BỘ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT NỘI
BÀI TẬP NHÓM
MÔN: TƯỞNG HỒ CHÍ MINH
ĐỀ BÀI: 02
Trình y sở thực tiễnnh thành
tư tưởng Hồ Chí Minh
NM : 06
LỚP : N08 TL1
Nội, 2022
1
2
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ............................................................................................................... 3
NỘI DUNG ............................................................................................................ 3
I. Thực tiễn Việt Nam cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX ...................................... 3
1.1. Tính chất xã hội VN trước khi thực dân Pháp xâm lược ................................ 3
1.2. Khi thực dân Pháp xâm lược Việt Nam ......................................................... 4
1.3. Sự chuyển biến trong lòng hội VN đầu thế kXX ................................... 5
1.4. Tác động của thực tiễn lịch sử Việt Nam cuối thế kỉ XIX-đầu thế kỉ XX đến
tưởng Hồ C Minh ........................................................................................... 7
II. Thực tiễn thế giới cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX ........................................ 8
2.1. Chủ nghĩa đế quốc ra đời ................................................................................ 8
2.2. Cách mạng tháng Mười Nga thành công (1917) ............................................ 9
2.3. Sự ra đời của Quốc tế cộng sản (3/1919) ..................................................... 11
KẾT LUẬN ......................................................................................................... 12
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................ 13
PHỤ LỤC ............................................................................................................ 14
3
MỞ ĐẦU
Theo quan điểm của Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng Cộng
sản Việt Nam (2011): “Tư tưởng Hồ Chí Minh một hệ thống quan điểm toàn
diện sâu sắc về những vấn đề bản của cách mạng Việt Nam, kết quả của
sự vận dụng phát triển sáng tạo Chủ nghĩa Mác-Lênin vào điều kiện cụ thể
của nước ta, kế thừa phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc,
tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại.”. Qua đó, Đảng ta khẳng định tưởng Hồ
Chí Minh tài sản tinh thần cùng to lớn quý giá của Đảng dân tộc ta,
mãi mãi soi đường cho sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta. Cùng với Chủ
nghĩa Mác - Lênin, tưởng Hồ Chí Minh một bộ phận cấu thành làm nên
nền tảng tưởng kim chỉ nam cho hành động của Cách mạng Việt Nam.
Cũng trong khái niệm trên, một trong những nội dung quan trọng được nhắc tới
chính sở hình thành Tư tưởng Hồ Chí Minh, bao gồm sở thực tiễn
sở lý luận. Nhận thấy được tầm quan trọng của việc học tập và nghiên cứu cơ sở
hình thành tưởng Hồ Chí Minh, nhóm chúng em đã lựa chọn đề tài: “Trình
bày cơ sở thực tiễn hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh”.
NỘI DUNG
I. Thực tiễn Việt Nam cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX
1.1. nh chất hội VN trước khi thực dân Pháp xâm lược
Trước khi thực dân Pháp nổ súng xâm lược, Việt Nam là một quốc gia độc
lập, chủ quyền đạt được những tiến bộ nhất định về kinh tế, văn hóa. Đến
cuối thế kỷ XIX, hội phong kiến đã bộc lộ những dấu hiệu của sự khủng
hoảng, suy yếu nghiêm trọng, một hội lạc hậu, phản động, phản dân chủ, đàn
áp các tổ chức nhân hoạt động chính trị tích cực, đàn áp nhân dân,...thể
hiện chính sách thống trị của triều đình nhà Nguyễn như thực hiện “bế quan
tỏa cảng”, “cấm đạo”, khiến cho Việt Nam ngày càng blập, tiềm lực đt
nước ngày càng suy yếu, đồng thời gây ra những mâu thuẫn, làm rạn nứt khối
đại đoàn kết dân tộc, gây bất lợi cho sự nghiệp kháng chiến sau này. Công tác
quốc phòng của nhà Nguyễn lạc hậu nhiều, do đó, sau này, khi người Pháp vào
xâm lược Việt Nam, khoảng cách về trang thiết bị giữa quân đội nhà Nguyễn
4
quân Pháp đã khá xa.
1
Kinh tế nông - công - thương nghiệp ngày càng sa sút;
tình hình tài chính khó khăn. Một số chủ trương, chính sách của nhà nước gây
bất lợi cho sự phát triển của nền kinh tế.
Chính những chính sách này đã làm cho hội phong kiến Việt Nam lúc
bấy giờ lạc hậu, bảo thủ, trì trệ thậm chí mang tính phản động, Nhà Nguyễn
không chuẩn bị được tiềm lực cả về vật chất lẫn tinh thần, khả năng phòng thủ
đất nước bị giảm sút, quốc phòng yếu kém. Điều này đã ảnh hưởng trực tiếp đến
việc chống lại sự xâm lược của thực dân Pháp sau này.
1.2. Khi thực dân Pháp xâm lược Việt Nam
Trước hành động xâm lược của thực dân Pháp, triều đình nhà Nguyễn ban
đầu có chống cự, có đấu tranh nhưng các cuộc kháng chiến đó lại diễn ra yếu ớt,
nhanh chóng bị đàn áp rồi đi đến đầu hàng. Nhà Nguyễn đã từng bước đầu hàng
thực dân Pháp thông qua việc kết các bản Hiệp ước. Đặc biệt, với bản Hiệp
ước Pa--nốt, Nhà nước phong kiến Việt Nam với cách một quốc gia độc
lập đã hoàn toàn sụp đổ, thay vào đó là chế độ thuộc địa nửa phong kiến.
Để đối phó với tình trạng nền kinh tế đất nước bị khủng hoảng nghiêm
trọng trước sự xâm lược của thực dân Pháp, triều đình nhà Nguyễn đã ra sức bóc
lột nhân dân bằng nhiều biện pháp tiêu cực. Mâu thuẫn giữa các tầng lớp nhân
dân với giai cấp phong kiến thống trị ngày càng trở nên sâu sắc. Nhiều cuộc
khởi nghĩa bạo loạn chống triều đình phong kiến thế đã nổ ra. Các đnghị
cải cách duy tân đã được đưa ra nđề nghị các cách của Nguyễn Trường Tộ,
Trần Đình Túc, Nguyễn Huy Tế đều không được chấp nhận.
Tiếng súng xâm lược của quân Pháp nổ ra Đà Nẵng đã làm dấy lên một
làn sóng đấu tranh mạnh mẽ trong nhân dân để bảo vệ Tổ quốc như cuộc khởi
nghĩa của Trương Định, Nguyễn Trung Trực, Đặng Như Mai, Nguyễn Thiện
Thuật,... Bên cạnh đó, các cuộc khởi nghĩa vũ trang dưới ngọn cờ “Cần Vương”
diễn ra rộng khắp cả nước, tiêu biểu như khởi nghĩa Bãi Sậy của Nguyễn Thiện
Thuật, khởi nghĩa Ba Đình của Đinh Công Tráng, khởi nghĩa Hương Khê của
Phan Đình Phùng Cao Thắng,.... Trong thời kỳ này, tiêu biểu còn cuộc
khởi nghĩa Yên Thế kéo dài gần 30 năm (1884 - 1903) thể hiện tinh thần yêu
nước chống Pháp của giai cấp nông dân, góp phần làm chậm quá trình bình định
1
Nhiều tác giả (2007), Những vấn đề lịch sử triều Nguyễn, TP Hồ Chí Minh: Nxb Văn hoá Sài Gòn.
5
của thực dân Pháp. Tuy nhiên, các cuộc khởi nghĩa này đều chung một kết
cục cuối cùng đều thất bại. Điều này chứng tỏ rằng con đường cứu nước theo
hệ tư tưởng phong kiến, chủ trương khôi phục độc lập dân tộc bằng bạo động
trang nhằm lặp lại trật tự dưới thế quân chủ đã không còn phù hợp. Thất bại
của các phong trào ấy chứng tỏ sự bất lực của hệ tư tưởng này, con đường đấu
tranh theo khuynh hướng phong kiến đã trở nên lỗi thời trước các nhiệm vụ lịch
sử đặt ra cho dân tộc Việt Nam.
1.3. Sự chuyển biến trong lòng hội VN đầu thế kỷ XX
Sau khi hoàn thành căn bản việc bình định Việt Nam vmặt quân sự, thực
dân Pháp bắt tay vào khai thác thuộc địa một cách mạnh mẽ (1897 - 1914, 1919
- 1929) từng bước biến nước ta từ một nước phong kiến thành nước “thuộc
địa phong kiến” dẫn tới những sbiến đổi về cấu giai cấp, tầng lớp trong
hội. Lúc này, trong hội Việt Nam tồn tại các giai cấp, tầng lớp gồm: giai
cấp công nhân, giai cấp nông dân, giai cấp địa chủ, giai cấp sản tầng lớp
tiểu sản. Các giai cấp, tầng lớp trong hội Việt Nam lúc này đều mang thân
phận người dân mất nước những mức độ khác nhau, đều bị thực dân áp
bức, bóc lột. vậy, trong hội Việt Nam, ngoài mâu thuẫn bản trong
hội phong kiến mâu thuẫn giữa nhân dân, chủ yếu nông dân với giai cấp địa
chủ phong kiến thì nảy sinh các mâu thuẫn mới: mâu thuẫn giữa giai cấp
công nhân Việt Nam với giai cấp sản đặc biệt mâu thuẫn giữa toàn thể
nhân dân Việt Nam với thực dân Pháp xâm lược. Trước tình hình đó, hội Việt
Nam đặt ra hai yêu cầu cấp thiết: Một là, phải đánh đuổi thực dân Pháp xâm
lược, giành độc lập cho dân tộc, tự do cho nhân dân. Hai là, xóa bỏ chế độ
phong kiến, giành quyền dân chủ cho nhân dân, chủ yếu ruộng đất cho nông
dân, trong đó chống đế quốc, giải phóng dân tộc là nhiệm vụ hàng đầu.
Cùng với những biến đổi trên, đến đầu thế kỉ XX, trước ảnh hưởng của các
cuộc vận động, cải cách của cách mạng dân chủ sản Trung Quốc tấm
gương Duy Tân của Nhật Bản, Việt Nam đã xuất hiện các phong trào yêu
nước theo khuynh hướng dân chủ sản dưới sự lãnh đạo của các phu yêu
nước. Tiêu biểu như Phong trào Đông du do Phan Bội Châu khởi xướng với
nòng cốt Duy Tân hội (1905 - 1909); Phong trào Duy Tân do Phan Châu
Trinh phát động (1906 - 1908); Phong trào Đông Kinh nghĩa thục do Lương Văn
6
Can, Nguyễn Quyền một số nhân khác phát động (từ tháng 3 đến tháng 11
năm 1907); Phong trào chống đi phu, chống sưu thuế Trung Kỳ năm 1908…
Các phong trào yêu nước theo khuynh hướng dân chủ sản nói trên đều thất
bại. Nguyên nhân sâu xa là giai cấp tư sản Việt Nam còn non yếu. Nguyên nhân
trực tiếp là các tổ chức và lãnh đạo các phong trào chưa có đường lối và phương
pháp cách mạng đúng đắn.
Như vậy, Việt Nam lúc này, các phong trào cứu nước theo khuynh hướng
phong kiến khuynh hướng dân chủ sản đều thất bại. Điều đó chứng tỏ
rằng, con đường cứu nước theo lập trường phong kiến hay lập trường của giai
cấp sản, tiểu sản không còn phù hợp với thực tiễn lịch scách mạng Việt
Nam. Chủ nghĩa yêu nước truyền thống Việt Nam đang đòi hỏi được đổi mới,
đó là một nhu cầu cấp thiết của dân tộc lúc bấy giờ. Tinh thần yêu nước vẫn sục
sôi trong lòng nhân dân. Song, cuộc khủng hoảng về đường lối cứu nước diễn ra
sâu sắc. Lúc này, câu hỏi từ thực tiễn đặt ra là: Cứu nước bằng con đường nào
để có thể đi đến thắng lợi?
Trong bối cảnh đó, giai cấp công nhân Việt Nam ra đời phong trào đấu
tranh của giai cấp công nhân Việt Nam đã làm cho cuộc đấu tranh giải phóng
dân tộc Việt Nam xuất hiện dấu hiệu mới của một thời đại mới sắp ra đời.
Cuối thế kỉ XIX, giai cấp công nhân Việt Nam ra đời từ cuộc khai thác thuộc địa
lần thứ nhất, đa số đều xuất thân từ giai cấp nông dân, quan hệ trực tiếp
chặt chvới giai cấp nông dân, chịu ba tầng áp bức thực dân, phong kiến
sản. Họ sớm vùng dậy đấu tranh chống lại giới chủ. Từ hình thức đấu tranh
thô sơ, tự phát như đốt công cụ lao động, bỏ trốn tập thể, họ đã nhanh chóng tiến
tới đình công, bãi công. Đây cũng giai cấp dũng cảm nhất, cách mạng nhất,
luôn luôn gan góc đương đầu với bọn đế quốc thực dân
2
. Phong trào công nhân
các phong trào yêu nước đầu thế kỷ XX tạo điều kiện thuận lợi để Chủ nghĩa
Mác - Lênin xâm nhập, truyền bá vào đất nước ta. Hồ Chí Minh là một người đã
dày công truyền Chủ nghĩa Mác - Lênin vào phong trào công nhân phong
trào yêu nước Việt Nam, chuẩn bị về lý luận chính trị, tư tưởng và tổ chức, sáng
lập Đảng Cộng sản Việt Nam, chấm dứt sự khủng hoảng về đường lối cách
mạng Việt Nam, đánh dấu bước hình thành bản tưởng Hồ Chí Minh về
2
Hồ Chí Minh toàn tập, sđd t.12, NXB Chính trị quốc gia - Sự thật, 2011, tr.407.
7
cách mạng Việt Nam. Sau đó, thực tiễn Đảng lãnh đạo Cách mạng Tháng Tám
thành công, lãnh đạo cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp thắng lợi; lãnh đạo
đất nước vừa xây dựng chủ nghĩa hội, vừa kháng chiến chống Mỹ, cứu nước
nhân tgóp phần bổ sung, phát triển tưởng HChí Minh trên tất cả các
phương diện.
1.4. Tác động của thực tiễn lịch sử Việt Nam cuối thế kỉ XIX-đầu thế kỉ XX
đến tư tưởng Hồ Chí Minh
Sinh ra lớn lên trong một gia đình truyền thống hiếu học, một địa
phương truyền thống yêu nước, lúc còn nhỏ phải chứng kiến cảnh khổ cực
của người dân mất nước, tinh thần đấu tranh bất khuất của thế hệ đi trước, Hồ
Chí Minh hiểu tình cảnh nước nhà bị giặc ngoại xâm đô hộ. "Người thiếu
niên ấy đã sớm hiểu biết và rất đau xót trước cảnh thống khổ của đồng bào. Lúc
bấy giờ, anh đã chí đuổi thực dân, giải phóng đồng bào”
3
. Người càng yêu
nước, thương dân tộc mình sâu sắc và hun đúc những hoài bão lớn lao. Người đã
sớm tưởng yêu nước thể hiện tưởng yêu nước trong hành động.
Hồ Chí Minh đã tham gia phong trào chống thuế Trung Kỳ (năm 1908). Thất
bại của phong trào chống thuế Huế cũng như Trung Kỳ cùng các phong trào
yêu nước chống Pháp đầu thế kỷ XX, làm cho Người nhận hơn bản chất
man của bọn thực dân ng làm cho Người sớm thấy được sức mạnh đấu
tranh của quần chúng, nhân dân lao động Việt Nam. Khi là thầy giáo Trường
Dục Thanh, Phan Thiết, Hồ Chí Minh thường dành hết tâm huyết truyền thụ cho
học sinh trong các giờ học cũng như các buổi sinh hoạt về ng yêu nước
những suy nghĩ về vận mệnh nước nhà.
Trước tình cảnh nước nhà nan nguy, Hồ Chí Minh đã dành rất nhiều thời
gian để suy ngẫm về Tquốc thời cuộc. Tuy rất khâm phục tinh thần yêu
nước của các sĩ phu, văn thân, chí xả thân nước, nhưng Người không tán
thành đường lối cứu nước của các bậc tiền bối. Người cho rằng, chủ trương của
cụ Phan Chu Trinh khi yêu cầu người Pháp thực hiện cải lương chẳng khác
“đến xin giặc rủ lòng thương”
4
; chủ trương của cụ Phan Bội Châu khi nhờ Nhật
giúp đỡ để đuổi Pháp chẳng khác nào “đuổi hổ cửa trước, rước beo cửa sau”
5
;
3
Trần Dân Tiên: Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch, Nxb. Văn học, Nội, 2001, tr.9.
4
Trần Dân Tiên: Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch, Nxb.Văn học, Nội, 2001, tr. 10
5
Trần Dân Tiên: Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch, Nxb.Văn học, Nội, 2001, tr. 10.
8
chủ trương của cụ Hoàng Hoa Thám tuy thực tế hơn, nhưng không hướng
thoát ràng, “còn mang nặng cốt cách phong kiến”
6
. Người đã sáng suốt phê
phán và không đi theo các phương pháp, khuynh hướng cứu nước của các vị đó.
Hồ Chí Minh đã ý thức được duy cứu nước truyền thống không thể giúp chiến
thắng được thực dân Pháp - một kẻ thù hoàn toàn mới của dân tộc, không chỉ
đến tmột hướng khác (hướng Tây) so với truyền thống lịch sử, còn hơn
hẳn dân tộc Việt Nam trình độ phát triển của phương thức sản xuất (phương
thức sản xuất tư bản chủ nghĩa so với phương thức sản xuất phong kiến). Do đó,
Người nhận thấy cần phải đi ra thế giới để học hỏi duy mới, cách thức mới,
Người muốn tìm hiểu những gì ẩn giấu sau sức mạnh của kẻ thù và học hỏi kinh
nghiệm cách mạng trên thế giới. Người nói: “Nhân dân Việt Nam, trong đó
cụ thân sinh ra tôi, lúc này thường tự hỏi ai người sgiúp mình thoát khỏi
ách thống trị của Pháp. Người này nghĩ Nhật, người khác lại nghĩ Anh,
người lại cho là Mỹ. Tôi thì thấy phải đi ra nước ngoài để xem cho rõ”
7
. Ngày
05/06/1911, Hồ Chí Minh đi ra nước ngoài, “xem nước Pháp các nước khác
làm như thế nào rồi sẽ trở về giúp đồng bào”
8
, tìm con đường cứu nước, cứu
n.
II. Thực tiễn thế giới cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX
2.1. Chủ nghĩa đế quốc ra đi
Cuối thế kỉ XIX - đầu thế kỉ XX, chủ nghĩa bản từng bước chuyển hẳn từ
giai đoạn tự do cạnh tranh sang tư bản độc quyền, tức chủ nghĩa đế quốc, đã xác
lập được sự thống trị của chúng trên phạm vi thế giới. Trong mọi giai đoạn phát
triển, chủ nghĩa bản đều mang trong mình những thuộc tính chung, bản,
tạo nên bản chất của chủ nghĩa bản, phân biệt chủ nghĩa bản với các chế độ
hội khác (hay các hình thái kinh tế - xã hội khác). Chủ nghĩa đế quốc một
hiện tượng quốc tế, một hệ thống thế giới, chúng vừa tranh giành, xâu thuộc
địa, vừa vào hùa với nhau để dịch các dân tộc nhỏ yếu trong vòng kìm kẹp
thuộc địa của chúng. Với chính sách xâm lược thuộc địa, đã hình thành hai hệ
thống lớn trên thế giới là hệ thống các nước đế quốc và hệ thống các nước thuộc
địa.
6
Trần Dân Tiên: Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch, Nxb.Văn học, Nội, 2001, tr. 10.
7
A. Lui Stơrông: Ba lần nói chuyện với Chủ tịch Hồ Chí Minh, Báo Nhân Dân, ngày 19 - 5 - 1965.
8
Trần Dân Tiên: Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch, Nxb. Văn học, Nội, 2001, tr. 12.
9
Sự hình thành của hệ thống này đã làm sâu sắc thêm những mâu thuẫn
trong lòng thế giới; mâu thuẫn giữa tư sản sản dẫn đến sự phát triển của
phong trào công nhân và cách mạng hội chính quốc; mâu thuẫn giữa các
dân tộc thuộc địa với đế quốc dẫn tới sự phát triển của các phong trào giải phóng
dân tộc; sự tranh giành thuộc địa nhằm phân chia lại thị trường thế giới giữa
các nước đế quốc dẫn đến Chiến tranh thế giới thứ nhất (1914 - 1918). vậy,
cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc sang thế kỷ XX không còn là hành động riêng
rẽ của nước này chống lại sự xâm lược thống trị của nước khác như trước kia,
đã trở thành cuộc đấu tranh chung của các dân tộc thuộc địa chống chủ nghĩa
đế quốc, chủ nghĩa thực dân gắn liền với cuộc đấu tranh của giai cấp sản thế
giới.
Như ta đều biết, trong quá trình khảo sát thực tế, Nguyễn Ái Quốc đã đi
đến nhiều quốc gia, kể cả các nước bản thuộc địa. Người đã chứng kiến
cảnh cùng cực, khốn khổ của giai cấp công nhân nhân dân lao động đồng thời
cũng thấy cảnh sống xa hoa của bọn sản. Từ đó Người đã đưa ra kết luận
quan trọng: “Ở đâu, các nước thuộc địa, phụ thuộc hay chính quốc, những
người lao động đều bị bóc lột, áp bức nặng nề, đâu bọn đế quốc thực dân
cũng tàn bạo độc ác” “Dù màu da khác nhau, trên đời này chỉ hai
giống người: giống người bóc lột và giống người bị bóc lột”.
9
Nguyễn Ái Quốc đã nêu lên hình tượng chủ nghĩa bản “con đỉa”
10
hai
vòi. Một vòi bám vào giai cấp vô sản ở chính quốc, một vòi bám vào giai cấp
sản thuộc địa. Muốn giết con vật ấy, phải đồng thời cắt cả hai vòi, nếu chỉ cắt
một vòi thì vòi còn lại tiếp tục hút máu vòi bị cắt tiếp tục mọc ra. ràng
rằng, nhiệm vụ chống chủ nghĩa bản nhiệm vụ chung của nhân dân lao
động chính quốc thuộc địa. Nhiệm vụ đó đòi hỏi phải đoàn kết cả hai lực
lượng nói trên. Đây là kết luận cực kỳ quan trọng, là khởi đầu của tư tưởng đoàn
kết quốc tế của Chủ tịch Hồ Chí Minh sau này - đoàn kết với những người lao
khổ, cần lao trên thế giới.
2.2. Cách mạng tháng Mười Nga thành công (1917)
Năm 1917, nước Nga đã diễn ra hai cuộc cách mạng cuộc Cách mạng
tháng Hai cuộc Cách mạng tháng Mười. Đặc biệt, cuộc Cách mạng tháng
9
Hồ Chí Minh, Toàn tập, Tập I, NXB Chính trị quốc gia - Sự thật, 2011, tr. 287.
10
Hồ Chí Minh, Toàn tập, Tập II, NXB Chính trị quốc gia - Sự thật, 2011, tr. 130.
Mười nổ ra giành thắng lợi (ngày 07/11/1917) đã mở ra một thời kỳ mới cho
lịch sử nước Nga, cho lịch sử của giai cấp tiến bộ trên toàn thế giới. Đối với
nước Nga đây cuộc cách mạng sản, nhưng đối với các thuộc địa trong đế
quốc Nga, đó n cuộc cách mạng giải phóng dân tộc. Lần đầu tiên giai cấp
công nhân lên nắm chính quyền, lần đầu tiên trong lịch sngười ta thấy một
nước hội chủ nghĩa ra đời dựa trên sở của một cuộc cách mạng sản do
giai cấp sản lãnh đạo sliên minh công - nông - binh. Cũng trong bối
cảnh đó, sau khi Nhà nước Xô - viết được thành lập, Liên Xô đã ở trong bủa vây
của chủ nghĩa đế quốc. Sự ra đời của Nhà nước hội chủ nghĩa đầu tiên trên
thế giới đã “chọc thủng” tính độc quyền số một của hệ thống bản trước đó.
Thắng lợi đại ấy không chỉ “làm rung chuyển” cả thế giới đương đại còn
tác động, ảnh hưởng sâu sắc đến sự phát triển của cách mạng Việt Nam từ đó về
sau.
Dưới tác động của cuộc cách mạng này, khuynh hướng sản trở thành
hiện thực được truyền khắp nơi. Minh chứng sự ra đời của nhiều Đảng
cộng sản trên phạm vi toàn thế giới, cả phương Đông phương Tây: Đảng
cộng sản Anh, Pháp (1920), Đảng cộng sản Đức (1918), Đảng cộng sản Trung
Quốc (1921),... Sự xuất hiện của các tổ chức cộng sản, các đảng cộng sản và
phong trào công nhân phát triển mạnh mẽ cho thấy khuynh hướng sản ngày
càng trở thành khuynh hướng tất yếu khách quan.
Tuy chưa có nhiều hiểu biết về cuộc cách mạng này, song Nguyễn Ái Quốc
nhận thấy Người mối tình đoàn kết với cách mạng Nga người lãnh đạo của
cuộc cách mạng ấy. Tháng 06/1923, Nguyễn Ái Quốc đến Liên trực tiếp
nghiên cứu về cuộc Cách mạng Tháng Mười Nga, chế độ hội chủ nghĩa
Nhà nước - viết; được tận mắt chứng kiến những thành tựu đại đó mang
lại trên quê hương - viết. Bằng sự trải nghiệm thực tiễn, Người đã rút ra kết
luận: “Trong thế giới bây giờ chỉ cách mệnh Nga đã thành công thành
công đến nơi, nghĩa dân chúng được hưởng cái hạnh phúc, tự do, bình đẳng
thật, không phải tự do bình đẳng giả dối như đế quốc chủ nghĩa Pháp khoe
khoang bên An Nam. Cách mệnh Nga đã đuổi được vua, bản, địa chủ rồi, lại
ra sức cho công, nông các nước dân tộc bị áp bức các thuộc địa làm cách
10
11
mạng để đập đổ tất cả đế quốc chủ nghĩa bản trong thế giới”
11
. Bởi vậy
muốn cách mạng thành công thì phải đi theo con đường Cách mạng Tháng Mười
Nga.
2.3. Sự ra đời của Quốc tế cộng sản (3/1919)
Trong bối cảnh các cuộc đấu tranh ảnh hưởng bởi làn sóng mạnh mẽ của
cuộc Cách mạng Tháng Mười năm 1917, ngày 02/03/1919, Quốc tế Cộng sản
(tức Quốc tế III) ra đời tại Mátxcơva trở thành Bộ Tham mưu, lãnh đạo
phong trào cách mạng thế giới với khẩu hiệu “Vô sản các dân tộc bị áp bức
liên hiệp lại!”. Nếu trước đó, Quốc tế I Quốc tế II mới chnêu khẩu hiệu
“Giai cấp sản đoàn kết lại!” thì đến Quốc tế cộng sản năm 1919 đã đề thêm
khẩu hiệu “Dân tộc bị áp bức đoàn kết lại”. Như vậy, đây chính con đường
mới cho các dân tộc bị áp bức, bị lệ trên toàn thế giới. Đó là tổ chức đại diện
bênh vực cho giai cấp công dân, cho phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc
trên thế giới.
Thời đại đầy biến động trên đã giúp cho Nguyễn Ái Quốc nghiên cứu
luận khảo sát thực tiễn để tìm kiếm, xác định một con đường cứu nước đúng
đắn. Nguyễn Ái Quốc chú trọng nghiên cứu kỹ những văn kiện bản và
tưởng chỉ đạo của Quốc tế Cộng sản, đặc biệt đánh giá cao những tưởng
đại của V.I.Lênin trong Luận cương về vấn đ dân tộc vấn đề thuộc địa.
Người cho rằng: “Bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều, nhưng chủ nghĩa
chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mệnh nhất chủ nghĩa Lênin”
12
“An
Nam muốn cách mệnh thành công, thì tất phải nhờ Đệ tam quốc tế”
13
. Người đã
tin tưởng, sáng tỏ, từ đó khẳng định đây cái cần thiết cho chúng ta, con
đường giải phóng cho dân tộc ta. Tại Đại hội Đảng hội Pháp (12/1920)
thành phố Tua, Nguyễn Ái Quốc đã bỏ phiếu tán thành việc gia nhập Quốc tế
Cộng sản. Người nhìn thấy rằng, đây là tổ chức quốc tế đang đứng về phía nhân
dân bị lệ các thuộc địa. Từ nhận thức đó, Nguyễn Ái Quốc đã quyết định
lựa chọn con đường cứu nước cho dân tộc ta theo khuynh hướng vô sản.
Dưới sự lãnh đạo của V.I.Lênin, Quốc tế Cộng sản đẩy mạnh việc truyền
Chủ nghĩa Mác Lênin kinh nghiệm Cách mạng tháng Mười Nga ra khắp
11
Hồ Chí Minh, Toàn tập, Tập II, NXB Chính trị quốc gia - Sự thật, 2011, tr.304.
12
Hồ Chí Minh, Toàn tập, Tập II, NXB Chính trị quốc gia - Sự thật, 2011, tr. 289.
13
Hồ Chí Minh, Toàn tập, Tập II, NXB Chính trị quốc gia - Sự thật, 2011, tr. 312.
thế giới, thúc đẩy sự ra đờihoạt động ngày càng mạnh mẽ của các đảng cộng
sản nhiều nước. Qua đó, Quốc tế III đã tạo ra môi trường hoạt động quốc tế
thuận lợi giúp đNguyễn Ái Quốc và những người yêu nước Việt Nam trong
việc truyền Chủ nghĩa Mác - Lênin vào phong trào công nhân phong trào
yêu nước. Nghiên cứu khảo sát thực tế, học tập kinh nghiệm của các đảng, các
phong trào, tạo diễn đàn đấu tranh để các đảng cộng sản chính quốc quan tâm
đúng mức đến việc giúp đỡ cách mạng thuộc địa. Dưới sự chỉ đạo của Quốc tế
Cộng sản (Quốc tế III), đồng chí Nguyễn Ái Quốc chủ trì Hội nghị hợp nhất ba
tổ chức Cộng sản: Đông Dương Cộng sản Đảng, An Nam Cộng sản Đảng, Đông
Dương Cộng sản Liên đoàn thành một đảng duy nhất Đảng Cộng sản Việt
Nam.
Sự ra đời của Đảng đầu năm 1930 đã chấm dứt tình trạng khủng hoảng
đường lối cứu nước Việt Nam trong mấy chục năm qua. Thông qua chính
đảng của mình, giai cấp công nhân sứ mệnh lãnh đạo toàn thể dân tộc và
nhân dân vượt qua mọi thác ghềnh hiểm trở, khâu chuẩn bị quan trọng đầu
tiên cho một thời kỳ vùng dậy oanh liệt nhất bước nhảy vọt đại nhất
trong lịch sử dân tộc. Tất nhiên, để làm nên thành công ấy không thể không kể
đến công lao to lớn của Lãnh tụ Hồ Chí Minh, là hình ảnh tượng trưng cho bước
ngoặt vĩ đại trong tiến trình đấu tranh cách mạng. Những tư tưởng của Người đã
trở thành bài học tinh thần vô giá cho sự nghiệp lãnh đạo đất nước của Đảng đối
với công cuộc đổi mới, với những thách thức cũng như thời vận đan xen.
KẾT LUẬN
tưởng Hồ Chí Minh để thể trở thành kim chỉ nam cho dân tộc Việt
Nam cho tới ngày nay đều nhờ vào sở luận của Chủ nghĩa Mác - Lênin
đặc biệt những sở thực tiễn - những cơ sở chủ quan, khách quan, trở thành
nền tảng gốc rễ để tưởng Hồ Chí Minh được hình thành theo đúng hướng,
phù hợp với tình hình thực tế của đất nước trở thành tinh hoa, cái gốc của dân
tộc Việt Nam ngày nay cũng niềm tự hào của toàn Đảng, toàn dân ta.
Chính lịch sử đã chứng minh được giá trị bền vững, sức sống mãnh liệt của Tư
tưởng Hồ Chí Minh - dưới sự soi sáng của tưởng Hồ Chí minh, toàn dân
ngày càng vững niềm tin vào thắng lợi của sự nghiệp đổi mới do Đảng lãnh đạo.
12
13
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Bộ Giáo Dục & Đào tạo, Giáo trình tư tưởng Hồ Chí Minh (Dành cho bậc đại
học không chuyên luận chính trị), Nxb Chính trị Quốc gia Sự thật, Nội,
2021.
2. Hồ Chí Minh, Toàn tập, Tập I, Tập II, NXB Chính trị quốc gia - Sự thật,
2011.
3. Trần Dân Tiên: Những mẩu chuyện về đời hoạt động của H Chủ tịch,
Nxb.Văn học, Hà Nội, 2001.
4. A. Lui Stơrông: Ba lần nói chuyện với Chủ tịch Hồ Chí Minh, Báo Nhân Dân,
ngày 19 - 5 - 196
5. “Bối cảnh quốc tế và trong nước khi Nguyễn Tất Thành ra đi tìm đường cứu
nước”, Báo Điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam, https://dangcongsan.vn/tieu-
diem/boi-canh-quoc-te-va-trong-nuoc-khi-nguyen-tat-thanh-ra-di-tim-duong-
cuu-nuoc-70314.html, truy cập ngày 12/11/2022.
6. Đỗ Quang u (2021), “Hành trình tìm đường cứu nước những chuyển
biến trong nhận thức về con đường giải phóng dân tộc của Nguyễn Tất Thành -
Nguyễn Ái Quốc”, Trang Điện tử Học viện Lục quân,
http://hvlq.vn/trang-chu/hoc-tap-va-lam-theo-tu-tuong-dao-duc-phong-cach-ho-
chi-minh/tu-tuong-ho-chi-minh/hanh-trinh-tim-duong-cuu-nuoc-va-nhung-
chuyen-bien-trong-nha.html, truy cập ngày 14/11/2022.
7. Quốc Khánh (2021), “Hành trình trên quê hương Cách mạng Tháng Mười
Nga”, Báo Điện tử Quân đội Nhân dân, https://www.qdnd.vn/ky-niem-110-nam-
ngay-bac-ho-ra-di-tim-duong-cuu-nuoc/hanh-trinh-lich-su/hanh-trinh-tren-que-
huong-cach-mang-thang-muoi-nga-661020, truy cập ngày 14/11/2022.
8. Ngô Thị Thuý Mai (2018), “Ánh sáng Cách mạng tháng Mười Nga với Chủ
tịch Hồ Chí Minh cách mạng Việt Nam”, Trang thông tin Điện tử Trường
Chính trị Kontum, https://truongct.kontum.gov.vn/anh-sang-cach-mang-thang-
muoi-nga-voi-chu-tich-ho-chi-minh-va-cach-mang-viet-nam-113.html, truy cập
ngày 13/11/2022.
14
15
PHỤ LỤC
1. Một số hình nh về thực tiễn hội Việt Nam quốc tế cuối thế kỉ XIX,
đầu thế kỉ XX
Liên quân tấn công Đà Nẵng năm 1858
05/06/1911, từ bến cảng Nhà Rồng, Nguyễn Tất Thành - Hồ Chí Minh đã ra đi m
đường cứu nước, giải phóng dân tộc.
Nguyễn Ái Quốc tại Đại hội lần thứ
XVIII của Đảng hội Pháp Tua
(Tour), tháng 12/1920
Nguyễn Ái Quốc (người đầu tiên bên trái
hàng ngồi) chụp ảnh với một số đại biểu tham
dự Đại hội lần thứ V Quốc tế cộng sản của tại
Moskva, Nga từ ngày 17/6 - 8/7/1924
2. Phụ lục văn bản
Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch
(Trích)
Trần Dân Tiên
….
Hồ Chủ tịch sinh năm 1890. Quê Người ở làng Kim Liên, huyện Nam Đàn,
tỉnh Nghệ An (Trung bộ). Phụ thân Người một cựu Phó bảng, nhưng gia đình
Người một gia đình nông dân. Trong thời kỳ ấy, Pháp mới xâm chiếm Việt
Nam. Nhân dân Việt Nam đều oán ghét bọn chủ mới. Các chiến du kích già
thường nhắc đến cụ Phan Đình Phùng, Hoàng Hoa Thám, hai vlãnh tụ đã lãnh
đạo chiến tranh du kích chống Pháp.
….
Đầu thế kỷ XX, để đắp con đường Cửa Rào, bọn Pháp bắt nông dân từ
mười tám đến năm mươi tuổi phải đi phu. bọn đốc công Pháp rất tàn bạo,
nước độc lương thực thiếu nên nhiều người phu bị chết, những người sống thì
đều đau ốm. Điều đó khơi sâu thêm lòng căm thù của nhân n ta đối với thực
n.
Kinh tế thuộc địa xâm nhập, đảo lộn kinh tế trong nước. Giai cấp sản
dân tộc không ngóc đầu lên được. Giai cấp tiểu sản bắt đầu phá sản. Để củng
cố thế lực còn yếu, thực dân Pháp ra sức giúp đỡ thế lực phong kiến bọn tay
sai của chúng. Hối lộ công khai. Nhân dân khốn khổ.
Thuế má nặng nề, sưu dịch phiền phức, bắt buộc phải uống rượu Pháp nấu,
khuyến khích hút thuốc phiện… Tất cả những điều đó đã biến Việt Nam thành
một địa ngục.
Cũng trong thời kỳ ấy, cuộc vận động cải lương phát triển Trung Quốc,
trước thì Lương Khải Siêu, sau thì bác Tôn Dật Tiên. Đồng thời chiến
tranh Nga - Nhật kết thúc. Đế quốc Nhật thắng Nga hoàng.
16
17
Cụ Phan Chu Trinh mở trường học, mật truyền chủ nghĩa yêu nước
công kích bọn cầm quyền Pháp. Vì vậy, Cụ bị kết án tử hình, nhưng được Hội
Nhân quyền Pa – ri cứu.
Cụ Phan Bội Châu sang Nhật, sau sang Trung Quốc. Ở nước ngoài, Cụ kêu
gọi nhân dân Việt Nam làm cách mạng. Những bài thơ của Cụ được mật
truyền tụng trong nhân dân Việt Nam.
Năm 1907, lần đầu tiên nông dân các tỉnh Trung bộ nổi dậy chống thuế. Họ
đi tay không, không khí giới. Họ chỉ yêu cầu giảm thuế. Để tỏ tình đoàn kết
nhất trí, họ đều cắt tóc ngắn và gọi nhau là "đồng bào".
Bọn Pháp ng khủng bố đại quy để trả lời họ. Chúng giết hơn một
nghìn người cầm đầu những người bị nghi dính dáng đến việc đó. Nhà
chật ních người. Những người cất giấu báo chí Trung Quốc hoặc báo chí
khác, nếu giặc tìm ra, đều bị trừng phạt nặng.
Hầu hết các phần tử trí thức yêu nước đều bị bắt bỏ tù. Những nhà học giả
nổi tiếng được nhân dân kính mến cũng bị chém đầu.
Bọn Pháp gọi phong trào ấy là "án đồng bào cắt tóc" nông dân dùng hai
tiếng "đồng bào" để gọi nhau.
Đó là tình trạng trong nước và ngoài nước, khi Chủ tịch Hồ Chủ tịch còn là
người thiếu niên mười lăm tuổi. Người thiếu niên ấy đã sớm hiểu biết và rất đau
xót trước cảnh thống khcủa đồng bào. Lúc bấy giờ, anh đã chí đuổi thực
dân Pháp, giải phóng đồng bào. Anh đã tham gia công tác mật, nhận công
việc liên lạc. Anh khâm phục các cụ Phan Đình Phùng, Hoàng Hoa Thám, Phan
Chu Trinh Phan Bội Châu, nhưng không hoàn toàn tán thành cách làm của
một người nào. Vì:
Cụ Phan Chu Trinh chỉ yêu cầu người Pháp thực hiện cải lương. Anh nhận
điều đó là sai lầm, chẳng khác gì đến xin giặc rủ lòng thương.
Cụ Phan Bội Châu hy vọng Nhật giúp đỡ để đuổi Pháp. Điều đó rất nguy
hiểm, chẳng khác gì "đưa hổ cửa trước, rước beo cửa sau".
Cụ Hoàng Hoa Thám còn thực tế hơn, trực tiếp đấu tranh chống Pháp.
Nhưng theo lời người ta kể thì C còn nặng cốtch phong kiến.
Anh thấy và quyết định con đường nên đi. Cụ Phan Bội Châu vào bậc
chú bác của anh. Cụ Phan Bội Châu muốn đưa anh một số thanh niên sang
Nhật.
Nhưng anh không đi. Anh muốn làm gì?
Một vị trí thức ở Sài Gòn kể lại cho tôi:
"Trong khi còn học trường Sát–lúp ba (ChasseloupLaubat) tôi
gặp một người thanh niên Trung bộ vào Sài Gòn nhà một người bạn.
cùng một lứa tuổi, cho nên chúng tôi lập tức trở nên đôi bạn thân. Tôi đưa anh
đến trước tiệm phê của Pháp xem đèn điện, xem chiếu bóng máy nước.
Những cái đó trước kia anh chưa hề thấy.
Một hôm tôi mời anh ăn kem. Anh rất lạ. Lần đầu tiên anh mới nếm mùi
kem.
Sau ít hôm, anh đột nhiên hỏi tôi.
"Anh Lê, anh yêu nước không?"
Tôi ngạc nhiên đáp: "Tất nhiên chứ!"
"Anh có thể giữ bí mật không?"
"Có".
"Tôi muốn đi ra ngoài, xem nước Pháp các nước khác. Sau khi xem t
họ làm như thế nào, tôi sẽ trở vgiúp đồng bào chúng ta. Nhưng nếu đi một
mình, thật ra cũng có điều mạo hiểm, ví như khi đau ốm… Anh muốn đi với tôi
không?"
"Nhưng bạn ơi, chúng ta lấy đâu ra tiền đi?"
"Đây, tiền đây" Anh bạn của tôi vừa nói vừa giơ hai bàn tay "Chúng ta
sẽ làm việc. Chúng ta sẽ làm bất cứ việc gì để sống và để đi. Thế thì anh cùng đi
với tôi chứ?"
Bị lôi cuốn vì lòng hăng hái của anh, tôi đồng ý.
Nhưng sau khi suy nghĩ kỹ vcuộc phiêu lưu, tôi không đủ can đảm để
giữ lời hứa.
Vài ngày sau, tôi không gặp lại anh bạn nữa. Tôi đoán là anh ta đã đi ngoại
quốc. Anh ta đi bằng cách nào? Tôi không biết. Về sau, tôi chỉ biết người thanh
18
19
niên yêu nước đầy nhiệt huyết ấy Cụ Nguyễn Ái Quốc, Hồ Chủ tịch của
chúng ta ngày nay".
….
BIÊN BẢN XÁC ĐỊNH MỨC ĐỘ THAM GIA KẾT QUẢ THAM GIA
LÀM BÀI TẬP NHÓM
Ngày:..............15/11/2022.......................................Địa điểm:...........................................
Nhóm số:....06.......... Lớp: .................N08 TL1...................Khóa: ................45..............
Tổng số thành viên của nhóm: 11
Môn học: tưởng Hồ Chí Minh
Xác định mức độ tham gia kết quả tham gia của từng sinh viên trong việc thực hiện bài tập:
STT
SV
Họ và tên
Đánh giá của
SV
Đánh giá của GV
A
B
C
Điểm
(số)
Điểm
(chữ)
GV
n
1
452556
Đặng Phương
x
2
452557
Phạm Thị Thanh Hiền
x
3
452558
Nguyễn Xuân Ki
x
4
452559
Nguyễn Thị Vân
x
5
452560
Nguyễn Thị Phong Anh
x
6
452561
Nguyễn Ánh ơng
x
7
452562
Đào Ngọc Minh Châu
x
8
452563
Phạm Thị Thanh Mai
x
9
452564
Nguyễn Ngọc Quỳnh
x
10
452565
Linh Trang
x
Nhóm số: …………6……… Kết quả như sau:
Kết quả điểm bài viết:
- Giáo viên chấm thứ nhất:..........................
- Giáo viên chấm thứ hai:............................
Kết quả điểm thuyết trình:
- Giáo viên cho điểm thuyết trình: .............
Điểm kết luận cuối cùng:
Nội, ngày ..15...tháng..11...năm 2022
Nhóm trưởng
Nguyễn Thị Vân
20

Preview text:

BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI BÀI TẬP NHÓM
MÔN: TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH ĐỀ BÀI: 02
Trình bày cơ sở thực tiễn hình thành
tư tưởng Hồ Chí Minh NHÓM : 06 LỚP : N08 – TL1 Hà Nội, 2022 1 MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ............................................................................................................... 3
NỘI DUNG ............................................................................................................ 3
I. Thực tiễn Việt Nam cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX ...................................... 3
1.1. Tính chất xã hội VN trước khi thực dân Pháp xâm lược ................................ 3
1.2. Khi thực dân Pháp xâm lược Việt Nam ......................................................... 4
1.3. Sự chuyển biến trong lòng xã hội VN đầu thế kỷ XX ................................... 5
1.4. Tác động của thực tiễn lịch sử Việt Nam cuối thế kỉ XIX-đầu thế kỉ XX đến
tư tưởng Hồ Chí Minh ........................................................................................... 7
II. Thực tiễn thế giới cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX ........................................ 8
2.1. Chủ nghĩa đế quốc ra đời ................................................................................ 8
2.2. Cách mạng tháng Mười Nga thành công (1917) ............................................ 9
2.3. Sự ra đời của Quốc tế cộng sản (3/1919) ..................................................... 11
KẾT LUẬN ......................................................................................................... 12
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................ 13
PHỤ LỤC ............................................................................................................ 14 2 MỞ ĐẦU
Theo quan điểm của Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng Cộng
sản Việt Nam (2011): “Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn
diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, kết quả của
sự vận dụng và phát triển sáng tạo Chủ nghĩa Mác-Lênin vào điều kiện cụ thể
của nước ta, kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc,
tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại.”
. Qua đó, Đảng ta khẳng định tư tưởng Hồ
Chí Minh là tài sản tinh thần vô cùng to lớn và quý giá của Đảng và dân tộc ta,
mãi mãi soi đường cho sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta. Cùng với Chủ
nghĩa Mác - Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh là một bộ phận cấu thành làm nên
nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động của Cách mạng Việt Nam.
Cũng trong khái niệm trên, một trong những nội dung quan trọng được nhắc tới
chính là cơ sở hình thành Tư tưởng Hồ Chí Minh, bao gồm cơ sở thực tiễn và cơ
sở lý luận. Nhận thấy được tầm quan trọng của việc học tập và nghiên cứu cơ sở
hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh, nhóm chúng em đã lựa chọn đề tài: “Trình
bày cơ sở thực tiễn hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh”.
NỘI DUNG
I. Thực tiễn Việt Nam cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX
1.1. Tính chất xã hội VN trước khi thực dân Pháp xâm lược
Trước khi thực dân Pháp nổ súng xâm lược, Việt Nam là một quốc gia độc
lập, có chủ quyền và đạt được những tiến bộ nhất định về kinh tế, văn hóa. Đến
cuối thế kỷ XIX, xã hội phong kiến đã bộc lộ những dấu hiệu của sự khủng
hoảng, suy yếu nghiêm trọng, một xã hội lạc hậu, phản động, phản dân chủ, đàn
áp các tổ chức và cá nhân hoạt động chính trị tích cực, đàn áp nhân dân,...thể
hiện ở chính sách thống trị của triều đình nhà Nguyễn như thực hiện “bế quan
tỏa cảng”, “cấm đạo”
, khiến cho Việt Nam ngày càng bị cô lập, tiềm lực đất
nước ngày càng suy yếu, đồng thời gây ra những mâu thuẫn, làm rạn nứt khối
đại đoàn kết dân tộc, gây bất lợi cho sự nghiệp kháng chiến sau này. Công tác
quốc phòng của nhà Nguyễn lạc hậu nhiều, do đó, sau này, khi người Pháp vào
xâm lược Việt Nam, khoảng cách về trang thiết bị giữa quân đội nhà Nguyễn và 3
quân Pháp đã khá xa.1 Kinh tế nông - công - thương nghiệp ngày càng sa sút;
tình hình tài chính khó khăn. Một số chủ trương, chính sách của nhà nước gây
bất lợi cho sự phát triển của nền kinh tế.
Chính những chính sách này đã làm cho xã hội phong kiến ở Việt Nam lúc
bấy giờ lạc hậu, bảo thủ, trì trệ thậm chí mang tính phản động, Nhà Nguyễn
không chuẩn bị được tiềm lực cả về vật chất lẫn tinh thần, khả năng phòng thủ
đất nước bị giảm sút, quốc phòng yếu kém. Điều này đã ảnh hưởng trực tiếp đến
việc chống lại sự xâm lược của thực dân Pháp sau này.
1.2. Khi thực dân Pháp xâm lược Việt Nam
Trước hành động xâm lược của thực dân Pháp, triều đình nhà Nguyễn ban
đầu có chống cự, có đấu tranh nhưng các cuộc kháng chiến đó lại diễn ra yếu ớt,
nhanh chóng bị đàn áp rồi đi đến đầu hàng. Nhà Nguyễn đã từng bước đầu hàng
thực dân Pháp thông qua việc ký kết các bản Hiệp ước. Đặc biệt, với bản Hiệp
ước Pa-tơ-nốt, Nhà nước phong kiến Việt Nam với tư cách là một quốc gia độc
lập đã hoàn toàn sụp đổ, thay vào đó là chế độ thuộc địa nửa phong kiến.
Để đối phó với tình trạng nền kinh tế đất nước bị khủng hoảng nghiêm
trọng trước sự xâm lược của thực dân Pháp, triều đình nhà Nguyễn đã ra sức bóc
lột nhân dân bằng nhiều biện pháp tiêu cực. Mâu thuẫn giữa các tầng lớp nhân
dân với giai cấp phong kiến thống trị ngày càng trở nên sâu sắc. Nhiều cuộc
khởi nghĩa và bạo loạn chống triều đình phong kiến vì thế đã nổ ra. Các đề nghị
cải cách duy tân đã được đưa ra như đề nghị các cách của Nguyễn Trường Tộ,
Trần Đình Túc, Nguyễn Huy Tế đều không được chấp nhận.
Tiếng súng xâm lược của quân Pháp nổ ra ở Đà Nẵng đã làm dấy lên một
làn sóng đấu tranh mạnh mẽ trong nhân dân để bảo vệ Tổ quốc như cuộc khởi
nghĩa của Trương Định, Nguyễn Trung Trực, Đặng Như Mai, Nguyễn Thiện
Thuật,... Bên cạnh đó, các cuộc khởi nghĩa vũ trang dưới ngọn cờ “Cần Vương”
diễn ra rộng khắp cả nước, tiêu biểu như khởi nghĩa Bãi Sậy của Nguyễn Thiện
Thuật, khởi nghĩa Ba Đình của Đinh Công Tráng, khởi nghĩa Hương Khê của
Phan Đình Phùng và Cao Thắng,.... Trong thời kỳ này, tiêu biểu còn có cuộc
khởi nghĩa Yên Thế kéo dài gần 30 năm (1884 - 1903) thể hiện tinh thần yêu
nước chống Pháp của giai cấp nông dân, góp phần làm chậm quá trình bình định
1 Nhiều tác giả (2007), Những vấn đề lịch sử triều Nguyễn, TP Hồ Chí Minh: Nxb Văn hoá Sài Gòn. 4
của thực dân Pháp. Tuy nhiên, các cuộc khởi nghĩa này đều có chung một kết
cục cuối cùng là đều thất bại. Điều này chứng tỏ rằng con đường cứu nước theo
hệ tư tưởng phong kiến, chủ trương khôi phục độc lập dân tộc bằng bạo động vũ
trang nhằm lặp lại trật tự cũ dưới thế quân chủ đã không còn phù hợp. Thất bại
của các phong trào ấy chứng tỏ sự bất lực của hệ tư tưởng này, con đường đấu
tranh theo khuynh hướng phong kiến đã trở nên lỗi thời trước các nhiệm vụ lịch
sử đặt ra cho dân tộc Việt Nam.
1.3. Sự chuyển biến trong lòng xã hội VN đầu thế kỷ XX
Sau khi hoàn thành căn bản việc bình định Việt Nam về mặt quân sự, thực
dân Pháp bắt tay vào khai thác thuộc địa một cách mạnh mẽ (1897 - 1914, 1919
- 1929) và từng bước biến nước ta từ một nước phong kiến thành nước “thuộc
địa và phong kiến” dẫn tới những sự biến đổi về cơ cấu giai cấp, tầng lớp trong
xã hội. Lúc này, trong xã hội Việt Nam tồn tại các giai cấp, tầng lớp gồm: giai
cấp công nhân, giai cấp nông dân, giai cấp địa chủ, giai cấp tư sản và tầng lớp
tiểu tư sản. Các giai cấp, tầng lớp trong xã hội Việt Nam lúc này đều mang thân
phận người dân mất nước và ở những mức độ khác nhau, đều bị thực dân áp
bức, bóc lột. Vì vậy, trong xã hội Việt Nam, ngoài mâu thuẫn cơ bản trong xã
hội phong kiến là mâu thuẫn giữa nhân dân, chủ yếu là nông dân với giai cấp địa
chủ và phong kiến thì nảy sinh các mâu thuẫn mới: mâu thuẫn giữa giai cấp
công nhân Việt Nam với giai cấp tư sản và đặc biệt là mâu thuẫn giữa toàn thể
nhân dân Việt Nam với thực dân Pháp xâm lược. Trước tình hình đó, xã hội Việt
Nam đặt ra hai yêu cầu cấp thiết: Một là, phải đánh đuổi thực dân Pháp xâm
lược, giành độc lập cho dân tộc, tự do cho nhân dân. Hai là, xóa bỏ chế độ
phong kiến, giành quyền dân chủ cho nhân dân, chủ yếu là ruộng đất cho nông
dân, trong đó chống đế quốc, giải phóng dân tộc là nhiệm vụ hàng đầu.
Cùng với những biến đổi trên, đến đầu thế kỉ XX, trước ảnh hưởng của các
cuộc vận động, cải cách của cách mạng dân chủ tư sản ở Trung Quốc và tấm
gương Duy Tân của Nhật Bản, ở Việt Nam đã xuất hiện các phong trào yêu
nước theo khuynh hướng dân chủ tư sản dưới sự lãnh đạo của các sĩ phu yêu
nước. Tiêu biểu như Phong trào Đông du do Phan Bội Châu khởi xướng với
nòng cốt là Duy Tân hội (1905 - 1909); Phong trào Duy Tân do Phan Châu
Trinh phát động (1906 - 1908); Phong trào Đông Kinh nghĩa thục do Lương Văn 5
Can, Nguyễn Quyền và một số nhân sĩ khác phát động (từ tháng 3 đến tháng 11
năm 1907); Phong trào chống đi phu, chống sưu thuế ở Trung Kỳ năm 1908…
Các phong trào yêu nước theo khuynh hướng dân chủ tư sản nói trên đều thất
bại. Nguyên nhân sâu xa là giai cấp tư sản Việt Nam còn non yếu. Nguyên nhân
trực tiếp là các tổ chức và lãnh đạo các phong trào chưa có đường lối và phương
pháp cách mạng đúng đắn.
Như vậy, ở Việt Nam lúc này, các phong trào cứu nước theo khuynh hướng
phong kiến và khuynh hướng dân chủ tư sản đều thất bại. Điều đó chứng tỏ
rằng, con đường cứu nước theo lập trường phong kiến hay lập trường của giai
cấp tư sản, tiểu tư sản không còn phù hợp với thực tiễn lịch sử cách mạng Việt
Nam. Chủ nghĩa yêu nước truyền thống Việt Nam đang đòi hỏi được đổi mới,
đó là một nhu cầu cấp thiết của dân tộc lúc bấy giờ. Tinh thần yêu nước vẫn sục
sôi trong lòng nhân dân. Song, cuộc khủng hoảng về đường lối cứu nước diễn ra
sâu sắc. Lúc này, câu hỏi từ thực tiễn đặt ra là: Cứu nước bằng con đường nào
để có thể đi đến thắng lợi?

Trong bối cảnh đó, giai cấp công nhân Việt Nam ra đời và phong trào đấu
tranh của giai cấp công nhân Việt Nam đã làm cho cuộc đấu tranh giải phóng
dân tộc ở Việt Nam xuất hiện dấu hiệu mới của một thời đại mới sắp ra đời.
Cuối thế kỉ XIX, giai cấp công nhân Việt Nam ra đời từ cuộc khai thác thuộc địa
lần thứ nhất, đa số đều xuất thân từ giai cấp nông dân, có quan hệ trực tiếp và
chặt chẽ với giai cấp nông dân, chịu ba tầng áp bức là thực dân, phong kiến và
tư sản. Họ sớm vùng dậy đấu tranh chống lại giới chủ. Từ hình thức đấu tranh
thô sơ, tự phát như đốt công cụ lao động, bỏ trốn tập thể, họ đã nhanh chóng tiến
tới đình công, bãi công. Đây cũng là giai cấp “dũng cảm nhất, cách mạng nhất,
luôn luôn gan góc đương đầu với bọn đế quốc thực dân”2. Phong trào công nhân
và các phong trào yêu nước đầu thế kỷ XX tạo điều kiện thuận lợi để Chủ nghĩa
Mác - Lênin xâm nhập, truyền bá vào đất nước ta. Hồ Chí Minh là một người đã
dày công truyền bá Chủ nghĩa Mác - Lênin vào phong trào công nhân và phong
trào yêu nước Việt Nam, chuẩn bị về lý luận chính trị, tư tưởng và tổ chức, sáng
lập Đảng Cộng sản Việt Nam, chấm dứt sự khủng hoảng về đường lối cách
mạng Việt Nam, đánh dấu bước hình thành cơ bản tư tưởng Hồ Chí Minh về
2 Hồ Chí Minh toàn tập, sđd t.12, NXB Chính trị quốc gia - Sự thật, 2011, tr.407. 6
cách mạng Việt Nam. Sau đó, thực tiễn Đảng lãnh đạo Cách mạng Tháng Tám
thành công, lãnh đạo cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp thắng lợi; lãnh đạo
đất nước vừa xây dựng chủ nghĩa xã hội, vừa kháng chiến chống Mỹ, cứu nước
là nhân tố góp phần bổ sung, phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh trên tất cả các phương diện.
1.4. Tác động của thực tiễn lịch sử Việt Nam cuối thế kỉ XIX-đầu thế kỉ XX
đến tư tưởng Hồ Chí Minh
Sinh ra và lớn lên trong một gia đình có truyền thống hiếu học, một địa
phương có truyền thống yêu nước, lúc còn nhỏ phải chứng kiến cảnh khổ cực
của người dân mất nước, tinh thần đấu tranh bất khuất của thế hệ đi trước, Hồ
Chí Minh hiểu rõ tình cảnh nước nhà bị giặc ngoại xâm đô hộ. "Người thiếu
niên ấy đã sớm hiểu biết và rất đau xót trước cảnh thống khổ của đồng bào. Lúc
bấy giờ, anh đã có chí đuổi thực dân, giải phóng đồng bào”3
. Người càng yêu
nước, thương dân tộc mình sâu sắc và hun đúc những hoài bão lớn lao. Người đã
sớm có tư tưởng yêu nước và thể hiện rõ tư tưởng yêu nước trong hành động.
Hồ Chí Minh đã tham gia phong trào chống thuế ở Trung Kỳ (năm 1908). Thất
bại của phong trào chống thuế ở Huế cũng như ở Trung Kỳ cùng các phong trào
yêu nước chống Pháp đầu thế kỷ XX, làm cho Người nhận rõ hơn bản chất dã
man của bọn thực dân và cũng làm cho Người sớm thấy được sức mạnh đấu
tranh của quần chúng, nhân dân lao động Việt Nam. Khi là thầy giáo ở Trường
Dục Thanh, Phan Thiết, Hồ Chí Minh thường dành hết tâm huyết truyền thụ cho
học sinh trong các giờ học cũng như các buổi sinh hoạt về lòng yêu nước và
những suy nghĩ về vận mệnh nước nhà.
Trước tình cảnh nước nhà nan nguy, Hồ Chí Minh đã dành rất nhiều thời
gian để suy ngẫm về Tổ quốc và thời cuộc. Tuy rất khâm phục tinh thần yêu
nước của các sĩ phu, văn thân, chí sĩ xả thân vì nước, nhưng Người không tán
thành đường lối cứu nước của các bậc tiền bối. Người cho rằng, chủ trương của
cụ Phan Chu Trinh khi yêu cầu người Pháp thực hiện cải lương chẳng khác gì
“đến xin giặc rủ lòng thương”4; chủ trương của cụ Phan Bội Châu khi nhờ Nhật
giúp đỡ để đuổi Pháp chẳng khác nào “đuổi hổ cửa trước, rước beo cửa sau”5;
3 Trần Dân Tiên: Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch, Nxb. Văn học, Hà Nội, 2001, tr.9.
4 Trần Dân Tiên: Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch, Nxb.Văn học, Hà Nội, 2001, tr. 10
5 Trần Dân Tiên: Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch, Nxb.Văn học, Hà Nội, 2001, tr. 10. 7
chủ trương của cụ Hoàng Hoa Thám tuy thực tế hơn, nhưng không có hướng
thoát rõ ràng, “còn mang nặng cốt cách phong kiến”6. Người đã sáng suốt phê
phán và không đi theo các phương pháp, khuynh hướng cứu nước của các vị đó.
Hồ Chí Minh đã ý thức được tư duy cứu nước truyền thống không thể giúp chiến
thắng được thực dân Pháp - một kẻ thù hoàn toàn mới của dân tộc, không chỉ
đến từ một hướng khác (hướng Tây) so với truyền thống lịch sử, mà còn hơn
hẳn dân tộc Việt Nam trình độ phát triển của phương thức sản xuất (phương
thức sản xuất tư bản chủ nghĩa so với phương thức sản xuất phong kiến). Do đó,
Người nhận thấy cần phải đi ra thế giới để học hỏi tư duy mới, cách thức mới,
Người muốn tìm hiểu những gì ẩn giấu sau sức mạnh của kẻ thù và học hỏi kinh
nghiệm cách mạng trên thế giới. Người có nói: “Nhân dân Việt Nam, trong đó
có cụ thân sinh ra tôi, lúc này thường tự hỏi ai là người sẽ giúp mình thoát khỏi
ách thống trị của Pháp. Người này nghĩ là Nhật, người khác lại nghĩ là Anh, có
người lại cho là Mỹ. Tôi thì thấy phải đi ra nước ngoài để xem cho rõ”7
. Ngày
05/06/1911, Hồ Chí Minh đi ra nước ngoài, “xem nước Pháp và các nước khác
làm như thế nào rồi sẽ trở về giúp đồng bào”8
, tìm con đường cứu nước, cứu dân.
II. Thực tiễn thế giới cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX
2.1. Chủ nghĩa đế quốc ra đời
Cuối thế kỉ XIX - đầu thế kỉ XX, chủ nghĩa tư bản từng bước chuyển hẳn từ
giai đoạn tự do cạnh tranh sang tư bản độc quyền, tức chủ nghĩa đế quốc, đã xác
lập được sự thống trị của chúng trên phạm vi thế giới. Trong mọi giai đoạn phát
triển, chủ nghĩa tư bản đều mang trong mình những thuộc tính chung, cơ bản,
tạo nên bản chất của chủ nghĩa tư bản, phân biệt chủ nghĩa tư bản với các chế độ
xã hội khác (hay các hình thái kinh tế - xã hội khác). Chủ nghĩa đế quốc là một
hiện tượng quốc tế, một hệ thống thế giới, chúng vừa tranh giành, xâu xé thuộc
địa, vừa vào hùa với nhau để nô dịch các dân tộc nhỏ yếu trong vòng kìm kẹp
thuộc địa của chúng. Với chính sách xâm lược thuộc địa, đã hình thành hai hệ
thống lớn trên thế giới là hệ thống các nước đế quốc và hệ thống các nước thuộc địa.
6 Trần Dân Tiên: Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch, Nxb.Văn học, Hà Nội, 2001, tr. 10.
7 A. Lui Stơrông: Ba lần nói chuyện với Chủ tịch Hồ Chí Minh, Báo Nhân Dân, ngày 19 - 5 - 1965.
8 Trần Dân Tiên: Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch, Nxb. Văn học, Hà Nội, 2001, tr. 12. 8
Sự hình thành của hệ thống này đã làm sâu sắc thêm những mâu thuẫn
trong lòng thế giới; mâu thuẫn giữa tư sản và vô sản dẫn đến sự phát triển của
phong trào công nhân và cách mạng xã hội ở chính quốc; mâu thuẫn giữa các
dân tộc thuộc địa với đế quốc dẫn tới sự phát triển của các phong trào giải phóng
dân tộc; và sự tranh giành thuộc địa nhằm phân chia lại thị trường thế giới giữa
các nước đế quốc dẫn đến Chiến tranh thế giới thứ nhất (1914 - 1918). Vì vậy,
cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc sang thế kỷ XX không còn là hành động riêng
rẽ của nước này chống lại sự xâm lược và thống trị của nước khác như trước kia,
mà đã trở thành cuộc đấu tranh chung của các dân tộc thuộc địa chống chủ nghĩa
đế quốc, chủ nghĩa thực dân gắn liền với cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản thế giới.
Như ta đều biết, trong quá trình khảo sát thực tế, Nguyễn Ái Quốc đã đi
đến nhiều quốc gia, kể cả các nước tư bản và thuộc địa. Người đã chứng kiến
cảnh cùng cực, khốn khổ của giai cấp công nhân và nhân dân lao động đồng thời
cũng thấy rõ cảnh sống xa hoa của bọn tư sản. Từ đó Người đã đưa ra kết luận
quan trọng: “Ở đâu, dù ở các nước thuộc địa, phụ thuộc hay chính quốc, những
người lao động đều bị bóc lột, áp bức nặng nề, ở đâu bọn đế quốc thực dân
cũng tàn bạo độc ác”
“Dù màu da có khác nhau, trên đời này chỉ có hai
giống người: giống người bóc lột và giống người bị bóc lột”
.9
Nguyễn Ái Quốc đã nêu lên hình tượng chủ nghĩa tư bản là “con đỉa”10 hai
vòi. Một vòi bám vào giai cấp vô sản ở chính quốc, một vòi bám vào giai cấp vô
sản ở thuộc địa. Muốn giết con vật ấy, phải đồng thời cắt cả hai vòi, nếu chỉ cắt
một vòi thì vòi còn lại tiếp tục hút máu và vòi bị cắt tiếp tục mọc ra. Rõ ràng
rằng, nhiệm vụ chống chủ nghĩa tư bản là nhiệm vụ chung của nhân dân lao
động chính quốc và thuộc địa. Nhiệm vụ đó đòi hỏi phải đoàn kết cả hai lực
lượng nói trên. Đây là kết luận cực kỳ quan trọng, là khởi đầu của tư tưởng đoàn
kết quốc tế của Chủ tịch Hồ Chí Minh sau này - đoàn kết với những người lao
khổ, cần lao trên thế giới.
2.2. Cách mạng tháng Mười Nga thành công (1917)
Năm 1917, ở nước Nga đã diễn ra hai cuộc cách mạng là cuộc Cách mạng
tháng Hai và cuộc Cách mạng tháng Mười. Đặc biệt, cuộc Cách mạng tháng
9 Hồ Chí Minh, Toàn tập, Tập I, NXB Chính trị quốc gia - Sự thật, 2011, tr. 287.
10 Hồ Chí Minh, Toàn tập, Tập II, NXB Chính trị quốc gia - Sự thật, 2011, tr. 130. 9
Mười nổ ra và giành thắng lợi (ngày 07/11/1917) đã mở ra một thời kỳ mới cho
lịch sử nước Nga, cho lịch sử của giai cấp tiến bộ trên toàn thế giới. Đối với
nước Nga đây là cuộc cách mạng vô sản, nhưng đối với các thuộc địa trong đế
quốc Nga, đó còn là cuộc cách mạng giải phóng dân tộc. Lần đầu tiên giai cấp
công nhân lên nắm chính quyền, lần đầu tiên trong lịch sử người ta thấy một
nước xã hội chủ nghĩa ra đời dựa trên cơ sở của một cuộc cách mạng vô sản do
giai cấp vô sản lãnh đạo có sự liên minh công - nông - binh. Cũng trong bối
cảnh đó, sau khi Nhà nước Xô - viết được thành lập, Liên Xô đã ở trong bủa vây
của chủ nghĩa đế quốc. Sự ra đời của Nhà nước Xã hội chủ nghĩa đầu tiên trên
thế giới đã “chọc thủng” tính độc quyền số một của hệ thống tư bản trước đó.
Thắng lợi vĩ đại ấy không chỉ “làm rung chuyển” cả thế giới đương đại mà còn
tác động, ảnh hưởng sâu sắc đến sự phát triển của cách mạng Việt Nam từ đó về sau.
Dưới tác động của cuộc cách mạng này, khuynh hướng vô sản trở thành
hiện thực và được truyền bá khắp nơi. Minh chứng là sự ra đời của nhiều Đảng
cộng sản trên phạm vi toàn thế giới, cả phương Đông và phương Tây: Đảng
cộng sản Anh, Pháp (1920), Đảng cộng sản Đức (1918), Đảng cộng sản Trung
Quốc (1921),... Sự xuất hiện của các tổ chức cộng sản, các đảng cộng sản và
phong trào công nhân phát triển mạnh mẽ cho thấy khuynh hướng vô sản ngày
càng trở thành khuynh hướng tất yếu khách quan.
Tuy chưa có nhiều hiểu biết về cuộc cách mạng này, song Nguyễn Ái Quốc
nhận thấy Người có mối tình đoàn kết với cách mạng Nga và người lãnh đạo của
cuộc cách mạng ấy. Tháng 06/1923, Nguyễn Ái Quốc đến Liên Xô trực tiếp
nghiên cứu về cuộc Cách mạng Tháng Mười Nga, chế độ xã hội chủ nghĩa và
Nhà nước Xô - viết; được tận mắt chứng kiến những thành tựu vĩ đại đó mang
lại trên quê hương Xô - viết. Bằng sự trải nghiệm thực tiễn, Người đã rút ra kết
luận: “Trong thế giới bây giờ chỉ có cách mệnh Nga là đã thành công và thành
công đến nơi, nghĩa là dân chúng được hưởng cái hạnh phúc, tự do, bình đẳng
thật, không phải tự do và bình đẳng giả dối như đế quốc chủ nghĩa Pháp khoe
khoang bên An Nam. Cách mệnh Nga đã đuổi được vua, tư bản, địa chủ rồi, lại

ra sức cho công, nông các nước và dân tộc bị áp bức các thuộc địa làm cách 10
mạng để đập đổ tất cả đế quốc chủ nghĩa và tư bản trong thế giới”11. Bởi vậy
muốn cách mạng thành công thì phải đi theo con đường Cách mạng Tháng Mười Nga.
2.3. Sự ra đời của Quốc tế cộng sản (3/1919)
Trong bối cảnh các cuộc đấu tranh ảnh hưởng bởi làn sóng mạnh mẽ của
cuộc Cách mạng Tháng Mười năm 1917, ngày 02/03/1919, Quốc tế Cộng sản
(tức Quốc tế III) ra đời tại Mátxcơva và trở thành Bộ Tham mưu, lãnh đạo
phong trào cách mạng thế giới với khẩu hiệu “Vô sản và các dân tộc bị áp bức
liên hiệp lại!”.
Nếu trước đó, ở Quốc tế I và Quốc tế II mới chỉ nêu khẩu hiệu
“Giai cấp vô sản đoàn kết lại!” thì đến Quốc tế cộng sản năm 1919 đã đề thêm
khẩu hiệu “Dân tộc bị áp bức đoàn kết lại”. Như vậy, đây chính là con đường
mới cho các dân tộc bị áp bức, bị nô lệ trên toàn thế giới. Đó là tổ chức đại diện
bênh vực cho giai cấp công dân, cho phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc trên thế giới.
Thời đại đầy biến động trên đã giúp cho Nguyễn Ái Quốc nghiên cứu lý
luận và khảo sát thực tiễn để tìm kiếm, xác định một con đường cứu nước đúng
đắn. Nguyễn Ái Quốc chú trọng nghiên cứu kỹ những văn kiện cơ bản và tư
tưởng chỉ đạo của Quốc tế Cộng sản, đặc biệt đánh giá cao những tư tưởng vĩ
đại của V.I.Lênin trong Luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa.
Người cho rằng: “Bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều, nhưng chủ nghĩa
chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mệnh nhất là chủ nghĩa Lênin”
12 và “An
Nam muốn cách mệnh thành công, thì tất phải nhờ Đệ tam quốc tế”13
. Người đã
tin tưởng, sáng tỏ, từ đó khẳng định đây là cái cần thiết cho chúng ta, là con
đường giải phóng cho dân tộc ta. Tại Đại hội Đảng Xã hội Pháp (12/1920) ở
thành phố Tua, Nguyễn Ái Quốc đã bỏ phiếu tán thành việc gia nhập Quốc tế
Cộng sản. Người nhìn thấy rằng, đây là tổ chức quốc tế đang đứng về phía nhân
dân bị nô lệ ở các thuộc địa. Từ nhận thức đó, Nguyễn Ái Quốc đã quyết định
lựa chọn con đường cứu nước cho dân tộc ta theo khuynh hướng vô sản.
Dưới sự lãnh đạo của V.I.Lênin, Quốc tế Cộng sản đẩy mạnh việc truyền
bá Chủ nghĩa Mác – Lênin và kinh nghiệm Cách mạng tháng Mười Nga ra khắp
11 Hồ Chí Minh, Toàn tập, Tập II, NXB Chính trị quốc gia - Sự thật, 2011, tr.304.
12 Hồ Chí Minh, Toàn tập, Tập II, NXB Chính trị quốc gia - Sự thật, 2011, tr. 289.
13 Hồ Chí Minh, Toàn tập, Tập II, NXB Chính trị quốc gia - Sự thật, 2011, tr. 312. 11
thế giới, thúc đẩy sự ra đời và hoạt động ngày càng mạnh mẽ của các đảng cộng
sản ở nhiều nước. Qua đó, Quốc tế III đã tạo ra môi trường hoạt động quốc tế
thuận lợi giúp đỡ Nguyễn Ái Quốc và những người yêu nước Việt Nam trong
việc truyền bá Chủ nghĩa Mác - Lênin vào phong trào công nhân và phong trào
yêu nước. Nghiên cứu khảo sát thực tế, học tập kinh nghiệm của các đảng, các
phong trào, tạo diễn đàn đấu tranh để các đảng cộng sản ở chính quốc quan tâm
đúng mức đến việc giúp đỡ cách mạng thuộc địa. Dưới sự chỉ đạo của Quốc tế
Cộng sản (Quốc tế III), đồng chí Nguyễn Ái Quốc chủ trì Hội nghị hợp nhất ba
tổ chức Cộng sản: Đông Dương Cộng sản Đảng, An Nam Cộng sản Đảng, Đông
Dương Cộng sản Liên đoàn thành một đảng duy nhất là Đảng Cộng sản Việt Nam.
Sự ra đời của Đảng đầu năm 1930 đã chấm dứt tình trạng khủng hoảng
đường lối cứu nước ở Việt Nam trong mấy chục năm qua. Thông qua chính
đảng của mình, giai cấp công nhân có sứ mệnh lãnh đạo toàn thể dân tộc và
nhân dân vượt qua mọi thác ghềnh hiểm trở, là khâu chuẩn bị quan trọng đầu
tiên cho một thời kỳ vùng dậy oanh liệt nhất và là bước nhảy vọt vĩ đại nhất
trong lịch sử dân tộc. Tất nhiên, để làm nên thành công ấy không thể không kể
đến công lao to lớn của Lãnh tụ Hồ Chí Minh, là hình ảnh tượng trưng cho bước
ngoặt vĩ đại trong tiến trình đấu tranh cách mạng. Những tư tưởng của Người đã
trở thành bài học tinh thần vô giá cho sự nghiệp lãnh đạo đất nước của Đảng đối
với công cuộc đổi mới, với những thách thức cũng như thời vận đan xen. KẾT LUẬN
Tư tưởng Hồ Chí Minh để có thể trở thành kim chỉ nam cho dân tộc Việt
Nam cho tới ngày nay đều nhờ vào cơ sở lý luận của Chủ nghĩa Mác - Lênin và
đặc biệt là những cơ sở thực tiễn - những cơ sở chủ quan, khách quan, trở thành
nền tảng gốc rễ để Tư tưởng Hồ Chí Minh được hình thành theo đúng hướng,
phù hợp với tình hình thực tế của đất nước và trở thành tinh hoa, cái gốc của dân
tộc Việt Nam ngày nay và cũng là niềm tự hào của toàn Đảng, toàn dân ta.
Chính lịch sử đã chứng minh được giá trị bền vững, sức sống mãnh liệt của Tư
tưởng Hồ Chí Minh - dưới sự soi sáng của Tư tưởng Hồ Chí minh, toàn dân
ngày càng vững niềm tin vào thắng lợi của sự nghiệp đổi mới do Đảng lãnh đạo. 12 13
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Bộ Giáo Dục & Đào tạo, Giáo trình tư tưởng Hồ Chí Minh (Dành cho bậc đại
học không chuyên lý luận chính trị), Nxb Chính trị Quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021.
2. Hồ Chí Minh, Toàn tập, Tập I, Tập II, NXB Chính trị quốc gia - Sự thật, 2011.
3. Trần Dân Tiên: Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch,
Nxb.Văn học, Hà Nội, 2001.
4. A. Lui Stơrông: Ba lần nói chuyện với Chủ tịch Hồ Chí Minh, Báo Nhân Dân, ngày 19 - 5 - 196
5. “Bối cảnh quốc tế và trong nước khi Nguyễn Tất Thành ra đi tìm đường cứu
nước”, Báo Điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam, https://dangcongsan.vn/tieu-
diem/boi-canh-quoc-te-va-trong-nuoc-khi-nguyen-tat-thanh-ra-di-tim-duong-
cuu-nuoc-70314.html, truy cập ngày 12/11/2022.
6. Đỗ Quang Lưu (2021), “Hành trình tìm đường cứu nước và những chuyển
biến trong nhận thức về con đường giải phóng dân tộc của Nguyễn Tất Thành - Nguyễn Ái Quốc”, Trang Điện tử Học viện Lục quân,
http://hvlq.vn/trang-chu/hoc-tap-va-lam-theo-tu-tuong-dao-duc-phong-cach-ho-
chi-minh/tu-tuong-ho-chi-minh/hanh-trinh-tim-duong-cuu-nuoc-va-nhung-
chuyen-bien-trong-nha.html, truy cập ngày 14/11/2022.
7. Quốc Khánh (2021), “Hành trình trên quê hương Cách mạng Tháng Mười
Nga”, Báo Điện tử Quân đội Nhân dân, https://www.qdnd.vn/ky-niem-110-nam-
ngay-bac-ho-ra-di-tim-duong-cuu-nuoc/hanh-trinh-lich-su/hanh-trinh-tren-que-
huong-cach-mang-thang-muoi-nga-661020, truy cập ngày 14/11/2022.
8. Ngô Thị Thuý Mai (2018), “Ánh sáng Cách mạng tháng Mười Nga với Chủ
tịch Hồ Chí Minh và cách mạng Việt Nam”, Trang thông tin Điện tử Trường
Chính trị Kontum,
https://truongct.kontum.gov.vn/anh-sang-cach-mang-thang-
muoi-nga-voi-chu-tich-ho-chi-minh-va-cach-mang-viet-nam-113.html, truy cập ngày 13/11/2022. 14 PHỤ LỤC
1. Một số hình ảnh về thực tiễn xã hội Việt Nam và quốc tế cuối thế kỉ XIX, đầu thế kỉ XX
Liên quân tấn công Đà Nẵng năm 1858
05/06/1911, từ bến cảng Nhà Rồng, Nguyễn Tất Thành - Hồ Chí Minh đã ra đi tìm
đường cứu nước, giải phóng dân tộc.
Nguyễn Ái Quốc tại Đại hội lần thứ
Nguyễn Ái Quốc (người đầu tiên bên trái
XVIII của Đảng Xã hội Pháp ở Tua
hàng ngồi) chụp ảnh với một số đại biểu tham (Tour), tháng 12/1920
dự Đại hội lần thứ V Quốc tế cộng sản của tại 15
Moskva, Nga từ ngày 17/6 - 8/7/1924
2. Phụ lục văn bản
Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch (Trích) Trần Dân Tiên ….
Hồ Chủ tịch sinh năm 1890. Quê Người ở làng Kim Liên, huyện Nam Đàn,
tỉnh Nghệ An (Trung bộ). Phụ thân Người là một cựu Phó bảng, nhưng gia đình
Người là một gia đình nông dân. Trong thời kỳ ấy, Pháp mới xâm chiếm Việt
Nam. Nhân dân Việt Nam đều oán ghét bọn chủ mới. Các chiến sĩ du kích già
thường nhắc đến cụ Phan Đình Phùng, Hoàng Hoa Thám, hai vị lãnh tụ đã lãnh
đạo chiến tranh du kích chống Pháp. ….
Đầu thế kỷ XX, để đắp con đường Cửa Rào, bọn Pháp bắt nông dân từ
mười tám đến năm mươi tuổi phải đi phu. Vì bọn đốc công Pháp rất tàn bạo,
nước độc và lương thực thiếu nên nhiều người phu bị chết, những người sống thì
đều đau ốm. Điều đó khơi sâu thêm lòng căm thù của nhân dân ta đối với thực dân.
Kinh tế thuộc địa xâm nhập, đảo lộn kinh tế trong nước. Giai cấp tư sản
dân tộc không ngóc đầu lên được. Giai cấp tiểu tư sản bắt đầu phá sản. Để củng
cố thế lực còn yếu, thực dân Pháp ra sức giúp đỡ thế lực phong kiến và bọn tay
sai của chúng. Hối lộ công khai. Nhân dân khốn khổ.
Thuế má nặng nề, sưu dịch phiền phức, bắt buộc phải uống rượu Pháp nấu,
khuyến khích hút thuốc phiện… Tất cả những điều đó đã biến Việt Nam thành một địa ngục.
Cũng trong thời kỳ ấy, cuộc vận động cải lương phát triển ở Trung Quốc,
trước thì có Lương Khải Siêu, sau thì có bác sĩ Tôn Dật Tiên. Đồng thời chiến
tranh Nga - Nhật kết thúc. Đế quốc Nhật thắng Nga hoàng. 16
Cụ Phan Chu Trinh mở trường học, bí mật truyền bá chủ nghĩa yêu nước và
công kích bọn cầm quyền Pháp. Vì vậy, Cụ bị kết án tử hình, nhưng được Hội
Nhân quyền Pa – ri cứu.
Cụ Phan Bội Châu sang Nhật, sau sang Trung Quốc. Ở nước ngoài, Cụ kêu
gọi nhân dân Việt Nam làm cách mạng. Những bài thơ của Cụ được bí mật
truyền tụng trong nhân dân Việt Nam.
Năm 1907, lần đầu tiên nông dân các tỉnh Trung bộ nổi dậy chống thuế. Họ
đi tay không, không có khí giới. Họ chỉ yêu cầu giảm thuế. Để tỏ tình đoàn kết
nhất trí, họ đều cắt tóc ngắn và gọi nhau là "đồng bào".
Bọn Pháp dùng khủng bố đại quy mô để trả lời họ. Chúng giết hơn một
nghìn người cầm đầu và những người bị nghi là có dính dáng đến việc đó. Nhà
tù chật ních người. Những người cất giấu báo chí Trung Quốc hoặc báo chí gì
khác, nếu giặc tìm ra, đều bị trừng phạt nặng.
Hầu hết các phần tử trí thức yêu nước đều bị bắt bỏ tù. Những nhà học giả
nổi tiếng được nhân dân kính mến cũng bị chém đầu.
Bọn Pháp gọi phong trào ấy là "án đồng bào cắt tóc" vì nông dân dùng hai
tiếng "đồng bào" để gọi nhau.
Đó là tình trạng trong nước và ngoài nước, khi Chủ tịch Hồ Chủ tịch còn là
người thiếu niên mười lăm tuổi. Người thiếu niên ấy đã sớm hiểu biết và rất đau
xót trước cảnh thống khổ của đồng bào. Lúc bấy giờ, anh đã có chí đuổi thực
dân Pháp, giải phóng đồng bào. Anh đã tham gia công tác bí mật, nhận công
việc liên lạc. Anh khâm phục các cụ Phan Đình Phùng, Hoàng Hoa Thám, Phan
Chu Trinh và Phan Bội Châu, nhưng không hoàn toàn tán thành cách làm của một người nào. Vì:
Cụ Phan Chu Trinh chỉ yêu cầu người Pháp thực hiện cải lương. Anh nhận
điều đó là sai lầm, chẳng khác gì đến xin giặc rủ lòng thương.
Cụ Phan Bội Châu hy vọng Nhật giúp đỡ để đuổi Pháp. Điều đó rất nguy
hiểm, chẳng khác gì "đưa hổ cửa trước, rước beo cửa sau".
Cụ Hoàng Hoa Thám còn thực tế hơn, vì trực tiếp đấu tranh chống Pháp.
Nhưng theo lời người ta kể thì Cụ còn nặng cốt cách phong kiến. 17
Anh thấy rõ và quyết định con đường nên đi. Cụ Phan Bội Châu vào bậc
chú bác của anh. Cụ Phan Bội Châu muốn đưa anh và một số thanh niên sang Nhật.
Nhưng anh không đi. Anh muốn làm gì?
Một vị trí thức ở Sài Gòn kể lại cho tôi:
"Trong khi còn học ở trường Sát–xơ–lúp Lô–ba (Chasseloup–Laubat) tôi
gặp một người thanh niên ở Trung bộ vào Sài Gòn ở nhà một người bạn. Vì
cùng một lứa tuổi, cho nên chúng tôi lập tức trở nên đôi bạn thân. Tôi đưa anh
đến trước tiệm cà phê của Pháp xem đèn điện, xem chiếu bóng và máy nước.
Những cái đó trước kia anh chưa hề thấy.
Một hôm tôi mời anh ăn kem. Anh rất lạ. Lần đầu tiên anh mới nếm mùi kem.
Sau ít hôm, anh đột nhiên hỏi tôi.
"Anh Lê, anh có yêu nước không?"
Tôi ngạc nhiên và đáp: "Tất nhiên là có chứ!"
"Anh có thể giữ bí mật không?" "Có".
"Tôi muốn đi ra ngoài, xem nước Pháp và các nước khác. Sau khi xem xét
họ làm như thế nào, tôi sẽ trở về giúp đồng bào chúng ta. Nhưng nếu đi một
mình, thật ra cũng có điều mạo hiểm, ví như khi đau ốm… Anh muốn đi với tôi không?"
"Nhưng bạn ơi, chúng ta lấy đâu ra tiền mà đi?"
"Đây, tiền đây" – Anh bạn của tôi vừa nói vừa giơ hai bàn tay – "Chúng ta
sẽ làm việc. Chúng ta sẽ làm bất cứ việc gì để sống và để đi. Thế thì anh cùng đi với tôi chứ?"
Bị lôi cuốn vì lòng hăng hái của anh, tôi đồng ý.
Nhưng sau khi suy nghĩ kỹ về cuộc phiêu lưu, tôi không có đủ can đảm để giữ lời hứa.
Vài ngày sau, tôi không gặp lại anh bạn nữa. Tôi đoán là anh ta đã đi ngoại
quốc. Anh ta đi bằng cách nào? Tôi không biết. Về sau, tôi chỉ biết người thanh 18
niên yêu nước đầy nhiệt huyết ấy là Cụ Nguyễn Ái Quốc, là Hồ Chủ tịch của chúng ta ngày nay". …. 19
BIÊN BẢN XÁC ĐỊNH MỨC ĐỘ THAM GIA VÀ KẾT QUẢ THAM GIA LÀM BÀI TẬP NHÓM
Ngày:..............15/11/2022.......................................Địa điểm:...........................................
Nhóm số:....06.......... Lớp: .................N08 – TL1...................Khóa: ................45..............
Tổng số thành viên của nhóm: 11
Môn học: Tư tưởng Hồ Chí Minh
Xác định mức độ tham gia và kết quả tham gia của từng sinh viên trong việc thực hiện bài tập: Đánh giá của SV ký SV tên Đánh giá của GV STT Mã SV Họ và tên A B C Điểm Điểm GV ký (số) (chữ) tên 1 452556 Đặng Hà Phương x 2 452557 Phạm Thị Thanh Hiền x 3 452558 Nguyễn Xuân Khôi x 4 452559 Nguyễn Thị Vân x 5 452560 Nguyễn Thị Phong Anh x 6 452561 Nguyễn Ánh Dương x 7 452562 Đào Ngọc Minh Châu x 8 452563 Phạm Thị Thanh Mai x 9 452564 Nguyễn Ngọc Quỳnh x 10 452565 Lê Linh Trang x
Nhóm số: …………6……… Kết quả như sau:
Kết quả điểm bài viết:
Hà Nội, ngày ..15...tháng..11...năm 2022
- Giáo viên chấm thứ nhất:.......................... Nhóm trưởng
- Giáo viên chấm thứ hai:............................ Kết
quả điểm thuyết trình:
- Giáo viên cho điểm thuyết trình: ............. Nguyễn Thị Vân
Điểm kết luận cuối cùng: 20