc độ tăng trưởng cao, đem lại
nhiều cơ hội cho ngân hàng cũng như giúp cho khách hàng tiếp cận sản phẩm dịch
vụ đa dạng tiện ích phù hợp với nhu cầu và với chi phí thấp… Năm 2022, thanh
toán qua kênh Internet tăng 89,36% về số lượng và 40,55% về giá trị; qua kênh điện
thoại di động tăng 116,1% về số lượng và 92,3% về giá trị; qua phương thức QR
code tăng 182,5% về số lượng và 210,6% về giá trị, tỷ trọng các giao dịch rút tiền
mặt xử lý qua hệ thống Napas đã giảm từ 12% năm 2021 xuống chỉ còn 6,56% năm 2022.
Một số khó khăn, thách thức:
Bên cạnh kết quả tích cực đã đạt được, theo Ngân hàng Nhà nước (2022), việc triển khai
thực hiện chiến lược tài chính toàn diện quốc gia vẫn gặp không ít khó khăn, thách thức.
Thứ nhất, khuôn khổ pháp lý hiê ‘ n hành còn bất cập, chưa bắt kịp đòi hỏi của thực
tiễn, nhất là trong bối cảnh phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghê ‘, xuất hiê ‘n
thêm các kênh phân phối, sản phẩm, dịch vụ tài chính mới dựa trên đổi mới sáng tạo
và ứng dụng công nghệ số nhưng cũng tiềm ẩn rủi ro.
Thứ hai, mạng lưới chi nhánh, phòng giao dịch, hê ‘ thống POS/ATM của các tổ chức
tín dụng phân bố chủ yếu ở khu vực thành thị, các khu kinh tế phát triển, khu đông
dân cư, trong khi còn hạn chế tại các địa bàn nông thôn, vùng sâu, vùng xa.
Thứ ba, thanh toán không dùng tiền mặt mặc dù đã đạt được những kết quả đáng kể,
tuy nhiên một bộ phận dân cư, đặc biệt là nhóm người cao tuổi, người dân ở vùng
nông thôn, vùng sâu, vùng xa vẫn chưa sử dụng phổ biến hình thức thanh toán này.
Thứ tư, sản xuất nông nghiệp còn thiếu các biện pháp, công cụ phòng ngừa để hạn
chế rủi ro, chính sách bảo hiểm nông nghiệp chậm triển khai; các cơ chế hỗ trợ tiếp
cận vốn cho doanh nghiê ‘p nhỏ và vừa thông qua bảo lãnh của Quỹ bảo lãnh tín
dụng, hỗ trợ vốn của Quỹ phát triển doanh nghiê ‘p nhỏ và vừa chưa đạt được như kỳ vọng.
Thứ năm, cơ sở dữ liệu về tài chính toàn diện vẫn chưa hoàn thiện, tạo không ít khó
khăn cho công tác giám sát, đánh giá việc thực thi các nhiệm vụ, giải pháp của
Chiến lược tài chính toàn diện. 8
Thứ sáu, công tác truyền thông về tài chính toàn diê ‘ n chưa thực sự đa dạng, phong phú.
Ngoài ra, sự bùng phát của đại dịch Covid-19 đã để lại những hệ quả nặng nề đến
mọi mặt của đời sống kinh tế - xã hội, hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh
nghiệp và đời sống của người dân khó khăn cũng có tác đô ‘ng không nhỏ tới kết quả
thực hiê ‘n các mục tiêu của Chiến lược tài chính toàn diện quốc gia đến năm 2025,
định hướng đến năm 2030.
Khung khổ chiến lược:
Chiến lược được xây dựng trên năm nguyên tắc cơ bản, đó là có sự tham gia và phối
hợp chặt chẽ của tất cả các ngành, lĩnh vực.
Ứng dụng công nghệ hiện đại, đổi mới sáng tạo.
Đảm bảo sự an toàn, hiệu quả và bền vững của hệ thống tài chính, an toàn, bảo mật thông tin cho khách hàng.
Áp dụng kinh nghiệm quốc tế về các giải pháp đột phá thúc đẩy tài chính toàn diện.
Chiến lược đã đặt ra mục tiêu tổng quát cùng sáu mục tiêu cụ thể, chín chỉ tiêu đánh
giá, và sáu nhóm nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu. 9
Chương 2: VAI TRÒ CỦA CÁC NHTM TRONG PHÁT TRIỂN
TÀI CHÍNH TOÀN DIỆN
2.1. Vai trò của NHTM trong phát triển tài chính toàn diện
Nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng: các NHTM luôn đóng vai trò vô cùng quan trọng trong việc
thực hiện tài chính toàn diện ở các quốc gia như Ravikumar (2012), Abbey, Odonkor và
Boateng (2014), Hastak và Gaikwad (2015), Garg (2015). Với lợi thế mạng lưới rộng rãi, sản
phẩm dịch vụ đa dạng, ngân hàng đóng vai trò chủ đạo trong việc cung cấp các sản phẩm tài
chính đến cho các đối tượng dân cư trong nền kinh tế.
Thông qua nghiên cứu của Neha Garg (2015) và Raihanath. MH, K. P. Pavithran (2014) đã
chỉ ra một số yếu tố chính để thấy rõ được vai trò vô cùng to lớn của các NHTM trong việc
thúc đẩy tài chính toàn diện. Cụ thể đó là:
Thứ nhất: Sự sẵn có của các sản phẩm ngân hàng. Trước đây, đối với người dân có mức
thu nhập thấp, việc tiếp cận tới các sản phẩm ngân hàng là rất khó khăn. Không phải người dân
nào cũng có khả năng và nhu cầu vay vốn, đầu tư, tiết kiệm. Tuy nhiên trong thời gian qua,
nhờ sự cải tiến, phát triển của khoa học, công nghệ cũng như các chính sách hỗ trợ đã giúp khả
năng tiếp cận các dịch vụ tài chính thông qua ngân hàng của người nghèo bắt đầu gia tăng.
Chính điều này đóng góp một phần không nhỏ vào công cuộc phát triển tài chính toàn diện.
Thứ hai: Khả năng tiếp cận của các chi nhánh ngân hàng. Những quốc gia có mức độ tài
chính toàn diện thấp thường do nhóm khách hàng gặp khó khăn hoặc mất nhiều thời gian, công
sức hơn trong việc tiếp cận với các dịch vụ tài chính và kênh phân phối của ngân hàng. Hệ
thống các NHTM với mạng lưới rộng khắp, các quy định thành lập chi nhánh tại các quốc gia
giúp mang các sản phẩm dịch vụ tới người dân từ các thành phố lớn tới nông thôn và đô thị
nghèo. Bởi vậy có thể nói rằng, tại một số quốc gia trên thế giới, mật độ dân số trên một ngân
hàng được coi là chỉ tiêu đánh giá mức độ, vai trò của ngân hàng đối với phát triển tài chính toàn diện.
Thứ ba: Mobile banking. Mobile banking cung cấp chức năng xem xét về mức độ giao
dịch tài khoản, kiểm tra giao dịch trên tài khoản, thanh toán online qua điện thoại di động một
cách nhanh chóng, thuận tiện, dễ dàng. Điều này khuyến khích số lượng lớn người sử dụng
giao dịch ngân hàng qua điện thoại di động, mua bán hàng hóa qua internet hoặc tin nhắn điện
thoại, chuyển tiền online, thanh toán hàng hóa tại các điểm bán. Với sự phát triển không
ngừng, kèm theo việc áp dụng công nghệ thông tin hiện đại, ngân hàng đã và đang đáp ứng đầy
đủ các nhu cầu khách hàng mọi lúc, mọi nơi.
Thứ tư: Nâng cao dân trí tài chính. Một bộ phận khách hàng không có lợi thế nằm ngoài
hệ thống ngân hàng do sự thiếu hiểu biết về hệ thống tài chính. Cung cấp dịch vụ tìm hiểu về
tài chính là chức năng cốt lõi của tổ chức tài chính. Ngân hàng thực hiện các chức năng giúp
nâng cao hiểu biết của người dân về tài chính như: cung cấp thông tin liên quan đến dịch vụ tài
chính, mở rộng giáo dục tài chính, cung cấp các sản phẩm tài chính điện tử… Mục tiêu cuối 10
cùng là mang lại cho người dân hiểu được lợi ích cá nhân khi sử dụng các dịch vụ tài chính
cũng như có những kiến thức nhất định về quản lý tài chính cá nhân.
2.2. Đánh giá vai trò của NHTM trong phát triển tài chính toàn diện ở Việt Nam
NHTM đóng vai trò trụ cột trong việc thúc đẩy tài chính toàn diện ở Việt Nam, góp phần
hiện thực hóa mục tiêu đưa dịch vụ tài chính đến với mọi người dân, đặc biệt là các nhóm đối
tượng khó tiếp cận. Để đánh giá phát triển tài chính toàn diện thông qua ngân hàng tại Việt
Nam, ta xét tới ba nhóm chỉ tiêu chính:
Mức độ bao phủ của hệ thống ngân hàng.
Tính sẵn có của các dịch vụ ngân hàng.
Mức độ sử dụng các hệ thống ngân hàng.
2.2.1. Mức độ bao phủ của hệ thống ngân hàng
Số lượng các ngân hàng trong hệ thống có tác động tới lượng người có thể tiếp cận và được
sử dụng các dịch vụ ngân hàng tài chính chính thức. Lượng ngân hàng càng nhiều thì mức độ
bao phủ của hệ thống ngân hàng càng lớn (Ravikumar, 2012). Từ đó, đối với một hệ thống tài
chính toàn diện, các dịch vụ ngân hàng nên có càng nhiều người dùng càng tốt, nghĩa là một hệ
thống tài chính thâm nhập rộng rãi giữa những người dùng của nó.
Bảng 2.1: Mức độ bao phủ của chi nhánh ngân hàng tại Việt Nam giai đoạn 2012 – 2018 Nguồn: WB, IMF
Ta thấy được rằng, nhìn chung có xu hướng tăng trưởng đều đặn, về mức độ bao phủ của
các chi nhánh ngân hàng theo địa lý: cứ mỗi 1000km2 thì có 6,4 chi nhánh ngân hàng vào năm
2012, trong khi con số này vào năm 2018 là 8,64. Tương tự như vậy về mức độ bao phủ của
chi nhánh ngân hàng theo dân số, nếu trong năm 2012 có 3,1 chi nhánh trên mỗi 100.000
người trưởng thành thì con số này đến năm 2016 là 3,92 chi nhánh. Có một sự giảm nhẹ về
mức độ bao phủ của chi nhánh ngân hàng trong năm 2015, nguyên nhân chính là do ba thương
vụ NHNN mua lại ngân hàng yếu kém để tái cơ cấu các ngân hàng này.
Viê ‘t Nam nằm trong nhóm các quốc gia có số lượng tài khoản trên 1.000 người thấp. Bình
quân cứ 1.000 người Viê ‘t Nam có 783,01 tài khoản, thấp hơn so với bình quân chung của khối
các nước ASEAN. Điều này có thể được lý giải do các nguyên nhân chính sau:
(1) Do người dân Viê ‘t Nam vẫn duy trì thói quen sử dụng tiền mă ‘t và chưa hoàn toàn tin
tưởng vào hê ‘ thống tài chính của quốc gia.
(2) Do thu nhập của người dân Việt Nam còn thấp, dẫn đến nhu cầu sử dụng các dịch vụ
ngân hàng thấp, cũng như tâm lý e ngại, chưa có sự tin tưởng vào các tổ chức tài chính. Tỷ lệ 11
nghèo ở Việt Nam còn khá cao, với khoảng 30% dân số nằm trong nhóm ít an toàn về kinh tế
và diện nghèo, thường những hộ nghèo tập trung ở những vùng cao nguyên và vùng núi
(World Bank, 2018). Đây chính là con số mang tính thử thách khá lớn cho quá trình thực thi
Chiến lược phát triển tài chính toàn diện quốc gia.
(3) Chưa có nhiều chi nhánh các ngân hàng ở những vùng nông thôn, cao nguyên, miền núi
khiến cho khả năng tiếp cận đối với nhóm khách hàng ở đây càng khó khăn hơn.
Mặc dù, ngân hàng số đang là xu hướng trong tương lai, nhưng việc nhiều ngân hàng
không ngừng mở rộng độ phủ của mình tại các địa phương cho thấy việc tiếp cận khách hàng
một cách trực tiếp vẫn được nhà băng chú trọng. Theo chuyên gia, việc các ngân hàng vẫn tiếp
tục có kế hoạch mở rộng thêm độ phủ sóng của mình xuất phát từ tâm lý và thói quen của đa
số người dân. Thực tế, rất nhiều ATM hiện nay được đặt trong các phòng giao dịch của ngân
hàng, người dân hoàn toàn có thể thao tác một số tính năng giao dịch phổ biến và đơn giản như
rút/chuyển tiền liên ngân hàng nhưng theo thói quen, họ vẫn tiến tới quầy giao dịch trực tiếp.
Bên cạnh đó, “ở những nơi có tỷ lệ người dân sử dụng Internet và điện thoại để xử lý giao dịch
thấp, sự hiện diện vật lý bằng các phòng giao dịch/chi nhánh vẫn được nhiều ngân hàng chú
trọng. Cùng với đó là nâng cao chất lượng dịch vụ, tư vấn và hỗ trợ thủ tục cho khách hàng.
Trong giai đoạn trước khi có thể chuyển dịch sang kênh số, thì nhà băng sẽ tiếp tục gia tăng
mở rộng độ phủ sóng của mình, để tiếp cận gần hơn với khách hàng” – theo chuyên gia.
Thực tế ở Việt Nam hiện nay, sự có mặt của các NHTM sẽ tạo ra tính cạnh tranh hơn về
tính đa dạng của dịch vụ tài chính, có thể đem lại tiện ích cao hơn cho người dân, nhất là ở
những khu vực vùng sâu, vùng xa, từ đó thúc đẩy kinh tế ở những khu vực này phát triển.
Nhóm nghiên cứu của ThS. Lương Minh Hà và TS. Đỗ Thị Hồng Hạnh (Học viện Ngân hàng)
nhận định: Ở Việt Nam, mở rộng mạng lưới kinh doanh của các ngân hàng được xem là một
trong những chìa khoá để phổ cập các dịch vụ tài chính tới mọi đối tượng dân cư. Khi hiện
nay, khoảng 80% nguồn vốn phục vụ đầu tư cho nền kinh tế bắt nguồn từ khu vực các TCTD,
chủ lực là hệ thống ngân hàng. Nhưng mức độ bao phủ của các TCTD ở vùng sâu, vùng xa,
vùng kinh tế khó khăn vẫn còn khiêm tốn. Do đó, theo nhóm nghiên cứu, phát triển mạng lưới
điểm giao dịch tiếp cận nhiều hơn nữa tới người dân là nhu cầu cấp thiết và thực tế cũng cho
thấy có giải pháp đã giải quyết được phần nào bài toán về khoảng cách tiếp cận dịch vụ ngân hàng.
2.2.2 Tính sẵn có của các dịch vụ ngân hàng
Theo số liê ‘u từ khảo sát của IMF năm 2020, bình quân qua các năm của cả khối ASEAN,
cứ 100.000 người dân sẽ có 8.796 chi nhánh ngân hàng và 48.605 máy ATM phục vụ. Trong
đó, Brunei, Indonesia, Thái Lan và Malaysia là 4 quốc gia có số lượng chi nhánh ngân hàng
khá cao, bình quân mỗi năm cứ 100.000 người dân ở các nước này lần lượt có 20,66 chi nhánh;
15,87 chi nhánh; 11,83 chi nhánh và 10,68 chi nhánh. Các quốc gia còn lại số lượng chi nhánh
ngân hàng thấp hơn so với bình quân chung, bao gồm Campuchia, Philippines và Viê ‘t Nam,
trong đó Viê ‘t Nam con số này chỉ ở mức 3,63 chi nhánh ngân hàng. 12
Bảng 2.2: Chỉ số về tính sẵn có của dịch vụ tài chính của các nước ASEAN giai đoạn 2010 - 2019
Nguồn: IMF Financial Access Survey
Qua số liệu tính toán cho thấy, Việt Nam có mức độ tài chính toàn diện trung bình. Tốc độ
thay đổi chỉ số về tính sẵn có của các dịch vụ tài chính từ năm 2010 – 2019 tăng khá đều, song
tốc độ không nhanh bằng các nước khác như Brunei, Thái Lan,…
Sở dĩ chỉ số tài chính toàn diện được cải thiện do Chính phủ đã kịp thời ban hành những đề
án thiết thực như đề án thanh toán không dùng tiền mặt. Dưới sự chỉ đạo của Chính phủ,
NHNN đã chủ trương mở rộng các nguồn tín dụng ngân hàng cho vay với lãi suất và thời hạn
hợp lý, đặc biệt các khoản vay không cần tài sản thế chấp và dịch vụ cung cấp phục vụ tận
thôn xóm, thủ tục nhanh gọn. Dịch vụ này chủ yếu cung cấp cho người dân nghèo, cận nghèo,
có thu nhập thấp và hoàn cảnh đặc biệt khó khăn để phát triển kinh tế gia đình. Từ đó làm tăng
cơ hội tiếp cận nguồn vốn tín dụng chính thức từ hệ thống ngân hàng, đáp ứng nhu cầu vay
tiêu dùng và phát triển sản xuất, xóa đối giảm nghèo. Từ đó đã giúp các dịch vụ ngân hàng đa
dạng, phù hợp hơn với nhu cầu của người dân, là cơ hội để thúc đẩy phát triển tài chính toàn diện đất nước.
Sự phát triển, quá trình chuyển đổi số và những tiến bộ của công nghệ từ cuộc cách mạng
công nghệ 4.0 đã và đang tác động không nhỏ tới xu hướng phát triển mô hình ngân hàng số
ngày càng rõ nét. Ngày càng nhiều người dùng có nhu cầu sử dụng các tài khoản ngân hàng để
thực hiện các dịch vụ thanh toán online. Ngân hàng không ngừng cải tiến và đưa ra những dịch
vụ như thanh toán tiền điện, nước, wifi thông qua app ngân hàng, gửi tiết kiệm online,… để
đáp ứng nhu cầu sử dụng, nâng cao trải nghiệm khách hàng, từ đó góp phần thúc đẩy tài chính toàn diện.
2.2.3 Mức độ sử dụng các hệ thống ngân hàng
Nếu chỉ xét về tài khoản ngân hàng thì chưa đủ đối với hệ thống tài chính toàn diện, cần
xem xét đến trường hợp các dịch vụ ngân hàng có được sử dụng đầy đủ hay không, đặc biệt là
2 dịch vụ cơ bản: gửi tiền và sử dụng. Theo đó, có thể sử dụng tỷ lệ huy động trên GDP và tín 13