ToàncảnhhệthốngngânhàngthươngmạiViệtNam
Mởđầu
Ngân hàng thương mại là loại ngân hàng trực tiếp giao dịch với các công ty, xí nghiệp, tổ
chức kinh tế, các cơ quan đoàn thể và các cá nhân … bằng việc nhận tiền gửi, tiền tiết
kiệm rồi sử dụng số vốn đó để cho vay, chiết khấu, cung cấp các phương tiện thanh toán
và cung ứng các dịch vụ ngân hàng.
1. Sơlượcvềlịchsửrađời,giaiđoạnpháttriểncủaNgânhàngthươngmại
Lịch sử ra đời
Việc lưu hành những đồng tiền riêng của mỗi quốc gia hoặc vùng lãnh thổ kết hợp với
thương mại và giao lưu quốc tế tạo ra yêu cầu đúc tiền và đổi tiền tại mỗi cửa khẩu
hoặc trung tâm thương mại.
Người làm nghề đổi tiền thường giàu có vì vậy họ thường có két tốt để cất giữ tài sản
đảm bảo an toàn. Do yêu cầu cất trữ của các nhà buôn... nhiều người làm nghề đổi
tiền thực hiện luôn cả nghiệp vụ cất giữ hộ.
Việc cất giữ hộ và đổi tiền làm tăng thu nhập, tăng khả năng đa dạng các loại tiền,
tăng quy mô tài sản của người kinh doanh tiền tệ.
Từ các hoạt động thực tiễn, nhà kinh doanh tiền tệ nhận thấy thường xuyên có người
gửi tiền vào và có người lấy tiền ra, song tất cả người gửi tiền không rút cùng một lúc
nên đã tạo ra số dư thường xuyên ở trong két.
Do tính chất vô danh của đồng tiền, nhà kinh doanh tiền tệ có thể sử dụng tạm thời
một phần tiền gửi của khách hàng để cho vay nhằm mục đích kiếm lời và trở thành
nhà kinh doanh ngân hàng
Các nhà kinh doanh tiền tệ đầu tiên dùng vốn tự có của mình để tài trợ cho hoạt động
của họ ngân hàng tư nhân, nhưng điều này không kéo dài một số các nhà kinh doanh
tiền tệ tập hợp nhau để chống lại tín dụng nặng lãi như đã nghiên cứu ở chương trước,
lập nên những hiệp hội tín dụng vừa phải hình thành các ngân hàng cổ phần.
Giai đoạn phát triển
- Từ thế kỷ 15 - 18: Hoạt động của các ngân hàng nhìn chung là tương tự nhau: Phát
hành tiền; Nhận tiền gửi; Cho vay.
- Từ thế kỷ 18 - đầu thế kỷ 19: manh nha hình thành các ngân hàng hoạt động
chuyên doanh như ngân hàng phát hành tiền; ngân hàng tiết kiệm, ngân hàng đầu tư.
- Từ cuối TK 19 đến nay, hệ thống ngân hàng hiện đại đã có những bước phát triển
mới và hoàn thiện thực sự. Hình thành hệ thống ngân hàng 2 cấp: ngân hàng trung
ương là ngân hàng phát hành tiền và thực hiện xây dựng, quản lý chính sách tiền tệ
quốc gia; ngân hàng thương mại thực hiện cung cấp các dịch vụ tài chính trên cơ sở
có lợi nhuận.
Trong giai đoạn này, với xu hướng quốc tế hóa kinh tế - tài chính cũng như sự phát
triển của các ngân hàng không những làm gia tăng số lượng các ngân hàng mà còn
làm tăng quy mô của mỗi ngân hàng. Tích tụ và tập trung vốn đã tạo ra các công ty
ngân hàng cực lớn với số vốn tự có hàng chục tỷ USD.
Quá trình phát triển của ngân hàng đang tạo ra mối liên hệ ràng buộc ngày càng chặt
chẽ, sự phụ thuộc lẫn nhau ngày càng lớn giữa chúng. Các hoạt động ngân hàng
xuyên quốc gia và đa quốc gia đã và đang thúc đẩy hình thành các hiệp hội, các tổ
chức liên kết các ngân hàng nhằm tạo ra các chính sách chung, hoặc tương thích để
kiểm soát chung, để kết nối và tạo sự thống nhất trong điều hành và vận hành hệ
thống ngân hàng trong mỗi quốc gia, khu vực và quốc tế.
2.Quymô(sốlượngngânhàng,tổngtàisản,cáclĩnhvựchoạtđộngchínhnhưhuy
độngvàchovay)
Tại Việt Nam, hiện có khoảng 30 ngân hàng thương mại hoạt động trên cả nước.
Tổng tài sản của các ngân hàng này vào cuối năm 2020 là khoảng 11.000 tỷ
đồng.
Các lĩnh vực hoạt động chính của ngân hàng thương mại bao gồm huy động vốn
và cho vay. Huy động vốn là được ngân hàng thu nhập từ việc tiếp nhận tiền gửi
của khách hàng thông qua các sản phẩm như tiết kiệm, kỳ hạn, tiền gửi không kỳ
hạn... Cho vay là khoản tiền mà ngân hàng cung cấp cho khách hàng theo nhu cầu
của họ, với mục đích mua nhà, mua ô tô, vay vốn để kinh doanh hoặc vay tiêu
dùng.
Trong các lĩnh vực hoạt động chính của ngân hàng thương mại huy động vốn
chiếm tỷ trọng lớn hơn so với cho vay. Tuy nhiên, cho vay vai trò quan trọng trong
việc tăng trưởng kinh tế của đất nước.
3.Cơcấu/phânloại,đặcđiểmhoạtđộngchínhcủangânhàngthươngmại
3.1 Phân loại
Dựavàohìnhthứcsởhữu
Dựa vào hình thức sở hữu thì ngân hàng được chia thành 5 loại:
Ngân hàng thương mại quốc doanh: Ngân hàng được thành lập từ 100% nguồn
vốn nhà nước. Hiện nay trong xu hướng kinh tế hội nhập, các ngân hàng quốc
doanh có nhiều chính sách để tăng vốn, tăng giá trị ngân hàng như phát hành trái
phiếu, cổ phần hóa ngân hàng. Đây là hình thức ngân hàng giữ vai trò quan trọng
trong chuỗi mắc xích các ngân hàng của nước ta. Vì có 100% vốn thuộc ngân sách
nhà nước, các ngân hàng này hoạt động dưới sự quản lý của Nhà nước và ngoài
các hoạt động thông thường, các ngân hàng này còn phải thực hiện các nhiệm vụ
mà nhà nước giao cho. Một số ngân hàng thương mại quốc doanh:
Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn (Agribank)
Ngân hàng ngoại thương Việt Nam (Vietcombank)
Ngân hàng công thương Việt Nam (Vietinbank)
Ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam (BIDV)
Ngân hàng thương mại cổ phần: được thành lập từ việc góp vốn kinh doanh của
các cổ đông, doanh nghiệp. Trong đó mỗi cá nhân hay công ty chỉ được sở hữu
một số lượng cổ phần giới hạn theo quy định của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.
Một số ngân hàng thương mại cổ phần ở Việt Nam:
Ngân hàng thương mại cổ phần Á Châu (ACB)
Ngân hàng thương mại cổ phần Đông Á (DongA Bank)
Ngân hàng thương mại cổ phần Phương Đông (OCB)
Ngân hàng thương mại cổ phần Quân đội (MB Bank)
Ngân hàng liên doanh: Ngân hàng này được thành lập theo hình thức góp vốn liên
doanh giữa ngân hàng Việt Nam và ngân hàng nước ngoài, trong đó tỷ lệ góp của
đối tác nước ngoài không quá 50%, trụ sở làm việc chính ở Việt Nam và dưới sự
quản lý của pháp luật Việt Nam. Một số ngân hàng liên doanh ở Việt Nam:
Ngân hàng Việt Nga (VRB)
Indovina Bank Limited (IVB)
Vinasiam Bank (VSB)
Vid Public Bank (VID)
Ngân hàng 100% vốn nước ngoài: Ngân hàng có số vốn 100% từ nguồn vốn nước
ngoài, được thành lập dựa trên những quy định của pháp luật Việt Nam, có đầy đủ
các quyền như một ngân hàng cung cấp các dịch vụ cho thị trường Việt Nam, thời
gian hoạt động không quá 99 năm. Một số ngân hàng thương mại vốn 100% nước
ngoài ở Việt Nam:
Ngân hàng TNHH một thành viên HSBC
Ngân hàng TNHH một thành viên Hongleong
Ngân hàng TNHH một thành viên ANZ
Ngân hàng TNHH một thành viên Standard Chartered
Ngân hàng chi nhánh nước ngoài: Ngân hàng được thành lập 100% vốn nước
ngoài theo luật pháp nước ngoài và được phép hoạt động tại Việt Nam. Một số
ngân hàng chi nhánh nước ngoài ở Việt Nam:
CitibankBangkok BankShinhan
BankDeutsche Bank
Dựavàochiếnlượckinhdoanh:
Ngân hàng thương mại bán buôn: Những ngân hàng này nhắm tới đối tượng khách
hàng là những doanh nghiệp, công ty tài chính lớn, các tập đoàn kinh tế, rất ít khi
có giao dịch với khách hàng cá nhân. Danh mục sản phẩm dịch vụ của các ngân
hàng này thường không đa dạng nhưng giá trị từng giao dịch rất lớn.
Ngân hàng thương mại bán lẻ: Là những ngân hàng cung cấp dịch vụ cho tập
khách hàng cá nhân, các công ty vừa và nhỏ. Các ngân hàng thường hướng tới đa
dạng hóa danh mục sản phẩm dịch vụ để đáp ứng được những nhu cầu của khách
hàng. Giá trị mỗi giao dịch thường không lớn nhưng có số lượng giao dịch cao.
Ngân hàng thương mại vừa bán buôn vừa bán lẻ: Những ngân hàng thực hiện cả
hai hoạt động vừa bán buôn vừa bán lẻ nghĩa là tập khách hàng mục tiêu của
những ngân hàng này là tất cả các dạng khách hàng.Ngoài ra còn có dạng ngân
hàng khác như: Ngân hàng đầu tư, ngân hàng phát triển, ngân hàng chính sách,
ngân hàng hợp tác.
Dựavàotínhchấthoạtđộng
Ngân hàng chuyên doanh: là loại ngân hàng chỉ hoạt động chuyên về một lĩnh vực
nhất định như nông nghiệp, xuất nhập khẩu, đầu tư…
Ngân hàng kinh doanh tổng hợp: là loại ngân hàng hoạt động ở tất cả các lĩnh vực
kinh tế và thực hiện gần như tất cả các nghiệp vụ phát sinh mà một ngân hàng
được phép thực hiện theo quy định của pháp luật.
3.2 Đặc điểm
Là doanh nghiệp có quy mô lớn, hệ số nợ rất cao và cấu trúc tài sản đặc biệt
Ngân hàng thương mại là doanh nghiệp có quy mô lớn trên cả giác độ vốn
chủ sở hữu và tổng tài sản. Ở Việt Nam, vốn chủ sở hữu của các Ngân hàng
thương mại là hàng nghìn tỷ đồng. đối với các Ngân hàng thương mại trên
thế giới, vốn chủ sở hữu lên tới nhiều tỷ đô la Mỹ.
Mạng lưới các chi nhánh Ngân hàng thường rất lớn và phân tán rộng về địa
lý. Trong khi quy mô về vốn chủ sở hữu đã rất lớn, nguồn vốn của Ngân
hàng thương mại lại chủ yếu là nợ được huy động từ bên ngoài Ngân hàng.
Cấu trúc tài sản của Ngân hàng thương mại đặc biệt hơn so với các doanh
nghiệp sản xuất, kinh doanh khác là ở tỷ trọng tài sản tài chính.
Phần lớn tài sản của Ngân hàng thương mại là tài sản tài chính, mang đặc
trưng trừu tượng, hình thái vật chất giản đơn chỉ là giấy tờ hoặc thậm chí
chỉ là dữ liệu điện tử được lưu giữ trong một thiết bị nhất định. Bên cạnh
đó, Ngân hàng thương mại thường có xu hướng liên tục phát triển các sản
phẩm, công cụ tài chính mới.
Luôn chứa đựng nhiều rủi ro và chịu sự kiểm soát, giám sát chặt chẽ của hệ thống
luật pháp
Trên giác độ tài chính doanh nghiệp, doanh nghiệp có hệ số nợ cao sẽ dẫn
đến rủi ro trong hoạt động cũng cao. Bên cạnh đó, nguồn vốn nợ chủ yếu
của Ngân hàng thương mại lại là tiền gửi với đặc trưng có thể bị rút ra trước
hạn với khối lượng khó xác định. Sản phẩm, dịch vụ Ngân hàng không
được hưởng quy chế bảo hộ độc quyền và mang tính phức tạp, trực tiếp.
Hơn nữa, Ngân hàng thương mại tham gia vào nhiều cam kết trong khi
chưa chuyển giao vốn thực sự, tức là hoạt động ngoại bảng phong phú và
đa dạng. điểm này là một đặc trưng khác biệt với các loại hình doanh
nghiệp khác.
Vì những lý do này, hoạt động của Ngân hàng thương mại chứa đựng nhiều
rủi ro hơn các ngành kinh doanh khác. Rủi ro trong hoạt động của Ngân
hàng thương mại đa dạng, ở mức độ cao, tích luỹ nhanh và dễ lây lan. Rủi
ro trong hoạt động của Ngân hàng thương mại bao gồm các loại rủi ro đặc
thù như rủi ro tín dụng, rủi ro thanh khoản, rủi ro lãi suất, rủi ro ngoại hối,
rủi ro vốn khả dụng, rủi ro đạo đức,…
Là doanh nghiệp có quy mô lớn, mạng lưới rộng khắp, hoạt động chịu
nhiều rủi ro, ảnh hưởng đáng kể đến nhiều hoạt động kinh tế xã hội, Ngân
hàng thương mại chịu sự kiểm soát, giám sát chặt chẽ của hệ thống pháp
luật.
Các quy định pháp lý đối với Ngân hàng thương mại được phổ rộng trên
nhiều mặt của hoạt động kinh doanh như: điều kiện kinh doanh, tiêu chuẩn
của người lãnh đạo NH, dự trữ bắt buộc, bảo hiểm tiền gửi, an toàn trong
hoạt động, phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro, sử dụng vốn tự có đầu
tư cho tài sản cố định,…
Tính liên kết và ổn định của hệ thống Ngân hàng
Hệ thống Ngân hàng có tính phụ thuộc lẫn nhau rất lớn. Hơn bất cứ ngành
kinh doanh nào trong nền kinh tế, rủi ro trong hoạt động Ngân hàng có tính
lan tỏa rất nhanh. Hoạt động như một hệ thống các mắt xích liên kết chặt
chẽ, chỉ cần một ngân hàng thương mại, dù yếu và nhỏ nhất, gặp khó khăn
trong hoạt động, đặc biệt là khó khăn về thanh khoản, là có thể dẫn đến
nguy cơ phá sập hệ thống.
Thực tiễn đã cho thấy, thanh khoản được ví như hơi thở của sự sống của
hoạt động ngân hàng thương mại. Mọi rủi ro, tổn thất trong hoạt động của
ngân hàng thương mại đều có thể dẫn đến hậu quả cuối cùng là Ngân hàng
mất khả năng thanh toán rồi phá sản.
Hệ thống Ngân hàng – tài chính trong nền kinh tế rất nhạy cảm với mọi
biến động về kinh tế, kỹ thuật, chính trị và xã hội. Những biến động này
thường có tác động gần như tức thời đến hoạt động của thị trường tài chính,
điển hình là thị trường chứng khoán, theo đó, nó gây ảnh hưởng trực tiếp
đến hoạt động của hệ thống Ngân hàng.
Đối với công tác quản lý vĩ mô nền kinh tế, việc nắm bắt được cơ chế hoạt
động, ảnh hưởng lẫn nhau của các phần tử trong hệ thống tài chính là một
trong những vấn đề cốt yếu, quyết định thành bại.
3.3 Các hoạt động của ngân hàng thương mại
Hoạt động ngân hàng của ngân hàng thương mại
- Nhận tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm và các
loại tiền gửi khác.
- Phát hành chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu, tín phiếu, trái phiếu để huy động
vốn trong nước và nước ngoài.
- Cấp tín dụng.
- Mở tài khoản thanh toán cho khách hàng.
- Cung ứng các phương tiện thanh toán.
- Cung ứng các dịch vụ thanh toán
Vay vốn của Ngân hàng nhà nước
Ngân hàng thương mại được vay vốn của Ngân hàng Nhà nước dưới hình
thức tái cấp vốn theo quy định của Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.
Vay vốn của tổ chức tín dụng, tổ chức tài chính
Ngân hàng thương mại được vay vốn của tổ chức tín dụng, tổ chức tài
chính trong nước và nước ngoài theo quy định của pháp luật.
Mở tài khoản
- Ngân hàng thương mại phải mở tài khoản tiền gửi tại Ngân hàng Nhà
nước và duy trì trên tài khoản tiền gửi này số dư bình quân không thấp
hơn mức dự trữ bắt buộc.
- Ngân hàng thương mại được mở tài khoản thanh toán tại tổ chức tín
dụng khác.
-Ngân hàng thương mại được mở tài khoản tiền gửi, tài khoản thanh toán
ở nước ngoài theo quy định của pháp luật về ngoại hối.
Tổ chức và tham gia các hệ thống thanh toán
-Ngân hàng thương mại được tổ chức thanh toán nội bộ, tham gia hệ
thống thanh toán liên ngân hàng quốc gia.
-Ngân hàng thương mại được tham gia hệ thống thanh toán quốc tế sau
khi được Ngân hàng Nhà nước chấp thuận.
Góp vốn, mua cổ phần
- (1) Ngân hàng thương mại chỉ được dùng vốn điều lệ và quỹ dự trữ để
góp vốn, mua cổ phần theo quy định tại (2), (3), (4) và (6) mục này.
- (2) Ngân hàng thương mại phải thành lập hoặc mua lại công ty con, công
ty liên kết để thực hiện hoạt động kinh doanh sau đây:
Bảo lãnh phát hành chứng khoán, môi giới chứng khoán; quản lý, phân
phối chứng chỉ quỹ đầu tư chứng khoán; quản lý danh mục đầu tư chứng
khoán và mua, bán cổ phiếu;
Cho thuê tài chính;
Bảo hiểm.
- (3) Ngân hàng thương mại được thành lập, mua lại công ty con, công ty
liên kết hoạt động trong lĩnh vực quản lý nợ và khai thác tài sản, kiều hối,
kinh doanh ngoại hối, vàng, bao thanh toán, phát hành thẻ tín dụng, tín
dụng tiêu dùng, dịch vụ trung gian thanh toán, thông tin tín dụng.
- (4) Ngân hàng thương mại được góp vốn, mua cổ phần của doanh nghiệp
hoạt động trong các lĩnh vực sau đây:
Bảo hiểm, chứng khoán, kiều hối, kinh doanh ngoại hối, vàng, bao thanh
toán, phát hành thẻ tín dụng, tín dụng tiêu dùng, dịch vụ trung gian thanh
toán, thông tin tín dụng;
Lĩnh vực khác không thuộc lĩnh vực bảo hiểm, chứng khoán, kiều hối, kinh
doanh ngoại hối, vàng, bao thanh toán, phát hành thẻ tín dụng, tín dụng tiêu
dùng, dịch vụ trung gian thanh toán, thông tin tín dụng.
- (5) Việc thành lập, mua lại công ty con, công ty liên kết theo quy định tại
(2) và (3) và việc góp vốn, mua cổ phần của ngân hàng thương mại tại các
lĩnh vực khác ở mục (4) phải được sự chấp thuận trước bằng văn bản của
Ngân hàng Nhà nước.
Ngân hàng Nhà nước quy định cụ thể điều kiện, hồ sơ, trình tự, thủ tục chấp
thuận.
Điều kiện, thủ tục và trình tự thành lập công ty con, công ty liên kết của
ngân hàng thương mại thực hiện theo quy định của pháp luật có liên quan.
- (6) Ngân hàng thương mại, công ty con của ngân hàng thương mại được
mua, nắm giữ cổ phiếu của tổ chức tín dụng khác với điều kiện và trong
giới hạn quy định của Ngân hàng Nhà nước.
Tham gia thị trường tiền tệ
Ngân hàng thương mại được tham gia đấu thầu tín phiếu Kho bạc, mua, bán
công cụ chuyển nhượng, trái phiếu Chính phủ, tín phiếu Kho bạc, tín phiếu
Ngân hàng Nhà nước và các giấy tờ có giá khác trên thị trường tiền tệ.
Kinh doanh, cung ứng dịch vụ ngoại hối và sản phẩm phái sinh
- Sau khi được Ngân hàng Nhà nước chấp thuận bằng văn bản, ngân hàng
thương mại được kinh doanh, cung ứng dịch vụ cho khách hàng ở trong
nước và nước ngoài các sản phẩm sau đây:
Ngoại hối
Phái sinh về tỷ giá, lãi suất, ngoại hối, tiền tệ và tài sản tài chính khác.
- Ngân hàng Nhà nước quy định về phạm vi kinh doanh ngoại hối; điều
kiện, trình tự, thủ tục chấp thuận việc kinh doanh ngoại hối; kinh doanh,
cung ứng sản phẩm phái sinh của ngân hàng thương mại
- Việc cung ứng dịch vụ ngoại hối của ngân hàng thương mại cho khách
hàng thực hiện theo quy định của pháp luật về ngoại hối.
Nghiệp vụ ủy thác và đại lý
Ngân hàng thương mại được quyền ủy thác, nhận ủy thác, đại lý trong lĩnh
vực liên quan đến hoạt động ngân hàng, kinh doanh bảo hiểm, quản lý tài
sản theo quy định của Ngân hàng Nhà nước.
Các hoạt động kinh doanh khác của ngân hàng thương mại
Dịch vụ quản lý tiền mặt, tư vấn ngân hàng, tài chính; các dịch vụ quản lý,
bảo quản tài sản, cho thuê tủ, két an toàn.
Tư vấn tài chính doanh nghiệp, tư vấn mua, bán, hợp nhất, sáp nhập doanh
nghiệp và tư vấn đầu tư.
Mua, bán trái phiếu Chính phủ, trái phiếu doanh nghiệp.
Dịch vụ môi giới tiền tệ.
Lưu ký chứng khoán, kinh doanh vàng và các hoạt động kinh doanh khác
liên quan đến hoạt động ngân hàng sau khi được Ngân hàng Nhà nước chấp
thuận bằng văn bản.
4. Xu hướng phát triển trong những năm gần đây
Các xu hướng phát triển của ngân hàng thương mại trong những năm gần đây
bao gồm:
Kỹ thuật số hóa: Ngân hàng thương mại tập trung vào kỹ thuật số hóa các
dịch vụ của mình bao gồm các ứng dụng di động, truy cập trực tuyến và các
giải pháp thanh toán điện tử để đáp ứng nhu cầu của khách hàng trong việc
quản lý tài chính hàng ngày.
Tăng cường tính cá nhân hóa: Ngân hàng thương mại tập trung vào tính cá
nhân hóa để đáp ứng nhu cầu đa dạng của khách hàng thông qua việc phát
triển các sản phẩm và dịch vụ đặc biệt được thiết kế riêng cho từng khách
hàng.
Tập trung vào năng lực quản lý rủi ro: Ngân hàng thương mại tăng cường
khả năng quản lý dự do trong hoạt động kinh doanh của mình, đặc biệt là
trong việc bảo vệ thông tin khách hàng và đảm bảo an toàn cho các giao
dịch tài chính.
Mở rộng quy mô hoạt động toàn cầu: Ngân hàng thương mại đã tập trung
mở rộng quy mô hoạt động toàn cầu để tận dụng các cơ hội kinh doanh mới
và đáp ứng nhu cầu của khách hàng ở các thị trường mới.
Phát triển các dịch vụ tài chính mới: tóm lại đăng liên tục phát triển các
dịch vụ tài chính mới, bao gồm các sản phẩm về đầu tư bảo hiểm, vay
mượn và tài chính doanh nghiệp để đáp ứng nhu cầu khách hàng ngày càng
đa dạng phức tạp hơn.
Tài liệu tham khảo
https://chanhtuoi.com/ngan-hang-thuong-mai-la-gi-p8893.html
https://luanvan24.com/ngan-hang-thuong-mai-la-gi/
https://kdtqt.duytan.edu.vn/Home/ArticleDetail/vn/33/2750/lich-su-hinh-thanh-va-phat-
trien-cua-ngan-hang-thuong-mai-phan-1

Preview text:

ToàncảnhhệthốngngânhàngthươngmạiViệtNam Mởđầu
Ngân hàng thương mại là loại ngân hàng trực tiếp giao dịch với các công ty, xí nghiệp, tổ
chức kinh tế, các cơ quan đoàn thể và các cá nhân … bằng việc nhận tiền gửi, tiền tiết
kiệm rồi sử dụng số vốn đó để cho vay, chiết khấu, cung cấp các phương tiện thanh toán
và cung ứng các dịch vụ ngân hàng.
1. Sơlượcvềlịchsửrađời,giaiđoạnpháttriểncủaNgânhàngthươngmại Lịch sử ra đời
Việc lưu hành những đồng tiền riêng của mỗi quốc gia hoặc vùng lãnh thổ kết hợp với
thương mại và giao lưu quốc tế tạo ra yêu cầu đúc tiền và đổi tiền tại mỗi cửa khẩu
hoặc trung tâm thương mại.
Người làm nghề đổi tiền thường giàu có vì vậy họ thường có két tốt để cất giữ tài sản
đảm bảo an toàn. Do yêu cầu cất trữ của các nhà buôn... nhiều người làm nghề đổi
tiền thực hiện luôn cả nghiệp vụ cất giữ hộ.
Việc cất giữ hộ và đổi tiền làm tăng thu nhập, tăng khả năng đa dạng các loại tiền,
tăng quy mô tài sản của người kinh doanh tiền tệ.
Từ các hoạt động thực tiễn, nhà kinh doanh tiền tệ nhận thấy thường xuyên có người
gửi tiền vào và có người lấy tiền ra, song tất cả người gửi tiền không rút cùng một lúc
nên đã tạo ra số dư thường xuyên ở trong két.
Do tính chất vô danh của đồng tiền, nhà kinh doanh tiền tệ có thể sử dụng tạm thời
một phần tiền gửi của khách hàng để cho vay nhằm mục đích kiếm lời và trở thành nhà kinh doanh ngân hàng
Các nhà kinh doanh tiền tệ đầu tiên dùng vốn tự có của mình để tài trợ cho hoạt động
của họ ngân hàng tư nhân, nhưng điều này không kéo dài một số các nhà kinh doanh
tiền tệ tập hợp nhau để chống lại tín dụng nặng lãi như đã nghiên cứu ở chương trước,
lập nên những hiệp hội tín dụng vừa phải hình thành các ngân hàng cổ phần. Giai đoạn phát triển
- Từ thế kỷ 15 - 18: Hoạt động của các ngân hàng nhìn chung là tương tự nhau: Phát
hành tiền; Nhận tiền gửi; Cho vay.
- Từ thế kỷ 18 - đầu thế kỷ 19: manh nha hình thành các ngân hàng hoạt động
chuyên doanh như ngân hàng phát hành tiền; ngân hàng tiết kiệm, ngân hàng đầu tư.
- Từ cuối TK 19 đến nay, hệ thống ngân hàng hiện đại đã có những bước phát triển
mới và hoàn thiện thực sự. Hình thành hệ thống ngân hàng 2 cấp: ngân hàng trung
ương là ngân hàng phát hành tiền và thực hiện xây dựng, quản lý chính sách tiền tệ
quốc gia; ngân hàng thương mại thực hiện cung cấp các dịch vụ tài chính trên cơ sở có lợi nhuận.
Trong giai đoạn này, với xu hướng quốc tế hóa kinh tế - tài chính cũng như sự phát
triển của các ngân hàng không những làm gia tăng số lượng các ngân hàng mà còn
làm tăng quy mô của mỗi ngân hàng. Tích tụ và tập trung vốn đã tạo ra các công ty
ngân hàng cực lớn với số vốn tự có hàng chục tỷ USD.
Quá trình phát triển của ngân hàng đang tạo ra mối liên hệ ràng buộc ngày càng chặt
chẽ, sự phụ thuộc lẫn nhau ngày càng lớn giữa chúng. Các hoạt động ngân hàng
xuyên quốc gia và đa quốc gia đã và đang thúc đẩy hình thành các hiệp hội, các tổ
chức liên kết các ngân hàng nhằm tạo ra các chính sách chung, hoặc tương thích để
kiểm soát chung, để kết nối và tạo sự thống nhất trong điều hành và vận hành hệ
thống ngân hàng trong mỗi quốc gia, khu vực và quốc tế.
2.Quymô(sốlượngngânhàng,tổngtàisản,cáclĩnhvựchoạtđộngchínhnhưhuy
độngvàchovay)

Tại Việt Nam, hiện có khoảng 30 ngân hàng thương mại hoạt động trên cả nước.
Tổng tài sản của các ngân hàng này vào cuối năm 2020 là khoảng 11.000 tỷ đồng.
Các lĩnh vực hoạt động chính của ngân hàng thương mại bao gồm huy động vốn
và cho vay. Huy động vốn là được ngân hàng thu nhập từ việc tiếp nhận tiền gửi
của khách hàng thông qua các sản phẩm như tiết kiệm, kỳ hạn, tiền gửi không kỳ
hạn... Cho vay là khoản tiền mà ngân hàng cung cấp cho khách hàng theo nhu cầu
của họ, với mục đích mua nhà, mua ô tô, vay vốn để kinh doanh hoặc vay tiêu dùng.
Trong các lĩnh vực hoạt động chính của ngân hàng thương mại huy động vốn
chiếm tỷ trọng lớn hơn so với cho vay. Tuy nhiên, cho vay vai trò quan trọng trong
việc tăng trưởng kinh tế của đất nước.
3.Cơcấu/phânloại,đặcđiểmhoạtđộngchínhcủangânhàngthươngmại 3.1 Phân loại
Dựavàohìnhthứcsởhữu
Dựa vào hình thức sở hữu thì ngân hàng được chia thành 5 loại:
Ngân hàng thương mại quốc doanh: Ngân hàng được thành lập từ 100% nguồn
vốn nhà nước. Hiện nay trong xu hướng kinh tế hội nhập, các ngân hàng quốc
doanh có nhiều chính sách để tăng vốn, tăng giá trị ngân hàng như phát hành trái
phiếu, cổ phần hóa ngân hàng. Đây là hình thức ngân hàng giữ vai trò quan trọng
trong chuỗi mắc xích các ngân hàng của nước ta. Vì có 100% vốn thuộc ngân sách
nhà nước, các ngân hàng này hoạt động dưới sự quản lý của Nhà nước và ngoài
các hoạt động thông thường, các ngân hàng này còn phải thực hiện các nhiệm vụ
mà nhà nước giao cho. Một số ngân hàng thương mại quốc doanh:
Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn (Agribank)
Ngân hàng ngoại thương Việt Nam (Vietcombank)
Ngân hàng công thương Việt Nam (Vietinbank)
Ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam (BIDV)
Ngân hàng thương mại cổ phần: được thành lập từ việc góp vốn kinh doanh của
các cổ đông, doanh nghiệp. Trong đó mỗi cá nhân hay công ty chỉ được sở hữu
một số lượng cổ phần giới hạn theo quy định của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.
Một số ngân hàng thương mại cổ phần ở Việt Nam:
Ngân hàng thương mại cổ phần Á Châu (ACB)
Ngân hàng thương mại cổ phần Đông Á (DongA Bank)
Ngân hàng thương mại cổ phần Phương Đông (OCB)
Ngân hàng thương mại cổ phần Quân đội (MB Bank)
Ngân hàng liên doanh: Ngân hàng này được thành lập theo hình thức góp vốn liên
doanh giữa ngân hàng Việt Nam và ngân hàng nước ngoài, trong đó tỷ lệ góp của
đối tác nước ngoài không quá 50%, trụ sở làm việc chính ở Việt Nam và dưới sự
quản lý của pháp luật Việt Nam. Một số ngân hàng liên doanh ở Việt Nam: Ngân hàng Việt Nga (VRB) Indovina Bank Limited (IVB) Vinasiam Bank (VSB) Vid Public Bank (VID)
Ngân hàng 100% vốn nước ngoài: Ngân hàng có số vốn 100% từ nguồn vốn nước
ngoài, được thành lập dựa trên những quy định của pháp luật Việt Nam, có đầy đủ
các quyền như một ngân hàng cung cấp các dịch vụ cho thị trường Việt Nam, thời
gian hoạt động không quá 99 năm. Một số ngân hàng thương mại vốn 100% nước ngoài ở Việt Nam:
Ngân hàng TNHH một thành viên HSBC
Ngân hàng TNHH một thành viên Hongleong
Ngân hàng TNHH một thành viên ANZ
Ngân hàng TNHH một thành viên Standard Chartered
Ngân hàng chi nhánh nước ngoài: Ngân hàng được thành lập 100% vốn nước
ngoài theo luật pháp nước ngoài và được phép hoạt động tại Việt Nam. Một số
ngân hàng chi nhánh nước ngoài ở Việt Nam: CitibankBangkok BankShinhan BankDeutsche Bank
Dựavàochiếnlượckinhdoanh:
Ngân hàng thương mại bán buôn: Những ngân hàng này nhắm tới đối tượng khách
hàng là những doanh nghiệp, công ty tài chính lớn, các tập đoàn kinh tế, rất ít khi
có giao dịch với khách hàng cá nhân. Danh mục sản phẩm dịch vụ của các ngân
hàng này thường không đa dạng nhưng giá trị từng giao dịch rất lớn.
Ngân hàng thương mại bán lẻ: Là những ngân hàng cung cấp dịch vụ cho tập
khách hàng cá nhân, các công ty vừa và nhỏ. Các ngân hàng thường hướng tới đa
dạng hóa danh mục sản phẩm dịch vụ để đáp ứng được những nhu cầu của khách
hàng. Giá trị mỗi giao dịch thường không lớn nhưng có số lượng giao dịch cao.
Ngân hàng thương mại vừa bán buôn vừa bán lẻ: Những ngân hàng thực hiện cả
hai hoạt động vừa bán buôn vừa bán lẻ nghĩa là tập khách hàng mục tiêu của
những ngân hàng này là tất cả các dạng khách hàng.Ngoài ra còn có dạng ngân
hàng khác như: Ngân hàng đầu tư, ngân hàng phát triển, ngân hàng chính sách, ngân hàng hợp tác.
Dựavàotínhchấthoạtđộng
Ngân hàng chuyên doanh: là loại ngân hàng chỉ hoạt động chuyên về một lĩnh vực
nhất định như nông nghiệp, xuất nhập khẩu, đầu tư…
Ngân hàng kinh doanh tổng hợp: là loại ngân hàng hoạt động ở tất cả các lĩnh vực
kinh tế và thực hiện gần như tất cả các nghiệp vụ phát sinh mà một ngân hàng
được phép thực hiện theo quy định của pháp luật. 3.2 Đặc điểm
Là doanh nghiệp có quy mô lớn, hệ số nợ rất cao và cấu trúc tài sản đặc biệt
Ngân hàng thương mại là doanh nghiệp có quy mô lớn trên cả giác độ vốn
chủ sở hữu và tổng tài sản. Ở Việt Nam, vốn chủ sở hữu của các Ngân hàng
thương mại là hàng nghìn tỷ đồng. đối với các Ngân hàng thương mại trên
thế giới, vốn chủ sở hữu lên tới nhiều tỷ đô la Mỹ.
Mạng lưới các chi nhánh Ngân hàng thường rất lớn và phân tán rộng về địa
lý. Trong khi quy mô về vốn chủ sở hữu đã rất lớn, nguồn vốn của Ngân
hàng thương mại lại chủ yếu là nợ được huy động từ bên ngoài Ngân hàng.
Cấu trúc tài sản của Ngân hàng thương mại đặc biệt hơn so với các doanh
nghiệp sản xuất, kinh doanh khác là ở tỷ trọng tài sản tài chính.
Phần lớn tài sản của Ngân hàng thương mại là tài sản tài chính, mang đặc
trưng trừu tượng, hình thái vật chất giản đơn chỉ là giấy tờ hoặc thậm chí
chỉ là dữ liệu điện tử được lưu giữ trong một thiết bị nhất định. Bên cạnh
đó, Ngân hàng thương mại thường có xu hướng liên tục phát triển các sản
phẩm, công cụ tài chính mới.
Luôn chứa đựng nhiều rủi ro và chịu sự kiểm soát, giám sát chặt chẽ của hệ thống luật pháp
Trên giác độ tài chính doanh nghiệp, doanh nghiệp có hệ số nợ cao sẽ dẫn
đến rủi ro trong hoạt động cũng cao. Bên cạnh đó, nguồn vốn nợ chủ yếu
của Ngân hàng thương mại lại là tiền gửi với đặc trưng có thể bị rút ra trước
hạn với khối lượng khó xác định. Sản phẩm, dịch vụ Ngân hàng không
được hưởng quy chế bảo hộ độc quyền và mang tính phức tạp, trực tiếp.
Hơn nữa, Ngân hàng thương mại tham gia vào nhiều cam kết trong khi
chưa chuyển giao vốn thực sự, tức là hoạt động ngoại bảng phong phú và
đa dạng. điểm này là một đặc trưng khác biệt với các loại hình doanh nghiệp khác.
Vì những lý do này, hoạt động của Ngân hàng thương mại chứa đựng nhiều
rủi ro hơn các ngành kinh doanh khác. Rủi ro trong hoạt động của Ngân
hàng thương mại đa dạng, ở mức độ cao, tích luỹ nhanh và dễ lây lan. Rủi
ro trong hoạt động của Ngân hàng thương mại bao gồm các loại rủi ro đặc
thù như rủi ro tín dụng, rủi ro thanh khoản, rủi ro lãi suất, rủi ro ngoại hối,
rủi ro vốn khả dụng, rủi ro đạo đức,…
Là doanh nghiệp có quy mô lớn, mạng lưới rộng khắp, hoạt động chịu
nhiều rủi ro, ảnh hưởng đáng kể đến nhiều hoạt động kinh tế xã hội, Ngân
hàng thương mại chịu sự kiểm soát, giám sát chặt chẽ của hệ thống pháp luật.
Các quy định pháp lý đối với Ngân hàng thương mại được phổ rộng trên
nhiều mặt của hoạt động kinh doanh như: điều kiện kinh doanh, tiêu chuẩn
của người lãnh đạo NH, dự trữ bắt buộc, bảo hiểm tiền gửi, an toàn trong
hoạt động, phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro, sử dụng vốn tự có đầu
tư cho tài sản cố định,…
Tính liên kết và ổn định của hệ thống Ngân hàng
Hệ thống Ngân hàng có tính phụ thuộc lẫn nhau rất lớn. Hơn bất cứ ngành
kinh doanh nào trong nền kinh tế, rủi ro trong hoạt động Ngân hàng có tính
lan tỏa rất nhanh. Hoạt động như một hệ thống các mắt xích liên kết chặt
chẽ, chỉ cần một ngân hàng thương mại, dù yếu và nhỏ nhất, gặp khó khăn
trong hoạt động, đặc biệt là khó khăn về thanh khoản, là có thể dẫn đến
nguy cơ phá sập hệ thống.
Thực tiễn đã cho thấy, thanh khoản được ví như hơi thở của sự sống của
hoạt động ngân hàng thương mại. Mọi rủi ro, tổn thất trong hoạt động của
ngân hàng thương mại đều có thể dẫn đến hậu quả cuối cùng là Ngân hàng
mất khả năng thanh toán rồi phá sản.
Hệ thống Ngân hàng – tài chính trong nền kinh tế rất nhạy cảm với mọi
biến động về kinh tế, kỹ thuật, chính trị và xã hội. Những biến động này
thường có tác động gần như tức thời đến hoạt động của thị trường tài chính,
điển hình là thị trường chứng khoán, theo đó, nó gây ảnh hưởng trực tiếp
đến hoạt động của hệ thống Ngân hàng.
Đối với công tác quản lý vĩ mô nền kinh tế, việc nắm bắt được cơ chế hoạt
động, ảnh hưởng lẫn nhau của các phần tử trong hệ thống tài chính là một
trong những vấn đề cốt yếu, quyết định thành bại.
3.3 Các hoạt động của ngân hàng thương mại
Hoạt động ngân hàng của ngân hàng thương mại
- Nhận tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm và các loại tiền gửi khác.
- Phát hành chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu, tín phiếu, trái phiếu để huy động
vốn trong nước và nước ngoài. - Cấp tín dụng.
- Mở tài khoản thanh toán cho khách hàng.
- Cung ứng các phương tiện thanh toán.
- Cung ứng các dịch vụ thanh toán
Vay vốn của Ngân hàng nhà nước
Ngân hàng thương mại được vay vốn của Ngân hàng Nhà nước dưới hình
thức tái cấp vốn theo quy định của Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.
Vay vốn của tổ chức tín dụng, tổ chức tài chính
Ngân hàng thương mại được vay vốn của tổ chức tín dụng, tổ chức tài
chính trong nước và nước ngoài theo quy định của pháp luật. Mở tài khoản
- Ngân hàng thương mại phải mở tài khoản tiền gửi tại Ngân hàng Nhà
nước và duy trì trên tài khoản tiền gửi này số dư bình quân không thấp
hơn mức dự trữ bắt buộc.
- Ngân hàng thương mại được mở tài khoản thanh toán tại tổ chức tín dụng khác.
-Ngân hàng thương mại được mở tài khoản tiền gửi, tài khoản thanh toán
ở nước ngoài theo quy định của pháp luật về ngoại hối.
Tổ chức và tham gia các hệ thống thanh toán
-Ngân hàng thương mại được tổ chức thanh toán nội bộ, tham gia hệ
thống thanh toán liên ngân hàng quốc gia.
-Ngân hàng thương mại được tham gia hệ thống thanh toán quốc tế sau
khi được Ngân hàng Nhà nước chấp thuận. Góp vốn, mua cổ phần
- (1) Ngân hàng thương mại chỉ được dùng vốn điều lệ và quỹ dự trữ để
góp vốn, mua cổ phần theo quy định tại (2), (3), (4) và (6) mục này.
- (2) Ngân hàng thương mại phải thành lập hoặc mua lại công ty con, công
ty liên kết để thực hiện hoạt động kinh doanh sau đây:
Bảo lãnh phát hành chứng khoán, môi giới chứng khoán; quản lý, phân
phối chứng chỉ quỹ đầu tư chứng khoán; quản lý danh mục đầu tư chứng
khoán và mua, bán cổ phiếu; Cho thuê tài chính; Bảo hiểm.
- (3) Ngân hàng thương mại được thành lập, mua lại công ty con, công ty
liên kết hoạt động trong lĩnh vực quản lý nợ và khai thác tài sản, kiều hối,
kinh doanh ngoại hối, vàng, bao thanh toán, phát hành thẻ tín dụng, tín
dụng tiêu dùng, dịch vụ trung gian thanh toán, thông tin tín dụng.
- (4) Ngân hàng thương mại được góp vốn, mua cổ phần của doanh nghiệp
hoạt động trong các lĩnh vực sau đây:
Bảo hiểm, chứng khoán, kiều hối, kinh doanh ngoại hối, vàng, bao thanh
toán, phát hành thẻ tín dụng, tín dụng tiêu dùng, dịch vụ trung gian thanh toán, thông tin tín dụng;
Lĩnh vực khác không thuộc lĩnh vực bảo hiểm, chứng khoán, kiều hối, kinh
doanh ngoại hối, vàng, bao thanh toán, phát hành thẻ tín dụng, tín dụng tiêu
dùng, dịch vụ trung gian thanh toán, thông tin tín dụng.
- (5) Việc thành lập, mua lại công ty con, công ty liên kết theo quy định tại
(2) và (3) và việc góp vốn, mua cổ phần của ngân hàng thương mại tại các
lĩnh vực khác ở mục (4) phải được sự chấp thuận trước bằng văn bản của Ngân hàng Nhà nước.
Ngân hàng Nhà nước quy định cụ thể điều kiện, hồ sơ, trình tự, thủ tục chấp thuận.
Điều kiện, thủ tục và trình tự thành lập công ty con, công ty liên kết của
ngân hàng thương mại thực hiện theo quy định của pháp luật có liên quan.
- (6) Ngân hàng thương mại, công ty con của ngân hàng thương mại được
mua, nắm giữ cổ phiếu của tổ chức tín dụng khác với điều kiện và trong
giới hạn quy định của Ngân hàng Nhà nước.
Tham gia thị trường tiền tệ
Ngân hàng thương mại được tham gia đấu thầu tín phiếu Kho bạc, mua, bán
công cụ chuyển nhượng, trái phiếu Chính phủ, tín phiếu Kho bạc, tín phiếu
Ngân hàng Nhà nước và các giấy tờ có giá khác trên thị trường tiền tệ.
Kinh doanh, cung ứng dịch vụ ngoại hối và sản phẩm phái sinh
- Sau khi được Ngân hàng Nhà nước chấp thuận bằng văn bản, ngân hàng
thương mại được kinh doanh, cung ứng dịch vụ cho khách hàng ở trong
nước và nước ngoài các sản phẩm sau đây: Ngoại hối
Phái sinh về tỷ giá, lãi suất, ngoại hối, tiền tệ và tài sản tài chính khác.
- Ngân hàng Nhà nước quy định về phạm vi kinh doanh ngoại hối; điều
kiện, trình tự, thủ tục chấp thuận việc kinh doanh ngoại hối; kinh doanh,
cung ứng sản phẩm phái sinh của ngân hàng thương mại
- Việc cung ứng dịch vụ ngoại hối của ngân hàng thương mại cho khách
hàng thực hiện theo quy định của pháp luật về ngoại hối.
Nghiệp vụ ủy thác và đại lý
Ngân hàng thương mại được quyền ủy thác, nhận ủy thác, đại lý trong lĩnh
vực liên quan đến hoạt động ngân hàng, kinh doanh bảo hiểm, quản lý tài
sản theo quy định của Ngân hàng Nhà nước.
Các hoạt động kinh doanh khác của ngân hàng thương mại
Dịch vụ quản lý tiền mặt, tư vấn ngân hàng, tài chính; các dịch vụ quản lý,
bảo quản tài sản, cho thuê tủ, két an toàn.
Tư vấn tài chính doanh nghiệp, tư vấn mua, bán, hợp nhất, sáp nhập doanh
nghiệp và tư vấn đầu tư.
Mua, bán trái phiếu Chính phủ, trái phiếu doanh nghiệp.
Dịch vụ môi giới tiền tệ.
Lưu ký chứng khoán, kinh doanh vàng và các hoạt động kinh doanh khác
liên quan đến hoạt động ngân hàng sau khi được Ngân hàng Nhà nước chấp thuận bằng văn bản.
4. Xu hướng phát triển trong những năm gần đây
Các xu hướng phát triển của ngân hàng thương mại trong những năm gần đây bao gồm:
 Kỹ thuật số hóa: Ngân hàng thương mại tập trung vào kỹ thuật số hóa các
dịch vụ của mình bao gồm các ứng dụng di động, truy cập trực tuyến và các
giải pháp thanh toán điện tử để đáp ứng nhu cầu của khách hàng trong việc
quản lý tài chính hàng ngày.
 Tăng cường tính cá nhân hóa: Ngân hàng thương mại tập trung vào tính cá
nhân hóa để đáp ứng nhu cầu đa dạng của khách hàng thông qua việc phát
triển các sản phẩm và dịch vụ đặc biệt được thiết kế riêng cho từng khách hàng.
Tập trung vào năng lực quản lý rủi ro: Ngân hàng thương mại tăng cường
khả năng quản lý dự do trong hoạt động kinh doanh của mình, đặc biệt là
trong việc bảo vệ thông tin khách hàng và đảm bảo an toàn cho các giao dịch tài chính.
Mở rộng quy mô hoạt động toàn cầu: Ngân hàng thương mại đã tập trung
mở rộng quy mô hoạt động toàn cầu để tận dụng các cơ hội kinh doanh mới
và đáp ứng nhu cầu của khách hàng ở các thị trường mới.
Phát triển các dịch vụ tài chính mới: tóm lại đăng liên tục phát triển các
dịch vụ tài chính mới, bao gồm các sản phẩm về đầu tư bảo hiểm, vay
mượn và tài chính doanh nghiệp để đáp ứng nhu cầu khách hàng ngày càng đa dạng phức tạp hơn. Tài liệu tham khảo
https://chanhtuoi.com/ngan-hang-thuong-mai-la-gi-p8893.html
https://luanvan24.com/ngan-hang-thuong-mai-la-gi/
https://kdtqt.duytan.edu.vn/Home/ArticleDetail/vn/33/2750/lich-su-hinh-thanh-va-phat-
trien-cua-ngan-hang-thuong-mai-phan-1