



















Preview text:
lOMoAR cPSD| 40551442 BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI BÀI TẬP NHÓM
MÔN: LUẬT BÌNH ĐẲNG GIỚI Nhóm: 4 0 Lớp Hà Nội, 024 lOMoAR cPSD| 40551442
BIÊN BẢN XÁC ĐỊNH MỨC ĐỘ THAM GIA VÀ
KẾT QUẢ THAM GIA LÀM BÀI TẬP NHÓM Ngày: 17/11/2024 Nhóm: 04 Lớp:
Tổng số sinh viên của nhóm: (Có mặt: 11; Vắng mặt: 0)
Nội dung: Xác định mức độ tham gia và kết quả tham gia làm bài tập nhóm.
Môn học: Luật Bình đẳng giới.
Xác định mức độ tham gia và kết quả tham gia của từng sinh viên trong việc thực
hiện bài tập nhóm. Kết quả như sau: Đánh giá của SV SV STT MSSV Họ và tên Ký tên A B C 1 470328 Nông Khánh Linh x 2 461257 Nguyễn Hà Linh x 3 470802 Phạm Thùy Linh x 4 470306 Lường Thảo Ly x 5
470364 Cao Nguyễn Ngọc Minh x 6 471363 Trần Thảo Minh x 7 453211 Bùi Thảo My x 8 470846 Nguyễn Quỳnh Nga x 9
470718 Nguyễn Thị Bảo Ngọc x
10 473778 Nguyễn Thảo Nguyên x
11 470457 Trần Thị Hạnh Nguyên x
Hà Nội, ngày 17 tháng 11 năm 2024 TRƯỞNG NHÓM
Lường Thảo Ly MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ................................................................................................................ 2
NỘI DUNG ............................................................................................................ 3
vực giáo dục và đào tạo ..................................................................................... 3 lOMoAR cPSD| 40551442
1.1. Khái niệm.................................................................................................. 3
1.2. Mục đích ................................................................................................... 3
2. Quy định về biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới trong lĩnh vực giáo dục
và .......................................................................................................................... 4
đào tạo ................................................................................................................. 4
2.1. Quy định tỷ lệ nam, nữ tham gia học tập, đào tạo ............................... 5
2.2 Lao động nữ khu vực nông thôn được hỗ trợ dạy nghề theo quy định
.......................................................................................................................... 7
của pháp luật ................................................................................................... 7
3. Thực tiễn áp dụng và kiến nghị về biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới ... 9
trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo ................................................................... 9
3.1. Những kết quả đã đạt được từ thực tiễn thực hiện các biện pháp
thúc .................................................................................................................. 9
đẩy bình đẳng giới trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo ............................... 9
3.2. Hạn chế trong thực tiễn thực hiện của biện pháp thúc đẩy bình đẳng
........................................................................................................................ 11
giới trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo (Thảo My, Bảo Ngọc) ................. 11
3.3. Kiến nghị về biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới trong lĩnh vực giáo
........................................................................................................................ 14
dục và đào tạo (Ngọc Minh, Hạnh Nguyên) ............................................... 14
1. Khái niệm và mục đích của biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới trong lĩnh
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
LBĐG Luật Bình đẳng giới năm 2006 BĐG Bình đẳng giới MỞ ĐẦU
Trong xã hội hiện đại, BĐG không chỉ là một quyền con người cơ bản mà
còn là điều kiện tiên quyết để phát triển bền vững và công bằng xã hội. Ở lĩnh
vực giáo dục và đào tạo, việc thúc đẩy BĐG không chỉ góp phần nâng cao chất
lượng giáo dục mà còn mở ra cơ hội phát triển cho toàn bộ cộng đồng. Tuy nhiên,
để đạt được mục tiêu này, cần có những biện pháp cụ thể và hiệu quả từ cả hệ
thống pháp luật và thực tiễn thực hiện. Để rõ hơn, nhóm sẽ phân tích rõ hơn về lOMoAR cPSD| 40551442
các quy định pháp luật hiện hành và thực tiễn thực hiện của biện pháp thúc đẩy
BĐG trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo. NỘI DUNG
1. Khái niệm và mục đích của biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới trong
lĩnh vực giáo dục và đào tạo 1.1. Khái niệm
Theo khoản 6 Điều 5 LBĐG: “Biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới là biện
pháp nhằm bảo đảm bình đẳng giới thực chất, do cơ quan nhà nước có thẩm quyền
ban hành trong trường hợp có sự chênh lệch lớn giữa nam và nữ về vị trí, vai trò,
điều kiện, cơ hội phát huy năng lực và thụ hưởng thành quả của sự phát triển mà
việc áp dụng các quy định như nhau giữa nam và nữ không làm giảm được sự
chênh lệch này. Biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới được thực hiện trong một thời
gian nhất định và chấm dứt khi mục đích bình đẳng giới đã đạt được”.
Khái niệm biện pháp thúc đẩy BĐG trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo tại
Khoản 5 Điều 14 LBĐG không giải nghĩa rõ ràng. Dựa vào khái niệm chung của
biện pháp thúc đẩy BĐG, biện pháp thúc đẩy BĐG trong lĩnh vực giáo dục và đào
là những biện pháp do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành trong trường hợp
có sự chênh lệch lớn giữa nam và nữ về vị trí, vai trò, điều kiện, cơ hội học tập và
tiếp cận nền giáo dục phát triển mà việc áp dụng các quy định như nhau giữa nam
và nữ trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo không làm giảm được sự chênh lệch này. 1.2. Mục đích
Thứ nhất, thay đổi nhận thức và hành vi của xã hội về BĐG trong giáo dục và
đào tạo. Việc giáo dục và thay đổi nhận thức cho học sinh, giáo viên, phụ huynh
và cộng đồng về BĐG, cũng như loại bỏ định kiến giới khỏi môi trường học tập là
rất quan trọng để đạt được mục tiêu BĐG trong giáo dục.1
Thứ hai, tạo cơ hội học tập bình đẳng. Đảm bảo tất cả trẻ em, bất kể giới tính,
được hưởng quyền tiếp cận giáo dục bình đẳng, đặc biệt là trẻ em gái, trẻ em ở
vùng sâu, vùng xa và dân tộc thiểu số ở mọi cấp bậc, từ mầm non đến đại học.
1 Hồng Lơi, (2023), Các nguyên tắc trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo đối với Bình đẳng giới, Sở Thông tin &
Truyền thông UBND tỉnh Bình Phước, https://binhphuoc.gov.vn/vi/stttt/binh-dang-gioi/cac-nguyen-tac-trong-
linhvuc-giao-duc-va-dao-tao-doi-voi-binh-dang-gioi-1754.html, truy cập ngày 15/11/2024.Truy cập ngày 16/11/2024. lOMoAR cPSD| 40551442
Thứ ba, khuyến khích sự tham gia của nữ giới, rút ngắn khoảng cách giới. Ưu
tiên tạo cơ hội học tập cho nữ giới, thúc đẩy sự tham gia của nữ sinh trong các lĩnh
vực học thuật, đặc biệt là những ngành nghề mà họ truyền thống ít tham gia, như
khoa học, công nghệ, kỹ thuật và toán học. Điều này giúp nâng cao vị thế của phụ
nữ trong xã hội và thúc đẩy BĐG.
Thứ tư, nâng cao vị thế của phụ nữ và trẻ em gái trong giáo dục. Đây là một
mục đích quan trọng trong việc xóa bỏ định kiến giới và đảm bảo sự thành công
của tiến trình bồi dưỡng giáo dục. Nâng cao vị thế của nữ giới trong giáo dục để họ
gần tiến đến với sự cân bằng so với nam giới về cơ hội học tập và tiếp cận giáo dục
đào tạo; từ đó có thể tự do phát triển và đóng góp vào xã hội.
Thứ năm, tạo môi trường học tập an toàn và thân thiện. BĐG trong giáo dục
cũng nhằm tạo ra một môi trường học tập an toàn, thân thiện và không phân biệt
giới tính, nơi mọi học sinh đều cảm thấy được tôn trọng và có thể phát huy tối đa khả năng của mình.
2. Quy định về biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo
Giáo dục là quốc sách hàng đầu nhằm nâng cao năng lực con người, một trong
những yếu tố quan trọng quyết định việc tăng trưởng kinh tế, làm giảm đói nghèo,
tăng năng suất lao động, tạo cơ hội cho tất cả mọi người tham gia vào các hoạt động
xã hội, bao gồm phụ nữ. Tuy nhiên, trong thực tế, phụ nữ lại là đối tượng ít có cơ
hội được tiếp cận giáo dục đào tạo hơn nam giới. Bất bình đẳng trong lĩnh vực giáo
dục và đào tạo đồng nghĩa với việc bỏ phí tiềm năng và khả năng sáng tạo của cả
nam và nữ giới. Vì lẽ đó, biện pháp thúc đẩy BĐG được quy định tại khoản 5 Điều 14 LBĐG:
“5. Biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo bao gồm:
a) Quy định tỷ lệ nam, nữ tham gia học tập, đào tạo;
b) Lao động nữ khu vực nông thôn được hỗ trợ dạy nghề theo quy định của pháp luật.”
Nghị định số 48/2009/NĐ-CP quy định về các biện pháp bảo đảm bình đẳng
giới quy định rõ tại khoản 3, 4 Điều 16, Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội chủ lOMoAR cPSD| 40551442
trì, phối hợp với Bộ Tài chính, Bộ Giáo dục và Đào tạo và các Bộ, ngành khác có
liên quan xây dựng, trình cơ quan có thẩm quyền ban hành, hướng dẫn và tổ chức
thực hiện các biện pháp thúc đẩy BĐG. Bộ Giáo dục và Đào tạo chủ trì, phối hợp
với các Bộ, ngành khác có liên quan xây dựng, trình cơ quan có thẩm quyền ban
hành, hướng dẫn và tổ chức thực hiện quy định tỷ lệ nam, nữ thích hợp, nữ được
quyền lựa chọn hoặc ưu tiên nữ khi nữ có đủ điều kiện, tiêu chuẩn như nam trong
học tập, đào tạo, bồi dưỡng.
2.1. Quy định tỷ lệ nam, nữ tham gia học tập, đào tạo
Quy định tỷ lệ nam nữ tham gia học tập và đào tạo là biện pháp thúc đẩy BĐG
trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo, nhằm rút ngắn khoảng cách giới. Trong thực tế,
nhiều nơi phụ nữ thường chịu thiệt thòi hơn trong việc tiếp cận giáo dục và đào tạo.
Quy định tỷ lệ giúp đảm bảo cả nam và nữ đều có cơ hội ngang nhau để phát triển
kiến thức và kĩ năng. Sự tham gia cân bằng giữa nam và nữ tạo ra môi trường học
tập đa dạng, nhiều ý tưởng và quan điểm khác nhau được chia sẻ. Điều này tạo sự
sáng tạo và nâng cao chất lượng giáo dục.
Đối tượng của việc quy định tỷ lệ nam nữ tham gia học tập và đào tạo là cả
nam và nữ , nhưng có sự ưu tiên nữ giới. Vì xuất phát từ một số định kiến giới vẫn
còn tồn tại như: quan niệm nam giới có khả năng vượt trội trong các ngành nghề
đòi hỏi tư duy logic, kỹ thuật hoặc vai trò lãnh đạo khiến nhiều gia đình và xã hội
không khuyến khích nữ giới học tập trong lĩnh vực này. Hay quan niệm nam học
cao hơn nữ đặc biệt ở khu vực vùng sâu vùng xa, miền núi, nông thôn tư tưởng
“trọng nam khinh nữ”, “nam nội nữ ngoại” cho rằng con trai mới là chủ gia đình,
người nối dõi tông đường làm rạng danh tổ tiên. Vì vậy, việc học tập và đạt trình
độ cao là cần thiết với nam giới. Còn phụ nữ đến tuổi gả chồng không giúp ích
được nên không cần học nhiều, phụ nữ còn bị mặc định là phải đảm nhận vai trò
nội trợ, chăm sóc gia đình dẫn tới việc đầu tư giáo dục ưu tiên đầu tư cho con trai.
Nên cơ hội học tập của trẻ em gái bị ảnh hưởng. Tỷ lệ trẻ em nữ bỏ học cao hơn
nam, phụ nữ trở lại học không cao do kinh tế khó khăn, hủ tục lạc hậu ví dụ: tảo
hôn, cướp vợ, bắt vợ và bị xem nhẹ không được coi trọng. Đó là những “rào cản”
đáng kể khiến người phụ nữ bỏ dở việc học, hạn chế việc tiếp thu những tri thức
tiên tiến, hiện đại ảnh hưởng đến việc phát triển nhân cách, tài năng. Để tạo điều
kiện cho phụ nữ được bình đẳng về quyền học tập đối với nam giới trên thực tế. lOMoAR cPSD| 40551442
Bên cạnh đó, nam giới và nữ giới cũng vướng phải một số định kiến giới khiến họ
thiếu cơ hội tham gia học tập một số ngành nghề mà xã hội cho là nam nữ nên đảm
nhận như: Các ngành giáo dục mầm non, y tá, các lĩnh vực chăm sóc… là dành cho
nữ giới, nam giới thì làm những công việc mạnh mẽ, có tích phức tạp điều này mô
hình trung nó trở thành áp lực với nam giới. Ngành nghề khoa học, kỹ thuật, công
nghệ mũi nhọn tỷ lệ nữ chiếm rất ít vì cho rằng nữ giới là phái yếu và những công
việc đó quá nặng nhọc và vất vả không phù hợp với phụ nữ.
Các văn bản pháp luật nhằm thúc đẩy tỷ lệ nam nữ tham gia học tập và đào
tạo tại Việt Nam bao gồm các quy định từ Hiến pháp, luật chuyên ngành, nghị định
và các chiến lược quốc gia.
Điều 26 Hiến pháp năm 2013 quy định nam và nữ có quyền bình đẳng trong
mọi lĩnh vực, bao gồm giáo dục. Luật Giáo dục năm 2019 tại Điều 13: “Mọi công
dân không phân biệt dân tộc, tôn giáo, tín ngưỡng, giới tính, đặc điểm cá nhân,
nguồn gốc gia đình, địa vị xã hội, hoàn cảnh kinh tế đều bình đẳng về cơ hội học
tập”.. Nghị định 48/2009/NĐ-CP ngày 19/05/2009 quy định về các biện pháp thúc
đẩy bình đẳng giới có cụ thể hóa các biện pháp nhằm đảm bảo cơ hội cho người
học là nữ. Thông tư số 15/2014/TT-BGDĐT ngày 15/05/2014 ban hành quy chế
đào tạo trình độ thạc sĩ có quy định về điều kiện trúng tuyển, xét tuyển đã ưu tiên
nữ giới trong thứ tự xét tuyển tại Điều 16. Quy định này đang thể hiện rõ sự ưu tiên
về cơ hội cho nữ giới tham gia học tập, đào tạo. Điều này là phù hợp và hiệu quả
trong việc rút ngắn khoảng cách giới mà biện pháp đang hướng tới.
Ngoài ra, hai Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2011-2020;
2021–2030 cũng đặt mục tiêu cụ thể về tăng cường tỷ lệ nữ tham gia học tập, đào
tạo nghề và các lĩnh vực STEM (khoa học, công nghệ, kỹ thuật và toán học). Tiêu
biểu là chiến lược quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2011 – 2020 đã đưa đạt
được kết quả sau trong nâng cao chất lượng nguồn nhân lực nữ, từng bước bảo đảm
sự tham gia bình đẳng giữa nam và nữ trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo. Theo đó,
có 2 chỉ tiêu thực hiện BĐG trong giáo dục, đó là: (1) Tỷ lệ biết chữ của nam và
nữ trong độ tuổi từ 15 – 40 ở vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số, vùng đặc
biệt khó khăn đạt 90% vào năm 2015 và 95% vào năm 2020. (2) Tỷ lệ nữ thạc sỹ
đạt 40% vào năm 2015 và 50% vào năm 2020; tỷ lệ nữ tiến sĩ đạt 20% vào năm lOMoAR cPSD| 40551442
2015 và 25% vào năm 20202. Qua đó, sự ưu tiên nữ giới là cần thiết để bảo đảm
quyền học tập và đào tạo bình đẳng trên thực tế, góp phần thu hẹp khoảng cách
giới. Nữ giới có nhiều cơ hội nhằm đảm bảo tỷ lệ nữ được tham gia vào nhiều lĩnh
vực, nâng cao vị thế của họ trong xã hội.
2.2 Lao động nữ khu vực nông thôn được hỗ trợ dạy nghề theo quy định của pháp luật
“Lao động nữ khu vực nông thôn được hỗ trợ dạy nghề theo quy định của
pháp luật” là biện pháp thúc đẩy BĐG được ghi nhận tại điểm b khoản 5 điều 14
LBĐG, là cơ sở quan trọng để cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành các quy
định cụ thể khi có sự chênh lệch lớn giữa nam và nữ về vị trí, vai trò, điều kiện, cơ
hội phát huy năng lực và thụ hưởng thành quả của sự phát triển trong một lĩnh vực.
Trên thực tế, phụ nữ ít có cơ hội tiếp cận với giáo dục, đào tạo hơn nam giới, đặc
biệt ở các vùng cao, nông thôn, phụ nữ ít được bồi dưỡng, phát triển nghề, khoa học kỹ thuật.
Trong đào tạo và giáo dục, biện pháp được thể hiện bằng các quy định khuyến
khích, tạo điều kiện cho phụ nữ học tập nâng cao trình độ, năng lực như trợ cấp đào
tạo cho nữ cao hơn nam, mở lớp tập huấn, bồi dưỡng, đào tạo riêng cho phụ nữ…
Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 295/2010/QĐ-TTg quyết định phê
duyệt đề án “Hỗ trợ phụ nữ học nghề, tạo việc làm giai đoạn 2010-2015”. Theo đó,
đối tượng được hỗ trợ học nghề, tạo việc làm là lao động nữ trong độ tuổi lao động,
ưu tiên dạy nghề cho các đối tượng là người thuộc diện hưởng chính sách ưu đãi,
người có công với cách mạng, hộ nghèo, hộ có thu nhập tối đa bằng 150% thu nhập
của hộ nghèo, người dân tộc thiểu số, người tàn tật, người trong diện thu hồi đất
canh tác, phụ nữ bị mất việc làm trong các doanh nghiệp. Lao động nữ thuộc diện
được hưởng chính sách ưu đãi, người có công với cách mạng, hộ nghèo, người dân
tộc thiểu số, người tàn tật, người bị thu hồi đất canh tác, lao động nữ bị mất việc
làm trong các DN được hỗ trợ chi phí học nghề ngắn hạn (trình độ sơ cấp nghề và
dạy nghề dưới 3 tháng) với mức tối đa 3 triệu đồng/người/khóa học. Ngoài hỗ trợ
chi phí học, các đối tượng này còn được hỗ trợ tiền ăn với mức 15.000đồng/ ngày
thực học/người, hỗ trợ tiền đi lại theo giá vé giao thông công cộng với mức tối đa
2 https://hcmussh.edu.vn/news/item/16492. Truy cập ngày 17/11/2024. lOMoAR cPSD| 40551442
không quá 200.000đồng/người/khóa học đối với người học nghề xa nơi cư trú từ
15km trở lên. Trường hợp lao động nữ thuộc diện hộ có thu nhập tối đa bằng 150%
thu nhập của hộ nghèo thì được hỗ trợ chi phí học nghề ngắn hạn với mức tối đa
2,5 triệu đồng/người/khóa học; đối với lao động nữ khác thì mức hỗ trợ là 2 triệu
đồng/người/khóa học. Ngoài ra, lao động nữ học nghề được vay vốn để học theo
quy định hiện hành về tín dụng đối với học sinh, sinh viên. Lao động nữ làm việc
ổn định tại chỗ (nơi cư trú) sau khi học nghề được ngân sách hỗ trợ 100% lãi suất
đối với khoản vay học nghề…Với những cách làm mới, hiệu quả, Đề án “Hỗ trợ
phụ nữ học nghề, tạo việc làm giai đoạn 2010-2015” đã tổ chức dạy nghề cho trên
1 triệu lao động nữ, tỷ lệ có việc làm là 81%, các mục tiêu đều đạt và vượt chỉ tiêu
đề ra. Như vậy, có thể thấy những đề án như vậy sẽ là cơ hội lớn để phụ nữ nghèo
ở nông thôn được đào tạo nghề, tìm kiếm việc làm, có thu nhập ổn định và nâng
cao vị thế phụ nữ trong xã hội.
Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2011 - 2020 tại chỉ tiêu 3 của
Mục tiêu 2: “Tỷ lệ lao động nữ nông thôn dưới 45 tuổi được đào tạo nghề và chuyên
môn kỹ thuật đạt 25% vào năm 2015 và 50% vào năm 2020”. Chiến lược quốc gia
về bình đẳng giới giai đoạn 2021 - 2030 đã bỏ chỉ tiêu này và chuyển nội dung này
sang Chương trình Mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới và được quy định
tại khoản 3 Điều 62 Luật Giáo dục nghề nghiệp năm 2014. Theo đó đối tượng tham
gia học là phụ nữ, lao động nông thôn , khi tham gia các chương trình đào tạo trình
độ sơ cấp và các chương trình đào tạo dưới 03 tháng được hỗ trợ chi phí đào tạo
theo quy định của Thủ tướng chính phủ. Không chỉ dừng lại ở việc ghi nhận trong
chiến lược, mục tiêu mà nâng cao trực tiếp trở thành điều luật , đây là bước tiến lớn
trong việc kéo gần sự chênh lệch về quyền, điều kiện được giáo dục, học tập giữa
nam và nữ, tiến dần đến BĐG.
Tóm lại, biện pháp thúc đẩy BĐG trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo đang có
sự ưu tiên dành cho nữ, nhằm tiến tới xóa bỏ khoảng cách so với nam giới. Các nhà
làm luật đã có sự quan tâm cụ thể đến nhóm phụ nữ nông thôn và quy định rõ việc
ưu tiên trong đào tạo nghề cho phụ nữ nông thôn. Việc quy định ưu tiên như trên
không bị xem là phân biệt đối xử do sự cần thiết để thúc đẩy, tạo cơ hội cho nữ giới
tham gia học tập và nâng cao tay nghề. lOMoAR cPSD| 40551442
3. Thực tiễn áp dụng và kiến nghị về biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới
trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo
3.1. Những kết quả đã đạt được từ thực tiễn thực hiện các biện pháp thúc
đẩy bình đẳng giới trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo
Theo thống kê, tỷ lệ biết chữ của nữ giới (từ 15 tuổi trở lên) tăng từ năm 2002
đến nay, tuy nhiên luôn thấp hơn nam giới 1- 4%. Ở độ tuổi THCS tỷ lệ trẻ em
ngoài nhà trường ở trẻ em trai cao hơn trẻ em gái (năm 2009 trai là 11,77% và gái
là 10,52%, năm 2014 tương ứng là 8,57% và 7,5%). Tỷ lệ nữ học sinh tham gia
giáo dục phổ thông có sự ổn định trong 10 năm qua (2011 - 2021). Tại cấp tiểu học
và trung học cơ sở học sinh nữ chiếm tỷ lệ 47- 48%, tuy nhiên tại cấp trung học
phổ thông tỷ lệ nữ học sinh tăng khoảng 3% trong 10 năm qua (từ 49,26% lên
53,54%) và tỷ lệ học sinh nam giảm tương ứng ở cấp học này. Một phần nguyên
nhân của tình trạng này là độ tuổi tham gia trung học phổ thông (16 - 18 tuổi) nhiều
nam học sinh nghỉ học để tham gia lao động. Do vậy thực hiện BĐG trong lĩnh vực
giáo dục đào tạo cần xem xét đến tình trạng này nhằm đảm bảo quyền lợi cho nam
giới vị thành niên trong tham gia các cấp học. Từ số liệu này ta thấy, tỷ lệ nam, nữ
biết chữ hiện nay là tương đương nhau. Báo cáo từ Bộ GDĐT ghi nhận rằng tỷ lệ
biết chữ ở nữ giới tại các vùng sâu vùng xa cũng đang có sự gia tăng nhất định.
Chủ yếu là nhờ tập trung vào việc đào tạo các giáo viên địa phương về BĐG để họ
có thể thúc đẩy nhận thức về vấn đề này ngay trong cộng đồng3. Tuy nhiên, chênh
lệch về trình độ giữa nam và nữ ngày càng gia tăng theo từng cấp học, đặc biệt là
ở nhóm trẻ em dân tộc thiểu số. Theo Báo cáo đánh giá độc lập rà soát và đánh giá
tác động về giới của Chương trình Mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai
đoạn 2010 - 2020, tình trạng bỏ học sau trung học cơ sở hoặc trung học phổ thông
đang khá phổ biến với trẻ em gái, đặc biệt là trong nhóm dân tộc thiểu số. Nguyên
nhân của tình trạng này được đánh giá không phải do kinh tế hay khoảng cách địa
lý từ nhà tới trường học mà chủ yếu do áp lực từ bạn bè và các yếu tố xã hội khác.
3 Bộ Giáo dục và Đào tạo (2023), Nỗ lực vì sự tiến bộ của phụ nữ và bình đẳng giới trong ngành giáo dục,
https://moet.gov.vn/tintuc/pages/tin-hoat-dong-cua-bo.aspx?ItemID=8945, truy cập ngày 09/11/2024 lOMoAR cPSD| 40551442
Trong giai đoạn 2007 - 2015, số lượng sinh viên cả nam và nữ có sự gia tăng
đáng kể. Tỷ lệ sinh viên nữ so với sinh viên nam có sự gia tăng từ năm 2013 đến
2015 số lượng nữ sinh viên lớn hơn số lượng nam sinh viên4.
Về đào tạo nghề cho lao động nữ: Theo báo cáo rà soát tình hình thực hiện
Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2011 - 2020, đặc biệt nhấn mạnh đến
hiệu quả của Đề án “Hỗ trợ phụ nữ học nghề, tạo việc làm giai đoạn 2010 – 2015”.
Chỉ trong 5 năm thực hiện Đề án, cả nước đã dạy nghề cho hơn 1 triệu lao động nữ
(vượt 300% mục tiêu Đề án); tỷ lệ có việc làm đạt 81% (vượt 11% mục tiêu Đề án).
Sau học nghề, 75,6% phụ nữ được hỗ trợ vốn tự tạo việc làm, 12,64% được doanh
nghiệp bao tiêu sản phẩm, 9,14% được doanh nghiệp tuyển dụng và 1,62% tham gia
hợp tác xã, tổ hợp tác, liên kết…5 Theo kết quả điều tra lao động - việc làm năm
2019 cho thấy, tỷ lệ lao động nữ nông thôn dưới 45 tuổi được đào tạo nghề và
chuyên môn kỹ thuật chỉ đạt 17,4%, như vậy, chỉ tiêu này chưa đạt được mục tiêu
đề ra trong Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2011 - 2020 (50%). Để
hướng đến mục tiêu này, Luật Giáo dục nghề nghiệp năm 2014 đã có một số sửa
đổi, cùng với đó, một số chính sách, đề án đã được phê duyệt nhằm tạo thuận lợi
cho phụ nữ nông thôn được tham gia học nghề. Tuy nhiên, hoạt động đào tạo nghề
cho lao động nông thôn hiện nay chưa thực sự hiệu quả. Đào tạo nghề nông nghiệp
trong khuôn khổ Chương trình Mục tiêu quốc qua xây dựng nông thôn mới chủ yếu
nhằm mục đích phát triển kỹ năng nông nghiệp hơn là chuẩn bị cho lực lượng lao
động nông thôn làm việc phi nông nghiệp. Các hoạt động đào tạo nghề này hiện
đang được đánh giá là không theo nhu cầu, thời gian đào tạo ngắn, ít mang tính ứng
dụng thực tế đồng thời thời gian tổ chức lớp học không phù hợp.
Báo cáo số 362/BC-CP ngày 10/8/2020 của Chính phủ về việc thực hiện mục
tiêu quốc gia về bình đẳng giới năm 2019 và giai đoạn 2011 - 2020 nêu rõ:
Theo thống kê của Bộ GDĐT, năm 2019, tỷ lệ biết chữ của nữ trong độ tuổi
từ 15 - 60 đạt 97,33% so với nam giới là 97,93%. Tỷ lệ người dân tộc thiểu số biết
chữ trong độ tuổi từ 15 - 60 đạt 93,6%, trong đo, tỷ lệ nữ dân tộc thiểu số biết chữ
đạt 92,58%. Tỷ lệ nữ sinh tham gia các kỳ thi quốc gia và quốc tế trong thời gian
4 Bộ Lao động Thương Binh và Xã hội, (2019), Báo cáo tổng kết 10 năm thi hành Luật Bình đẳng giới, truy cập ngày 15/11/2024.
5 Dân tộc và phát triển (2021), Đào tạo nghề và giải quyết việc làm cho phụ nữ DTTS: Tăng cơ hội tiếp cận với
nguồn lực kinh tế và thị trường lao động https://baodantoc.vn/dao-tao-nghe-va-giai-quyet-viec-lam-cho-phu-nu- dtts- lOMoAR cPSD| 40551442
vừa qua cũng tăng lên đáng kể, nhiều nữ sinh đã đạt giải các trong các kỳ thi quốc
gia về quốc tế. Nhà khoa học nữ làm chủ nhiệm các để tài khoa học công nghệ cấp
quốc gia ngày càng tăng năm 2016 có 19.2% đề tài cấp quốc gia do nhà khoa học
nữ chủ trì. Nhiều nhà khoa học nữ đã được tôn vinh được nhận các giải thưởng
trong và ngoài nước. Giai đoạn 2012 - 2016, tỷ lệ nữ giáo sư trong cả nước là 8,4%,
nữ phó giáo sư là 26,3%6. Theo kết quả Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2019,
tỷ lệ nữ thạc sỹ là 44,3%, chưa đạt so với mục tiêu đề ra là 50% trong khi tỷ lệ nữ
tiến sỹ là 28% vượt 3% so với chỉ tiêu đề ra. Như vậy, chỉ tiêu 2 của Mục tiêu 3
trong Chiến lược Quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2011 - 2020 không
tang-co-hoi-tiep-can-voi-nguon-luc-kinh-te-va-thi-truong-lao-dong-1638846319045.htm, truy cập ngày 09/10/2024
6 Bộ Lao động Thương Binh và Xã hội, 2019, “Báo cáo tổng kết 10 năm thi hành Luật Bình đẳng giới”
đạt ở nội dung tỷ lệ nữ thạc sĩ. Bên cạnh đó, tỷ lệ nữ vẫn là thiểu số trong các ngành
khoa học tự nhiên và công nghệ (STEM) và các ngành kỹ thuật nói chung.
Báo cáo tóm tắt tình hình giới ở Việt Nam cho thấy, tỷ lệ nam giới có bằng đại
học và cao đẳng cao hơn so với nữ, năm 2012: 7,5% nam giới so với 6,7% nữ giới.6
Mặc dù số sinh viên nữ nhiều hơn ở cấp đại học và cao đẳng nhưng nam sinh viên
và nữ sinh viên vẫn tiếp tục tách biệt ở các ngành học khác nhau do định kiến giới
nam giới dường như tập trung nhiều hơn vào các ngành kỹ sư, chế tạo máy, xây
dựng dịch vụ, trong khi đó nữ sinh viên lại nghiêng về các ngành khoa học xã hội,
giáo dục, nghệ thuật, khoa học nhân văn.7
3.2. Hạn chế trong thực tiễn thực hiện của biện pháp thúc đẩy bình đẳng
giới trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo (Thảo My, Bảo Ngọc)
Các biện pháp thúc đẩy BĐG trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo đạt được rất
nhiều thành tựu và tiến bộ, song vẫn còn những hạn chế nhất định, cụ thể:
Vai trò của cơ quan quản lý nhà nước đối với lĩnh vực giáo dục và đào tạo
trong việc thực hiện BĐG mà cụ thể là việc ban hành chính sách, tổ chức thực hiện
lồng ghép giới còn hạn chế; thiếu sự tham gia của cộng đồng và các bên liên quan.
6 Liên Hợp quốc, “Báo cáo tóm tắt về giới”, 2016 - 2017 trang 39.
7 Liên Hợp quốc, “Báo cáo tóm tắt về giới”, 2016-2017 trang 39,40. lOMoAR cPSD| 40551442
Công tác tuyên truyền, giáo dục và nâng cao nhận thức về BĐG chưa đạt hiệu
quả cao dẫn tới các biện pháp thúc đẩy BĐG trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo
cũng chưa được thực hiện tốt. Thực tế, đội ngũ cán bộ nhìn chung còn thiếu về số
lượng, hạn chế về kiến thức và kỹ năng và thiếu kinh nghiệm trong tổ chức triển
khai nhiệm vụ. Ở các bộ, ngành, địa phương, hầu hết cán bộ làm công tác BĐG đều
kiêm nhiệm và thường xuyên thay đổi nên hiệu quả công tác còn hạn chế8. Tuy
nhiên, trong nhiều trường hợp, gia đình và cộng đồng không nhận thức được tầm
quan trọng của việc khuyến khích nữ sinh học tập và phát triển nghề nghiệp. Các
bậc phụ huynh có thể cảm thấy rằng giáo dục nữ sinh không cần thiết vì họ “chỉ
cần lấy chồng và làm mẹ” dẫn đến tình trạng trong tổng số người mù chữ, phụ nữ
vẫn chiếm hơn 2/3 so với nam giới (Phụ nữ 69%; nam giới 31%) (Điều tra dân số
và nhà ở, 1999). Số liệu cũng cho thấy 12% em gái trong độ tuổi 5 tuổi trở lên chưa
bao giờ đi học, trong khi đó tỷ lệ này chỉ là 7,5% đối với các em trai9.
Định kiến giới trong giáo dục, đào tạo đối với trẻ em gái và phụ nữ, đặc biệt
ở những vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa.
Ở những vùng đặc biệt khó khăn, khoảng cách giới và các định kiến về giới
vẫn còn tồn tại phổ biến, dẫn tới việc các trẻ em gái và phụ nữ ít có cơ hội được
tiếp cận với nền giáo dục và đào tạo. Các yếu tố khiến cho trẻ em gái và phụ nữ
gặp khó khăn có thể kể đến là do gánh nặng công việc gia đình và các phong tục
tập quán, các định kiến cổ hủ tồn tại từ xa xưa, chẳng hạn như: con gái thì phải ở
nhà làm việc nhà và phụ giúp cha mẹ; tảo hôn; việc đi học là của con trai, phụ nữ
ở nhà, chăm sóc gia đình,... Ngoài ra sự chênh lệch giáo dục giữa thành thị và nông
thôn: Ở các khu vực thành thị, cơ sở hạ tầng, chương trình giáo dục tốt hơn, học
sinh có nhiều cơ hội phát triển. Tuy nhiên, ở các vùng nông thôn và miền núi, trẻ
em, đặc biệt là nữ sinh, thường phải đối mặt với rất nhiều rào cản như khoảng cách
địa lý xa xôi, thiếu trường học, hoặc các quan niệm xã hội không cho phép con gái đi học xa nhà.
8 Hồ Hương, (2020), Vẫn còn tồn tại những khó khăn, tồn tại, hạn chế trong việc thực hiện mục tiêu quốc gia
về bình đẳng giới, Cổng thông tin điện tử Quốc hội Việt Nam https://quochoi.vn/pages/tim- kiem.aspx?ItemID=50879 .
9 Đặng Ánh Tuyết, (2021), Bình đẳng giới về giáo dục ở Việt Nam hiện nay - thực trạng và những vấn đề đặt ra,
Tạp chí Lý luận chính trị và truyền thông https://lyluanchinhtrivatruyenthong.vn/binh-dang-gioi-ve-giao-duc-o-
vietnam-hien-nay-thuc-trang-va-nhung-van-de-dat-ra-p24343.html lOMoAR cPSD| 40551442
Mặc dù tỷ lệ nữ có trình độ sau đại học ở Việt Nam đạt trên 30% song vẫn chỉ
bằng ½ so với nam giới. Càng ở cấp học lên cao (cao đẳng, đại học, thạc sĩ, tiến sĩ)
thì tỷ lệ nữ tham gia càng thấp. Bên cạnh đó, những định kiến cũng làm cản trở
quyền học tập lên cao của phụ nữ. Hiện nay phần lớn mọi người vẫn giữ suy nghĩ
rằng phụ nữ không cần phải học quá giỏi, việc học lên cao là không cần thiết. Họ
cho rằng đích đến của một người phụ nữ là kết hôn, lập gia đình và tập trung vào
việc vun vén tổ ấm gia đình thay vì theo đuổi tri thức lớn hơn và một người phụ nữ
quá tài giỏi thì sẽ khó lấy chồng, khó chu toàn được cho gia đình. Phụ nữ học cao
bị coi là “mối đe dọa” đối với hôn nhân và quan hệ hôn nhân của bản thân họ. Trong
các gia đình, việc đầu tư cho trẻ em gái đi học vẫn thấp hơn đầu tư cho trẻ em trai
do quan niệm “trọng nam, khinh nữ” vẫn còn tồn tại.
Bên cạnh đó, sự chênh lệch đáng kể về tỷ lệ sinh viên nam và sinh viên nữ
giữa các trường đại học cũng bị ảnh hưởng do định kiến giới trong việc lựa chọn
ngành học. Những trường thuộc khối kỹ thuật, công nghệ, khoa học tự nhiên thì tỷ
lệ sinh viên nam cao hơn rất nhiều so với sinh viên nữ. Ngược lại, ở khối trường
xã hội, sư phạm, kinh tế, luật thì tỷ lệ sinh viên nữ cao hơn nhiều so với sinh viên
nam. Phụ nữ vẫn bị coi là có khả năng học tập thấp hơn nam giới và không giỏi
bằng nam giới trong khoa học tự nhiên. Quan niệm này dẫn đến cơ hội tại các vị trí
công việc liên quan đến khoa học tự nhiên cũng dành cho nam giới nhiều hơn.
Tỷ lệ lao động nữ chưa qua đào tạo của cả nước còn ở mức cao
Tại Hội thảo “Lao động nữ chưa qua đào tạo - những vấn đề xã hội trong kỷ
nguyên số” do Hội đồng khoa học Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam phối hợp Viện
nghiên cứu gia đình và giới (Viện Hàn lâm khoa học xã hội Việt Nam) ngày
30/11/2018, ThS. Trần Quý Long đưa ra kết quả điều tra lao động việc làm năm
2016 cho thấy tỷ lệ nữ giới chưa qua đào tạo là 81,6%, cao hơn nam giới (76,7%).
Tỷ lệ lao động nữ chưa qua đào tạo ở khu vực thành thị chỉ chiếm khoảng 57%,
trong khi tỷ lệ này ở khu vực nông thôn lên đến 88%, cho thấy nhiều thách thức
lớn trong vấn đề nâng cao trình độ cho lao động nữ ở khu vực nông thôn10. Theo
nghiên cứu, chỉ có 5,9% lao động nữ dân tộc thiểu số có việc làm đã qua đào tạo,
trong đó, số lao động có trình độ sơ cấp nghề là 0,2%, trung cấp là 2,5%, cao đẳng
10 Ngô Thị Hường, (2020), Pháp luật Việt Nam về bình đẳng giới trong lĩnh vực giáo dục, Tạp chí Dân chủ pháp
luật, https://danchuphapluat.vn/phap-luat-viet-nam-ve-binh-dang-gioi-trong-linh-vuc-giao-duc, truy cập ngày 15/11/2024. lOMoAR cPSD| 40551442
là 1,4% và đại học trở lên cũng chỉ đạt 1,7%. Một số dân tộc như dân tộc H'mông
chỉ có 0,9% nữ lao động có việc làm đã qua đào tạo, 0% sơ cấp nghề, 0,6% trung
cấp, 0,2% cao đẳng và 0,1% từ đại học trở lên, trong khi tỷ lệ lao động nam được
đào tạo cao hơn nhiều, là 3,4%, 0,2%, 2,0%, 0,5% và 0,7 %. Chính vì đó, tỷ lệ phụ
nữ tiếp cận việc làm cũng thấp hơn, chỉ làm các công việc lao động giản đơn có thu nhập thấp11.
3.3. Kiến nghị về biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới trong lĩnh vực giáo
dục và đào tạo (Ngọc Minh, Hạnh Nguyên)
Đề xuất một số kiến nghị sau xuất phát từ nhữn hạn chế trong việc thực hiện
các biện pháp thúc đẩy BĐG mà nhóm đã phân tích ở trên:
Thứ nhất, tiếp tục có những rà soát để cụ thể hóa các biện pháp thúc đẩy BĐG
trong các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan đến lĩnh vực giáo dục và đào
tạo, để đảm bảo rằng nữ được hưởng các chính sách ưu đãi khi áp dụng biện pháp
thúc đẩy BĐG. Cần lồng ghép nội dung biện pháp thúc đẩy BĐG trong các văn bản
quy phạm pháp luật liên quan đến quy chế tuyển sinh, quy chế đào tạo….Biện pháp
thúc đẩy BĐG muốn triển khai thực hiện phải được cụ thể hóa, phải đảm bảo dễ
dàng áp dụng trên thực tiễn. LBĐG xác định phải quy định tỷ lệ nam, nữ tham gia
học tập, đào tạo. Tuy nhiên, tỷ lệ này được phản ánh như thế nào để đảm bảo sự ưu
tiên cần thiết cho nữ trong những trường hợp cần thiết để tạo cơ hội cho nữ tham
gia học tập, đào tạo thì phải được quy định rõ trong các văn bản dưới luật, thực
hiện hóa trong văn bản quy phạm pháp luật của các bộ, ngành về công tác đào tạo,
đào tạo nghề cho phụ nữ nông thôn. Ngoài ra, phải tiến hành xây dựng các chính
sách phù hợp, kịp thời để triển khai thực hiện các biện pháp thúc đẩy BĐG, thực
hiện lồng ghép giới trong các chiến lược, chương trình hành động quốc gia về BĐG,
chiến lược phát triển bền vững, chiến lược phát triển kinh tế xã hội, tạo ra sự đồng
bộ, thống nhất giữa pháp luật và chính sách, góp phần thực hiện hiệu quả các giải
pháp thực hiện biện pháp thúc đẩy BĐG trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo.
Thứ hai, cần xóa bỏ định kiến và đưa ra những chính sách ưu đãi giúp cho trẻ
em gái và phụ nữ ở nông thôn, vùng dân tộc thiểu số tiếp cận với nền giáo dục.
11 Thương Huyền, (2023), Những thách thức lớn trong công tác bình đẳng giới, Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt
Nam https://dangcongsan.vn/binh-dang-gioi-trong-vung-dong-bao-dan-toc-thieu-so-va-mien-nui/nhung-thach-
thuclon-trong-cong-tac-binh-dang-gioi-646205.html. Truy cập ngày 16/11/2024. lOMoAR cPSD| 40551442
Phổ biến, thay đổi định kiến của cộng đồng trong giáo dục và đào tạo. Tuyên
truyền quan điểm, chính sách pháp luật về BĐG, những dẫn chứng trong thực tế
rằng khả năng học tập của nam và nữ như nhau và nữ giới cũng có thể đảm nhiệm
vai trò của nam giới trong xã hội và ngược lại. Do vậy, cần có yêu cầu về định
hướng nghề nghiệp trong nhà trường không được có phân biệt đối xử, tư vấn lựa
chọn ngành học cần dựa trên khả năng, sở thích của cá nhân, không được áp đặt
định kiến giới. Ngoài ra, cần tôn trọng và ủng hộ nữ giới tham gia học sau đại học,
để họ có thể phát huy hết khả năng của mình. Các cơ quan nhà nước tại các địa
phương thuộc miền núi còn lạc hậu cần ngăn chặn việc tảo hôn, nghiêm cấm các
hành vi tổ chức, tham gia tảo hôn, hoặc ép nữ giới lập gia đình sớm, một trong các
rào cản trong việc tiếp cận giáo dục mức độ cao hơn.
Hiện nay, Chính phủ đã ban hành một số nghị định quy định về cơ chế thu,
quản lý học, chính sách miễn, giảm học phí, hỗ trợ chi phí học tập12; về chính sách
hỗ trợ học sinh và trường phổ thông ở xã, thôn đặc biệt khó khăn13;... cho thấy
Chính phủ đã và đang rất quan tâm đến việc giáo dục của trẻ em vùng nông thôn,
vùng khó khăn. Tuy nhiên, vẫn còn rất nhiều rào cản cho trẻ em gái được bước
chân tới trường. Chính phủ cần xây dựng chính sách cụ thể, hỗ trợ tài chính và học
bổng cho đối tượng là trẻ em gái, phụ nữ ở những vùng này.
Thứ ba, cần thiết kế chương trình giảng dạy đảm bảo BĐG. Nền giáo dục
nước ta đã trải qua bốn lần thay đổi sách giáo khoa và lần thay đổi gần đây nhất là
vào năm 2020-2021. Theo đó, từ năm học 2020 - 2021, sách giáo khoa mới bắt đầu
được đưa vào sử dụng với lớp 1. Toàn quốc có 5 bộ sách lớp 1, gồm Kết nối tri thức
với cuộc sống, Chân trời sáng tạo, Cùng học để phát triển năng lực, Vì sự bình đẳng
và dân chủ trong giáo dục và Cánh Diều. Từ lớp 2 trở đi, Nhà xuất bản Giáo dục
Việt Nam hợp nhất 4 bộ chỉ còn hai bộ sách là Kết nối tri thức với cuộc sống và
Chân trời sáng tạo. Vì thế, các cơ sở giáo dục có ba bộ sách để lựa chọn là: Kết nối
tri thức với cuộc sống, Chân trời sáng tạo và Cánh Diều14. Có thể thấy rằng trong
bộ sách giáo khoa mới, vấn đề BĐG đã được cải thiện hơn so với bộ sách giáo khoa
12 Nghị định số 81/2021/NĐ-CP ngày 27/8/2021 quy định về cơ chế thu, quản lý học phí đối với cơ sở giáo dục
thuộc hệ thống giáo dục quốc dân và chính sách miễn, giảm học phí, hỗ trợ chi phí học tập; giá dịch vụ trong lĩnh
vực giáo dục, đào tạo.
13 Nghị định số 116/2016/ NĐ-CP ngày 18/07/2016 quy định chính sách hỗ trợ học sinh và trường phố ở xã, thôn đặc biệt khó khăn.
14 https://vnexpress.net/bon-lan-viet-nam-thay-sach-giao-khoa-4517404.html, truy cập ngày 15/11/2024. lOMoAR cPSD| 40551442
cũ bởi vì ở bộ sách giáo khoa mới đã có sự đa dạng hơn về ngành nghề của cả hai
giới. Trong khi đó, ở bộ sách giáo khoa cũ, nữ chỉ làm nội trợ, giáo viên, nhân viên
văn phòng thì nhân vật nam trong sách giáo khoa là bác sĩ, nhà khoa học, kỹ sư, công an, bộ đội.15
Thứ tư, cần nâng cao vai trò của người giảng dạy trong việc thực hiện BĐG,
cụ thể là người giảng dạy cần truyền tải kiến thức mà không thể hiện sự bất BĐG
giữa các học sinh, sinh viên, đồng thời có kết hợp kiến thức về BĐG. Để truyền tải
kiến thức thông thường mà không được thể hiện sự bất BĐG giữa những người
học, đối với cơ sở giáo dục mầm non, cơ sở giáo dục phổ thông, cơ sở giáo dục
thường xuyên, thì nên hoàn thiện Thông tư 06/2019/TT-BGDĐT ngày 12/04/2019
quy định quy tắc ứng xử trong cơ sở mầm non, cơ sở giáo dục phổ thông, cơ sở
giáo dục thường xuyên.và đối với cơ sở giáo dục đại học thì nên bổ sung trong các
Quyết định do từng trường ban hành quy định về quy tắc ứng xử của người giảng
dạy về BĐG . Thêm nữa phương pháp dạy học của người giảng dạy cũng không
mang định kiến giới ví dụ như người giảng dạy dạy rằng nam nữ đều có thể làm
bài toán này chứ không được cho rằng cho rằng nữ học yếu toán hơn nam. Tiếp
đến, để truyền tải trọn vẹn kiến thức về BĐG, nhóm cho rằng trong các buổi tập
huấn bồi dưỡng giáo viên cần được lồng ghép kiến thức về giới, BĐG.
Thứ năm, khuyến khích nữ giới tham gia đào tạo nghề để có cơ hội làm việc
tốt hơn đồng thời nâng cao chất lượng dạy nghề. Chương trình học cần bám sát nhu
cầu của xã hội, phù hợp với đặc thù của lao động nữ, và hướng tới đào tạo nghề
trung hạn và dài hạn. Lĩnh vực đào tạo nghề cho lao động nữ khu vực nông thôn
không nên chỉ dừng lại ở việc đào tạo thông qua các khóa tập huấn ngắn hạn trao
đổi khoa học kỹ thuật về phương thức sản xuất nông nghiệp. Việc đào tạo nghề cần
được thực hiện theo hướng đào tạo chuyên sâu hơn để phù hợp với sự phát triển
nhanh chóng về khoa học, kĩ thuật hiện nay. Nhờ đó, nâng cao phần trăm cơ hội
việc làm cho lao động nữ cũng như tăng số lượng tham gia đào tạo. KẾT LUẬN
Thúc đẩy BĐG trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo là một nhiệm vụ cấp thiết
và cần được ưu tiên. Những chính sách hỗ trợ, chương trình giáo dục và đào tạo
15 https://vnexpress.net/bat-binh-dang-gioi-trong-sach-giao-khoa-3634161.htm , truy cập ngày 15/11/2024. lOMoAR cPSD| 40551442
phù hợp không chỉ đem lại cơ hội học tập và phát triển cho cả nam và nữ mà còn
tạo ra một môi trường giáo dục bình đẳng, công bằng. Để đạt được mục tiêu này,
cần phải có sự phối hợp chặt chẽ giữa các cấp chính quyền, các tổ chức xã hội
và gia đình. Chỉ khi cùng nhau hành động quyết liệt, chúng ta mới có thể tạo ra
những bước tiến vững chắc trong việc thúc đẩy BĐG, từ đó xây dựng một xã
hội phát triển toàn diện và bền vững cho tất cả mọi người.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Văn bản pháp luật: 1. Hiến pháp năm 2013 2.
Luật Bình đẳng giới 2006. 3.
Luật Giáo dục nghề nghiệp năm 2014. 4. Luật Giáo dục năm 2019. 5.
Nghị định 48/2009/NĐ-CP ngày 19/05/2009 quy định về các biện
phápthúc đẩy bình đẳng giới. 6.
Nghị định số 116/2016/ NĐ-CP ngày 18/07/2016 quy định chính sách
hỗtrợ học sinh và trường phố ở xã, thôn đặc biệt khó khăn. 7.
Nghị định số 81/2021/NĐ-CP ngày 27/8/2021 quy định về cơ chế thu,
quảnlý học phí đối với cơ sở giáo dục thuộc hệ thống giáo dục quốc dân và chính
sách miễn, giảm học phí, hỗ trợ chi phí học tập; giá dịch vụ trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo. 8.
Nghị quyết số 28/NQ-CP ngày 03/03/2021 ban hành Chiến lược quốc
giavề bình đẳng giới giai đoạn 2021 - 2030. 9.
Thông tư số 15/2014/TT-BGDĐT ngày 15/05/2014 ban hành quy chế
đàotạo trình độ thạc sỹ. 10.
Thông tư 06/2019/TT-BGDĐT ngày 12/04/2019 quy định quy tắc ứng
xửtrong cơ sở mầm non, cơ sở giáo dục phổ thông, cơ sở giáo dục thường xuyên. 11.
Quyết định số 295/QĐ-TTg ngày 26/02/2010 phê duyệt đề án “Hỗ trợ
phụnữ học nghề, tạo việc làm giai đoạn 2010-2015”. 12.
Quyết định số 2351/QĐ-TTg ngày 24/12/2010 phê duyệt Chiến lược
quốcgia về bình đẳng giới giai đoan 2011 - 2020. lOMoAR cPSD| 40551442 13.
Báo cáo số 362/BC-CP ngày 10/8/2020 của Chính phủ về việc thực
hiệnmục tiêu quốc gia về bình đẳng giới năm 2019 và giai đoạn 2011 - 2020. 14.
Bộ Lao động Thương Binh và Xã hội, 2019, “Báo cáo tổng kết 10 năm thi
hành Luật Bình đẳng giới”.
Tài liệu tham khảo khác: 15.
Liên Hợp quốc, “Báo cáo tóm tắt về giới”, 2016 – 2017, tr39,40. 16.
Dương Tân, (2017), Bất bình đẳng giới trong sách giáo khoa, Vnexpress,
https://vnexpress.net/bat-binh-dang-gioi-trong-sach-giao-khoa-
3634161.html, truy cập ngày 15/11/2024. 18.
Hồ Hương, (2020), Vẫn còn tồn tại những khó khăn, tồn tại, hạn chế
trong việc thực hiện mục tiêu quốc gia về bình đẳng giới, Cổng thông tin điện tử
Quốc hội Việt Nam, https://quochoi.vn/pages/tim-kiem.aspx?ItemID=50879, truy cập ngày 15/11/2024. 19.
Ngô Thị Hường, (2020), Pháp luật Việt Nam về bình đẳng giới trong
lĩnh vực giáo dục, Tạp chí Dân chủ pháp luật, https://danchuphapluat.vn/phap-luat-
vietnam-ve-binh-dang-gioi-trong-linh-vuc-giao-duc, truy cập ngày 15/11/2024. 20.
Dân tộc và phát triển, (2021), Đào tạo nghề và giải quyết việc làm cho
phụ nữ DTTS: Tăng cơ hội tiếp cận với nguồn lực kinh tế và thị trường lao động,
https://baodantoc.vn/dao-tao-nghe-va-giai-quyet-viec-lam-cho-phu-nu-dtts-
tangco-hoi-tiep-can-voi-nguon-luc-kinh-te-va-thi-truong-lao-
dong1638846319045.htm, truy cập ngày 09/10/2024. 21.
Đặng Ánh Tuyết, (2021), Bình đẳng giới về giáo dục ở Việt Nam hiện
nay - thực trạng và những vấn đề đặt ra, Tạp chí Lý luận chính trị và truyền thông
https://lyluanchinhtrivatruyenthong.vn/binh-dang-gioi-ve-giao-duc-o-viet-
namhien-nay-thuc-trang-va-nhung-van-de-dat-ra-p24343.html, truy cập ngày 10/11/2024. 22.
Bình Minh, (2022), Bốn lần Việt Nam thay sách giáo khoa, Vnexpress,
https://vnexpress.net/bon-lan-viet-nam-thay-sach-giao-khoa-4517404.html, truy cập ngày 15/11/2024. lOMoAR cPSD| 40551442 23.
Trang thông tin phổ biến, giáo dục pháp luật, (2022), Bình đẳng giới
trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo, https://pbgdpl.haiphong.gov.vn/Nghien-
cuutrao-doi/Binh-dang-gioi-trong-linh-vuc-giao-duc-va-dao-tao-92462.html?
fbclid=IwY2xjawGjCB5leHRuA2FlbQIxMAABHQxy5bas2YoaVVipyN6D1r_a2
62JGxw85EcjjcVIAFV0wKEpJhJkNQATw_aem_libMVQvhvHrbNZWrSNHi Wg, truy cập 14/11/2024. 24.
Bộ Giáo dục và Đào tạo (2023), Nỗ lực vì sự tiến bộ của phụ nữ và
bình đẳng giới trong ngành giáo dục, https://moet.gov.vn/tintuc/pages/tin-hoat-
dongcua-bo.aspx?ItemID=8945 , truy cập ngày 09/11/2024. 25.
Thương Huyền, (2023), Những thách thức lớn trong công tác bình
đẳng giới, Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam https://dangcongsan.vn/binh-
dang-gioitrong-vung-dong-bao-dan-toc-thieu-so-va-mien-nui/nhung-thach-thuc-
lon-trongcong-tac-binh-dang-gioi-646205.html. Truy cập ngày 16/11/2024. 26.
Hồng Lơi, (2023), Các nguyên tắc trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo
đối với Bình đẳng giới, Sở Thông tin & Truyền thông UBND tỉnh Bình Phước,
https://binhphuoc.gov.vn/vi/stttt/binh-dang-gioi/cac-nguyen-tac-trong-linh-
vucgiao-duc-va-dao-tao-doi-voi-binh-dang-gioi-1754.html, truy cập ngày
15/11/2024. Báo Dân trí, (2024), Chỉ số xếp hạng về bình đẳng giới của Việt Nam
tăng 11 bậc, https://dantri.com.vn/an-sinh/chi-so-xep-hang-ve-binh-dang-gioi-
cua-viet-nam tang-11-bac
20240522092023869.htm?
fbclid=IwY2xjawGbND1leHRuA2FlbQIxMAABHR9S53kdSWUhKJMN1Gr5hI8Q s
E5NwEeIlIWJx4Z44SuTZB3waC_QlQo6aQ_aem_wyURKANUHmcO_X0QCXt6r
Q , truy cập ngày 09/11/2024.
27. Web: https://hcmussh.edu.vn/news/item/16492, truy cập ngày 17/11/2024.