“NHTM nên tập trung vào khâu giám sát khách hàng hơn là khâu phân tích tín dụng”
→ Đồng ý. Bởi vì khâu giám sát đóng vai trò quan trọng trong ngân hàng thương mại.Khâu
giám sát khách hàng của ngân hàng thương mại bao gồm các hoạt động được thực hiện để
đảm bảo tuân thủ các quy định và chính sách nội bộ, bảo vệ lợi ích của khách hàng và ngăn
chặn các hoạt động gian lận, rửa tiền, và tài chính bất hợp pháp.
Những hoạt động trong khâu giám sát bao gồm:
1. Xác minh danh tính khách hàng: Ngân hàng thương mại phải thu thập thông tin xác
minh danh tính của khách hàng, bao gồm thông tin nhân, thông tin liên quan đến hoạt
động kinh doanhnguồn gốc tài sản. Điều này giúp ngân hàng đảm bảo rằng khách hàng
không liên quan đến các hoạt động tài chính bất hợp pháp và hạn chế rủi ro gian lận.
2. Đánh giá rủi ro khách hàng: Ngân hàng thương mại thực hiện đánh giá rủi ro để xác định
mức độ rủi ro mà một khách hàng có thể gây ra đến ngân hàng. Điều này bao gồm việc xem
xét lịch sử tín dụng, thông tin tài chính và hoạt động kinh doanh của khách hàng để đánh giá
khả năng trả nợ và các rủi ro liên quan.
3. Theo dõi giao dịch và hoạt động tài chính: Ngân hàng thương mại phải theo dõi các giao
dịch hoạt động tài chính của khách hàng để phát hiện các hoạt động bất thường, không
phù hợp hoặc đáng ngờ. Điều này giúp ngân hàng ngăn chặn báo cáo các hoạt động
gian lận, rửa tiền và tài chính bất hợp pháp.
4. Đào tạo nhân viên: Ngân hàng thương mại cần cung cấp đào tạo cho nhân viên về việc
nhận diện và xử lý các vấn đề liên quan đến khách hàng, bao gồm việc xác minh danh tính,
phát hiện gian lận và rửa tiền. Điều này giúp nâng cao nhận thức và khả năng phản ứng của
nhân viên trong việc giám sát khách hàng.
5. Báo cáo tuân thủ quy định: Ngân hàng thương mại phải tuân thủ các quy định pháp
luật chính sách nội bộ liên quan đến việc giám sát khách hàng. Đồng thời, ngân hàng
cũng phải báo cáo các hoạt động nghi ngờ đến các cơ quan chức năng như cơ quan chống
rửa tiền và cơ quan quản lý tài chính.
Vai trò của khâu giám sát trong ngân hàng:
1. Tuân thủ quy định và chính sách nội bộ: Khâu giám sát khách hàng đảm bảo rằng ngân
hàng tuân thủ tất cả các quy định và chính sách nội bộ liên quan đến việc xác minh danh
tính khách hàng, quản lý rủi ro tín dụng, chống rửa tiền, chống gian lận và tuân thủ các quy
định pháp luật tài chính.
2. Bảo vệ lợi ích của khách hàng: Qua việc giám sát khách hàng, ngân hàng thương mại
đảm bảo rằng các hoạt động tài chính của khách hàng được bảo vệ và không bị lợi dụng.
Điều này bao gồm việc đảm bảo rằng thông tin cá nhân và tài chính của khách hàng được
bảo mật và không bị lộ ra ngoài.
3. Phát hiện và ngăn chặn hoạt động gian lận và rửa tiền: Khâu giám sát khách hàng giúp
phát hiện sớm các hoạt động gian lận, rửa tiền và tài chính bất hợp pháp. Qua việc theo dõi
giao dịch và hoạt động tài chính của khách hàng, ngân hàng có thể phát hiện các mô hình
không bình thường, sự không phù hợp và các dấu hiệu đáng ngờ, và thực hiện các biện
pháp phòng ngừa và báo cáo khi cần thiết.
4. Quản lý rủi ro tín dụng: Khâu giám sát khách hàng giúp ngân hàng đánh giá và quản lý rủi
ro tín dụng. Bằng cách xem xét lịch sử tín dụng, thông tin tài chính và hoạt động kinh doanh
của khách hàng, ngân hàng có thể đánh giá khả năng trả nợ và xác định mức độ rủi ro liên
quan. Điều này giúp ngân hàng đưa ra quyết định về việc cấp tín dụng và xác định điều kiện
vay.
5. Đảm bảo tuân thủ các quy định pháp luật và báo cáo: Khâu giám sát khách hàng đảm
bảo rằng ngân hàng tuân thủ các quy định pháp luật liên quan đến việc báo cáo các hoạt
động tài chính đáng ngờ. Ngân hàng phải báo cáo các hoạt động liên quan đến rửa tiền, tài
chính bất hợp pháp và các vấn đề tài chính nghiêm trọng khác đến các cơ quan chức năng.
Dẫn chứng:
1.Ngân hàng Agribank Đồng Tháp đã đạt được một số thành tựu sau khi chú trọng vào khâu
giám sát khách hàng:
Chi nhánh thường xuyên tổ chức rà soát, kiểm tra hồ sơ, phương án vay, định kỳ kiểm tra
nội bộ toàn bộ hồ sơ tín dụng hàng năm. Do vậy đã hạn chế được tối đa các rủi ro tín dụng
có thể xảy ra.
Hệ số thu nợ của chí nhánh có xu hướng tăng qua các năm, đạt 86 - 92%. Tỷ lệ nợ xấu vẫn
ở mức cho phép. Ngoài ra, chi nhánh luôn rà soát lại tình hình nợ quá hạn, có sự phân loại
theo ngành nghề, theo kỳ hạn, theo địa bàn,… đồng thời phân tích, phán đoán và đề ra
những biện pháp xử lý và hạn chế rủi ro.
Đối với nợ quá hạn, chi nhánh cũng đã sử dụng Quỹ Dự phòng rủi ro đã được trích lập để
xóa nợ. Đối với những tài sản xiết nợ, Agribank Đồng Tháp đã tổ chức việc tiếp nhận, bảo
quản hoặc phát mại tài sản, nhằm bù đắp một phần thiệt hại do không thu hồi được nợ.
Công tác đào tạo và đào tạo lại cán bộ luôn được ngân hàng chú trọng. Đồng thời, bộ máy
tổ chức quản lý rủi ro của ngân hàng cũng dần được hoàn thiện.
2.Khủng hoảng tài chính năm 2008. Đây là “cuộc khủng hoảng thế chấp độc hại”, khi các
ngân hàng Mỹ cho vay thế chấp để mua nhà với lãi suất cực cao và đối tượng là những
người không có khả năng thanh toán.
Ông Ben S Bernanke – Chủ tịch Hội đồng Thống đốc của Cục Dữ trữ liên bang Mỹ (Fed) tại
Hội thảo về Cơ cấu ngân hàng và cạnh tranh của Ngân hàng Fed Chicago đã đưa ra bài
học về khâu giám sát: “Khủng hoảng đã cho thấy yêu cầu phải sửa đổi cơ chế giám sát và
thông tin nội bộ của Fed. Fed đã cập nhật và đẩy mạnh quá trình phổ biến thông tin giám
sát trong hệ thống của mình nhằm thiết lập các ưu tiên giám sát, nhìn nhận các vấn đề nổi
lên và đưa ra các chỉ đạo giám sát kịp thời. Trong lĩnh vực bảo vệ người tiêu dùng, gần đây
Fed đã điều chỉnh Chương trình kiểm tra tuân thủ nhằm đảm bảo chương trình phù hợp hơn
với những diễn biến và tình hình mới của thị trường.
Thực sự là trong những thời điểm tốt, khi rủi ro thấp và tình hình tài chính sáng sủa, các bên
tham gia thị trường tài chính có thể trở nên lạc quan quá mức và phạm phải những sai lầm
đắt giá. Một phần công việc của các nhà giám sát là phải ngăn chặn được xu hướng này.
Muốn vậy, thông tin giám sát phải rõ ràng, có hiệu lực và được chuyển trực tiếp tới Hội đồng
quản trị, Quản lý cấp cao để những vấn đề nổi cộm được quan tâm đúng mức và giải quyết
thỏa đáng.”
=> KHÔNG ĐỒNG Ý
Sau khi phân tích tín dụng của khách hàng xong, khách hàng hàng đủ điều kiện sẽ
được phê duyệt hợp đồng tiến hành giải ngân, bước tiếp theo giám sát quá trình
sử dụng khoản vay của khách hàng.
Mục đích của phân tích tín dụng là xác định rủi ro và những biện pháp hạn chế rủi ro
trước, trong và sau khi cấp tín dụng. Cụ thể như sau:
Hạn chế tình trạng thông tin không chính xác
Thông tin sai lệch, không chính xác sẽ khiến ngân hàng đánh giá sai về khách hàng.
Do đó dẫn tới đưa ra quyết định sai lầm trong việc lựa chọn khách hàng có tiềm ẩn rủi
ro cao hay tiềm năng, an toàn.
Nếu ngân hàng thực hiện tốt việc phân tích tín dụng trước khi cấp vốn cho vay thì
ngân hàng sẽ lựa chọn được chính xác khách hàng và giảm rủi ro tiềm ẩn.
Đánh giá chính xác nhu cầu vay vốn của khách hàng
Quá trình phân tích tín dụng cho phép chuyên viên phân tích biết được mục đích vay
vốn, nhu cầu vay vốn... của khách hàng. Đây sở để ngân hàng thiết kế các sản
phẩm tín dụng phù hợp với nhu cầu của doanh nghiệp như phương thức hoàn trả, quy
mô khoản vay, kỳ hạn hoàn trả.
Đánh giá chính xác mức độ rủi ro của khách hàng
Do đó:
Khâu phân tích tín dụng quy trình quan trọng trong ngân hàng thương mại, giúp
đánh giá khả năng trả nợ của kháchng và xác định rủi ro trong việc cho vay. Việc
phân tích tín dụng chính xác giúp ngân hàng đảm bảo vay cho vay một cách
trách nhiệm, giảm thiểu rủi ro tín dụng và đảm bảo sự ổn định của hệ thống tài chính.
Vì vậy, Ngân hàng thương mại nên tập trung vào khâu phân tích tín dụng hơn là khâu
giám sát khách hàng. dụ như giả sử một ngân hàng tập trung quá mức vào khâu
giám sát khách hàng không đảm bảo chất lượng phân tích tín dụng. Họ thể
thông qua quá trình kiểm tra khách hàng mới, quản lý tài khoản và các biện pháp kiểm
soát rủi ro, nhưng không đánh giá đúng khả năng tài chính khả năng trả nợ của
khách hàng. Điều này thể dẫn đến việc cho vay cho các khách hàng rủi ro cao,
không đủ khả năng trả nợ và dẫn đến tình trạng nợ xấu tăng lên, gây tổn thất về tài sản
và tăng rủi ro tín dụng cho ngân hàng.
Đầu tiên chúng ta nhận thấy vai trò của khâu phân tích tín dụng trong ngân hàng:
- Đối với bản thân ngân hàng: Hoạt động tín dụng là hoạt động mang lại nguồn
thu chủ yếu. Mặt khác, hoạt động tín dụng còn là cơ sở để các ngân hàng thu hút và
phát triển khách hàng. Hơn thế nữa, hoạt động tín dụng còn làm cho NHTM trở thành
một trong những trung gian tài chính quan trọng nhất của nền kinh tế.
- Đối với khách hàng vay: Hoạt động tín dụng đã đáp ứng kịp thời nhu cầu về
số lượng và chất lượng vốn cho khách hàng. Hoạt động tín dụng giúp nhà đầu tư nắm
bắt được những cơ hội kinh doanh, doanh nghiệp có vốn để mở rộng sản xuất, các cá
nhân có đủ khả năng tài chính để trang trải cho các khoản chi tiêu nâng cao chất
lượng cuộc sống. Ngoài ra, hoạt động tín dụng còn ràng buộc trách nhiệm khách hàng
phải hoàn trả gốc lãi trong thời hạn nhất định. Quá trình phân tích tín dụng cho
phép chuyên viên phân tích biết được mục đích vay vốn, nhu cầu vay vốn... của khách
hàng. Đâysở để ngân hàng thiết kế các sản phẩm tín dụng phù hợp với nhu cầu
của doanh nghiệp như phương thức hoàn trả, quy mô khoản vay, kỳ hạn hoàn trả.
VÍ DỤ: Vụ suy thoái kinh tế năm 2008:
Trong cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008, một số ngân hàng đã gặp khó
khăn họ không thực hiện đúng quy trình phân tích tín dụng. Nhiều ngân hàng đã
cấp cho vay một cách không có trách nhiệm, không đánh giá đúng khả năng trả nợ của
khách hàng. Điều này dẫn đến việc cho vay cho những khách hàng không đủ khả năng
trả nợ tạo ra một làn sóng nợ xấu. Đây một dụ ràng về việc tập trung vào
khâu phân tích tín dụng thể giảm thiểu rủi ro tránh được những tình huống
khủng hoảng tài chính.
- Đối với nền kinh tế: +Hoạt động tín dụng góp phần điều hòa dòng vốn trong nền
kinh tế. Theo đó, vốn sđược chuyển từ những đối tượng chưa nhu cầu sử dụng
sang những người đang có nhu cầu về vốn.
+Trong trường hợp nền kinh tế không ổn định, chính phủ có thể vay vốn từ các nước
phát triển hay tổ chức tín dụng thế giới để ổn định nền kinh tế quốc gia. Mặt khác, để
kích thích tiêu dùng hay xử khó khăn các cuộc khủng hoảng kinh tế gây ra,
chính phủ cũng thể áp dụng chính sách giảm lãi suất cho vay trong hoạt động tín
dụng.
+ Tín dụng NHTM góp phần thúc đẩy sản xuất lưu thông hàng hóa phát triển,
kênh truyền tải vốn tài trợ của nhà nước đến nông nghiệp, nông thôn, góp phần xóa
đói giảm nghèo, ổn định chính trị, hội. Mặt khác, tín dụng NHTM còn giúp phân
bổ hiệu quả các nguồn lực tài chính trong nền kinh tế, đồng thời thúc đẩy sự phát triển
của các ngành, nghề, khu vực kinh tế trọng điểm. VD: Các chương trình tín dụng
chính sách phát huy hiệu quả tích cực, góp phần xóa đói giảm nghèo, hỗ trợ người dân
vượt qua khó khăn do ảnh hưởng của đại dịch Covid-19. Theo Ngân hàng Chính sách
xã hội, trong 9 tháng năm 2022, vốn tín dụng chính sách xã hội đã hỗ trợ, tạo việc làm
cho trên 660 nghìn lao động, giúp trên 4,9 nghìn lao động đi làm việc thời hạn
nước ngoài; giúp trên 17 nghìn học sinh, sinh viên hoàn cảnh khó khăn vay vốn
học tập: Giải ngân cho hơn 82 nghìn hộ gia đình vay vốn mua máy vi tính, thiết bị học
tập; giúp gần 1,1 nghìn doanh nghiệp vay vốn để phục hồi sản xuất, kinh doanh, trả
lương cho trên 155 nghìn người lao động bị ảnh hưởng dịch Covid-19; xây dựng
khoảng 1.140 nghìn công trình nước sạch, công trình vệ sinh; xây dựng hơn 01 nghìn
căn nhà ở cho hộ nghèo ổn định cuộc sống, hơn 07 nghìn căn nhà ở xã hội cho các đối
tượng thu nhập thấp...Theo Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN), tín dụng tăng
ngay từ đầu năm, phù hợp với diễn biến tích cực hơn của nền kinh tế so với cùng kỳ
năm trước. Tăng trưởng tín dụng đến cuối tháng 10/2022 đạt 11,5% so với cuối năm
2021, góp phần hỗ trợ doanh nghiệp và nền kinh tế phục hồi khả quan trong các tháng
qua. Trong bối cảnh giải ngân vốn đầu công gặp nhiều khó khăn thì mức tăng
trưởng tín dụng thời gian qua đã góp phần đáp ứng yêu cầu tăng trưởng kinh tế.
MỘT SỐ VÍ DỤ cho thấy rõ rằng khi ngân hàng tập trung quá mức vào khâu giám sát
khách hàng mà không chú trọng đến khâu phân tích tín dụng, những rủi ro tín dụng có
thể không được định điều này thể dẫn đến những hậu quả đáng tiếc như sụp
đổ ngân hàng, khủng hoảng tài chính, và mất mát lớn cho hệ thống tài chính:
- Vụ sụp đổ của Ngân hàng Lehman Brothers vào năm 2008 là một ví dụ nổi tiếng về
hậu quả của việc không tập trung đúng mức vào khâu phân tích tín dụng. Ngân hàng
này đã đầu một cách không kiểm soát không có đánh giá rủi ro tín dụng đầy đủ
trong các sản phẩm tài chính phức tạp như các giấy nợ gắn liền với tài sản. Khi các rủi
ro tiềm ẩn không được xác định và quản lý đúng mức, ngân hàng đã phá sản, gây ra sự
chấn động mạnh mẽ trong hệ thống tài chính toàn cầu.
- Thị trường bất động sản Mỹ năm 2005-2006:
Trong giai đoạn này, nhiều ngân hàng đã tập trung vào việc cung cấp các khoản vay
mua nhà một cách quá mức và thiếu cẩn trọng trong việc phân tích tín dụng. Họ không
đủ chặt chẽ trong việc đánh giá khả năng tài chính của khách hàng cung cấp các
khoản vay thể vượt quá khả năng trả nợ của họ. Khi thị trường bất động sản suy
giảm và nhiều khách hàng không thể trả nợ, ngân hàng phải đối mặt với một làn sóng
nợ xấu và mất hàng tỷ đô la.
- Vào năm 2007, ngân hàng Northern Rock Anh đã gặp khó khăn nghiêm trọng khi
vụ khủng hoảng tín dụng bùng nổ. Ngân hàng này đã tập trung quá mức vào việc cung
cấp các khoản vay thế chấp và không đảm bảo đủ kiểm soát và phân tích tín dụng. Họ
cho vay một cách rộng rãi và thiếu cẩn trọng, bỏ qua việc xác định khả năng tài chính
của khách hàng. Khi thị trường bất động sản sụp đổ và nhiều khách hàng không thể trả
nợ, ngân hàng đã phải đối mặt với sự rút tiền hàng loạt của khách hàng gặp khó
khăn về thanh khoản.
Vụ việc này một minh chứng ràng cho việc ko tập trung vào khâu phân tích tín
dụng. Nếu ngân hàng Northern Rock đã thực hiện đúng quy trình phân tích tín dụng
và đánh giá đúng khả năng trả nợ của khách hàng, họ có thể giảm thiểu rủi ro nợ xấu
và đảm bảo tính ổn định tài chính trong môi trường kinh tế không ổn định.
Nội dung của phân tích tín dụng
Trong phân tích tín dụng sẽ bao gồm 4 nội dung cơ bản như sau:
Thu thập xử thông tin: Đây nội dung quan trọng, quyết định tính chính xác của
các hoạt động phân tích tiếp theo. Công việc này sẽ được thực hiện thông qua các
nguồn như: hồ đề nghị cấp tín dụng của khách hàng, thông tin lưu trữ tại ngân
hàng, thông tin từ phỏng vấn và điều tra, và từ một số nguồn khác. Tổ chức tín dụng
sẽ đánh giá các nguồn thông tin, đối chiếu, so sánh các thông tin quá khứ, hiện tại từ
nhiều nguồn khác nhau để lựa chọn các thông tin chính xác nhất.
Phân tích khách hàng: Tùy vào loại đối tượng khách hàng để thực hiện phân tích.
Theo đó:
Đánh giá tài sản: Với khách hàng doanh nghiệp sẽ thông qua bảng cân đối kế toán.
Với hộ kinh doanh/cá nhân sẽ thông qua các thông tin về tình hình kinh doanh, tài
sản cá nhân, lương và các thu nhập khác.
Đánh giá các khoản nợ: Tổ chức tín dụng sẽ quan tâm đến tất cả các khoản
nợ của khách hàng như nợ cũ, nợ ngân hàng khác, nợ người lao động, n
người cung cấp... Ngoài ra tổ chức tín dụng cũng quan tâm đến các khoản nợ
ưu đãi, nợ có đảm bảo và các khoản nợ khác.
Phân tích doanh thu, chi phí: Áp dụng chủ yếu đối với khách hành doanh
nghiệp.
Phân tích luồng tiền: Tổ chức tín dụng sẽ phải dự tính các dòng tiền để xác
định dòng tiền trả nợ cho ngân hàng.
Phân tích tài chính: Sử dụng các tỷ lệ tài chính để đánh giá tình hình khách
hàng.
- Thẩm định phương án - dự án vay vốn: Tổ chức tín dụng sẽ đánh giá khách hàng có
khả năng thực hiện được phương án kinh doanh hay không, thực hiện như thế nào và
kết quả ra sao. Khách hàng có trả được nợ hay không, có nguồn trả nợ thực tế không
hay phụ thuộc dự án, phương án kinh doanh... Cho nên công việc này rất quan
trọng đối với công tác cho vay của các tổ chức tín dụng.
- Phân tích tài sản đảm bảo: Công việc này sẽ tập trung vào việc đánh giá một cách
chính xác khả năng thanh các tài sản bảo đảm khi cần thiết. Nội dung của thẩm
định tài sản bảo đảm chủ yếu tập trung vào khía cạnh phápcủa tài sản, khả năng
thanh tài sản đó theo giá trị thị trường khả năng kiểm soát tài sản của ngân
hàng
Quy trình phân tích tín dụng
Quy trình phân tích tín dụng thông thường được thực hiện theo 2 phần bản như
sau:
Phân tích các thông tin cơ sở
Yếu tố cần thiết để thực hiện quy trình phân tích tín dụng thông tin. Chất lượng
thông tin thể hiện ở ba thuộc tính như: kịp thời, đầy đủ, chính xác.
Những thông tin này được thu thập từ:
Hồ sơ đề nghị cấp tín dụng của khách hàng.
Hồ sơ lưu trữ tại ngân hàng.
Những nguồn khác: bạn hàng và đối thủ cạnh tranh của khách hàng, báo chí,
các ấn bản kinh tế.
Mục đích là để nắm rõ các thông tin về đối tượng dự định cấp tín dụng.
Tiến hành phân tích tín dụng
Trong phần này sẽ tập trung vào hai nội dung cơ bản là:
- Đánh giá khách hàng vay vốn: Việc đánh giá này thông thường được thực hiện trong
tương quan với ngành kinh doanh khách hàng đang thực hiện. Bước này sẽ giúp
chuyên viên phân tích tín dụng hiểu được vị trí hiện tại của khách hàng, áp lực cạnh
tranh trong ngành và dự đoán được các rủi ro có thể xảy ra...
- Phân tích dòng tiền: Bước này chủ yếu phục vụ cho quá trình thu hồi vốn vay
sau này của tổ chức tín dụng. Thông qua bước phân tích dòng tiền, bạn cần tìm
kiếm đánh giá các nguồn thu của doanh nghiệp dựa trên sở những thông tin
như báo cáo tài chính, nguyên tắc kế toán, các tài sản của doanh nghiệp... Bước phân
tích này nhằm đảm bảo khả năng hoàn trả của khách hàng trong tương lai.

Preview text:

“NHTM nên tập trung vào khâu giám sát khách hàng hơn là khâu phân tích tín dụng”
→ Đồng ý. Bởi vì khâu giám sát đóng vai trò quan trọng trong ngân hàng thương mại.Khâu
giám sát khách hàng của ngân hàng thương mại bao gồm các hoạt động được thực hiện để
đảm bảo tuân thủ các quy định và chính sách nội bộ, bảo vệ lợi ích của khách hàng và ngăn
chặn các hoạt động gian lận, rửa tiền, và tài chính bất hợp pháp.
Những hoạt động trong khâu giám sát bao gồm:
1. Xác minh danh tính khách hàng: Ngân hàng thương mại phải thu thập thông tin và xác
minh danh tính của khách hàng, bao gồm thông tin cá nhân, thông tin liên quan đến hoạt
động kinh doanh và nguồn gốc tài sản. Điều này giúp ngân hàng đảm bảo rằng khách hàng
không liên quan đến các hoạt động tài chính bất hợp pháp và hạn chế rủi ro gian lận.
2. Đánh giá rủi ro khách hàng: Ngân hàng thương mại thực hiện đánh giá rủi ro để xác định
mức độ rủi ro mà một khách hàng có thể gây ra đến ngân hàng. Điều này bao gồm việc xem
xét lịch sử tín dụng, thông tin tài chính và hoạt động kinh doanh của khách hàng để đánh giá
khả năng trả nợ và các rủi ro liên quan.
3. Theo dõi giao dịch và hoạt động tài chính: Ngân hàng thương mại phải theo dõi các giao
dịch và hoạt động tài chính của khách hàng để phát hiện các hoạt động bất thường, không
phù hợp hoặc đáng ngờ. Điều này giúp ngân hàng ngăn chặn và báo cáo các hoạt động
gian lận, rửa tiền và tài chính bất hợp pháp.
4. Đào tạo nhân viên: Ngân hàng thương mại cần cung cấp đào tạo cho nhân viên về việc
nhận diện và xử lý các vấn đề liên quan đến khách hàng, bao gồm việc xác minh danh tính,
phát hiện gian lận và rửa tiền. Điều này giúp nâng cao nhận thức và khả năng phản ứng của
nhân viên trong việc giám sát khách hàng.
5. Báo cáo và tuân thủ quy định: Ngân hàng thương mại phải tuân thủ các quy định pháp
luật và chính sách nội bộ liên quan đến việc giám sát khách hàng. Đồng thời, ngân hàng
cũng phải báo cáo các hoạt động nghi ngờ đến các cơ quan chức năng như cơ quan chống
rửa tiền và cơ quan quản lý tài chính.
Vai trò của khâu giám sát trong ngân hàng:
1. Tuân thủ quy định và chính sách nội bộ: Khâu giám sát khách hàng đảm bảo rằng ngân
hàng tuân thủ tất cả các quy định và chính sách nội bộ liên quan đến việc xác minh danh
tính khách hàng, quản lý rủi ro tín dụng, chống rửa tiền, chống gian lận và tuân thủ các quy
định pháp luật tài chính.
2. Bảo vệ lợi ích của khách hàng: Qua việc giám sát khách hàng, ngân hàng thương mại
đảm bảo rằng các hoạt động tài chính của khách hàng được bảo vệ và không bị lợi dụng.
Điều này bao gồm việc đảm bảo rằng thông tin cá nhân và tài chính của khách hàng được
bảo mật và không bị lộ ra ngoài.
3. Phát hiện và ngăn chặn hoạt động gian lận và rửa tiền: Khâu giám sát khách hàng giúp
phát hiện sớm các hoạt động gian lận, rửa tiền và tài chính bất hợp pháp. Qua việc theo dõi
giao dịch và hoạt động tài chính của khách hàng, ngân hàng có thể phát hiện các mô hình
không bình thường, sự không phù hợp và các dấu hiệu đáng ngờ, và thực hiện các biện
pháp phòng ngừa và báo cáo khi cần thiết.
4. Quản lý rủi ro tín dụng: Khâu giám sát khách hàng giúp ngân hàng đánh giá và quản lý rủi
ro tín dụng. Bằng cách xem xét lịch sử tín dụng, thông tin tài chính và hoạt động kinh doanh
của khách hàng, ngân hàng có thể đánh giá khả năng trả nợ và xác định mức độ rủi ro liên
quan. Điều này giúp ngân hàng đưa ra quyết định về việc cấp tín dụng và xác định điều kiện vay.
5. Đảm bảo tuân thủ các quy định pháp luật và báo cáo: Khâu giám sát khách hàng đảm
bảo rằng ngân hàng tuân thủ các quy định pháp luật liên quan đến việc báo cáo các hoạt
động tài chính đáng ngờ. Ngân hàng phải báo cáo các hoạt động liên quan đến rửa tiền, tài
chính bất hợp pháp và các vấn đề tài chính nghiêm trọng khác đến các cơ quan chức năng. Dẫn chứng:
1.Ngân hàng Agribank Đồng Tháp đã đạt được một số thành tựu sau khi chú trọng vào khâu giám sát khách hàng:
Chi nhánh thường xuyên tổ chức rà soát, kiểm tra hồ sơ, phương án vay, định kỳ kiểm tra
nội bộ toàn bộ hồ sơ tín dụng hàng năm. Do vậy đã hạn chế được tối đa các rủi ro tín dụng có thể xảy ra.
Hệ số thu nợ của chí nhánh có xu hướng tăng qua các năm, đạt 86 - 92%. Tỷ lệ nợ xấu vẫn
ở mức cho phép. Ngoài ra, chi nhánh luôn rà soát lại tình hình nợ quá hạn, có sự phân loại
theo ngành nghề, theo kỳ hạn, theo địa bàn,… đồng thời phân tích, phán đoán và đề ra
những biện pháp xử lý và hạn chế rủi ro.
Đối với nợ quá hạn, chi nhánh cũng đã sử dụng Quỹ Dự phòng rủi ro đã được trích lập để
xóa nợ. Đối với những tài sản xiết nợ, Agribank Đồng Tháp đã tổ chức việc tiếp nhận, bảo
quản hoặc phát mại tài sản, nhằm bù đắp một phần thiệt hại do không thu hồi được nợ.
Công tác đào tạo và đào tạo lại cán bộ luôn được ngân hàng chú trọng. Đồng thời, bộ máy
tổ chức quản lý rủi ro của ngân hàng cũng dần được hoàn thiện.
2.Khủng hoảng tài chính năm 2008. Đây là “cuộc khủng hoảng thế chấp độc hại”, khi các
ngân hàng Mỹ cho vay thế chấp để mua nhà với lãi suất cực cao và đối tượng là những
người không có khả năng thanh toán.
Ông Ben S Bernanke – Chủ tịch Hội đồng Thống đốc của Cục Dữ trữ liên bang Mỹ (Fed) tại
Hội thảo về Cơ cấu ngân hàng và cạnh tranh của Ngân hàng Fed Chicago đã đưa ra bài
học về khâu giám sát: “Khủng hoảng đã cho thấy yêu cầu phải sửa đổi cơ chế giám sát và
thông tin nội bộ của Fed. Fed đã cập nhật và đẩy mạnh quá trình phổ biến thông tin giám
sát trong hệ thống của mình nhằm thiết lập các ưu tiên giám sát, nhìn nhận các vấn đề nổi
lên và đưa ra các chỉ đạo giám sát kịp thời. Trong lĩnh vực bảo vệ người tiêu dùng, gần đây
Fed đã điều chỉnh Chương trình kiểm tra tuân thủ nhằm đảm bảo chương trình phù hợp hơn
với những diễn biến và tình hình mới của thị trường.
Thực sự là trong những thời điểm tốt, khi rủi ro thấp và tình hình tài chính sáng sủa, các bên
tham gia thị trường tài chính có thể trở nên lạc quan quá mức và phạm phải những sai lầm
đắt giá. Một phần công việc của các nhà giám sát là phải ngăn chặn được xu hướng này.
Muốn vậy, thông tin giám sát phải rõ ràng, có hiệu lực và được chuyển trực tiếp tới Hội đồng
quản trị, Quản lý cấp cao để những vấn đề nổi cộm được quan tâm đúng mức và giải quyết thỏa đáng.” => KHÔNG ĐỒNG Ý
Sau khi phân tích tín dụng của khách hàng xong, khách hàng hàng đủ điều kiện sẽ
được phê duyệt hợp đồng và tiến hành giải ngân, bước tiếp theo là giám sát quá trình
sử dụng khoản vay của khách hàng.
Mục đích của phân tích tín dụng là xác định rủi ro và những biện pháp hạn chế rủi ro
trước, trong và sau khi cấp tín dụng. Cụ thể như sau:
Hạn chế tình trạng thông tin không chính xác
Thông tin sai lệch, không chính xác sẽ khiến ngân hàng đánh giá sai về khách hàng.
Do đó dẫn tới đưa ra quyết định sai lầm trong việc lựa chọn khách hàng có tiềm ẩn rủi
ro cao hay tiềm năng, an toàn.
Nếu ngân hàng thực hiện tốt việc phân tích tín dụng trước khi cấp vốn cho vay thì
ngân hàng sẽ lựa chọn được chính xác khách hàng và giảm rủi ro tiềm ẩn.
Đánh giá chính xác nhu cầu vay vốn của khách hàng
Quá trình phân tích tín dụng cho phép chuyên viên phân tích biết được mục đích vay
vốn, nhu cầu vay vốn... của khách hàng. Đây là cơ sở để ngân hàng thiết kế các sản
phẩm tín dụng phù hợp với nhu cầu của doanh nghiệp như phương thức hoàn trả, quy
mô khoản vay, kỳ hạn hoàn trả.
Đánh giá chính xác mức độ rủi ro của khách hàng Do đó:
Khâu phân tích tín dụng là quy trình quan trọng trong ngân hàng thương mại, giúp
đánh giá khả năng trả nợ của khách hàng và xác định rủi ro trong việc cho vay. Việc
phân tích tín dụng chính xác giúp ngân hàng đảm bảo vay và cho vay một cách có
trách nhiệm, giảm thiểu rủi ro tín dụng và đảm bảo sự ổn định của hệ thống tài chính.
Vì vậy, Ngân hàng thương mại nên tập trung vào khâu phân tích tín dụng hơn là khâu
giám sát khách hàng. Ví dụ như giả sử một ngân hàng tập trung quá mức vào khâu
giám sát khách hàng mà không đảm bảo chất lượng phân tích tín dụng. Họ có thể
thông qua quá trình kiểm tra khách hàng mới, quản lý tài khoản và các biện pháp kiểm
soát rủi ro, nhưng không đánh giá đúng khả năng tài chính và khả năng trả nợ của
khách hàng. Điều này có thể dẫn đến việc cho vay cho các khách hàng có rủi ro cao,
không đủ khả năng trả nợ và dẫn đến tình trạng nợ xấu tăng lên, gây tổn thất về tài sản
và tăng rủi ro tín dụng cho ngân hàng.
Đầu tiên chúng ta nhận thấy vai trò của khâu phân tích tín dụng trong ngân hàng:
- Đối với bản thân ngân hàng: Hoạt động tín dụng là hoạt động mang lại nguồn
thu chủ yếu. Mặt khác, hoạt động tín dụng còn là cơ sở để các ngân hàng thu hút và
phát triển khách hàng. Hơn thế nữa, hoạt động tín dụng còn làm cho NHTM trở thành
một trong những trung gian tài chính quan trọng nhất của nền kinh tế.
- Đối với khách hàng vay: Hoạt động tín dụng đã đáp ứng kịp thời nhu cầu về
số lượng và chất lượng vốn cho khách hàng. Hoạt động tín dụng giúp nhà đầu tư nắm
bắt được những cơ hội kinh doanh, doanh nghiệp có vốn để mở rộng sản xuất, các cá
nhân có đủ khả năng tài chính để trang trải cho các khoản chi tiêu nâng cao chất
lượng cuộc sống. Ngoài ra, hoạt động tín dụng còn ràng buộc trách nhiệm khách hàng
phải hoàn trả gốc và lãi trong thời hạn nhất định. Quá trình phân tích tín dụng cho
phép chuyên viên phân tích biết được mục đích vay vốn, nhu cầu vay vốn... của khách
hàng. Đây là cơ sở để ngân hàng thiết kế các sản phẩm tín dụng phù hợp với nhu cầu
của doanh nghiệp như phương thức hoàn trả, quy mô khoản vay, kỳ hạn hoàn trả.
VÍ DỤ: Vụ suy thoái kinh tế năm 2008:
Trong cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008, một số ngân hàng đã gặp khó
khăn vì họ không thực hiện đúng quy trình phân tích tín dụng. Nhiều ngân hàng đã
cấp cho vay một cách không có trách nhiệm, không đánh giá đúng khả năng trả nợ của
khách hàng. Điều này dẫn đến việc cho vay cho những khách hàng không đủ khả năng
trả nợ và tạo ra một làn sóng nợ xấu. Đây là một ví dụ rõ ràng về việc tập trung vào
khâu phân tích tín dụng có thể giảm thiểu rủi ro và tránh được những tình huống khủng hoảng tài chính.
- Đối với nền kinh tế: +Hoạt động tín dụng góp phần điều hòa dòng vốn trong nền
kinh tế. Theo đó, vốn sẽ được chuyển từ những đối tượng chưa có nhu cầu sử dụng
sang những người đang có nhu cầu về vốn.
+Trong trường hợp nền kinh tế không ổn định, chính phủ có thể vay vốn từ các nước
phát triển hay tổ chức tín dụng thế giới để ổn định nền kinh tế quốc gia. Mặt khác, để
kích thích tiêu dùng hay xử lý khó khăn mà các cuộc khủng hoảng kinh tế gây ra,
chính phủ cũng có thể áp dụng chính sách giảm lãi suất cho vay trong hoạt động tín dụng.
+ Tín dụng NHTM góp phần thúc đẩy sản xuất và lưu thông hàng hóa phát triển, là
kênh truyền tải vốn tài trợ của nhà nước đến nông nghiệp, nông thôn, góp phần xóa
đói giảm nghèo, ổn định chính trị, xã hội. Mặt khác, tín dụng NHTM còn giúp phân
bổ hiệu quả các nguồn lực tài chính trong nền kinh tế, đồng thời thúc đẩy sự phát triển
của các ngành, nghề, khu vực kinh tế trọng điểm. VD: Các chương trình tín dụng
chính sách phát huy hiệu quả tích cực, góp phần xóa đói giảm nghèo, hỗ trợ người dân
vượt qua khó khăn do ảnh hưởng của đại dịch Covid-19. Theo Ngân hàng Chính sách
xã hội, trong 9 tháng năm 2022, vốn tín dụng chính sách xã hội đã hỗ trợ, tạo việc làm
cho trên 660 nghìn lao động, giúp trên 4,9 nghìn lao động đi làm việc có thời hạn ở
nước ngoài; giúp trên 17 nghìn học sinh, sinh viên có hoàn cảnh khó khăn vay vốn
học tập: Giải ngân cho hơn 82 nghìn hộ gia đình vay vốn mua máy vi tính, thiết bị học
tập; giúp gần 1,1 nghìn doanh nghiệp vay vốn để phục hồi sản xuất, kinh doanh, trả
lương cho trên 155 nghìn người lao động bị ảnh hưởng dịch Covid-19; xây dựng
khoảng 1.140 nghìn công trình nước sạch, công trình vệ sinh; xây dựng hơn 01 nghìn
căn nhà ở cho hộ nghèo ổn định cuộc sống, hơn 07 nghìn căn nhà ở xã hội cho các đối
tượng thu nhập thấp...Theo Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN), tín dụng tăng
ngay từ đầu năm, phù hợp với diễn biến tích cực hơn của nền kinh tế so với cùng kỳ
năm trước. Tăng trưởng tín dụng đến cuối tháng 10/2022 đạt 11,5% so với cuối năm
2021, góp phần hỗ trợ doanh nghiệp và nền kinh tế phục hồi khả quan trong các tháng
qua. Trong bối cảnh giải ngân vốn đầu tư công gặp nhiều khó khăn thì mức tăng
trưởng tín dụng thời gian qua đã góp phần đáp ứng yêu cầu tăng trưởng kinh tế.
MỘT SỐ VÍ DỤ cho thấy rõ rằng khi ngân hàng tập trung quá mức vào khâu giám sát
khách hàng mà không chú trọng đến khâu phân tích tín dụng, những rủi ro tín dụng có
thể không được định rõ và điều này có thể dẫn đến những hậu quả đáng tiếc như sụp
đổ ngân hàng, khủng hoảng tài chính, và mất mát lớn cho hệ thống tài chính:
- Vụ sụp đổ của Ngân hàng Lehman Brothers vào năm 2008 là một ví dụ nổi tiếng về
hậu quả của việc không tập trung đúng mức vào khâu phân tích tín dụng. Ngân hàng
này đã đầu tư một cách không kiểm soát và không có đánh giá rủi ro tín dụng đầy đủ
trong các sản phẩm tài chính phức tạp như các giấy nợ gắn liền với tài sản. Khi các rủi
ro tiềm ẩn không được xác định và quản lý đúng mức, ngân hàng đã phá sản, gây ra sự
chấn động mạnh mẽ trong hệ thống tài chính toàn cầu.
- Thị trường bất động sản Mỹ năm 2005-2006:
Trong giai đoạn này, nhiều ngân hàng đã tập trung vào việc cung cấp các khoản vay
mua nhà một cách quá mức và thiếu cẩn trọng trong việc phân tích tín dụng. Họ không
đủ chặt chẽ trong việc đánh giá khả năng tài chính của khách hàng và cung cấp các
khoản vay có thể vượt quá khả năng trả nợ của họ. Khi thị trường bất động sản suy
giảm và nhiều khách hàng không thể trả nợ, ngân hàng phải đối mặt với một làn sóng
nợ xấu và mất hàng tỷ đô la.
- Vào năm 2007, ngân hàng Northern Rock ở Anh đã gặp khó khăn nghiêm trọng khi
vụ khủng hoảng tín dụng bùng nổ. Ngân hàng này đã tập trung quá mức vào việc cung
cấp các khoản vay thế chấp và không đảm bảo đủ kiểm soát và phân tích tín dụng. Họ
cho vay một cách rộng rãi và thiếu cẩn trọng, bỏ qua việc xác định khả năng tài chính
của khách hàng. Khi thị trường bất động sản sụp đổ và nhiều khách hàng không thể trả
nợ, ngân hàng đã phải đối mặt với sự rút tiền hàng loạt của khách hàng và gặp khó khăn về thanh khoản.
Vụ việc này là một minh chứng rõ ràng cho việc ko tập trung vào khâu phân tích tín
dụng. Nếu ngân hàng Northern Rock đã thực hiện đúng quy trình phân tích tín dụng
và đánh giá đúng khả năng trả nợ của khách hàng, họ có thể giảm thiểu rủi ro nợ xấu
và đảm bảo tính ổn định tài chính trong môi trường kinh tế không ổn định.
Nội dung của phân tích tín dụng
Trong phân tích tín dụng sẽ bao gồm 4 nội dung cơ bản như sau:
Thu thập và xử lý thông tin: Đây nội dung quan trọng, quyết định tính chính xác của
các hoạt động phân tích tiếp theo. Công việc này sẽ được thực hiện thông qua các
nguồn như: hồ sơ đề nghị cấp tín dụng của khách hàng, thông tin lưu trữ tại ngân
hàng, thông tin từ phỏng vấn và điều tra, và từ một số nguồn khác. Tổ chức tín dụng
sẽ đánh giá các nguồn thông tin, đối chiếu, so sánh các thông tin quá khứ, hiện tại từ
nhiều nguồn khác nhau để lựa chọn các thông tin chính xác nhất.
Phân tích khách hàng: Tùy vào loại đối tượng khách hàng để thực hiện phân tích. Theo đó:
Đánh giá tài sản: Với khách hàng doanh nghiệp sẽ thông qua bảng cân đối kế toán.
Với hộ kinh doanh/cá nhân sẽ thông qua các thông tin về tình hình kinh doanh, tài
sản cá nhân, lương và các thu nhập khác.
●Đánh giá các khoản nợ: Tổ chức tín dụng sẽ quan tâm đến tất cả các khoản
nợ của khách hàng như nợ cũ, nợ ngân hàng khác, nợ người lao động, nợ
người cung cấp... Ngoài ra tổ chức tín dụng cũng quan tâm đến các khoản nợ
ưu đãi, nợ có đảm bảo và các khoản nợ khác.
●Phân tích doanh thu, chi phí: Áp dụng chủ yếu đối với khách hành doanh nghiệp.
●Phân tích luồng tiền: Tổ chức tín dụng sẽ phải dự tính các dòng tiền để xác
định dòng tiền trả nợ cho ngân hàng.
●Phân tích tài chính: Sử dụng các tỷ lệ tài chính để đánh giá tình hình khách hàng.
- Thẩm định phương án - dự án vay vốn: Tổ chức tín dụng sẽ đánh giá khách hàng có
khả năng thực hiện được phương án kinh doanh hay không, thực hiện như thế nào và
kết quả ra sao. Khách hàng có trả được nợ hay không, có nguồn trả nợ thực tế không
hay phụ thuộc và dự án, phương án kinh doanh... Cho nên công việc này rất quan
trọng đối với công tác cho vay của các tổ chức tín dụng.
- Phân tích tài sản đảm bảo: Công việc này sẽ tập trung vào việc đánh giá một cách
chính xác khả năng thanh lý các tài sản bảo đảm khi cần thiết. Nội dung của thẩm
định tài sản bảo đảm chủ yếu tập trung vào khía cạnh pháp lý của tài sản, khả năng
thanh lý tài sản đó theo giá trị thị trường và khả năng kiểm soát tài sản của ngân hàng
Quy trình phân tích tín dụng
Quy trình phân tích tín dụng thông thường được thực hiện theo 2 phần cơ bản như sau:
Phân tích các thông tin cơ sở
Yếu tố cần thiết để thực hiện quy trình phân tích tín dụng là thông tin. Chất lượng
thông tin thể hiện ở ba thuộc tính như: kịp thời, đầy đủ, chính xác.
Những thông tin này được thu thập từ:
●Hồ sơ đề nghị cấp tín dụng của khách hàng.
●Hồ sơ lưu trữ tại ngân hàng.
●Những nguồn khác: bạn hàng và đối thủ cạnh tranh của khách hàng, báo chí, các ấn bản kinh tế.
Mục đích là để nắm rõ các thông tin về đối tượng dự định cấp tín dụng.
Tiến hành phân tích tín dụng
Trong phần này sẽ tập trung vào hai nội dung cơ bản là:
- Đánh giá khách hàng vay vốn: Việc đánh giá này thông thường được thực hiện trong
tương quan với ngành kinh doanh mà khách hàng đang thực hiện. Bước này sẽ giúp
chuyên viên phân tích tín dụng hiểu được vị trí hiện tại của khách hàng, áp lực cạnh
tranh trong ngành và dự đoán được các rủi ro có thể xảy ra...
- Phân tích dòng tiền: Bước này chủ yếu phục vụ cho quá trình thu hồi vốn vay
sau này của tổ chức tín dụng. Thông qua bước phân tích dòng tiền, bạn cần tìm
kiếm và đánh giá các nguồn thu của doanh nghiệp dựa trên cơ sở những thông tin
như báo cáo tài chính, nguyên tắc kế toán, các tài sản của doanh nghiệp... Bước phân
tích này nhằm đảm bảo khả năng hoàn trả của khách hàng trong tương lai.