



















Preview text:
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU....................................................................................................... 1
NỘI DUNG............................................................................................................ 2
I. Sự cần thiết và xu hướng phát triển nền kinh tế số trên thế giới và Việt
Nam từ năm 2020 -2023.................................................................................. 2
1.1. Tổng quan về nền kinh tế số.............................................................. 2
1.2. Sự cần thiết của việc phát triển nền kinh tế số tại Việt Nam.......... 3
1.3. Xu hướng phát triển nền kinh tế số hiện nay...................................4
1.3.1 Xu hướng phát triển nền kinh tế số trên thế giới....................... 4
1.3.2 Xu hướng phát triển nền kinh tế số tại Việt Nam.......................5
II. Vai trò của NHTM trong nền kinh tế số...................................................7
2.1 Vai trò của NHTM đối với sự phát triển kinh tế...............................7
2.2 Vai trò của NHTM đối với sự phát triển xã hội................................ 9
2.3 Vai trò của NHTM đối với vấn đề bảo vệ môi trường....................10
III. Tổng quan về ngân hàng MB và tác động của xu hướng phát triển
nền kinh tế số tới hoạt động của ngân hàng MB........................................ 13
3.1. Tổng quan, lịch sử hình thành Ngân hàng TMCP Quân đội........13
3.1.1. Giới thiệu về Ngân hàng TMCP Quân đội.............................. 13
3.1.2. Sản phẩm, dịch vụ của ngân hàng TMCP Quân đội.............. 13
3.2. Tác động của xu hướng phát triển nền kinh tế số tới hoạt động
kinh doanh của ngân hàng MB.............................................................. 15
3.2.1. MB xác định tầm nhìn chiến lược mới.................................... 15
3.2.2 MB tiếp tục lấy khách hàng làm trung tâm.............................. 15
3.2.3 MB làm chủ công nghệ trong nền kinh tế số............................16
3.2.4 Dự định phát triển của MB trong nền kinh tế số tương lai..... 17
3.3. Cơ hội, thách thức và bài học kinh nghiệm đối với ngân hàng MB
trong nền kinh tế số................................................................................. 17
3.3.1 Thách thức..................................................................................17
3.3.2 Cơ hội..........................................................................................17
3.3.3 Bài học kinh nghiệm.................................................................. 18
KẾT LUẬN..........................................................................................................19
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO.......................................................... 20 1 LỜI MỞ ĐẦU
Ngày nay, xu thế hội nhập kinh tế cùng với cuộc CMCN 4.0 đang diễn ra
mạnh mẽ đã đẩy nhanh quá trình phát triển kinh tế số trên toàn cầu, trong đó có
Việt Nam. Nước ta được đánh giá là một trong những quốc gia có tiềm năng và
tốc độ phát triển kinh tế số nhanh trên thế giới. Sự phát triển sôi động của kinh tế
số hứa hẹn mang lại cơ hội phát triển cho nhiều chủ thể kinh tế đặc biệt phải kể
đến là Ngân Hàng thương mại. NHTM nhập với xu hướng phát triển kinh tế số
bằng các dịch vụ, sản phẩm số đáp ứng toàn bộ nhu cầu của khách hàng, vừa
mang lại lợi nhuận vừa phát triển kinh tế, xã hội nhưng vẫn lấy mục tiêu bảo vệ
môi trường, tín dụng xanh là trên hết.
Có thể thấy, kinh tế số đang trở thành đặc trưng và xu hướng phát triển kinh
tế, công nghệ quan trọng nhất hiện nay. Nhận biết được mối quan hệ chặt chẽ
giữa nền kinh tế số và ngân hàng thương mại nên nhóm chúng em đã nghiên cứu
chủ đề “Vai trò của ngân hàng thương mại trong nền kinh tế số và tác động của
xu hướng phát triển kinh tế số tới hoạt động của ngân hàng TMCP Quân Đội”.
Chủ đề này giúp chúng em hiểu rõ sự cần thiết và xu hướng phát triển kinh tế số
Việt Nam gần đây thông qua tác động của xu hướng phát triển kinh tế số tới hoạt
động kinh doanh của ngân hàng MB. 2 NỘI DUNG
I. Sự cần thiết và xu hướng phát triển nền kinh tế số trên thế giới và Việt Nam từ năm 2020 -2023
1.1. Tổng quan về nền kinh tế số a. Khái niệm
Kinh tế số là các hoạt động kinh tế có sử dụng thông tin số, tri thức số như
yếu tố sản xuất chính; sử dụng mạng Internet, mạng thông tin làm không gian
hoạt động; sử dụng viễn thông và công nghệ thông tin để tăng năng suất lao động
và tối ưu nền kinh tế. Nói cách khác, kinh tế số là nền kinh tế liên quan đến công nghệ số. b. Phân loại:
Kinh tế số được chia thành 3 cấu phần, bao gồm:
●Kinh tế số ICT/viễn thông: là lĩnh vực công nghiệp công nghệ thông tin và
dịch vụ viễn thông, gồm các hoạt động như: sản xuất phần cứng, phần
mềm, sản xuất nội dung số (thư viện/ bảo tàng số,…), cung cấp dịch vụ
CNTT và cung cấp dịch vụ viễn thông (dịch vụ nhắn tin, kết nối internet,...)
●Kinh tế số Internet/nền tảng: bao gồm các hoạt động kinh tế dựa trên
mạng internet như: kinh doanh bằng nền tảng số (Grab, Go-jek,…), kinh
doanh dựa trên dữ liệu số, kinh doanh các dịch vụ số trực tuyến và các
hình thức kinh doanh dựa trên mạng Internet khác.
●Kinh tế số ngành/lĩnh vực: là các hoạt động kinh tế dựa trên việc áp dụng
các công nghệ số, nền tảng số vào các ngành, lĩnh vực truyền thống nhằm
tăng năng suất lao động, tạo giá trị kinh tế mới gồm các hoạt động như:
quản trị điện tử, thương mại điện tử, sản xuất thông minh,…
c. Đặc điểm của phát triển kinh tế số
Nền kinh tế số hiện nay gồm 4 đặc điểm như sau:
Thứ nhất, dữ liệu giữ vai trò quan trọng, là nguồn tài nguyên giá trị trong
nền kinh tế số. Dữ liệu được thu thập đa dạng, từ nhiều nguồn khác nhau, nó có
thể đến từ chiếc điện thoại thông minh của mỗi cá nhân cho đến các thiết bị cảm
biến trong nhà máy, phương tiện giao thông,... Những dữ liệu này cùng với khả 3
năng phân tích dữ liệu góp phần tạo nên giá trị trong hoạt động của cá nhân và cộng đồng.
Thứ hai, kinh tế số là kết quả của sự phát triển các công nghệ số mới. Trong
đó, công nghệ số mới (bao gồm công nghệ Robot, IoT,...) có tác động chuyển đổi
vượt ngoài lĩnh vực công nghệ thông tin và truyền thông tới các lĩnh vực khác
như: tài chính, truyền thông, giáo dục, y tế,...
Thứ ba, kinh tế số giúp tăng sự tương tác giữa người sản xuất và người tiêu
dùng. Các mô hình kinh doanh dựa trên nền tảng số cho phép nhiều nhóm người
tương tác với nhau, qua đó tạo ra những ảnh hưởng tích cực cho cả mạng lưới và
nâng cao hiệu quả nhờ giảm chi phí giao dịch.
Thứ tư, người tiêu dùng giữ vai trò là trung tâm. Họ có vai trò quan trọng
đối với các nhà sản xuất. Mạng Internet giúp người tiêu dùng có thêm nhiều
quyền năng hơn như: tự do chia sẻ ý kiến, quan điểm. Tuy nhiên, bên cạnh việc
thay đổi trải nghiệm của khách hàng, nhà sản xuất cũng phải đối mặt với nỗi lo
về uy tín của chính mình.
1.2. Sự cần thiết của việc phát triển nền kinh tế số tại Việt Nam
Trước hết, kinh tế số vừa là đặc trưng, vừa là xu thế phát triển tất yếu của
các quốc gia bởi bản chất của cuộc CMCN 4.0 chính là dựa trên cách mạng kỹ
thuật số. Sự phát triển của kỹ thuật số đã và đang làm nên những thay đổi lớn cho
nền kinh tế toàn cầu, khiến CMCN 4.0 bùng nổ hơn bao giờ hết. Một điều dễ
nhận thấy là số lượng các công ty công nghệ ngày càng tăng. Tính đến tháng
8/2022, Việt Nam đã có khoảng 68.800 doanh nghiệp số. Nước ta còn là một
trong những quốc gia có nền kinh tế phát triển với tốc độ nhanh nhờ vào định
hướng phát triển nền kinh tế số, cụ thể năm 2020, Việt Nam đứng thứ 22/60 về
tốc độ số hóa và thứ 48/60 quốc gia có tốc độ chuyển đổi kinh tế số nhanh trên
thế giới. Có thể thấy, chuyển đổi số đã và đang mở ra cơ hội lớn cho Việt Nam,
tạo nên những bước đột phá nhờ đó Việt Nam đã nhanh chóng bắt kịp các nước
phát triển trên thế giới, khẳng định vị thế trên trường quốc tế.
Không chỉ vậy, trong nền kinh tế số, công nghệ số được áp dụng đa dạng
trong các hoạt động sản xuất, kinh doanh ở mọi lĩnh vực. Sự phát triển của kinh
tế số đã tạo nên những thay đổi mang tính cách mạng, từ sản xuất, phân phối cho 4
đến tiêu dùng. Có thể thấy, nền kinh tế số đã góp phần quan trọng trong việc tăng
năng suất, đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu và tối ưu hóa nền kinh tế để tăng
trưởng và phát triển bền vững, cụ thể:
+ Trong sản xuất, công nghệ số giúp: tự động hóa quy trình sản xuất, giảm
giá thành, cung cấp nền tảng thanh toán số qua đó góp phần tăng tỷ lệ
người dân sử dụng các dịch vụ tài chính. Không chỉ vậy, ngày càng nhiều
các mô hình kinh doanh mới hình thành và phát triển kéo theo sự phát
triển bền vững nền kinh tế và bảo vệ môi trường.
+ Hạn chế rủi ro kinh tế: khi đại dịch Covid-19 bùng nổ, gây ra những ảnh
hưởng nghiêm trọng tới mọi mặt của đời sống. Kinh tế số đã khẳng định
được vai trò quan trọng cũng như sự cần thiết của mình, hạn chế rủi ro
trong nền kinh tế nhờ sự ứng dụng của các công cụ số.
Như vậy, khi nền kinh tế toàn cầu đang dần chuyển dịch sang nền kinh tế
số, Việt Nam cần phải đẩy mạnh tốc độ phát triển nền kinh tế số để tránh tình
trạng nền kinh tế trở nên cồng kềnh, gây cản trở trong việc hội nhập quốc tế.
Tóm lại, nền kinh tế số đóng vai trò quan trọng đối với mọi quốc gia, là đòn bẩy
để khẳng định vị thế trên đường đua quốc tế.
1.3. Xu hướng phát triển nền kinh tế số hiện nay
1.3.1. Xu hướng phát triển nền kinh tế số trên thế giới
Theo Báo cáo kinh tế số của Diễn đàn thương mại và phát triển của Liên
hợp quốc, năm 2019 kinh tế số ICT/VT đóng góp khoảng 4,5% GDP toàn cầu,
kinh tế số Internet/nền tảng đóng góp 15,5% GDP toàn cầu. Tương ứng tại Mỹ là
6,9% và 21,6% GDP và tại Trung Quốc là 6% và 30% GDP. Ngoài ra, một
nghiên cứu khác của Microsoft cũng chỉ ra rằng, kinh tế số đóng góp cho GDP
khu vực Châu Á - Thái Bình Dương năm 2017 chỉ khoảng 6% thì đến năm 2021
đã lên tới khoảng 60% GDP.
Không những vậy, sự thay đổi này còn rõ ràng hơn khi tính theo giá trị vốn
hóa thị trường: năm 2009, tổng vốn hóa trên thị trường có đến 36% là thuộc về
các công ty dầu khí và khai khoáng, trong khi nhóm kinh tế số chỉ chiếm 16% thì
tới năm 2018, nhóm kinh tế số đã tăng lên 56% tổng vốn hóa thị trường, ngược
lại tỷ trọng của các công ty dầu khí và khai khoáng giảm còn 7%. Năm 2022, 5
trong số 100 công ty vốn hóa lớn nhất toàn cầu, tỷ lệ đóng góp của công nghệ và
hàng tiêu dùng không thiết yếu lên tới 52% thì các công ty về lĩnh vực dầu khí chỉ chiếm dưới 7%.
Có thể thấy, tốc độ phát triển của nền kinh tế số trên thế giới đang diễn ra
nhanh chóng và không giới hạn về quy mô, đồng thời góp phần tích cực trong
việc chuyển dịch nền kinh tế của mọi quốc gia trên thế giới sang nền kinh tế mới - nền kinh tế số.
1.3.2. Xu hướng phát triển nền kinh tế số tại Việt Nam
Kinh tế số đang được xem là một trong các động lực tăng trưởng quan trọng
nhất ở Việt Nam trong những thập niên tới. Thúc đẩy kinh tế số được Chính phủ
coi là một trong những nhiệm vụ trọng tâm nhằm đẩy mạnh cơ cấu lại nền kinh tế
gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng và nâng cao chất lượng tăng trưởng, đưa
đất nước thoát khỏi tình trạng thu nhập ở mức trung bình và hướng tới mục tiêu
trở thành nước công nghiệp phát triển vào năm 2045.
Cùng với đó, Chính phủ cũng đã chủ động nghiên cứu, xây dựng nhiều chủ
trương, đặc biệt đã ban hành kịp thời các văn bản pháp quy để tạo dựng hành
lang pháp lý, quản lý và điều tiết các mảng khác nhau của nền kinh tế số. Cụ thể,
Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 749/QĐ-TT về xây dựng
Chương trình chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030.
Theo đó, chương trình sẽ thực hiện mục tiêu kép vừa phát triển chính phủ số,
kinh tế số, xã hội số, vừa hình thành các doanh nghiệp công nghệ số ở Việt Nam.
Mục tiêu đến năm 2025, kinh tế số chiếm 20% GDP; tỷ trọng kinh tế số trong
từng ngành, lĩnh vực đạt tối thiểu 10%; tỷ lệ dân số có tài khoản thanh toán điện
tử trên 50%; Việt Nam thuộc nhóm 50 nước dẫn đầu về chỉ số công nghệ thông
tin (IDI) và chỉ số cạnh tranh (GCI), thuộc nhóm 35 nước dẫn đầu về chỉ số đổi
mới sáng tạo (GII) và thuộc nhóm 40 nước dẫn đầu về an toàn, an ninh mạng
(GCI),... Để đạt được mục tiêu này cần phải duy trì mức tăng trưởng kinh tế số
bình quân hằng năm khoảng 20%.
Theo ông Nguyễn Phú Tiến, Phó Cục trưởng Cục Chuyển đổi số quốc gia
chia sẻ: “Nếu coi năm 2020 là năm khởi động nhận thức về chuyển đổi số, năm
2021 là năm bắt đầu triển khai về chuyển đổi số trong bối cảnh đại dịch và năm 6
2022 là năm đẩy mạnh chuyển đổi số theo hướng lấy người dân làm trung tâm,
toàn dân và toàn diện. Giai đoạn từ nay đến năm 2025 sẽ là giai đoạn tăng tốc
chuyển đổi số với những hành động triển khai cụ thể theo từng ngành, từng lĩnh
vực, từng địa phương”.
Có thể nói, thúc đẩy chuyển đổi số quốc gia, phát triển kinh tế số, xã hội số
để tạo bứt phá nhằm nâng cao năng suất, chất lượng, sức cạnh tranh của nền kinh
tế là một trong những quan điểm lớn của Đảng trong chiến lược phát triển đất
nước. Nhận thức tầm quan trọng của kinh tế số đối với sự phát triển của đất
nước, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 52-NQ/TW về một số chủ trương,
chính sách chủ động tham gia CMCN 4.0. Nghị quyết đề ra 08 chủ trương để chủ
động tham gia CMCN 4.0 và đặt nhiều mục tiêu cho giai đoạn 2025 - 2045, trong
đó đưa ra mục tiêu cụ thể là đến năm 2025, kinh tế số chiếm khoảng 20% GDP
và đến năm 2030, kinh tế số chiếm trên 30% GDP. Đại hội đại biểu toàn quốc lần
thứ XIII của Đảng khẳng định: “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ tư duy, xây dựng và
hoàn thiện đồng bộ thể chế phát triển bền vững đất nước; đổi mới mạnh mẽ mô
hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế, CNH- HĐH đất nước, chú trọng đổi mới
sáng tạo, đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia, phát triển nền kinh tế số, xã hội số”. 7
Hình 1: Tốc độ tăng trưởng giá trị hàng hóa của nền kinh tế số ở Đông Nam
Á giai đoạn 2019-2020 dự báo đến 2025
II. Vai trò của NHTM trong nền kinh tế số
Ngành ngân hàng là ngành dịch vụ hiện đại, là huyết mạch của nền kinh tế.
Hoạt động của ngành ngân hàng bao trùm lên tất cả các hoạt động kinh tế - xã
hội, gắn liền với sự vận động của toàn bộ nền kinh tế. Có thể nói khi ngành ngân
hàng đi đầu trong chuyển đổi số đã thúc đẩy các ngành kinh tế khác thực hiện
chuyển đổi số, cùng nhau hiện thực hóa các mục tiêu trong Chiến lược quốc gia
phát triển kinh tế số và xã hội số. Và vai trò của NHTM trong nền kinh tế số
được cụ thể hóa như sau:
2.1. Vai trò của NHTM đối với sự phát triển kinh tế
Hiện nay, các NHTM Việt Nam đã chủ động triển khai xây dựng ngân hàng
trong bối cảnh kinh tế số. Kết quả có tới 95% các ngân hàng đã và đang xây
dựng, triển khai chiến lược chuyển đổi số. Nhiều nghiệp vụ ngân hàng như mở
tài khoản thanh toán, thanh toán chuyển tiền, gửi tiền/gửi tiết kiệm đã được số
hóa toàn diện 100%, cho phép khách hàng thực hiện hoàn toàn trên kênh số, đảm
bảo an toàn, nhanh chóng và tiện lợi. Nhiều NHTM chuyển đổi số ở top đầu đã
ghi nhận tỷ lệ hơn 90% giao dịch của khách hàng được thực hiện qua kênh số
phản ánh hiệu quả của chuyển đổi số và phát triển dịch vụ ngân hàng số.
Đồng thời, thanh toán không dùng tiền mặt trong 9 tháng đầu năm 2022 đạt
mức tăng trưởng cao so với cùng kỳ năm 2021, giao dịch thanh toán không dùng
tiền mặt tăng 86,7% về số lượng và 34,6% về giá trị so với cùng kỳ năm 2021.
Đặc biệt, trong năm 2020 và 2021, các NHTM trong nước đã có những chính
sách giảm phí dịch vụ thanh toán, thực hiện thanh toán tại các kênh số nhằm
giảm tỷ lệ mắc Covid-19, hỗ trợ kịp thời cho doanh nghiệp và người dân, giảm
bớt khó khăn do tác động của đại dịch COVID-19. Cụ thể, các NHTM đã giảm
50% phí hệ thống thanh toán điện tử liên ngân hàng, giảm từ 70% đến 100% phí
chuyển mạch bù trừ điện tử. Chỉ tính riêng trong năm 2021, tổng số tiền phí các
NHTM đã giảm cho người dân khoảng 1.557 tỷ đồng, nhờ đó giúp cho nền kinh
tế sớm được phục hồi, phát triển trở lại sau đại dịch và giảm sức ép kinh tế cho
phía doanh nghiệp và người dân. Điểm quan trọng trong hoạt động chuyển đổi số 8
ngân hàng là đã hình thành hệ sinh thái thông minh, thanh toán số được thiết lập
với việc kết nối dịch vụ ngân hàng số với các dịch vụ số khác trong nền kinh tế,
như: thuế, hải quan, điện lực, nước sạch, bưu chính viễn thông và các dịch vụ
công khác, đem đến trải nghiệm liền mạch trên mọi lĩnh vực cho người dùng trên
không gian số, tiết kiệm chi phí tài chính và nhân lực cho các cơ quan, tổ chức.
Không chỉ vậy, hiện nay phần lớn người tiêu dùng đều mua sắm trực tuyến,
sử dụng dịch vụ và thanh toán hoàn toàn trên kênh số. Nhờ đó, hoạt động thanh
toán không bị gián đoạn khi người tiêu dùng bị cách ly, giãn cách do đại dịch
COVID-19. Dịch vụ này tiết kiệm thời gian và chi phí cho nền kinh tế. Các
doanh nghiệp trong các lĩnh vực như điện lực, nước sạch, truyền hình cáp, thuê
bao điện thoại, dịch vụ Internet, thu phí giao thông, hàng không, du lịch, khách
sạn, nhà hàng, siêu thị và trung tâm thương mại, thuế, hải quan,… đều thấy rõ lợi
ích kinh tế, tiết kiệm nhân lực và tài chính nhờ thanh toán điện tử dựa trên công
nghệ số. Tương tự, các trường đại học ứng dụng trong thu học phí của sinh viên,
bệnh viện thu phí các dịch vụ khám, chữa bệnh cũng thấy rất rõ những khoản tiết
kiệm chi phí cho bộ máy và phương tiện làm việc, chi phí tài chính khác,... khi áp
dụng hình thức thanh toán điện tử của các NHTM. Có thể thấy, trong thời gian
qua, các NHTM tại Việt Nam đã chủ động ứng dụng mạnh mẽ công nghệ số vào
các hoạt động ngân hàng, phát triển mô hình ngân hàng số, tạo lập hệ sinh thái số
cung ứng các sản phẩm dịch vụ an toàn, tiện ích, nhằm gia tăng trải nghiệm cho
khách hàng, từ đó sẽ góp phần vào việc luân chuyển dòng vốn đầu tư và tiết kiệm
trong xã hội, qua đó thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.
Với những kết quả đạt được, Việt Nam đã được nhiều tổ chức quốc tế ghi
nhận tích cực. Theo McKinsey, năm 2021, ngành Ngân hàng Việt Nam được
đánh giá có mức độ ứng dụng ngân hàng số với tốc độ nhanh nhất trong khu vực,
tăng từ 41% năm 2015 lên đến 82% vào năm 2021, cao hơn mức tăng bình quân 23% của toàn khu vực.
2.2. Vai trò của NHTM đối với sự phát triển xã hội
Việc chuyển đổi mạnh mẽ sang “xã hội không tiền mặt” cũng giúp nâng cao
đời sống của con người, từ nông thôn đến thành thị, từ miền núi đến các khu vực
phát triển ven biển, từ đó rút ngắn khoảng cách xã hội, giảm tệ nạn xã hội, hạn 9
chế tội phạm liên quan đến tiền mặt. Nhờ vào thanh toán điện tử, người nông dân
có thể mua các nhu yếu phẩm, phân bón, hạt giống, thức ăn chăn nuôi,... đến mua
hàng gia dụng trên mạng, trả tiền dịch vụ công và tiếp cận các khoản vay dễ dàng
hơn. Đồng thời họ cũng có thể bán nông sản cho người tiêu dùng ở thành phố và
nhận được tiền bán hàng nhanh chóng mà không cần di chuyển. Người bán hàng,
hay xe ôm công nghệ, sinh viên, công nhân… có thể thanh toán, chuyển tiền, cất
trữ thu nhập nhờ vào tài khoản ngân hàng số. Không chỉ vậy, hầu hết các ngân
hàng đã liên kết hỗ trợ thanh toán chi phí khám, chữa bệnh bằng QR code tại
bệnh viện và giúp người bệnh dễ dàng thanh toán chi phí khám chữa bệnh trực
tiếp trên nền tảng thiết bị di động thông minh, hoặc có thể nhờ người thân thanh
toán chi phí khám, chữa bệnh từ xa. Số bệnh nhân thanh toán chi phí khám, chữa
bệnh không dùng tiền mặt chiếm 35% trên tổng số giao dịch thanh toán của bệnh
viện. Có thể thấy, kết quả ứng dụng dịch vụ ngân hàng số trong y tế thời gian qua
đã tạo bước đột phá quan trọng để chuyển đổi số hóa y tế, đặc biệt là số hóa bệnh
viện, hướng tới bệnh viện thông minh; đồng thời đây cũng là nền tảng quan trọng
để triển khai thanh toán điện tử đối với các dịch vụ công.
Nổi bật nhất vào đầu năm 2022, Công ty Cổ phần Công nghệ Giáo dục
Thông minh (VietED) cùng Ngân hàng TMCP Quân đội (MB) đã ký thỏa thuận
hợp tác nhằm đa dạng hệ sinh thái tiện ích trên nền tảng số của cả hai doanh
nghiệp. Trên cơ sở đó, VietED và các trường học sử dụng hệ thống LMS của
VietED có thể đăng ký tài khoản MB bằng cách truy cập đường link có trên LMS
để hưởng các ưu đãi, đồng thời, sử dụng tài khoản MB để thanh toán và trải
nghiệm dịch vụ các khóa học trên hệ thống LMS. Tùy theo số lượng tài khoản
tham gia học, các đơn vị giáo dục được sử dụng miễn phí một phần hoặc hoàn
toàn hệ thống LMS trong năm đầu tiên. Về phía Ngân hàng TMCP Quân đội
(MB) cũng sẽ tích hợp hệ thống LMS vào nền tảng số hiện có của MB. Khách
hàng có thể dễ dàng sử dụng các dịch vụ do VietED cung cấp trên ứng dụng của MB và ngược lại.
Mặt khác, tiền giấy có thể lây truyền một số bệnh. Một số nghiên cứu đã chỉ
ra rằng, các loại vi khuẩn có khả năng sống trên bề mặt tiền giấy khoảng 16-17
giờ. Trong dự án nghiên cứu nhằm xác định DNA trên tiền giấy tại Đại học New 10
York, các nhà nghiên cứu phát hiện ra rằng, đồng tiền chính là nơi trú ẩn của
hàng trăm loại vi khuẩn khác nhau, là phương tiện “vận chuyển” vi khuẩn từ
người này đến người khác và là một nguồn truyền nhiễm nhiều loại bệnh nguy
hiểm đối với sức khỏe con người. Thực tế này khiến cho người tiêu dùng e ngại
hơn trong sử dụng tiền mặt, tạo điều kiện cho thanh toán không dùng tiền mặt
thêm phát triển và giảm nguy cơ mắc các bệnh truyền nhiễm.
Ngoài ra, việc đẩy mạnh phát triển NHTM theo xu hướng nền kinh tế số
còn tạo điều kiện để phát triển kỹ năng số, công dân số và văn hóa số. Chính vì
vậy, Chính phủ đã triển khai, thực hiện Quyết định số 1033/QĐ-NHNN của
Thống đốc NHNN về kế hoạch “Nâng cao nhận thức, phổ cập kỹ năng và phát
triển nguồn nhân lực chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030”.
2.3. Vai trò của NHTM đối với vấn đề bảo vệ môi trường
Hiện nay, Việt Nam đang phải đối mặt với rất nhiều vấn đề về môi trường
như biến đổi khí hậu, thiên tai, ô nhiễm,... nên mục tiêu tăng trưởng của Việt
Nam trong vòng hai thập kỷ tới không chỉ là tăng trưởng nhanh như các giai đoạn
trước mà phải là tăng trưởng xanh và bền vững, hướng tới phát triển kinh tế
xanh. Ngành ngân hàng cũng không nằm ngoài xu hướng đó, bởi ngành ngân
hàng có vai trò rất quan trọng trong phát triển kinh tế, xã hội và tăng trưởng bền
vững. Vì vậy, ngành ngân hàng đang phát huy vai trò tiên phong trong giảm thiểu suy thoái môi trường.
Việc đẩy mạnh phát triển các NHTM trong nền kinh tế số giúp giảm thiểu
các thủ tục bằng giấy tờ, chi phí mực in ấn trong các hoạt động ngân hàng từ đó
góp phần bảo vệ rừng nói riêng và bảo vệ môi trường nói chung. Chính vì vậy,
các ngân hàng cần phát triển sản phẩm, dịch vụ ngân hàng số hiện đại, tạo cơ sở
nâng cao khả năng tiếp cận dịch vụ ngân hàng… Đặc biệt, xu hướng “ngân hàng
không giấy” sẽ trở nên phổ biến, giảm dần vai trò của các chi nhánh ngân hàng.
Với CMCN 4.0, chi nhánh ngân hàng không phải là kênh phân phối mang lại
nhiều lợi nhuận nhất trong tương lai. Điển hình như Sacombank không chỉ triển
khai dịch vụ thanh toán hóa đơn điện tử từ lâu, mới đây, Sacombank cũng đã trở
thành ngân hàng đầu tiên tại Việt Nam dừng hoàn toàn cấp mã pin thẻ bằng giấy 11
để góp phần bảo vệ môi trường, đồng thời, tiết kiệm chi phí, thời gian và hạn chế rủi ro.
Vấn đề giảm thải khí cacbon trong hoạt động nội bộ ngân hàng: Hiện nay,
quy mô các ngân hàng khiến lượng khí thải carbon ra môi trường xung quanh
ngày càng lớn. Chỉ tính đến tháng 10/2016, hệ thống NHTM Việt Nam đã có
10.203 chi nhánh, phòng giao dịch phủ khắp cả nước. Với số lượng các chi
nhánh khổng lồ như vậy, các ngân hàng sẽ làm tăng đáng kể lượng khí thải
carbon vào môi trường do sử dụng nhiều năng lượng, máy điều hòa, thiết bị in
ấn... Qua đó, tác động xấu đến môi trường, làm ảnh hưởng đến nguồn không khí
và môi trường tự nhiên xung quanh. Chính vì vậy việc phát triển các sản phẩm,
dịch vụ trực tuyến xanh đang là giải pháp của hầu hết các NHTM trong nền kinh
tế số - góp phần làm xanh hóa hoạt động ngân hàng đồng thời bảo vệ môi trường.
Từ đó khuyến khích người dân sử dụng các phương tiện thanh toán không dùng
tiền mặt. Theo ông Trần Ðình Cường - Phó Giám đốc NHNN Chi nhánh TP. Hồ
Chí Minh cho biết: “Theo thống kê, đã có 65 NHTM cung ứng dịch vụ Internet
Banking, 35 NHTM cung ứng dịch vụ Mobile Banking và nhiều tổ chức trung
gian cung ứng các dịch vụ thanh toán điện tử”.
Về việc phát triển tín dụng xanh trong nền kinh tế số: Trước đây, các ngân
hàng chưa có chính sách tín dụng xanh hay chính sách ưu tiên cho các hoạt động
liên quan tới bảo vệ môi trường. Nhưng với việc đẩy mạnh tuyên truyền về các
chính sách bảo vệ môi trường và phát triển bền vững được triển khai từ NHNN
và các tổ chức quốc tế như Ngân hàng Thế giới (WB), ngân hàng Phát triển Châu
Á (ADB), Cục Kinh tế Liên bang Thụy Sĩ (SECO)… thì ngân hàng Việt Nam đã
bắt đầu quan tâm tới tín dụng xanh, các dự án đầu tư mang lại lợi ích cho môi
trường. Các quy định về chính sách tín dụng xanh đã được áp dụng ở VietinBank,
Techcombank,… Xu hướng tín dụng hướng tới phát triển toàn diện và bền vững
có thể mạnh hơn trong thời gian tới với sự hỗ trợ mạnh mẽ về chính sách của cơ
quan quản lý. Nhiều ngân hàng trong nước đã và đang triển khai các sản phẩm tín
dụng xanh trực tuyến như: cho vay tiết kiệm năng lượng, cho vay năng lượng tái
tạo,... Tuy nhiên, các dòng tín dụng xanh phần lớn vẫn dựa trên các dự án có tài
trợ quốc tế bởi ngân hàng còn e ngại về rủi ro tín dụng từ các dự án đầu tư xanh. 12
Tuy vậy, gần đây, nhiều ngân hàng đã triển khai chính sách ưu đãi trong việc cấp
tín dụng xanh nhằm góp phần bảo vệ môi trường như: Nam Á Bank đã ký kết với
Quỹ Hợp tác khí hậu toàn cầu (GCPF) về việc triển khai Chương trình tín dụng
xanh tại Việt Nam với lãi suất ưu đãi khoảng 5 - 6%/năm, sẽ cấp tín dụng xanh
trung và dài hạn cho các dự án thúc đẩy giảm khí thải CO2 và các dự án tiết kiệm
20% nhu cầu năng lượng. HD Bank vừa đưa ra gói tín dụng 10.000 tỷ đồng dành
cho các doanh nghiệp đang hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp ứng dụng công
nghệ cao, nông nghiệp sạch trên cả nước. Lãi suất cho vay ưu đãi với mức giảm
1%/năm so với lãi suất thường, tài sản thế chấp là tài sản hình thành từ vốn vay
với tỷ lệ cho vay lên đến 80%, thời hạn vay tối đa 10 năm.
Có thể thấy, sự thay đổi tích cực về mọi mặt (kinh tế, xã hội, môi trường)
của NHTM trong nền kinh tế số hiện nay đã thể hiện mức độ tác động rất lớn tới
hoạt động kinh doanh của khách hàng cá nhân và doanh nghiệp. Việc đẩy mạnh
phát triển NHTM theo xu hướng của nền kinh tế số không chỉ góp phần hoàn
thành tốt chiến lược phát triển kinh tế nói chung của cả nước mà còn mang đến
sự ảnh hưởng tích cực trong cuộc sống của con người. Từ đó, việc tiếp cận các
sản phẩm, dịch vụ ngân hàng của người dân ở mọi tỉnh thành trên cả nước được
mở rộng nhanh chóng, không có rào cản về khoảng cách địa lý khiến cho việc
phát triển NHTM theo xu hướng chuyển đổi số diễn ra thuận lợi và đạt kết quả tốt.
III. Tổng quan về ngân hàng MB và tác động của xu hướng phát triển nền
kinh tế số tới hoạt động của ngân hàng MB
3.1. Tổng quan, lịch sử hình thành Ngân hàng TMCP Quân đội
3.1.1. Giới thiệu về Ngân hàng TMCP Quân đội
Ngân hàng Thương mại Cổ phần Quân đội (viết tắt là MB), là doanh nghiệp
trực thuộc Bộ Quốc phòng và được niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán
HOSE với mã chứng khoán MBB.
Ngân hàng TMCP Quân Đội chính thức đi vào hoạt động với 25 nhân sự
cùng 20 tỷ đồng VĐL vào ngày 4/11/1994. Năm 2003, MB triển khai cải tổ toàn
diện về hệ thống và nhân lực. Năm 2004, MB đã trở thành ngân hàng đầu tiên
phát hành cổ phần thông qua đấu giá ra công chúng với tổng mệnh giá là 20 tỷ 13
đồng. Năm 2008, MB tái cơ cấu tổ chức và tập đoàn viễn thông quân đội Viettel
chính thức trở thành cổ đông chiến lược. Năm 2009, MB ra mắt Trung tâm Dịch
vụ Khách hàng 24/7 và khai trương chi nhánh đầu tiên ở nước ngoài tại Lào năm 2010.
Tính đến năm 2022, vốn điều lệ của MB đã được nâng lên hơn 45 nghìn tỷ
đồng. Hiện nay, mạng lưới giao dịch của MB rất lớn với tổng cộng hơn 284 chi
nhánh/phòng giao dịch tại 53 tỉnh, thành phố. Trụ sở chính được đặt tại tòa nhà
MB Grand, số 63 Lê Văn Lương, P.Trung Hòa, Q.Cầu Giấy, TP Hà Nội.
3.1.2. Sản phẩm, dịch vụ của ngân hàng TMCP Quân đội
Các sản phẩm, dịch vụ ngân hàng MB cung cấp rất đa dạng, bắt kịp với xu
thế thị trường và ứng dụng các công nghệ số để nâng cao trải nghiệm khách hàng, bao gồm: a. Sản phẩm thẻ
Thẻ tín dụng (Credit Card) được sử dụng cả trong nước và quốc tế cho
khách hàng là cá nhân hay doanh nghiệp bao gồm:
●Thẻ tín dụng Quốc tế MB Visa Infinity
●Thẻ tín dụng doanh nghiệp MB Visa Commerce
●Thẻ tín dụng quốc tế MB JCB Sakura
●Thẻ tín dụng quốc tế MB Visa
Ngoài ra, ngân hàng MB còn cung cấp thẻ ghi nợ (Debit Card) sử dụng cả
quốc tế và nội địa bao gồm:
●Thẻ ghi nợ quốc tế MB Visa
●Thẻ ghi nợ quốc tế VINID Visa
●Thẻ ghi nợ nội địa Active Plus ●Thẻ quân nhân
●Thẻ ghi nợ nội địa MB Private/MB VIP
●Thẻ ghi nợ nội địa Plus
●Thẻ ghi nợ nội địa doanh nghiệp Business
Bên cạnh đó, ngân hàng MB còn cung cấp cho khách hàng thẻ trả trước (Prepaid Card) bao gồm: 14
●Thẻ trả trước quốc tế plus Mastercard
●Thẻ trả trước NewsPlus
b. Dịch vụ ngân hàng điện tử MB
MB Bank hiện nay là một trong những ngân hàng được khách hàng đánh
giá là ngân hàng có ứng dụng Fintech được áp dụng vào dịch vụ tổng đài MB.
Hiện tại ngân hàng điện tử của MB cung cấp các sản phẩm như:
●Internet Banking: cho phép thực hiện các giao dịch trên thông qua thiết
bị kết nối Internet, bằng cách truy cập địa chỉ website Internet sau đó đăng nhập và giao dịch.
●MB Plus: cho phép giao dịch thông qua ứng dụng được cài đặt trên điện
thoại. Điện thoại cần hỗ trợ cài đặt ứng dụng và có kết nối Internet mới
sử dụng được dịch vụ.
●Bankplus: Ứng dụng dành cho thuê bao Viettel có tài khoản tại MB. Nếu
không đăng ký tại ngân hàng khác, tài khoản sẽ mặc định tại MB khi đăng ký dịch vụ này.
●SMS Banking: Giúp truy vấn thông tin tài khoản, lãi suất, tỷ giá, và nhận
tin nhắn chủ động khi có thay đổi số dư tiền trong tài khoản
3.2. Tác động của xu hướng phát triển nền kinh tế số tới hoạt động kinh doanh của ngân hàng MB
3.2.1. MB xác định tầm nhìn chiến lược mới
Thực hiện chiến lược 5 năm (2017 - 2021), MB thành lập Khối Ngân hàng
số với mục tiêu làm chủ và ứng dụng công nghệ 4.0 vào các sản phẩm ngân hàng
truyền thống liên kết, hợp tác đối tác Fintech. Ngân hàng đã ra mắt app MBBank
- ứng dụng ngân hàng trên thiết bị di động, là một trong những sản phẩm số chủ
lực của MB. App MBBank giúp khách hàng thực hiện hầu hết các giao dịch tài
chính như các dịch vụ thiết yếu như điện, nước, vé tàu xe,...; thanh toán hóa đơn
qua QR Code với hơn 20.000 điểm siêu thị, nhà hàng trên toàn quốc, giao diện
đẹp, dễ sử dụng, thay đổi theo sở thích của người dùng.
Mới đây, MB đã phát triển ứng dụng BIZ MB – nền tảng số toàn diện hàng
đầu dành cho doanh nghiệp. Thông qua ứng dụng này có thể kết nối doanh
nghiệp với mọi dịch vụ tài chính một cách nhanh chóng, đơn giản, giúp doanh 15
nghiệp chủ động mọi thao tác giao dịch online theo nhu cầu mà không cần đến
trực tiếp. Đại dịch COVID-19 đã tác động lớn đến nhiều doanh nghiệp trên toàn
cầu, tuy nhiên với ngành ngân hàng, đó lại là chất xúc tác để đẩy nhanh tiến trình
chuyển đổi số, đẩy mạnh thanh toán không dùng tiền mặt. Theo lời kêu gọi của
Chính phủ về việc khắc phục hậu quả của dịch bệnh COVID-19, đối với lãi suất
hỗ trợ cho khách hàng, MB giảm từ 0,5% - 1,5%, tùy theo nhóm khách hàng và
mức độ khách hàng chịu ảnh hưởng của đại dịch. Tại mức lãi suất này, có khoảng
70.000 tỷ đồng dư nợ đối với khách hàng cá nhân, 50.000 tỷ đồng dư nợ đối với
khách hàng doanh nghiệp được hưởng chính sách giảm.
3.2.2. MB tiếp tục lấy khách hàng làm trung tâm
Đối với MB, khẩu hiệu của ngân hàng luôn là “Vững vàng, tin cậy”, như
một lời khẳng định của MB nhắn gửi đến khách hàng của mình. Ngân hàng sẽ
luôn đồng hành trên chặng đường của mỗi khách hàng, với sự tin cậy và vững
chắc, mong muốn mang tới sự phát triển cho khách hàng trong cuộc sống; mọi
sản phẩm, dịch vụ được đưa ra thị trường đều xuất phát từ nhu cầu thực tế, phù
hợp với khách hàng như cung cấp các dịch vụ làm thẻ ATM số đẹp, dùng ngày
sinh, số điện thoại của khách hàng để làm số tài khoản. MB luôn lấy khách hàng
là trọng tâm, tập trung phát triển sản phẩm từ trải nghiệm thực tế của khách hàng,
từ đó phát triển những tính năng mới phù hợp với xu hướng như rút tiền tại ATM
không dùng thẻ, sử dụng Digital OTP do chính khách hàng đặt như một mật khẩu
thứ hai nhằm bảo mật hơn, đăng nhập bằng Face ID hoặc vân tay an toàn, miễn
phí giao dịch chuyển khoản 24/7, tích điểm đổi quà..
Đẩy mạnh chuyển đổi số trong hoạt động nhân đạo, MB chủ trì xây dựng và
phát triển App Thiện nguyện, hướng đến sự minh bạch và thuận tiện cho các chủ
thể tham gia từ thiện. Hiện nay, ứng dụng Thiện nguyện sở hữu hơn 700.000
thành viên. Tính đến hết tháng 1-2023, có hơn 1.268 mục tiêu gây quỹ được khởi
tạo với tổng số tiền ủng hộ qua nền tảng lên đến hơn 140 tỷ đồng. MB đã sử dụng
quỹ Thiện nguyện để đền ơn đáp nghĩa, xây dựng nông thôn mới, đầu tư cho giáo
dục, y tế, xóa đói giảm nghèo,.... Đồng thời, tích cực hưởng ứng chương trình
“Cả nước chung tay vì người nghèo - không để ai bỏ lại phía sau” do Thủ tướng 16
phát động thông qua nhiều hình thức như: xây dựng nhà ở, ủng hộ quỹ vì người nghèo,...
3.2.3. MB làm chủ công nghệ trong nền kinh tế số.
Chia sẻ về chiến lược dài hạn của MB, ông Lưu Trung Thái khẳng định:
“Chúng tôi muốn trở thành một doanh nghiệp số dẫn đầu. Đó là lý do MB luôn
tập trung đầu tư cho con người và nền tảng, quyết tâm làm chủ công nghệ, nhằm
đảm bảo tốc độ và lợi thế cạnh tranh trên thị trường”.
MB hiện đang đầu tư ngân sách 50 triệu đô mỗi năm cho hạ tầng công nghệ
độc lập; đào tạo nguồn nhân lực công nghệ trong ngân hàng và triển khai hàng
loạt dự án về tự động hóa, ứng dụng Robotics vào quy trình vận hành, cải thiện
hệ thống; đồng thời hợp tác với các đối tác công nghệ lớn trong và ngoài nước
như IBM, Oracle nhằm mục đích tối ưu hóa giải pháp chuyển đổi số. Từ năm
2018, MB đã chính thức hợp tác chiến lược với IBM - Tập đoàn công nghệ hàng
đầu thế giới. Theo đó, IBM tư vấn, cập nhật thường xuyên các xu hướng công
nghệ mới nhất cho MB và hỗ trợ ngân hàng chuyển đổi hoạt động sang nền tảng
số, với đội ngũ chuyên gia tốt nhất để dẫn đầu xu hướng này. 17
3.2.4. Dự định phát triển của MB trong nền kinh tế số tương lai
Tại Diễn đàn Shark Tank Forum 2022, ông Vũ Hồng Phú hé lộ những kế
hoạch lớn tiếp theo của MB trong chiến lược chuyển đổi số và không ngừng cải
tiến. Nền tảng dành cho khách hàng DN đang tiếp tục được nâng cấp để trở thành
một giải pháp quản trị nguồn lực doanh nghiệp trọn gói, tích hợp sàn giao dịch để
các khách hàng của MB phát triển cơ hội kinh doanh. MB cũng tiếp tục tiên
phong triển khai blockchain nhằm hỗ trợ các doanh nghiệp XNK, giúp minh bạch
hoá và an toàn thông tin trong suốt các khâu giao thương quốc tế, cho phép theo
dõi toàn bộ quy trình với mức độ minh bạch và an toàn thông tin cao.
Ban lãnh đạo MB tin rằng, chuyển đổi số là cơ hội để MB bứt phá trở thành
một doanh nghiệp công nghệ quy mô lớn, trong đó nhân sự công nghệ đóng vai
trò là "mắt xích" quan trọng, thúc đẩy chuyển đổi số đồng bộ, hiệu quả và bền
vững. Đây là yếu tố quan trọng giúp MB tăng tốc số hoá một cách bền vững và
hướng tới mô hình hoạt động của một ngân hàng số hiện đại.
3.3. Cơ hội, thách thức và bài học kinh nghiệm đối với ngân hàng MB trong nền kinh tế số 3.3.1. Thách thức
-Về mặt an ninh: Tội phạm lừa đảo với thủ đoạn ngày càng tinh vi: Lộ SMS
OTP, tài khoản giả mạo, trang web đánh cắp thông tin người dùng, dùng
CMT/CCCD giả để lừa tiền, chiếm đoạt tài sản của khách hàng. Hiện nay, chưa
thể triệt phá được đường dây lừa đảo qua tài khoản ngân hàng vì không thể định
danh được người thực hiện giao dịch, khó hoàn tiền cho khách hàng.
-Về mặt cơ sở hạ tầng: Chưa thể xây dựng được cơ sở hạ tầng số đồng bộ với kỹ
thuật cao, dữ liệu lớn, hạ tầng an ninh an toàn, bảo mật. 3.3.2. Cơ hội
-Công nghệ tiên tiến trong lĩnh vực ngân hàng: Sự phát triển công nghệ 4.0 giúp
khai thác và thu thập thông tin một cách nhanh chóng, tự động hóa các quy trình
phức tạp, phát triển hệ thống ngân hàng với việc kết nối vạn vật trên thế giới tạo
nên những phần mềm tiện ích, chi phí hợp lý. 18
-Đa dạng hóa sản phẩm: Cung cấp những sản phẩm ngân hàng số tiện ích, phù
hợp với nhu cầu của khách hàng như Internet Banking, Mobile Banking, tư vấn
24/7,... từ đó nâng cao khả năng tiếp cận khách hàng mới, làm hài lòng khách hàng hiện tại.
-Hợp tác với các công ty Fintech: Các công ty Fintech cung cấp các dịch vụ liên
kết với ngân hàng MB để thực hiện các giao dịch thanh toán thông qua ví điện tử
như MOMO, Zalo pay, VNpay,... đáp ứng cầu nhu cầu của người dùng từ đó
mang lại lợi nhuận cho ngân hàng.
3.3.3. Bài học kinh nghiệm
-Đối với các ngân hàng thương mại: cần thay đổi chiến lược kinh doanh từ ngân
hàng truyền thống trở thành ngân hàng số, bắt kịp với xu hướng gắn liền với nhu
cầu của khách hàng, triển khai hợp tác với các công ty Fintech để ứng dụng công
nghệ vào điều hành với mục tiêu chuyển đổi số và mở rộng thị trường. Các
NHTM nên tập trung xoay quanh khách hàng của mình, lấy khách hàng làm
trung tâm để quan sát, thu thập dữ liệu về nhu cầu của khách hàng như bảo mật
thông tin, chi phí rẻ hoặc zero fee, đồng thời gia tăng lòng tin của khách hàng khi
sử dụng dịch vụ của ngân hàng.
-Đối với Chính phủ: Khuyến khích, tạo điều kiện cho các NHTM và công ty
Fintech giúp họ có một thị trường cạnh tranh tốt, tạo lập khung pháp lý liên quan
đến quá trình hoạt động và phát triển chiến lược kinh tế số cho các NHTM. Tạo
điều kiện cho các NHTM tiếp cận với các công nghệ và nguồn vốn dồi dào từ
nước ngoài để phát triển lớn mạnh vì mục tiêu lợi nhuận.