HỌC VIỆN NGÂN HÀNG
KHOA NGÂN HÀNG
----- -----
BÀI TẬP LỚN
MÔN: NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
ĐỀ TÀI: VAI TRÒ CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI TRONG PHÁT
TRIỂN TÀI CHÍNH TOÀN DIỆN VÀ PHÂN TÍCH TÁC ĐỘNG CỦA
TÀI CHÍNH TOÀN DIỆN TỚI HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA
NGÂN HÀNG TIÊN PHONG
Giảng viên hướng dẫn Nguyễn Thanh Tùng
Lớp học phần 241FIN17A19
Số từ 7901
Ngân hàng thương mại Tiên Phong
Nhóm thực hiện 7
1. Lê Nguyễn Tùng Dương 26A4013135
2. Nguyễn Mai Duyên 26A4011530
3. Nguyễn Thị Duyên 25A4020200
4. Nguyễn Đức Lộc 26A4012438
5. Chử Ngọc Mai 26A4012242
6. Nguyễn Thị Thu Phương 26A4012925
7. Nguyễn Hoàng Vũ 26A4012291
Hà nội, tháng 10 năm 2024
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU...................................................................................................................3
1.. .Sự cần thiết và xu hướng phát triển tài chính toàn diện trên thế giới và Viêt Nam
gần đây...............................................................................................................................4
1.1. Tổng quan về phát triển tài chính toàn diện...............................................4
1.1.1. Khái niệm về tài chính toàn diện....................................................................4
1.1.2. Các thước đo của tài chính toàn diện..............................................................4
1.1.3. Sự cần thiết của phát triển tài chính toàn diện................................................5
1.2. Xu hướng phát triển tài chính toàn diện trên thế giới gần đây.................7
1.3. Xu hướng phát triển tài chính toàn diện ở Việt Nam gần đây................10
2..Đánh giá về vai trò của các Ngân hàng thương mại trong phát triển tài chính toàn
diện thông qua các luận điểm và minh chứng phù hợp:..............................................14
3..Đánh giá tác động của xu hướng phát triển tài chính toàn diện tới hoạt động kinh
doanh của NHTM cổ phần Tiên Phong.........................................................................17
3.1. Tổng quan về Ngân hàng thương mại Tiên Phong...................................17
3.2. Tác động của xu hướng phát triển tài chính toàn diện tới hoạt động kinh
doanh của NHTM cổ phần Tiên Phong.....................................................................18
3.2.1. Tác động tích cực..........................................................................................18
3.2.2. Tác động tiêu cực..........................................................................................20
KẾT LUẬN.....................................................................................................................25
Tài liệu tham khảo..........................................................................................................26
2
LỜI MỞ ĐẦU
Trong những năm gần đây, phát triển tài chính toàn diện mối quan tâm của các
chính phủ nhằm tăng cường khả năng tiếp cận và sử dụng dịch vụ tài chính cho mọi thành
viên trong hội, trong đó vai trò của các ngân hàng thương mại cùng quan trọng.
Tài chính toàn diện (hay còn gọi là tài chính bao trùm) không chỉ là các dịch vụ tài chính
được cung ứng tới mọi thành viên trong hội còn một trong những trụ cột quan
trọng trong phát triển bền vững. Trải qua nhiều thập kỷ, tài chính toàn diện đã trở thành
tầm nhìn chung của toàn thế giới trong sứ mệnh xóa đói, giảm nghèo, hướng tới một
hội ổn định, công bằng thịnh vượng, nơi mọi người đều được thụ hưởng những thành
quả do phát triển kinh tế đem lại.
Với chủ đề “xác định vai trò của các NHTM trong phát triển tài chính toàn diện
phân tích tác động của xu hướng này tới hoạt động kinh doanh của một Ngân hàng
thương mại nhất định.”, nhóm chúng em đã quyết định tìm hiểu Ngân hàng thương mại cổ
phần Tiên Phong. Chủ đề nhóm chúng em nghiên cứu sẽ giải quyết được hai nội dung
quan trọng là vai trò của ngân hàng thương mại trong phát triển tài chính toàn diện và tác
động của xu hướng phát triển tài chính toàn diện tới hoạt động kinh doanh của ngân hàng
TP Bank. Mặc nhóm đã cố gắng để thể hoàn thiện bài tiểu luận thật tốt, nhưng
kiến thức cũng như trải nghiệm thực tế còn hạn chế nên sẽ không thể tránh khỏi sai sót.
Chúng em rất mong sẽ nhận được những ý kiến đóng góp từ thầy Nguyễn Thanh Tùng–
Giảng viên bộ môn Ngân hàng thương mại để bài luận này được hoàn thiện nhóm sẽ
có thêm kinh nghiệm làm bài.
Chúng em xin chân thành cảm ơn!
3
1. Sự cần thiết xu hướng phát triển tài chính toàn diện trên thế giới Viêt
Nam gần đây
1.1. Tổng quan về phát triển tài chính toàn diện
1.1.1. Khái niệm về tài chính toàn diện
Theo Ngân hàng Thế giới (WB), tài chính toàn diệnnghĩa là các cá nhân và doanh
nghiệp có thể tiếp cận và sử dụng các sản phẩm và dịch vụ tài chính - các giao dịch, thanh
toán, tiết kiệm, tín dụng và bảo hiểm - đáp ứng nhu cầu của họ và với mức chi phí hợp lý,
được cung cấp theo một cách thức có trách nhiệm và bền vững.
Liên minh Tài chính Toàn diện (AFI) định nghĩa về tài chính toàn diện rộng hơn và đa
chiều hơn, nhấn mạnh đến cả khía cạnh chất lượng sử dụng dịch vụ. Theo đó, tài chính
toàn diện là việc cung cấp cho người sử dụng các dịch vụ tài chính sẵn có với mức chi phí
hợp lý; làm cho khách hàng sử dụng các dịch vụ tài chính một cách thường xuyên; đưa ra
những dịch vụ tài chính được thiết kế phù hợp với nhu cầu của người sử dụng. Tài chính
toàn diện được hiểu theo nghĩa rộng hơn so với tiếp cận tài chính.
Tổng quát lại, tài chính toàn diện tất cả việc cung cấp các dịch vụ tài chính chính
thức (thanh toán, chuyển tiền, tiết kiệm, tín dụng, bảo hiểm) một cách thuận tiện, phù hợp
với nhu cầu và với chi phí hợp lý tới tất cả người dân. Tài chính toàn diện không chỉ giới
hạn trong việc cải thiện khả năng tiếp cận tín dụng bao gồm cả nâng cao hiểu biết về
tài chính cho người dân và bảo vệ người tiêu dùng.
1.1.2. Các thước đo của tài chính toàn diện
Tài chính toàn diện được đo lường dựa trên 03 khía cạnh:
Mức độ bao phủ của các tổ chức tín dụng.
Mức độ sử dụng các sản phẩm và dịch vụ tài chính.
Chất lượng sản phẩm dịch vụ tài chính (Gortsos, 2016).
Những chỉ số thể hiện mức độ bao phủ của các tổ chức tín dụng (xét về phương diện
nhân khẩu học địa lý) bao gồm số lượng chi nhánh/phòng giao dịch trên một kilomet
vuông (1000 m2 ) hay trên 1000 dân, số lượng máy ATM trên một kilomet vuông (1000
m2 ) hay trên 1000 dân.
4
Trong khi đó, mức độ sử dụng là các chỉ số liên quan tới tần suất sử dụng sản phẩm và
dịch vụ tài chính như: phần trăm số lượng tài khoản tiền gửi và ghi nợ trên tổng dân số, số
lượng giao dịch trên mỗi tài khoản tiền gửi, số lượng giao dịch điện tử.
Và cuối cùng những chỉ tiêu thể hiện chất lượng của sản phẩm/dịch vụ, mức độ
hiểu biết về tài chính của người sử dụng.
Tuy nhiên, thực tế việc sử dụng các chỉ tiêu này để đo lường mức độ tiếp cận tài chính
có thể dẫn đến những đánh giá thiếu chính xác và không toàn diện bởi vì một cá nhân hay
doanh nghiệp có thể có nhiều tài khoản, hoặc có những cá nhân không có tài khoản nhưng
có thể sử dụng các dịch vụ tài chính dựa trên tài khoản của một người khác. Tương tự như
vậy, việc sử dụng các chỉ tiêu về chi nhánh ngân hàng máy ATM cũng chỉ mang tính
tương đối trong việc đánh giá khả năng tiếp cận tài chính của người dân.
1.1.3. Sự cần thiết của phát triển tài chính toàn diện
Thứ nhất, tài chính toàn diện thúc đẩy tăng trưởng kinh tế thông qua tăng
cường khả năng huy động các khoản tiết kiệm đầu để phát triển sản
xuất.
Tài chính toàn diện góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế thông qua huy động tiết
kiệm đầu vào lĩnh vực sản xuất. Việc huy động tiết kiệm tạo điều kiện cho các đối
tượng bị loại trừ trong hệ thống tài chính chính thức có thể tiếp cận tiết kiệm, tín dụng và
các dịch vụ giảm nghèo để đầu vào lĩnh vực sản xuất cải thiện phúc lợi. Theo
Levine (2005), cơ sở hạ tầng của hệ thống tài chính toàn diện góp phần hạn chế thông tin
tài chính bất đối xứng, giảm chi phí giao dịch kết hợp đồng. Các chính sách tài chính
toàn diện hiệu quả tác động lên các ngành kinh tế, góp phần giảm nghèo tăng trưởng
kinh tế nhanh. Mối tương quan giữa tài chính toàn diện và tăng trưởng kinh tế này một lần
nữa được khẳng định thông qua mô hình nghiên cứu của AT & SG(2010):
5
Thứ hai, tài chính toàn diện giúp người nghèo được tiếp cận các dịch vụ tài
chính phù hợp với giá cả phải chăng.
Khi các nhu cầu tài chính xuất hiện, người nghèo phải tìm đến các dịch vụ tài
chính phi chính thức nếu họ không thể tiếp cận các dịch vụ chính thức bán chính
thức. Tuy các dịch vụ phi chính thức dễ tiếp cận hơn song nhiều trường hợp chưa đáng
tin cậy, kém an toàn phải trả phí cao hơn so với các dịch vụ bán chính thức
chính thức. Điều này sẽ gia tăng gánh nặng chi phí với người nghèo. Báo o Tài
chính toàn diện G20 (2015) cho thấy hầu hết các nước đang phát triển, chỉ từ 20% đến
50% dân số được tiếp cận các dịch vụ tài chính chính thức, người nghèo và cận nghèo
không thuộc phạm vi này. Việc đối tượng nghèo cận nghèo tiếp cận tốt hơn các
dịch vụ tài chính chính thức sẽ góp phần cải thiện cuộc sống, tạo công ăn việc làm, từ
đó thúc đẩy kinh tế địa phương phát triển. Tài chính toàn diện mang lại cơ hội tiếp cận
hệ thống tài chính chính thức với mức chi phí hợp lý cho tất cả các thành phần của nền
kinh tế, đặc biệt nhóm dân “yếu thế” đang sống “ngoài rìa” nền tài chính, từ
đó ảnh hưởng tích cực đến vấn đề công bằng tài chính và phát triển các hoạt động kinh
tế. khu vực thành thị, viên chức lương thấp hoặc nhân tự doanh như bánng
rong cũng như những người nông dân và những đối tượng khác mưu sinh bằng những
công việc với thu nhập eo hẹp như chế biến thực phẩm, buôn bán nhỏ, đặc biệt là phụ
6
nữ và trẻ em trong độ tuổi quy định sẽ được hưởng lợi từ các hoạt động tài chính như
trên.
Thứ ba, tài chính toàn diện góp phần tăng thu nhập, xóa đói giảm nghèo
tăng phúc lợi cho người nghèo.
Tiếp cận các sản phẩm, dịch vụ tài chính như tiết kiệm, dịch vụ thanh toán, chuyển
tiền kiều hối bảo hiểm sẽ giúp người nghèo tăng khả năng tích lũy tài sản, chống chịu
trước những sốc kinh tế, đồng thời tăng khả năng tạo công ăn việc làm, cải thiện thu
nhập thông qua các khoản tín dụng tiếp cận được. Ngoài lợi ích về mặt tiết kiệm thu nhập
an toàn hội vay vốn lớn hơn, tài chính toàn diện cũng mang lại nhiều kết quả tích
cực như hạn chế lao động trẻ em và tăng năng suất nông nghiệp.
1.2. Xu hướng phát triển tài chính toàn diện trên thế giới gần đây
Thúc đẩy tài chính toàn diện một chủ trương phù hợp với xu hướng phát triển trên
thế giới. Các tổ chức quốc tế như Liên hợp quốc, Ngân hàng Thế giới (WB), nhóm các
nước G20 đều rất chú trọng đến việc hỗ trợ thúc đẩy các quốc gia thực thi các giải
pháp để đạt được mục tiêu về tài chính toàn diện. Liên Hợp quốc xác định, tài chính toàn
diện là một giải pháp quan trọng để đạt được 7/17 mục tiêu phát triển bền vững đến năm
2030. Nhóm G20 xác định, tài chính toàn diện một trong những trụ cột chính trong
định hướng phát triển của mình. Các nước ASEAN cũng xác định tài chính toàn diện
một trong 3 trụ cột cho tầm nhìn ASEAN 2025 đã thành lập Ủy ban Công tác về tài
chính toàn diện từ năm 2016 với mục tiêu hợp tác thúc đẩy tài chính toàn diện ở các nước
thành viên và trong khu vực. Đến nay trên thế giới đã có 55 nước đưa ra cam kết về thực
thi tài chính toàn diện, hơn 30 nước ban hành hoặc đang xây dựng chiến lược quốc gia về
tài chính toàn diện.
Những bước tiến lớn đã được thực hiện nhằm hướng tới tài chính toàn diện 1,2 tỷ
người trưởng thành trên toàn thế giới đã quyền truy cập vào các loại tài khoản ngân
hàng từ năm 2011 đến năm 2017. Theo khảo sát của gần nhất của WB từ năm 2017,
69% người trưởng thành trên thế giới đã sở hữu tài khoản ngân hàng con số này đang
không ngừng tăng lên cho đến nay ( . Global Findex 2021)
7
Theo Worldbank (2017), sở hữu tài khoản tại các tổ chức tài chínhbước đầu tiên quan
trọng đối với TCTD. Việc tài khoản sẽ bước tiền đề giúp cho người dân thể sử
dụng vào các dịch vụ khác của tổ chức tài chính. Theo số liệu khảo sát của Global Findex,
trung bình trên thế giới, trong năm 2011 tỷ lệ người trưởng thành tài khoản 51%,
đến năm 2014 số lượng này lên đến 62% và 2017 là 69%.
Các dịch vụ tài chính kỹ thuật số - bao gồm cả những dịch vụ liên quan đến sử dụng
điện thoại di động - hiện đã được triển khai tại hơn 80 quốc gia, với một số dịch vụ đã đạt
quy mô đáng kể. Kết quả là, hàng triệu khách hàng nghèo trước đây bị loại trừ không
được phục vụ đầy đủ đang chuyển từ giao dịch hoàn toàn bằng tiền mặt sang các dịch vụ
tài chính chính thức sử dụng điện thoại di động hoặc công nghệ kỹ thuật số khác để truy
cập các dịch vụ này.
Nhận thức được được tầm quan trọng của tài chính toàn diện, các quốc gia trên thế
giới đã đang chủ động tích cực chạy theo xu hướng ứng dụng công nghệ để thúc đẩy
tài chính toàn diện ở kỷ nguyên kỹ thuật số, thể hiện qua các phương diện :
hình ngân hàng di động thanh toán di động: Công nghệ ngân ng di
động (Mobile Banking) đã đang được các ngân hàng thương mại áp dụng rộng
rãi như một chiến lược mở rộng thị phần không cần đầu lớn vào sở hạ
tầng. Ngân hàng di động công nghệ thanh toán công cụ hữu ích cho các
8
khách hàng sử dụng dịch vụ ngân ng bởi tính tiện lợi, chất lượng dịch vụ tốt,
nhanh chóng, không phụ thuộc vào yếu tố thời gian mức độ bao phủ lớn, đóng
vai trò quan trọng cho việc sử dụng dịch vụ tài chính chính thức đáp ứng mục
tiêu tài chính toàn diện.
Đổi mới kênh phân phối: Ngân hàng đại - sự kết hợp giữa công nghệ di động
và những kênh phân phối mới, cho phép các ngân hàng tạo ra nhiều điểm tiếp cận
thuận tiện hơn cho khách hàng sử dụng dịch vụ tài chính, giảm tắc nghẽn chi
nhánh và giành được sự hiện diện rộng hơn về mặt địa vùng nông thôn, vùng
sâu, vùng xa,... những nơi không có trụ sở ngân hàng thương mại.
Công nghệ cải thiện công tác xác thực nhân thân báo cáo tín dụng: Công
nghệ làm giảm tình trạng thiếu hụt thông tin để ngăn chặn tình trạng bị loại trừ
khỏi hệ thống tài chính.
Công nghệ Blockchain: Blockchain đang được khám phá như những giải pháp
tiềm năng cao cho các vấn đề như chi phí giao dịch cao thiếu minh bạch trong
các hệ thống tài chính truyền thống. thể kể đến một trong những yếu tố quan
trọng đằng sau sự phát triển mạnh mẽ của tài chính toàn diện tại Mỹ là sự đổi mới
trong công nghệ tài chính. Công nghệ tiên tiến như Internet, di động và Blockchain
đã được áp dụng rộng rãi trong hệ thống tài chính, tạo ra những dịch vụ tiện ích và
hiệu quả hơn cho người dùng. Theo báo cáo của Federal Reserve, tính đến năm
2023, hơn 80% dân số Mỹ đã sử dụng dịch vụ ngân hàng trực tuyến ít nhất một lần
trong năm giá trị giao dịch thanh toán di động Mỹ đạt khoảng 1,2 nghìn tỷ
USD vào năm 2023, tăng hơn 50% so với năm 2020 (Federal Reserve, 2023). Số
lượng người sử dụng ứng dụng thanh toán di động như Venmo, Zelle và Cash App
đã vượt qua mốc 200 triệu người tính đến cuối năm 2023 (eMarketer, 2023).
Tuy nhiên vẫn còn một số mặt hạn chế ở xu hướng tài chính toàn diện trên thế giới:
Gần số người trưởng thành - 1,7 tỷ người vẫn chưa tiếp cận được các dịch vụ
ngân hàng (Findex, 2021).
Khoảng một nửa số người không sử dụng dịch vụ ngân hàng bao gồm phụ nữ
thuộc hộ gia đình nghèo khu vực nông thôn hoặc không lực lượng lao động
(Findex, 2017).
9
Khoảng cách giới tính trong quyền sở hữu tài khoản vẫn ở mức 9 điểm, phần trăm
các quốc gia đang phát triển, cản trở phụ nữ thể kiểm soát hiệu quả đời sống
tài chính của mình.
1.3. Xu hướng phát triển tài chính toàn diện ở Việt Nam gần đây
a. Thực trạng phát triển tài chính toàn diện ở Việt Nam
Theo khuyến cáo của Ngân hàng Thế giới (WorlBank), sự phát triển của tài chính toàn
diện được đánh giá theo ba tiêu chí: Khả năng tiếp cận các dịch vụ tài chính, hiện trạng sử
dụng dịch vụ tài chính và chất lượng dịch vụ tài chính.
Khả năng tiếp cận các dịch vụ tài chính
Theo Báo cáo của Ngân hàng Thế giới (World Bank’s 2017 Global Findex database),
Việt Nam thuộc các nước có thu nhập trung bình thấp (TBT), với thu nhập bình quân đầu
người đạt 2.566 USD. Tuy nhiên, đánh giá trong mối tương quan với các quốc gia có mức
thu nhập TBT, hệ thống hạ tầng kỹ thuật tài chính ở Việt Nam đang mức khá, cao hơn
mức trung bình chung của nhóm TBT.
Bảng 1 thể hiện 4 tiêu chí về hạ tầng kỹ thuật tài chính của Việt Nam và các quốc gia
của 3 nhóm thu nhập gồm: Thu nhập cao (nhóm TNC), thu nhập trung bình cao (nhóm
TBC) và nhóm TBT (đã loại bỏ Việt Nam).
Theo đó, số lượng chi nhánh ngân hàng thương mại (NHTM) trên 1.000km2 của Việt
Nam 7,9 chi nhánh/1.000 km2, chỉ bằng 2,2% so với nhóm TNC (357,9 chi
nhánh/1.000 km2). Tuy nhiên, con số này lại cao hơn so với giá trị trung bình của nhóm
TBT (6.2 chi nhánh/1.000 km2).
10
Xét về chỉ tiêu số lượng máy ATM phân bổ bình quân trên 1.000 km2, Việt Nam đạt
36,2 máy/1.000 km2, thấp hơn con số trung bình của nhóm TNC nhóm TBC. Tuy
nhiên, chỉ tiêu này của Việt Nam lại gấp 2,24 lần so với con số bình quân của nhóm TBT
(16,1 máy/1.000 km2). Như vậy, người trưởng thành Việt Nam về bản đãthể dễ
dàng tiếp cận với các DVTC tại các chi nhánh ngân hàng.
Thực trạng sử dụng dịch vụ tài chính
Theo phó Vụ trưởng Vụ Thanh toán (Ngân hàng Nhà nước), cho biết thanh toán
không dùng tiền mặt đã trở thành xu hướng ghi nhận những con số tăng trưởng cao.
Những con số tích cực về thanh toán không dùng tiền mặt đã cho thấy sự phổ cập dịch vụ
ngân hàng và thành công trong tạo lập, phát triển hệ sinh thái số. Đến hết năm 2023, Việt
Nam có hơn 182 triệu tài khoản thanh toán nhân 87,08% người trưởng thành sở
hữu tài khoản thanh toán. Hơn 147 triệu thẻ ngân hàng đang được lưu hành. 32,77 triệu
điện tử đang hoạt động. Số lượng giao dịch thanh toán qua kênh internet mobile bình
quân giai đoạn 2021-2023 lần lượt tăng trưởng ở mức 52%103,3%; tăng trưởng về số
lượng và giá trị thanh toán qua phương thức QR Code đạt hơn 170%. Tính riêng 4 tháng
năm 2024, các chỉ số thanh toán không dùng tiền mặt mức tăng trưởng khá. Cụ thể,
giao dịch thanh toán không tiền mặt tăng 57,11% về số lượng 39,49% về giá trị, qua
kênh internet tăng 47,48% về số lượng 30,20% về giá trị; qua kênh điện thoại di động
tăng 59,26% về số lượng và 35,91% về giá trị. Giao dịch qua ATM tiếp tục giảm 14,15%
về số lượng giảm 7,84% về giá trị so với cùng kỳ năm 2023, cho thấy xu hướng dịch
chuyển từ thanh toán bằng tiền mặt sang thanh toán không dùng tiền mặt. Về mở tài
khoản qua phương thức eKYC, 40 ngân hàng báo cáo đã triển khai chính thức với gần 35
triệu tài khoản thanh toán mở bằng eKYC đang hoạt động.
Chất lượng dịch vụ tài chính
- Đối với thị trường bảo hiểm (TTBH): Quy mô TTBH Việt Nam hiện nay ở mức thấp
so với mức trung bình của các nước trong khu vực (3-5%) và thế giới (6-7%), chưa có các
chế quản lý, giám sát trên srủi ro nhằm tăng cường sự chủ động của DN trong
quản trị, điều hành.
11
Các sản phẩm bảo hiểm hưu trí tự nguyện, bảo hiểm cho người có thu nhập thấp chưa
phát triển; phân khúc khai thác bảo hiểm còn chưa đồng đều. Trong khi đó, các doanh
nghiệp bảo hiểm (DNBH) chủ yếu tập trung khai thác tại các thành phố lớn (trên 70%
tổng doanh thu)các đối tượng có thu nhập cao (với phí bảo hiểm bình quân hàng năm
của 1 hợp đồng bảo hiểm nhân thọ khai thác mới là 12,5 triệu đồng).
Chất lượng tính chuyên nghiệp của kênh phân phối đại bảo hiểm cũng cần phải
tăng cường hơn nữa, như vậy mới có thể đảm bảo tốt vai trò cầu nối giữa DNBH
người tham gia bảo hiểm.
- Đối với dịch vụ ngân hàng: Các sản phẩm dịch vụ ngân hàng chưa phong phú, chưa
đáp ứng được nhu cầu của khách hàng. Kênh phân phối chưa đa dạng, hiệu quả còn hạn
chế, phương thức giao dịch chủ yếu tại quầy, các hình thức giao dịch từ xa dựa trên nền
tảng công nghệ thông tin chưa phổ biến ở các tỉnh, khu vực nông thôn, chỉ phổ biến ở khu
vực các thành phố lớn. Phần lớn ATM đặt chủ yếu thị xã, khu đô thị thành phố,
mạng lưới các đơn vị chấp nhận thẻ còn ít, việc kết nối hệ thống các máy ATM vẫn còn
nhiều bất cập về phí cũng như trách nhiệm xử các vấn đề phát sinh. Do vậy, chưa tạo
sự thuận lợi trong việc sử dụng thẻgây tâm lý e ngại khi sử dụng cho người dân, làm
hạn chế khả năng tiếp cận dịch vụ ngân hàng.
b. Giải pháp của chính phủ
Việt Nam, thời gian qua, Chính phủ đã xây dựng ban hành các chính sách liên
quan đến tài chính toàn diện quốc gia. Đặc biệt, Chiến lược tài chính toàn diện quốc gia
đến năm 2025, định hướng đến năm 2030 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại
Quyết định số 149/QĐ-TTg, ngày 22/01/2020. Trong đó, chỉ tiêu đặt ra phấn đấu đến
cuối năm 2025 đạt được
Ít nhất 80% người trưởng thành tài khoản giao dịch tại ngân hàng hoặc các tổ
chức được phép khác; tiến tới mỗi người trưởng thành có ít nhất một tài khoản giao
dịch tại ngân hàng hoặc các tổ chức được phép khác vào năm 2030
Ít nhất 20 chi nhánh, phòng giao dịch của ngân hàng thương mại trên 100.000
người trưởng thành
12
Ít nhất 50% tổng sốcó điểm cung ứng DVTC (chi nhánh, phòng giao dịch của
tổ chức tín dụng đại ngân hàng; ngoại trừ điểm cung ứng dịch vụ tài chính
của Ngân hàng Chính sách xã hội)
Ít nhất 25% - 30% người trưởng thành gửi tiết kiệm tại tổ chức tín dụng; Số
lượng giao dịch thanh toán không dùng tiền mặt đạt tốc độ tăng từ 20% -25% hàng
năm
Ít nhất 250.000 doanh nghiệp nhỏ và vừa có dư nợ tại các tổ chức tín dụng; Dư nợ
tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn trên tổng nợ tín dụng đối
với nền kinh tế đạt 25%; Doanh thu phí bảo hiểm bình quân GDP là 3,5%
Ít nhất 70% người trưởng thành thông tin về lịch sử tín dụng trong hệ thống
thông tin tín dụng của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (Nhịp sống thị trường,
2023)
c. Kết quả đạt được
Theo Ngân hàng Nhà nước (2022), sau hơn 2 năm, triển khai Chiến lược tài chính toàn
diện đã đạt được một số kết quả nổi bật như:
- Khuôn khổ pháp lý không ngừng được hoàn thiện tạo môi trường thuận lợi cho việc
thực hiện các mục tiêu của tài chính toàn diện; hoàn thiện các chế chính sách bảo vệ
người tiêu dùng tài chính... Phát triển mạng lưới đồng thời phát triển đa dạng các kênh
phân phối sản phẩm dịch vụ tài chính trên phạm vi cả nước. Các sản phẩm dịch vụ tài
chính nhất là các sản phẩm dịch vụ tài chính cơ bản hướng đến đối tượng mục tiêu của tài
chính toàn diện được chú trọng phát triển trên nền tảng ứng dụng công nghệ số với nhiều
tiện ích phù hợp với nhu cầu của người tiêu dùng; cơ sở hạ tầng thanh toán tiếp tục được
đầu tư hoàn thiện...
Nhiều giải pháp đã được triển khai góp phần đẩy mạnh khả năng tiếp cận các sản
phẩm, dịch vụ tài chính của người dân và doanh nghiệp như: Ban hành quy định cho phép
mở tài khoản thanh toán bằng phương thức điện tử; triển khai thí điểm dùng tài khoản
viễn thông thanh toán cho các hàng hóa, dịch vụ giá trị nhỏ như: Mobile Money, xây
dựng và chính thức vận hành hệ thống Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư... Ngân hàng Nhà
13
nước cũng đã chỉ đạo các tổ chức tín dụng (TCTD) tích cực triển khai các chương trình
đào tạo nâng cao kiến thức tài chính cho người dân, doanh nghiệp.
Hệ thống các TCTD Việt Nam ngày càng phát triển hiệu quả bền vững, mạng lưới chi
nhánh phòng giao dịch, hệ thống ATM, POS các điểm cung ứng dịch vụ tài chính trải
rộng khắp địa bàn trong cả nước. Các TCTD tiếp tục cân đối tập trung nguồn vốn cho các
chương trình tín dụng đặc thù phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn với tổng nợ
tín dụng cho lĩnh vực này chiếm 25%/tổng nợ tín dụng nền kinh tế. Dịch vụ tài chính
số đã đạt nhiều thành tựu nổi bật thể hiện dưới biểu đổ sau:
2. Đánh giá về vai trò của các Ngân hàng thương mại trong phát triển tài chính
toàn diện thông qua các luận điểm và minh chứng phù hợp
Ngân hàng thương mại đóng vai trò quan trọng trong phát triển tài chính toàn diện
bằng cách cung cấp các dịch vụ tài chính đa dạng như tài khoản, cho vay và thẻ tín dụng,
14
giúp người dân doanh nghiệp dễ dàng tiếp cận vốn. Ngoài ra Ngân hàng thương mại
còn mở rộng mạng lưới chi nhánh, đặc biệt ở vùng nông thôn, để phục vụ nhiều đối tượng
hơn, đồng thời tổ chức các chương trình giáo dục tài chính nhằm nâng cao nhận thức về
quản tài chính nhân. Ngân hàng cũng hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ vừa bằng các
khoản vay phù hợp, khuyến khích tiết kiệm thông qua các sản phẩm đầu tư, thúc đẩy
thanh toán không dùng tiền mặt, nâng cao hiệu quả giao dịch. Bên cạnh đó, chúng bảo vệ
tiền gửi của khách hàng thông qua hệ thống bảo hiểm quy định an toàn, đồng thời tài
trợ cho các dự án phát triển bền vững, góp phần vào mục tiêu phát triển kinh tế xanh.
Tóm lại, ngân hàng thương mại không chỉ là trung gian tài chính mà còn là động lực thúc
đẩy phát triển kinh tế và xã hội. Điều này được thể hiện qua các luận điểm và minh chứng
sau:
Cung cấp dịch vụ tài chính đa dạng: Ngân hàng thương mại đóng vai trò quan
trọng trong việc cung cấp dịch vụ tài chính đa dạng, đáp ứng nhu cầu của cả nhân
doanh nghiệp. Ngân hàng thương mại cung cấp tài khoản thanh toán cho phép thực hiện
các giao dịch hàng ngày, cùng với tài khoản tiết kiệm có lãi suất hấp dẫn để khuyến khích
tích lũy tài sản. Các ngân hàng cũng đưa ra nhiều hình thức cho vay, bao gồm cho vay
tiêu dùng, cho vay mua nhà cho vay doanh nghiệp, giúp hỗ trợ đầu phát triển.
Thẻ tín dụng được phát hành để khách hàng chi tiêu linh hoạt, trong khi dịch vụ chuyển
tiền nhanh chóng giúp gửi và nhận tiền dễ dàng. Ngoài ra, nhiều ngân hàng còn cung cấp
dịch vụ vấn quản đầu tư, sản phẩm bảo hiểm để bảo vệ tài sản, dịch vụ ngân
hàng điện tử cho phép giao dịch trực tuyến thuận tiện. Những dịch vụ này không chỉ đáp
ứng nhu cầu tài chính mà còn góp phần vào sự phát triển kinh tế bền vững.
Tăng cường khả năng tiếp cận tài chính: Ngân hàng thương mại đóng vai trò
quan trọng trong việc tăng cường khả năng tiếp cận tài chính cho nhiều đối tượng trong xã
hội. Bằng cách mở rộng mạng lưới chi nhánh điểm giao dịch, đặc biệt các khu vực
nông thôn vùng sâu vùng xa, giúp người dân dễ dàng tiếp cận dịch vụ tài chính. Bên
cạnh đó, dịch vụ ngân hàng di động cho phép khách hàng thực hiện giao dịch qua điện
thoại, đặc biệt quan trọng những nơi hạ tầng ngân hàng hạn chế. Ngân hàng cũng
phát triển các sản phẩm tài chính phù hợp với nhu cầu của từng nhóm khách hàng, như
khoản vay nhỏ tài khoản tiết kiệm với mức phí thấp. Các chương trình giáo dục tài
15
chính giúp nâng cao nhận thức của cộng đồng về sản phẩm ngân hàng và quản lý tài chính
cá nhân. Đặc biệt, ngân hàng thương mại hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa bằng các khoản
vay dễ tiếp cận áp dụng công nghệ tài chính (Fintech) để tạo ra nhiều giải pháp mới.
Nhiều ngân hàng cũng có chương trình ưu đãi cho nhóm đối tượng yếu thế, như sinh viên
hoặc người thu nhập thấp. Tất cả những nỗ lực này không chỉ giúp tăng cường khả năng
tiếp cận tài chính còn xây dựng một hệ thống tài chính công bằng bền vững, thúc
đẩy sự phát triển của tài chính toàn diện.
Thúc đẩy hiểu biết tài chính: Các ngân hàng thương mại cũng cung cấp nhiều cơ
quan và chức năng tư vấn nhờ vào vai trò trung gian tài chính. Các dịch vụ tư vấn để quản
rủi ro từ các hoạt động giữa doanh nghiệp với doanh nghiệp, hỗ trợ tín dụng thương
mại với các thực thể toàn cầu tham gia xuất nhập khẩu hoặc chứng minh hiệu suất của các
dịch vụ xuyên biên giới là một số ví dụ. Các thể chế được quản lý chặt chẽ và tích hợp với
các hệ thống toàn cầu (ví dụ: SWIFT), đây một chức năng rào cản gia nhập đối với
các công ty không hoạt động trên cùng một quy mô. Việc tiếp cận các dịch vụ ngân hàng
trước đây đang còn khó khăn, nhưng ngày nay với sự phát triển của khoa học công nghệ
các chính sách của nhà nước thì việc tiếp cận tới công nghệ, dịch vụ tài chính của
người dân cũng tăng lên đáng kể.
Hỗ trợ chính sách tiền tệ của chính phủ: Thực hiện chính sách tiền tệ: Ngân
hàng thương mại là kênh chính để Nhà nước thực hiện chính sách tiền tệ. Bằng cách điều
chỉnh lãi suất, tỷ lệ dự trữ bắt buộc, ngân hàng thương mại thể hoạt động cung tiền,
thanh toán và tăng trưởng kinh tế.
+ Hỗ trợ tín dụng cho các lĩnh vực ưu tiên: Ngân hàng thương mại tham gia tích
tích vào các chương trình tín dụng ưu đãi của Nhà nước, cung cấp vốn nhỏ cho các lĩnh
vực như nông nghiệp, công nghiệp, xuất khẩu, doanh nghiệp nhỏ vừa... Điều này góp
phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, tạo việc làm và nâng cao đời sống người dân.
+Tham gia vào các hoạt động hội: Ngân hàng thương mại tham gia vào các hoạt
động xã hội như hỗ trợ các lĩnh vực khó khăn, thiên tai, các chương trình giáo dục, y tế...
Điều này thể thực hiện trách nhiệm hội hội doanh nghiệp xây dựng một cộng
đồng tốt hơn.
16
+Thu thập và cung cấp thông tin: Ngân hàng thương mại thu thập và cung cấp thông
tin về tình hình hoạt động của doanh nghiệp, thị trường, giúp Nhà nước có cơ sở để đánh
giá tình hình kinh tế và điều chỉnh chính sách phù hợp.
+Tham gia vào công tác thanh toán: Ngân hàng thương mại cung cấp các dịch vụ
thanh toán, chuyển tiền, thanh toán quốc tế, góp phần hiện đại hóa hệ thống thanh toán
của quốc gia.
Đổi mới công nghệ trong dịch vụ tài chính: Việc đổi mới công nghệ tài chính đã và
đang mang lại một làn sóng cách mạng trong ngành ngân hàng. Các ngân hàng thương
mại, bằng cách ứng dụng những công nghệ mới, không chỉ nâng cao hiệu quả hoạt động
còn tạo ra những trải nghiệm mới mẻ cho khách hàng. Chẳng hạn như giao dịch trực
tuyến, cá nhân hóa dịch vụ, thanh toán không tiền mặt, tự động hóa các quy trình.
3. Đánh giá tác động của xu hướng phát triển tài chính toàn diện tới hoạt động
kinh doanh của NHTM cổ phần Tiên Phong
3.1. Tổng quan về Ngân hàng thương mại Tiên Phong
Ngân hàng Thương mại Cổ phần Tiên Phong (gọi tắt là “TPBank”) được thành lập từ
ngày 05/05/2008 với khát vọng trở thành một tổ chức tài chính minh bạch, hiệu quả, bền
vững, mang lại lợi ích tốt nhất cho cổ đông và khách hàng. Trong thời gia qua TPBank đã
nhanh chóng khẳng định được vị thế của mình trên thị trường nhờ vào sự đổi mới, ứng
dụng công nghệ hiện đại và sự tập trung vào khách hàng.
Với mục tiêu trở thành một tổ chức tài chính hiện đại, hiệu quả. TPBank luôn nỗ lực
mang lại các giải pháp, sản phẩm tài chính ngân hàng hiệu quả nhất, hướng tới phân khúc
khách hàng trẻ năng động. Dựa trên nền tảng công nghệ tiên tiến trình độ quản
chuyên sâu, với mục tiêu đi đầu về ngân hàng số, TPBank đã tập trung đầu để hạ
tầng hiện đại, giải pháp công nghệ tiên tiến với nhiều sản phẩm đột phá.
Tháng 12/2013, doanh nghiệp cho ra mắt nhận diện thương hiệu chính thức, được Thủ
tướng Chính phủ tặng bằng khen về thành tích tái cấu đến tháng 12/2014, ngân
hàng khai trương trụ sở mới tại số 57 Lý Thường Kiệt, Hoàn Kiếm, Hà Nội.
Hiện nay, TPBank không ngừng mở rộng mạng lưới, đa dạng hóa sản phẩm dịch vụ và
đạt được nhiều thành tựu đáng kể. Với tuyên ngôn thương hiệu “Vì chúng tôi hiểu bạn”,
17
TPBank mong muốn lấy nền tảng của “sự thấu hiểu” khách hàng để xây dựng phong cách
chất lượng dịch vụ ngân hàng hàng đầu.
1.
2.
3.
3.1.
3.2. Tác động của xu hướng phát triển tài chính toàn diện tới hoạt động
kinh doanh của NHTM cổ phần Tiên Phong
1.
2.
3.
3.1.
3.2.
3.2.1. Tác động tích cực
Tài chính toàn diệnmột xu hướng phát triển không thể phủ nhận trong ngành ngân
hàng, đặc biệt trong bối cảnh hội nhập kinh tế toàn cầu và sự phát triển mạnh mẽ của công
nghệ. Xu hướng này mang lại nhiềuhội và thách thức cho các ngân hàng thương mại,
trong đó có NHTM Cổ phần Tiên Phong.
Mở rộng khách hàng và thị trường.
Tài chính toàn diện giúp TPBank tiếp cận được nhiều đối tượng khách hàng hơn, đặc
biệt những nhóm khách hàng truyền thống khó tiếp cận như nông dân, doanh nghiệp
nhỏ vừa, người lao động tự do. Năm 2023, TPBank nối dài chuỗi tăng trưởng khách
hàng thần tốc với 3,5 triệu tài khoản mới, nâng tổng số khách hàng phục vụ vượt mốc 12
triệu. Chỉ trong vòng 3 năm, TPBank đã thu hút hơn 8,6 triệu khách hàng, gấp 2 lần tổng
số lượng khách hàng của 12 năm trước đó.
Chuyển đổi số đã giúp TP bank tiết kiệm chi phí vận hành
Chuyển đổi số một yếu tố chiến lược trong quá trình phát triển kinh tế toàn diện.
Theo như chia sẻ của ông Nguyễn Hưng _ Tổng giám đốc ngân hàng TP Bank, tính đến
18
cuối năm 2022 đã số hóa tới 90% các hoạt động của ngân hàng. Việc ứng dụng các công
nghệ số như trí tuệ nhân tạo (AI), tự động hóa quy trình (RPA), phân tích dữ liệu lớn
(Big Data) đã mang lại nhiều lợi ích rõ rệt. Ông Hưng cho biết, thông qua việc chuyển đổi
số, ngân hàng đã giảm được tới 40% chi phí vận hành. Điều này không chỉ giúp tối ưu
hóa nguồn lựccòn cho phép ngân hàng tập trung vào việc cải thiện trải nghiệm khách
hàng, nâng cao chất lượng dịch vụ và mở rộng các dịch vụ ngân hàng số
Tăng trưởng doanh thu và lợi nhuận
Việc mở rộng khách hàng thị trường đã giúp TPBank tăng quy tín dụng, từ đó
tăng doanh thu thuần từ lãi. Bên cạnh đó bằng cách cung cấp nhiều sản phẩm dịch vụ hơn,
TPBank đã đa dạng hóa nguồn thu, giảm thiểu rủi ro tập trung vào một loại hình dịch vụ.
Tại báo cáo tài chính Quý I/2023, kết quả kinh doanh của TPBank đã đạt hơn 1.700 tỷ
đồng, tăng 9% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, hoạt động kinh doanh ngoại hối trở
thành điểm sáng với doanh thu đạt khoảng 150 tỷ nhờ tận dụng tốt các cơ hội thị trường.
Tổng thu nhập hoạt động quý đạt trên 3.600 tỷ, riêng thu nhập lãi thuần từ dịch vụ đạt 696
tỷ, tăng 36% so với cùng kỳ 2022 nhờ sự đa dạng hóa dịch vụ cũng như sự tăng trưởng về
quy mô hoạt động.
19
Nâng cao khả năng cạnh tranh
TPBank đã nâng cao khả năng cạnh tranh nhờ việc cung cấp các dịch vụ tiện ích,
nhanh chóng an toàn sẽ giúp nâng cao trải nghiệm khách hàng, tăng lòng trung thành
của khách hàng; áp dụng các tiêu chuẩn quản trị rủi ro quốc tế sẽ giúp nâng cao khả năng
quản lý rủi ro, đảm bảo sự ổn định và bền vững của ngân hàng; triển khai các hoạt động
tài chính toàn diện, ngân hàng thể xây dựng hình ảnh một ngân hàng hiện đại, năng
động và thân thiện với cộng đồng.
20

Preview text:

HỌC VIỆN NGÂN HÀNG KHOA NGÂN HÀNG ---------- BÀI TẬP LỚN
MÔN: NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
ĐỀ TÀI: VAI TRÒ CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI TRONG PHÁT
TRIỂN TÀI CHÍNH TOÀN DIỆN VÀ PHÂN TÍCH TÁC ĐỘNG CỦA
TÀI CHÍNH TOÀN DIỆN TỚI HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA NGÂN HÀNG TIÊN PHONG
Giảng viên hướng dẫn Nguyễn Thanh Tùng
Lớp học phần 241FIN17A19 Số từ 7901
Ngân hàng thương mại Tiên Phong Nhóm thực hiện 7
1. Lê Nguyễn Tùng Dương 26A4013135
2. Nguyễn Mai Duyên 26A4011530
3. Nguyễn Thị Duyên 25A4020200
4. Nguyễn Đức Lộc 26A4012438 5. Chử Ngọc Mai 26A4012242
6. Nguyễn Thị Thu Phương 26A4012925
7. Nguyễn Hoàng Vũ 26A4012291
Hà nội, tháng 10 năm 2024 MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU...................................................................................................................3
1.. .Sự cần thiết và xu hướng phát triển tài chính toàn diện trên thế giới và Viêt Nam
gần đây...............................................................................................................................4 1.1.
Tổng quan về phát triển tài chính toàn diện...............................................4 1.1.1.
Khái niệm về tài chính toàn diện....................................................................4 1.1.2.
Các thước đo của tài chính toàn diện..............................................................4 1.1.3.
Sự cần thiết của phát triển tài chính toàn diện................................................5 1.2.
Xu hướng phát triển tài chính toàn diện trên thế giới gần đây.................7 1.3.
Xu hướng phát triển tài chính toàn diện ở Việt Nam gần đây................10
2..Đánh giá về vai trò của các Ngân hàng thương mại trong phát triển tài chính toàn
diện thông qua các luận điểm và minh chứng phù hợp:..............................................14
3..Đánh giá tác động của xu hướng phát triển tài chính toàn diện tới hoạt động kinh
doanh của NHTM cổ phần Tiên Phong.........................................................................17 3.1.
Tổng quan về Ngân hàng thương mại Tiên Phong...................................17 3.2.
Tác động của xu hướng phát triển tài chính toàn diện tới hoạt động kinh
doanh của NHTM cổ phần Tiên Phong.....................................................................18 3.2.1.
Tác động tích cực..........................................................................................18 3.2.2.
Tác động tiêu cực..........................................................................................20
KẾT LUẬN.....................................................................................................................25
Tài liệu tham khảo..........................................................................................................26 2 LỜI MỞ ĐẦU
Trong những năm gần đây, phát triển tài chính toàn diện là mối quan tâm của các
chính phủ nhằm tăng cường khả năng tiếp cận và sử dụng dịch vụ tài chính cho mọi thành
viên trong xã hội, trong đó vai trò của các ngân hàng thương mại là vô cùng quan trọng.
Tài chính toàn diện (hay còn gọi là tài chính bao trùm) không chỉ là các dịch vụ tài chính
được cung ứng tới mọi thành viên trong xã hội mà còn là một trong những trụ cột quan
trọng trong phát triển bền vững. Trải qua nhiều thập kỷ, tài chính toàn diện đã trở thành
tầm nhìn chung của toàn thế giới trong sứ mệnh xóa đói, giảm nghèo, hướng tới một xã
hội ổn định, công bằng và thịnh vượng, nơi mọi người đều được thụ hưởng những thành
quả do phát triển kinh tế đem lại.
Với chủ đề “xác định vai trò của các NHTM trong phát triển tài chính toàn diện và
phân tích tác động của xu hướng này tới hoạt động kinh doanh của một Ngân hàng
thương mại nhất định.”, nhóm chúng em đã quyết định tìm hiểu Ngân hàng thương mại cổ
phần Tiên Phong. Chủ đề nhóm chúng em nghiên cứu sẽ giải quyết được hai nội dung
quan trọng là vai trò của ngân hàng thương mại trong phát triển tài chính toàn diện và tác
động của xu hướng phát triển tài chính toàn diện tới hoạt động kinh doanh của ngân hàng
TP Bank. Mặc dù nhóm đã cố gắng để có thể hoàn thiện bài tiểu luận thật tốt, nhưng vì
kiến thức cũng như trải nghiệm thực tế còn hạn chế nên sẽ không thể tránh khỏi sai sót.
Chúng em rất mong sẽ nhận được những ý kiến đóng góp từ thầy Nguyễn Thanh Tùng–
Giảng viên bộ môn Ngân hàng thương mại để bài luận này được hoàn thiện và nhóm sẽ
có thêm kinh nghiệm làm bài.
Chúng em xin chân thành cảm ơn! 3
1. Sự cần thiết và xu hướng phát triển tài chính toàn diện trên thế giới và Viêt Nam gần đây 1.1.
Tổng quan về phát triển tài chính toàn diện 1.1.1.
Khái niệm về tài chính toàn diện
Theo Ngân hàng Thế giới (WB), tài chính toàn diện có nghĩa là các cá nhân và doanh
nghiệp có thể tiếp cận và sử dụng các sản phẩm và dịch vụ tài chính - các giao dịch, thanh
toán, tiết kiệm, tín dụng và bảo hiểm - đáp ứng nhu cầu của họ và với mức chi phí hợp lý,
được cung cấp theo một cách thức có trách nhiệm và bền vững.
Liên minh Tài chính Toàn diện (AFI) định nghĩa về tài chính toàn diện rộng hơn và đa
chiều hơn, nhấn mạnh đến cả khía cạnh chất lượng sử dụng dịch vụ. Theo đó, tài chính
toàn diện là việc cung cấp cho người sử dụng các dịch vụ tài chính sẵn có với mức chi phí
hợp lý; làm cho khách hàng sử dụng các dịch vụ tài chính một cách thường xuyên; đưa ra
những dịch vụ tài chính được thiết kế phù hợp với nhu cầu của người sử dụng. Tài chính
toàn diện được hiểu theo nghĩa rộng hơn so với tiếp cận tài chính.
Tổng quát lại, tài chính toàn diện là tất cả việc cung cấp các dịch vụ tài chính chính
thức (thanh toán, chuyển tiền, tiết kiệm, tín dụng, bảo hiểm) một cách thuận tiện, phù hợp
với nhu cầu và với chi phí hợp lý tới tất cả người dân. Tài chính toàn diện không chỉ giới
hạn trong việc cải thiện khả năng tiếp cận tín dụng mà bao gồm cả nâng cao hiểu biết về
tài chính cho người dân và bảo vệ người tiêu dùng. 1.1.2.
Các thước đo của tài chính toàn diện
Tài chính toàn diện được đo lường dựa trên 03 khía cạnh:
Mức độ bao phủ của các tổ chức tín dụng.
Mức độ sử dụng các sản phẩm và dịch vụ tài chính.
Chất lượng sản phẩm dịch vụ tài chính (Gortsos, 2016).
Những chỉ số thể hiện mức độ bao phủ của các tổ chức tín dụng (xét về phương diện
nhân khẩu học và địa lý) bao gồm số lượng chi nhánh/phòng giao dịch trên một kilomet
vuông (1000 m2 ) hay trên 1000 dân, số lượng máy ATM trên một kilomet vuông (1000 m2 ) hay trên 1000 dân. 4
Trong khi đó, mức độ sử dụng là các chỉ số liên quan tới tần suất sử dụng sản phẩm và
dịch vụ tài chính như: phần trăm số lượng tài khoản tiền gửi và ghi nợ trên tổng dân số, số
lượng giao dịch trên mỗi tài khoản tiền gửi, số lượng giao dịch điện tử.
Và cuối cùng là những chỉ tiêu thể hiện chất lượng của sản phẩm/dịch vụ, và mức độ
hiểu biết về tài chính của người sử dụng.
Tuy nhiên, thực tế việc sử dụng các chỉ tiêu này để đo lường mức độ tiếp cận tài chính
có thể dẫn đến những đánh giá thiếu chính xác và không toàn diện bởi vì một cá nhân hay
doanh nghiệp có thể có nhiều tài khoản, hoặc có những cá nhân không có tài khoản nhưng
có thể sử dụng các dịch vụ tài chính dựa trên tài khoản của một người khác. Tương tự như
vậy, việc sử dụng các chỉ tiêu về chi nhánh ngân hàng và máy ATM cũng chỉ mang tính
tương đối trong việc đánh giá khả năng tiếp cận tài chính của người dân. 1.1.3.
Sự cần thiết của phát triển tài chính toàn diện
Thứ nhất, tài chính toàn diện thúc đẩy tăng trưởng kinh tế thông qua tăng
cường khả năng huy động các khoản tiết kiệm và đầu tư để phát triển sản xuất.
Tài chính toàn diện góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế thông qua huy động tiết
kiệm và đầu tư vào lĩnh vực sản xuất. Việc huy động tiết kiệm tạo điều kiện cho các đối
tượng bị loại trừ trong hệ thống tài chính chính thức có thể tiếp cận tiết kiệm, tín dụng và
các dịch vụ giảm nghèo để đầu tư vào lĩnh vực sản xuất và cải thiện phúc lợi. Theo
Levine (2005), cơ sở hạ tầng của hệ thống tài chính toàn diện góp phần hạn chế thông tin
tài chính bất đối xứng, giảm chi phí giao dịch ký kết hợp đồng. Các chính sách tài chính
toàn diện hiệu quả tác động lên các ngành kinh tế, góp phần giảm nghèo và tăng trưởng
kinh tế nhanh. Mối tương quan giữa tài chính toàn diện và tăng trưởng kinh tế này một lần
nữa được khẳng định thông qua mô hình nghiên cứu của AT & SG(2010): 5
Thứ hai, tài chính toàn diện giúp người nghèo được tiếp cận các dịch vụ tài
chính phù hợp với giá cả phải chăng.
Khi các nhu cầu tài chính xuất hiện, người nghèo phải tìm đến các dịch vụ tài
chính phi chính thức nếu họ không thể tiếp cận các dịch vụ chính thức và bán chính
thức. Tuy các dịch vụ phi chính thức dễ tiếp cận hơn song nhiều trường hợp chưa đáng
tin cậy, kém an toàn và phải trả phí cao hơn so với các dịch vụ bán chính thức và
chính thức. Điều này sẽ gia tăng gánh nặng chi phí với người nghèo. Báo cáo Tài
chính toàn diện G20 (2015) cho thấy hầu hết các nước đang phát triển, chỉ từ 20% đến
50% dân số được tiếp cận các dịch vụ tài chính chính thức, người nghèo và cận nghèo
không thuộc phạm vi này. Việc đối tượng nghèo và cận nghèo tiếp cận tốt hơn các
dịch vụ tài chính chính thức sẽ góp phần cải thiện cuộc sống, tạo công ăn việc làm, từ
đó thúc đẩy kinh tế địa phương phát triển. Tài chính toàn diện mang lại cơ hội tiếp cận
hệ thống tài chính chính thức với mức chi phí hợp lý cho tất cả các thành phần của nền
kinh tế, đặc biệt là nhóm dân cư “yếu thế” và đang sống “ngoài rìa” nền tài chính, từ
đó ảnh hưởng tích cực đến vấn đề công bằng tài chính và phát triển các hoạt động kinh
tế. Ở khu vực thành thị, viên chức lương thấp hoặc cá nhân tự doanh như bán hàng
rong cũng như những người nông dân và những đối tượng khác mưu sinh bằng những
công việc với thu nhập eo hẹp như chế biến thực phẩm, buôn bán nhỏ, đặc biệt là phụ 6
nữ và trẻ em trong độ tuổi quy định sẽ được hưởng lợi từ các hoạt động tài chính như trên.
Thứ ba, tài chính toàn diện góp phần tăng thu nhập, xóa đói giảm nghèo và
tăng phúc lợi cho người nghèo.
Tiếp cận các sản phẩm, dịch vụ tài chính như tiết kiệm, dịch vụ thanh toán, chuyển
tiền kiều hối và bảo hiểm sẽ giúp người nghèo tăng khả năng tích lũy tài sản, chống chịu
trước những cú sốc kinh tế, đồng thời tăng khả năng tạo công ăn việc làm, cải thiện thu
nhập thông qua các khoản tín dụng tiếp cận được. Ngoài lợi ích về mặt tiết kiệm thu nhập
an toàn và cơ hội vay vốn lớn hơn, tài chính toàn diện cũng mang lại nhiều kết quả tích
cực như hạn chế lao động trẻ em và tăng năng suất nông nghiệp. 1.2.
Xu hướng phát triển tài chính toàn diện trên thế giới gần đây
Thúc đẩy tài chính toàn diện là một chủ trương phù hợp với xu hướng phát triển trên
thế giới. Các tổ chức quốc tế như Liên hợp quốc, Ngân hàng Thế giới (WB), nhóm các
nước G20 đều rất chú trọng đến việc hỗ trợ và thúc đẩy các quốc gia thực thi các giải
pháp để đạt được mục tiêu về tài chính toàn diện. Liên Hợp quốc xác định, tài chính toàn
diện là một giải pháp quan trọng để đạt được 7/17 mục tiêu phát triển bền vững đến năm
2030. Nhóm G20 xác định, tài chính toàn diện là một trong những trụ cột chính trong
định hướng phát triển của mình. Các nước ASEAN cũng xác định tài chính toàn diện là
một trong 3 trụ cột cho tầm nhìn ASEAN 2025 và đã thành lập Ủy ban Công tác về tài
chính toàn diện từ năm 2016 với mục tiêu hợp tác thúc đẩy tài chính toàn diện ở các nước
thành viên và trong khu vực. Đến nay trên thế giới đã có 55 nước đưa ra cam kết về thực
thi tài chính toàn diện, hơn 30 nước ban hành hoặc đang xây dựng chiến lược quốc gia về tài chính toàn diện.
Những bước tiến lớn đã được thực hiện nhằm hướng tới tài chính toàn diện và 1,2 tỷ
người trưởng thành trên toàn thế giới đã có quyền truy cập vào các loại tài khoản ngân
hàng từ năm 2011 đến năm 2017. Theo khảo sát của gần nhất của WB từ năm 2017, có
69% người trưởng thành trên thế giới đã sở hữu tài khoản ngân hàng và con số này đang
không ngừng tăng lên cho đến nay (Global Findex 2021). 7
Theo Worldbank (2017), sở hữu tài khoản tại các tổ chức tài chính là bước đầu tiên quan
trọng đối với TCTD. Việc có tài khoản sẽ là bước tiền đề giúp cho người dân có thể sử
dụng vào các dịch vụ khác của tổ chức tài chính. Theo số liệu khảo sát của Global Findex,
trung bình trên thế giới, trong năm 2011 tỷ lệ người trưởng thành có tài khoản là 51%,
đến năm 2014 số lượng này lên đến 62% và 2017 là 69%.
Các dịch vụ tài chính kỹ thuật số - bao gồm cả những dịch vụ liên quan đến sử dụng
điện thoại di động - hiện đã được triển khai tại hơn 80 quốc gia, với một số dịch vụ đã đạt
quy mô đáng kể. Kết quả là, hàng triệu khách hàng nghèo trước đây bị loại trừ và không
được phục vụ đầy đủ đang chuyển từ giao dịch hoàn toàn bằng tiền mặt sang các dịch vụ
tài chính chính thức sử dụng điện thoại di động hoặc công nghệ kỹ thuật số khác để truy cập các dịch vụ này.
Nhận thức được được tầm quan trọng của tài chính toàn diện, các quốc gia trên thế
giới đã và đang chủ động tích cực chạy theo xu hướng ứng dụng công nghệ để thúc đẩy
tài chính toàn diện ở kỷ nguyên kỹ thuật số, thể hiện qua các phương diện :
Mô hình ngân hàng di động và thanh toán di động: Công nghệ ngân hàng di
động (Mobile Banking) đã và đang được các ngân hàng thương mại áp dụng rộng
rãi như một chiến lược mở rộng thị phần mà không cần đầu tư lớn vào cơ sở hạ
tầng. Ngân hàng di động và công nghệ thanh toán là công cụ hữu ích cho các 8
khách hàng sử dụng dịch vụ ngân hàng bởi tính tiện lợi, chất lượng dịch vụ tốt,
nhanh chóng, không phụ thuộc vào yếu tố thời gian và mức độ bao phủ lớn, đóng
vai trò quan trọng cho việc sử dụng dịch vụ tài chính chính thức và đáp ứng mục
tiêu tài chính toàn diện.
Đổi mới kênh phân phối: Ngân hàng đại lý - sự kết hợp giữa công nghệ di động
và những kênh phân phối mới, cho phép các ngân hàng tạo ra nhiều điểm tiếp cận
thuận tiện hơn cho khách hàng sử dụng dịch vụ tài chính, giảm tắc nghẽn chi
nhánh và giành được sự hiện diện rộng hơn về mặt địa lý ở vùng nông thôn, vùng
sâu, vùng xa,... những nơi không có trụ sở ngân hàng thương mại.
Công nghệ cải thiện công tác xác thực nhân thân và báo cáo tín dụng : Công
nghệ làm giảm tình trạng thiếu hụt thông tin để ngăn chặn tình trạng bị loại trừ
khỏi hệ thống tài chính.
Công nghệ Blockchain: Blockchain đang được khám phá như những giải pháp
tiềm năng cao cho các vấn đề như chi phí giao dịch cao và thiếu minh bạch trong
các hệ thống tài chính truyền thống. Có thể kể đến một trong những yếu tố quan
trọng đằng sau sự phát triển mạnh mẽ của tài chính toàn diện tại Mỹ là sự đổi mới
trong công nghệ tài chính. Công nghệ tiên tiến như Internet, di động và Blockchain
đã được áp dụng rộng rãi trong hệ thống tài chính, tạo ra những dịch vụ tiện ích và
hiệu quả hơn cho người dùng. Theo báo cáo của Federal Reserve, tính đến năm
2023, hơn 80% dân số Mỹ đã sử dụng dịch vụ ngân hàng trực tuyến ít nhất một lần
trong năm và giá trị giao dịch thanh toán di động ở Mỹ đạt khoảng 1,2 nghìn tỷ
USD vào năm 2023, tăng hơn 50% so với năm 2020 (Federal Reserve, 2023). Số
lượng người sử dụng ứng dụng thanh toán di động như Venmo, Zelle và Cash App
đã vượt qua mốc 200 triệu người tính đến cuối năm 2023 (eMarketer, 2023).
Tuy nhiên vẫn còn một số mặt hạn chế ở xu hướng tài chính toàn diện trên thế giới:
Gần ⅓ số người trưởng thành - 1,7 tỷ người vẫn chưa tiếp cận được các dịch vụ ngân hàng (Findex, 2021).
Khoảng một nửa số người không sử dụng dịch vụ ngân hàng bao gồm phụ nữ
thuộc hộ gia đình nghèo ở khu vực nông thôn hoặc không có lực lượng lao động (Findex, 2017). 9
Khoảng cách giới tính trong quyền sở hữu tài khoản vẫn ở mức 9 điểm, phần trăm
ở các quốc gia đang phát triển, cản trở phụ nữ có thể kiểm soát hiệu quả đời sống tài chính của mình. 1.3.
Xu hướng phát triển tài chính toàn diện ở Việt Nam gần đây
a. Thực trạng phát triển tài chính toàn diện ở Việt Nam
Theo khuyến cáo của Ngân hàng Thế giới (WorlBank), sự phát triển của tài chính toàn
diện được đánh giá theo ba tiêu chí: Khả năng tiếp cận các dịch vụ tài chính, hiện trạng sử
dụng dịch vụ tài chính và chất lượng dịch vụ tài chính.
Khả năng tiếp cận các dịch vụ tài chính
Theo Báo cáo của Ngân hàng Thế giới (World Bank’s 2017 Global Findex database),
Việt Nam thuộc các nước có thu nhập trung bình thấp (TBT), với thu nhập bình quân đầu
người đạt 2.566 USD. Tuy nhiên, đánh giá trong mối tương quan với các quốc gia có mức
thu nhập TBT, hệ thống hạ tầng kỹ thuật tài chính ở Việt Nam đang ở mức khá, cao hơn
mức trung bình chung của nhóm TBT.
Bảng 1 thể hiện 4 tiêu chí về hạ tầng kỹ thuật tài chính của Việt Nam và các quốc gia
của 3 nhóm thu nhập gồm: Thu nhập cao (nhóm TNC), thu nhập trung bình cao (nhóm
TBC) và nhóm TBT (đã loại bỏ Việt Nam).
Theo đó, số lượng chi nhánh ngân hàng thương mại (NHTM) trên 1.000km2 của Việt
Nam là 7,9 chi nhánh/1.000 km2, chỉ bằng 2,2% so với nhóm TNC (357,9 chi
nhánh/1.000 km2). Tuy nhiên, con số này lại cao hơn so với giá trị trung bình của nhóm
TBT (6.2 chi nhánh/1.000 km2). 10
Xét về chỉ tiêu số lượng máy ATM phân bổ bình quân trên 1.000 km2, Việt Nam đạt
36,2 máy/1.000 km2, thấp hơn con số trung bình của nhóm TNC và nhóm TBC. Tuy
nhiên, chỉ tiêu này của Việt Nam lại gấp 2,24 lần so với con số bình quân của nhóm TBT
(16,1 máy/1.000 km2). Như vậy, người trưởng thành ở Việt Nam về cơ bản đã có thể dễ
dàng tiếp cận với các DVTC tại các chi nhánh ngân hàng.
Thực trạng sử dụng dịch vụ tài chính
Theo phó Vụ trưởng Vụ Thanh toán (Ngân hàng Nhà nước), cho biết thanh toán
không dùng tiền mặt đã trở thành xu hướng và ghi nhận những con số tăng trưởng cao.
Những con số tích cực về thanh toán không dùng tiền mặt đã cho thấy sự phổ cập dịch vụ
ngân hàng và thành công trong tạo lập, phát triển hệ sinh thái số. Đến hết năm 2023, Việt
Nam có hơn 182 triệu tài khoản thanh toán cá nhân và có 87,08% người trưởng thành sở
hữu tài khoản thanh toán. Hơn 147 triệu thẻ ngân hàng đang được lưu hành. 32,77 triệu ví
điện tử đang hoạt động. Số lượng giao dịch thanh toán qua kênh internet và mobile bình
quân giai đoạn 2021-2023 lần lượt tăng trưởng ở mức 52% và 103,3%; tăng trưởng về số
lượng và giá trị thanh toán qua phương thức QR Code đạt hơn 170%. Tính riêng 4 tháng
năm 2024, các chỉ số thanh toán không dùng tiền mặt có mức tăng trưởng khá. Cụ thể,
giao dịch thanh toán không tiền mặt tăng 57,11% về số lượng và 39,49% về giá trị, qua
kênh internet tăng 47,48% về số lượng và 30,20% về giá trị; qua kênh điện thoại di động
tăng 59,26% về số lượng và 35,91% về giá trị. Giao dịch qua ATM tiếp tục giảm 14,15%
về số lượng và giảm 7,84% về giá trị so với cùng kỳ năm 2023, cho thấy xu hướng dịch
chuyển từ thanh toán bằng tiền mặt sang thanh toán không dùng tiền mặt. Về mở tài
khoản qua phương thức eKYC, 40 ngân hàng báo cáo đã triển khai chính thức với gần 35
triệu tài khoản thanh toán mở bằng eKYC đang hoạt động.
Chất lượng dịch vụ tài chính
- Đối với thị trường bảo hiểm (TTBH): Quy mô TTBH Việt Nam hiện nay ở mức thấp
so với mức trung bình của các nước trong khu vực (3-5%) và thế giới (6-7%), chưa có các
cơ chế quản lý, giám sát trên cơ sở rủi ro nhằm tăng cường sự chủ động của DN trong quản trị, điều hành. 11
Các sản phẩm bảo hiểm hưu trí tự nguyện, bảo hiểm cho người có thu nhập thấp chưa
phát triển; phân khúc khai thác bảo hiểm còn chưa đồng đều. Trong khi đó, các doanh
nghiệp bảo hiểm (DNBH) chủ yếu tập trung khai thác tại các thành phố lớn (trên 70%
tổng doanh thu) và các đối tượng có thu nhập cao (với phí bảo hiểm bình quân hàng năm
của 1 hợp đồng bảo hiểm nhân thọ khai thác mới là 12,5 triệu đồng).
Chất lượng và tính chuyên nghiệp của kênh phân phối đại lý bảo hiểm cũng cần phải
tăng cường hơn nữa, như vậy mới có thể đảm bảo tốt vai trò là cầu nối giữa DNBH và
người tham gia bảo hiểm.
- Đối với dịch vụ ngân hàng: Các sản phẩm dịch vụ ngân hàng chưa phong phú, chưa
đáp ứng được nhu cầu của khách hàng. Kênh phân phối chưa đa dạng, hiệu quả còn hạn
chế, phương thức giao dịch chủ yếu tại quầy, các hình thức giao dịch từ xa dựa trên nền
tảng công nghệ thông tin chưa phổ biến ở các tỉnh, khu vực nông thôn, chỉ phổ biến ở khu
vực các thành phố lớn. Phần lớn ATM đặt chủ yếu ở thị xã, khu đô thị và thành phố,
mạng lưới các đơn vị chấp nhận thẻ còn ít, việc kết nối hệ thống các máy ATM vẫn còn
nhiều bất cập về phí cũng như trách nhiệm xử lý các vấn đề phát sinh. Do vậy, chưa tạo
sự thuận lợi trong việc sử dụng thẻ và gây tâm lý e ngại khi sử dụng cho người dân, làm
hạn chế khả năng tiếp cận dịch vụ ngân hàng.
b. Giải pháp của chính phủ
Ở Việt Nam, thời gian qua, Chính phủ đã xây dựng và ban hành các chính sách liên
quan đến tài chính toàn diện quốc gia. Đặc biệt, Chiến lược tài chính toàn diện quốc gia
đến năm 2025, định hướng đến năm 2030 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại
Quyết định số 149/QĐ-TTg, ngày 22/01/2020. Trong đó, chỉ tiêu đặt ra là phấn đấu đến
cuối năm 2025 đạt được
Ít nhất 80% người trưởng thành có tài khoản giao dịch tại ngân hàng hoặc các tổ
chức được phép khác; tiến tới mỗi người trưởng thành có ít nhất một tài khoản giao
dịch tại ngân hàng hoặc các tổ chức được phép khác vào năm 2030
Ít nhất 20 chi nhánh, phòng giao dịch của ngân hàng thương mại trên 100.000 người trưởng thành 12
Ít nhất 50% tổng số xã có điểm cung ứng DVTC (chi nhánh, phòng giao dịch của
tổ chức tín dụng và đại lý ngân hàng; ngoại trừ điểm cung ứng dịch vụ tài chính
của Ngân hàng Chính sách xã hội)
Ít nhất 25% - 30% người trưởng thành gửi tiết kiệm tại tổ chức tín dụng; Số
lượng giao dịch thanh toán không dùng tiền mặt đạt tốc độ tăng từ 20% -25% hàng năm
Ít nhất 250.000 doanh nghiệp nhỏ và vừa có dư nợ tại các tổ chức tín dụng; Dư nợ
tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn trên tổng dư nợ tín dụng đối
với nền kinh tế đạt 25%; Doanh thu phí bảo hiểm bình quân GDP là 3,5%
Ít nhất 70% người trưởng thành có thông tin về lịch sử tín dụng trong hệ thống
thông tin tín dụng của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (Nhịp sống thị trường, 2023)
c. Kết quả đạt được
Theo Ngân hàng Nhà nước (2022), sau hơn 2 năm, triển khai Chiến lược tài chính toàn
diện đã đạt được một số kết quả nổi bật như:
- Khuôn khổ pháp lý không ngừng được hoàn thiện tạo môi trường thuận lợi cho việc
thực hiện các mục tiêu của tài chính toàn diện; hoàn thiện các cơ chế chính sách bảo vệ
người tiêu dùng tài chính... Phát triển mạng lưới đồng thời phát triển đa dạng các kênh
phân phối sản phẩm dịch vụ tài chính trên phạm vi cả nước. Các sản phẩm dịch vụ tài
chính nhất là các sản phẩm dịch vụ tài chính cơ bản hướng đến đối tượng mục tiêu của tài
chính toàn diện được chú trọng phát triển trên nền tảng ứng dụng công nghệ số với nhiều
tiện ích phù hợp với nhu cầu của người tiêu dùng; cơ sở hạ tầng thanh toán tiếp tục được đầu tư hoàn thiện...
Nhiều giải pháp đã được triển khai góp phần đẩy mạnh khả năng tiếp cận các sản
phẩm, dịch vụ tài chính của người dân và doanh nghiệp như: Ban hành quy định cho phép
mở tài khoản thanh toán bằng phương thức điện tử; triển khai thí điểm dùng tài khoản
viễn thông thanh toán cho các hàng hóa, dịch vụ có giá trị nhỏ như: Mobile Money, xây
dựng và chính thức vận hành hệ thống Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư... Ngân hàng Nhà 13
nước cũng đã chỉ đạo các tổ chức tín dụng (TCTD) tích cực triển khai các chương trình
đào tạo nâng cao kiến thức tài chính cho người dân, doanh nghiệp.
Hệ thống các TCTD Việt Nam ngày càng phát triển hiệu quả bền vững, mạng lưới chi
nhánh phòng giao dịch, hệ thống ATM, POS và các điểm cung ứng dịch vụ tài chính trải
rộng khắp địa bàn trong cả nước. Các TCTD tiếp tục cân đối tập trung nguồn vốn cho các
chương trình tín dụng đặc thù phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn với tổng dư nợ
tín dụng cho lĩnh vực này chiếm 25%/tổng dư nợ tín dụng nền kinh tế. Dịch vụ tài chính
số đã đạt nhiều thành tựu nổi bật thể hiện dưới biểu đổ sau:
2. Đánh giá về vai trò của các Ngân hàng thương mại trong phát triển tài chính
toàn diện thông qua các luận điểm và minh chứng phù hợp
Ngân hàng thương mại đóng vai trò quan trọng trong phát triển tài chính toàn diện
bằng cách cung cấp các dịch vụ tài chính đa dạng như tài khoản, cho vay và thẻ tín dụng, 14
giúp người dân và doanh nghiệp dễ dàng tiếp cận vốn. Ngoài ra Ngân hàng thương mại
còn mở rộng mạng lưới chi nhánh, đặc biệt ở vùng nông thôn, để phục vụ nhiều đối tượng
hơn, đồng thời tổ chức các chương trình giáo dục tài chính nhằm nâng cao nhận thức về
quản lý tài chính cá nhân. Ngân hàng cũng hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa bằng các
khoản vay phù hợp, khuyến khích tiết kiệm thông qua các sản phẩm đầu tư, và thúc đẩy
thanh toán không dùng tiền mặt, nâng cao hiệu quả giao dịch. Bên cạnh đó, chúng bảo vệ
tiền gửi của khách hàng thông qua hệ thống bảo hiểm và quy định an toàn, đồng thời tài
trợ cho các dự án phát triển bền vững, góp phần vào mục tiêu phát triển kinh tế xanh.
Tóm lại, ngân hàng thương mại không chỉ là trung gian tài chính mà còn là động lực thúc
đẩy phát triển kinh tế và xã hội. Điều này được thể hiện qua các luận điểm và minh chứng sau:
Cung cấp dịch vụ tài chính đa dạng: Ngân hàng thương mại đóng vai trò quan
trọng trong việc cung cấp dịch vụ tài chính đa dạng, đáp ứng nhu cầu của cả cá nhân và
doanh nghiệp. Ngân hàng thương mại cung cấp tài khoản thanh toán cho phép thực hiện
các giao dịch hàng ngày, cùng với tài khoản tiết kiệm có lãi suất hấp dẫn để khuyến khích
tích lũy tài sản. Các ngân hàng cũng đưa ra nhiều hình thức cho vay, bao gồm cho vay
tiêu dùng, cho vay mua nhà và cho vay doanh nghiệp, giúp hỗ trợ đầu tư và phát triển.
Thẻ tín dụng được phát hành để khách hàng chi tiêu linh hoạt, trong khi dịch vụ chuyển
tiền nhanh chóng giúp gửi và nhận tiền dễ dàng. Ngoài ra, nhiều ngân hàng còn cung cấp
dịch vụ tư vấn và quản lý đầu tư, sản phẩm bảo hiểm để bảo vệ tài sản, và dịch vụ ngân
hàng điện tử cho phép giao dịch trực tuyến thuận tiện. Những dịch vụ này không chỉ đáp
ứng nhu cầu tài chính mà còn góp phần vào sự phát triển kinh tế bền vững.
Tăng cường khả năng tiếp cận tài chính: Ngân hàng thương mại đóng vai trò
quan trọng trong việc tăng cường khả năng tiếp cận tài chính cho nhiều đối tượng trong xã
hội. Bằng cách mở rộng mạng lưới chi nhánh và điểm giao dịch, đặc biệt ở các khu vực
nông thôn và vùng sâu vùng xa, giúp người dân dễ dàng tiếp cận dịch vụ tài chính. Bên
cạnh đó, dịch vụ ngân hàng di động cho phép khách hàng thực hiện giao dịch qua điện
thoại, đặc biệt quan trọng ở những nơi có hạ tầng ngân hàng hạn chế. Ngân hàng cũng
phát triển các sản phẩm tài chính phù hợp với nhu cầu của từng nhóm khách hàng, như
khoản vay nhỏ và tài khoản tiết kiệm với mức phí thấp. Các chương trình giáo dục tài 15
chính giúp nâng cao nhận thức của cộng đồng về sản phẩm ngân hàng và quản lý tài chính
cá nhân. Đặc biệt, ngân hàng thương mại hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa bằng các khoản
vay dễ tiếp cận và áp dụng công nghệ tài chính (Fintech) để tạo ra nhiều giải pháp mới.
Nhiều ngân hàng cũng có chương trình ưu đãi cho nhóm đối tượng yếu thế, như sinh viên
hoặc người thu nhập thấp. Tất cả những nỗ lực này không chỉ giúp tăng cường khả năng
tiếp cận tài chính mà còn xây dựng một hệ thống tài chính công bằng và bền vững, thúc
đẩy sự phát triển của tài chính toàn diện.
Thúc đẩy hiểu biết tài chính: Các ngân hàng thương mại cũng cung cấp nhiều cơ
quan và chức năng tư vấn nhờ vào vai trò trung gian tài chính. Các dịch vụ tư vấn để quản
lý rủi ro từ các hoạt động giữa doanh nghiệp với doanh nghiệp, hỗ trợ tín dụng thương
mại với các thực thể toàn cầu tham gia xuất nhập khẩu hoặc chứng minh hiệu suất của các
dịch vụ xuyên biên giới là một số ví dụ. Các thể chế được quản lý chặt chẽ và tích hợp với
các hệ thống toàn cầu (ví dụ: SWIFT), đây là một chức năng là rào cản gia nhập đối với
các công ty không hoạt động trên cùng một quy mô. Việc tiếp cận các dịch vụ ngân hàng
trước đây đang còn khó khăn, nhưng ngày nay với sự phát triển của khoa học công nghệ
và các chính sách của nhà nước thì việc tiếp cận tới công nghệ, dịch vụ tài chính của
người dân cũng tăng lên đáng kể.
Hỗ trợ chính sách tiền tệ của chính phủ: Thực hiện chính sách tiền tệ: Ngân
hàng thương mại là kênh chính để Nhà nước thực hiện chính sách tiền tệ. Bằng cách điều
chỉnh lãi suất, tỷ lệ dự trữ bắt buộc, ngân hàng thương mại có thể hoạt động cung tiền,
thanh toán và tăng trưởng kinh tế.
+ Hỗ trợ tín dụng cho các lĩnh vực ưu tiên: Ngân hàng thương mại tham gia tích
tích vào các chương trình tín dụng ưu đãi của Nhà nước, cung cấp vốn nhỏ cho các lĩnh
vực như nông nghiệp, công nghiệp, xuất khẩu, doanh nghiệp nhỏ và vừa... Điều này góp
phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, tạo việc làm và nâng cao đời sống người dân.
+Tham gia vào các hoạt động xã hội: Ngân hàng thương mại tham gia vào các hoạt
động xã hội như hỗ trợ các lĩnh vực khó khăn, thiên tai, các chương trình giáo dục, y tế...
Điều này có thể thực hiện trách nhiệm xã hội hội doanh nghiệp và xây dựng một cộng đồng tốt hơn. 16
+Thu thập và cung cấp thông tin: Ngân hàng thương mại thu thập và cung cấp thông
tin về tình hình hoạt động của doanh nghiệp, thị trường, giúp Nhà nước có cơ sở để đánh
giá tình hình kinh tế và điều chỉnh chính sách phù hợp.
+Tham gia vào công tác thanh toán: Ngân hàng thương mại cung cấp các dịch vụ
thanh toán, chuyển tiền, thanh toán quốc tế, góp phần hiện đại hóa hệ thống thanh toán của quốc gia.
Đổi mới công nghệ trong dịch vụ tài chính: Việc đổi mới công nghệ tài chính đã và
đang mang lại một làn sóng cách mạng trong ngành ngân hàng. Các ngân hàng thương
mại, bằng cách ứng dụng những công nghệ mới, không chỉ nâng cao hiệu quả hoạt động
mà còn tạo ra những trải nghiệm mới mẻ cho khách hàng. Chẳng hạn như giao dịch trực
tuyến, cá nhân hóa dịch vụ, thanh toán không tiền mặt, tự động hóa các quy trình.
3. Đánh giá tác động của xu hướng phát triển tài chính toàn diện tới hoạt động
kinh doanh của NHTM cổ phần Tiên Phong 3.1.
Tổng quan về Ngân hàng thương mại Tiên Phong
Ngân hàng Thương mại Cổ phần Tiên Phong (gọi tắt là “TPBank”) được thành lập từ
ngày 05/05/2008 với khát vọng trở thành một tổ chức tài chính minh bạch, hiệu quả, bền
vững, mang lại lợi ích tốt nhất cho cổ đông và khách hàng. Trong thời gia qua TPBank đã
nhanh chóng khẳng định được vị thế của mình trên thị trường nhờ vào sự đổi mới, ứng
dụng công nghệ hiện đại và sự tập trung vào khách hàng.
Với mục tiêu trở thành một tổ chức tài chính hiện đại, hiệu quả. TPBank luôn nỗ lực
mang lại các giải pháp, sản phẩm tài chính ngân hàng hiệu quả nhất, hướng tới phân khúc
khách hàng trẻ và năng động. Dựa trên nền tảng công nghệ tiên tiến và trình độ quản lý
chuyên sâu, với mục tiêu đi đầu về ngân hàng số, TPBank đã tập trung đầu tư để có hạ
tầng hiện đại, giải pháp công nghệ tiên tiến với nhiều sản phẩm đột phá.
Tháng 12/2013, doanh nghiệp cho ra mắt nhận diện thương hiệu chính thức, được Thủ
tướng Chính phủ tặng bằng khen về thành tích tái cơ cấu và đến tháng 12/2014, ngân
hàng khai trương trụ sở mới tại số 57 Lý Thường Kiệt, Hoàn Kiếm, Hà Nội.
Hiện nay, TPBank không ngừng mở rộng mạng lưới, đa dạng hóa sản phẩm dịch vụ và
đạt được nhiều thành tựu đáng kể. Với tuyên ngôn thương hiệu “Vì chúng tôi hiểu bạn”, 17
TPBank mong muốn lấy nền tảng của “sự thấu hiểu” khách hàng để xây dựng phong cách
chất lượng dịch vụ ngân hàng hàng đầu. 1. 2. 3. 3.1. 3.2.
Tác động của xu hướng phát triển tài chính toàn diện tới hoạt động
kinh doanh của NHTM cổ phần Tiên Phong 1. 2. 3. 3.1. 3.2. 3.2.1.
Tác động tích cực
Tài chính toàn diện là một xu hướng phát triển không thể phủ nhận trong ngành ngân
hàng, đặc biệt trong bối cảnh hội nhập kinh tế toàn cầu và sự phát triển mạnh mẽ của công
nghệ. Xu hướng này mang lại nhiều cơ hội và thách thức cho các ngân hàng thương mại,
trong đó có NHTM Cổ phần Tiên Phong.
Mở rộng khách hàng và thị trường.
Tài chính toàn diện giúp TPBank tiếp cận được nhiều đối tượng khách hàng hơn, đặc
biệt là những nhóm khách hàng truyền thống khó tiếp cận như nông dân, doanh nghiệp
nhỏ và vừa, người lao động tự do. Năm 2023, TPBank nối dài chuỗi tăng trưởng khách
hàng thần tốc với 3,5 triệu tài khoản mới, nâng tổng số khách hàng phục vụ vượt mốc 12
triệu. Chỉ trong vòng 3 năm, TPBank đã thu hút hơn 8,6 triệu khách hàng, gấp 2 lần tổng
số lượng khách hàng của 12 năm trước đó.
Chuyển đổi số đã giúp TP bank tiết kiệm chi phí vận hành
Chuyển đổi số là một yếu tố chiến lược trong quá trình phát triển kinh tế toàn diện.
Theo như chia sẻ của ông Nguyễn Hưng _ Tổng giám đốc ngân hàng TP Bank, tính đến 18
cuối năm 2022 đã số hóa tới 90% các hoạt động của ngân hàng. Việc ứng dụng các công
nghệ số như trí tuệ nhân tạo (AI), tự động hóa quy trình (RPA), và phân tích dữ liệu lớn
(Big Data) đã mang lại nhiều lợi ích rõ rệt. Ông Hưng cho biết, thông qua việc chuyển đổi
số, ngân hàng đã giảm được tới 40% chi phí vận hành. Điều này không chỉ giúp tối ưu
hóa nguồn lực mà còn cho phép ngân hàng tập trung vào việc cải thiện trải nghiệm khách
hàng, nâng cao chất lượng dịch vụ và mở rộng các dịch vụ ngân hàng số
Tăng trưởng doanh thu và lợi nhuận
Việc mở rộng khách hàng và thị trường đã giúp TPBank tăng quy mô tín dụng, từ đó
tăng doanh thu thuần từ lãi. Bên cạnh đó bằng cách cung cấp nhiều sản phẩm dịch vụ hơn,
TPBank đã đa dạng hóa nguồn thu, giảm thiểu rủi ro tập trung vào một loại hình dịch vụ.
Tại báo cáo tài chính Quý I/2023, kết quả kinh doanh của TPBank đã đạt hơn 1.700 tỷ
đồng, tăng 9% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, hoạt động kinh doanh ngoại hối trở
thành điểm sáng với doanh thu đạt khoảng 150 tỷ nhờ tận dụng tốt các cơ hội thị trường.
Tổng thu nhập hoạt động quý đạt trên 3.600 tỷ, riêng thu nhập lãi thuần từ dịch vụ đạt 696
tỷ, tăng 36% so với cùng kỳ 2022 nhờ sự đa dạng hóa dịch vụ cũng như sự tăng trưởng về quy mô hoạt động. 19
Nâng cao khả năng cạnh tranh
TPBank đã nâng cao khả năng cạnh tranh nhờ việc cung cấp các dịch vụ tiện ích,
nhanh chóng và an toàn sẽ giúp nâng cao trải nghiệm khách hàng, tăng lòng trung thành
của khách hàng; áp dụng các tiêu chuẩn quản trị rủi ro quốc tế sẽ giúp nâng cao khả năng
quản lý rủi ro, đảm bảo sự ổn định và bền vững của ngân hàng; triển khai các hoạt động
tài chính toàn diện, ngân hàng có thể xây dựng hình ảnh một ngân hàng hiện đại, năng
động và thân thiện với cộng đồng. 20