



















Preview text:
Họ và tên: Quách Công Thao Lớp: K22LKTD Mã sinh viên: 22A4060158
BÀI TẬP TỔNG HỢP TỪ CHƯƠNG 1-6 I. CHƯƠNG 1: ● Trắc nghiệm: Câu 1. D Câu 2. A Câu 3. C Câu 4. C Câu 5. A Câu 6. B Câu 7. D
● Giải thích đúng/sai và giải thích ngắn gọn: Câu 8.
Đúng, vì ở các giai đoạn phát triển của nền sản xuất xã hội, kinh tế chính trị
nghiên cứu các quan hệ xã hội giữa người với người trong sản xuất và trao đổi
mà các quan hệ này được đặt trong sự liên hệ chặt chẽ với sự phát triển của lực
lượng sản xuất và kiến trúc thượng tầng tương ứng. Câu 9.
Sai, theo nghĩa rộng, Ph.Ănghen cho rằng: “Kinh tế chính trị, theo nghĩa rộng
nhất, là khoa học về những quy luật chi phối sự sản xuất vật chất và sự trao đổi
những tư liệu sinh hoạt vật chất trong xã hội loài người...Những điều kiện trong
đó người ta sản xuất sản phẩm và trao đổi chúng đều thay đổi tùy từng nước, và
trong mỗi nước lại thay đổi tùy từng thế hệ. Bởi vậy, không thể có cùng một
môn kinh tế chính trị duy nhất cho tất cả mọi nước và tất cả mọi thời đại lịch sử. Câu 10.
Đúng, phương pháp trừu tượng hóa khoa học là một trong những phương pháp
nghiên cứu khoa học xã hội, đòi hỏi sự gạt bỏ đi những yếu tố ngẫu nhiên xảy ra
trong các hiện tượng quá trình nghiên cứu, để từ đó tách ra được những hiện
tượng bền vững, mang tính điển hình, ổn định của đối tượng nghiên cứu. Từ đó
mà nắm được bản chất, xây dựng được các phạm trù và khám phá được tính quy
luật và quy luật chi phối sự vận động của đối tượng. Câu 11.
Sai, kinh tế chính trị Mác - Lênin được hình thành và đặt nền móng bởi C.Mác
- Ph. Ănghen dựa trên cơ sở kế thừa và phát triển những giá trị khoa học của
kinh tế chính trị của nhân loại trước đó, trực tiếp là những giá trị khoa học của
kinh tế chính trị tư sản cổ điển Anh, được V.I.Lênin kế thừa và phát triển. Câu12.
Đúng, kinh tế chính trị Mác - Lênin được hình thành và đặt nền móng bởi
C.Mác - Ph. Ănghen, dựa trên cơ sở kế thừa và phát triển những giá trị khoa học của kinh tế chính trị. Câu 13.
Sai, người đầu tiên đưa ra thuật ngữ kinh tế chính trị là người Pháp Môngcorechien. Câu 14.
Sai, ngoài ra còn chức năng nhận thức ,chức năng thực tiễn,và chức năng phương pháp luận. Câu 15.
Đúng, C.Mác - Ph. Ănghen, dựa trên cơ sở kế thừa và phát triển những giá trị
khoa học của kinh tế chính trị của nhân loại trước đó, trực tiếp là những giá trị
khoa học của kinh tế chính trị tư sản cổ điển Anh, được V.I.Lênin kế thừa và phát triển. Câu 16.
Sai, kinh tế chính trị Mác - Lênin nghiên cứu những quan hệ xã hội giữa người
với người trong sản xuất, nghiên cứu chế độ xã hội của sản xuất. Câu 17.
Đúng, quy luật kinh tế đó là sự phản ánh mối quan hệ nhân quả, tất yếu, khách
quan, bền vững, lặp đi lặp lại của các hiện tượng và quá trình kinh tế. ● Tự luận:
Câu 18. Phân tích sự hình thành và phát triển của kinh tế chính trị Mác- Lênin?
Kinh tế chính trị ( KTCT) Mác-Lênin hình thành và phát triển trong dòng chảy
tư tưởng kinh tế của nhân loại từ thời kỳ cổ đại cho đến nay.
Sự xuất hiện của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, thay thế cho PTSX
phong kiến với trình độ mới của nền sản xuất xã hội đã trở thành tiền đề cho sự
phát triển của tính hệ thống của KTCT với tư cách là một môn khoa học độc lập. Trong đó:
Chủ nghĩa trọng thương:
Chủ nghĩa trọng thương là hình thái đầu tiên của hệ tư tưởng tư sản trong lĩnh
vực kinh tế chính trị, xuất hiện từ giữa thế kỷ XV đến giữa thế kỷ XVII, trong
giai đoạn tan rã của chế độ phong kiến và thời kỳ tích lũy nguyên thủy tư bản
chủ nghĩa. Đó là thời kỳ chủ nghĩa duy vật đấu tranh chống chủ nghĩa duy tâm,
kinh tế hàng hoá và khoa học tự nhiên phát triển mạnh (cơ học, thiên văn học,
địa lý...). Đối tượng nghiên cứu của chủ nghĩa trọng thương là lĩnh vực lưu
thông; lấy tiền làm nội dung căn bản của của cải, là biểu hiện sự giàu có của
một quốc gia; dựa vào quyền lực nhà nước để phát triển kinh tế; nguồn gốc của
lợi nhuận là từ thương nghiệp do mua rẻ bán đắt... nhằm tích lũy tiền tệ, đẩy
nhanh sự ra đời của chủ nghĩa tư bản. Chủ nghĩa trọng thương chưa biết đến
quy luật kinh tế, phương pháp nghiên cứu là sự khái quát có tính chất kinh
nghiệm những hiện tượng bề ngoài của đời sống kinh tế - xã hội, họ mới chỉ
đứng trên lĩnh vực lưu thông, trao đổi để xem xét những biện pháp tích luỹ tư
bản. Vì vậy, khi sự phát triển cao hơn của chủ nghĩa tư bản đã dần dần làm cho
những luận điểm của chủ nghĩa trọng thương trở nên lỗi thời, phải nhường chỗ
cho học thuyết kinh tế mới, tiến bộ hơn. Chủ nghĩa trọng nông
Chủ nghĩa trọng nông xuất hiện chủ yếu ở Pháp vào giữa thế kỷ XVIII do hoàn
cảnh kinh tế đặc biệt của Pháp lúc bấy giờ là sự đình đốn của nền nông nghiệp.
Tuy nhiên, chủ nghĩa trọng nông còn nhiều hạn chế: Chỉ coi nông nghiệp là
ngành sản xuất duy nhất, là nguồn gốc của sự giàu có, chưa thấy vai trò quan
trọng của công nghiệp; chưa thấy mối quan hệ thống nhất giữa sản xuất và lưu
thông. Họ đã nghiên cứu chủ nghĩa tư bản thông qua các phạm trù: sản phẩm
thuần tuý, tư bản, lao động sản xuất, kết cấu giai cấp... nhưng lại chưa phân tích
được những khái niệm cơ sở như: hàng hoá, giá trị, tiền tệ, lợi nhuận.
Từ sau thế kỉ XVIII đến nay, lí luận KTCT phát triển theo nhiều hướng khác
nhau với dòng lý thuyết kinh tế đa dạng:
Kinh tế chính trị tư sản cổ điển
Cuối thế kỷ XVII, khi quá trình tích lũy ban đầu của chủ nghĩa tư bản đã kết
thúc và thời kỳ phát triển của chủ nghĩa tư bản đã bắt đầu, nhiều vấn đề kinh tế
của chủ nghĩa tư bản đặt ra vượt quá khả năng giải thích của chủ nghĩa trọng
thương, đòi hỏi phải có lý luận mới. Vì vậy, kinh tế chính trị tư sản cổ điển đã
ra đời và phát triển mạnh ở Anh và Pháp.
Các nhà kinh tế chính trị tư sản cổ điển đã chuyển đối tượng nghiên cứu từ lĩnh
vực lưu thông sang lĩnh vực sản xuất, mà trong đó "lao động làm thuê của
những người nghèo là nguồn gốc làm giàu vô tận cho những người giàu". Lần
đầu tiên các nhà kinh tế chính trị tư sản cổ điển đã áp dụng phương pháp trừu
tượng hóa khoa học để nghiên cứu các hiện tượng và quá trình kinh tế để vạch
ra bản chất của quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa. Vì vậy, trường phái này đã
nêu được một cách có hệ thống các phạm trù và quy luật kinh tế của xã hội tư
bản như: giá trị, giá cả, tiền tệ, tư bản, lợi nhuận, lợi tức, địa tô, tiền lương, tái
sản xuất xã hội... Đồng thời họ là những người ủng hộ tự do cạnh tranh theo cơ
chế thị trường tự điều chỉnh.
Kinh tế chính trị Mác - Lênin
Vào nửa đầu thế kỷ XIX, quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa đã được xác lập
hoàn toàn ở nhiều nước Tây Âu, những mâu thuẫn vốn có của chủ nghĩa tư bản
ngày càng gay gắt, phong trào đấu tranh của giai cấp vô sản chống chế độ áp
bức bóc lột của giai cấp tư sản ngày càng lên cao và chuyển từ tự phát sang tự
giác, từ đấu tranh kinh tế đến đấu tranh chính trị, đòi hỏi phải có lý luận cách
mạng làm vũ khí tư tưởng cho giai cấp vô sản - chủ nghĩa Mác đã ra đời.
C. Mác, Ph. Ăngghen và V.I. Lênin đã thực hiện cuộc cách mạng vĩ đại trong
kinh tế chính trị học. Kinh tế chính trị Mác - Lênin là lý luận sắc bén của giai
cấp công nhân và nhân dân lao động toàn thế giới trong cuộc đấu tranh chống
chủ nghĩa tư bản, xây dựng thành công chủ nghĩa cộng sản.
Câu 19. Đối tượng nghiên cứu của kinh tế chính trị Mac- Lenin? Chức
năng của kinh tế chính trị Mác-Lênin với tư cách là một môn khoa học?
A, Đối tượng của kinh tế chính trị
Kinh tế chính trị học nghiên cứu mối quan hệ giữa người với người hình thành
trong quá trình sản xuất, phân phối, trao đổi và tiêu dùng của cải vật chất, tức là
nghiên cứu quan hệ sản xuất.
Nó không nghiên cứu quan hệ sản xuất một cách cô lập mà nghiên cứu nó
trong mối quan hệ tác động qua lại với lực lượng sản xuất và kiến trúc thượng
tầng trong một chừng mực cần thiết nhằm phục vụ cho việc nghiên cứu quan hệ sản xuất.
Kinh tế chính trị nghiên cứu quan hệ sản xuất nhưng không chỉ nghiên cứu
các hiện tượng bề ngoài mà thông qua các hiện tượng bề ngoài để nghiên cứu
bản chất của quan hệ sản xuất, vạch ra các quy luật vận động của quan hệ sản
xuất, các quy luật kinh tế.
Quy luật kinh tế phản ánh những mối quan hệ tất yếu, bản chất, thường xuyên
lặp đi lặp lại của các hiện tượng và quá trình kinh tế. Ví dụ: Trong quá trình
phát triển của nền sản xuất xã hội phát sinh ra mối liên hệ tất yếu bền vững giữa
lượng lao động hao phí ngày càng giảm với lượng sản phẩm làm ra ngày càng
tăng, mối quan hệ tất yếu này là quy luật tăng năng suất lao động xã hội.
Quy luật kinh tế chỉ có thể phát sinh thông qua sự hoạt động của con người.
Trong mỗi phương thức sản xuất có 3 loại quy luật kinh tế hoạt động đó là:
Quy luật kinh tế chung cho mọi phương thức sản xuất ( quy luật quan hệ sản
xuất phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất).
Quy luật kinh tế chung cho một số phương thức sản xuất (quy luật giá trị) Quy
luật kinh tế đặc thù của mỗi phương thức sản xuất trong đó có một quy luật kinh
tế cơ bản phản ánh bản chất chung của phương thức sản xuất và quy định xu
hướng vận động của phương thức sản xuất đó.
Các phương thức sản xuất khác nhau bởi các quy luật kinh tế đặc thù nhưng
lại quan hệ với nhau bởi những quy luật kinh tế chung.
B, Chức năng của kinh tế chính trị
Chức năng nhận thức: Thực hiện chức năng này kinh tế chính trị học nghiên
cứu và giải thích các hiện tượng và quá trình kinh tế của đời sống xã hội để phát
hiện bản chất của các hiện tượng và các quy luật chi phối sự vận động của chúng.
Chức năng thực tiễn: Kinh tế chính trị học không chỉ phát hiện các quy luật
kinh tế mà còn nghiên cứu cơ chế, các phương pháp và hình thức vận dụng
chúng vào thực tiễn phù hợp với hoàn cảnh cụ thể trong từng thời kỳ nhất định.
Và cũng từ thực tiễn để rút ra các luận điểm, kết luận có tính khái quát làm cơ
sở khoa học để Nhà nước xác định đường lối, chính sách, biện pháp kinh tế.
Cuộc sống là nơi kiểm nghiệm tính đúng đắn của các chính sách, biện pháp kinh
tế và xa hơn nữa là kiểm nghiệm những kết luận mà kinh tế chính trị đã nhận thức trước đó.
Chức năng phương pháp luận. Kinh tế chính trị là cơ sở lý luận của toàn bộ các
khoa học kinh tế ngành (kinh tế công nghiệp, nông nghiệp, giao thông, xây
dựng…), các môn kinh tế chức năng (kinh tế lao động, kế hoạch, tài chính, tín
dụng…), các môn khoa học có nhiều kiến thức liên quan như địa lý kinh tế, dân
số học, lịch sử kinh tế quốc dân, lý thuyết về quản lý.
Chức năng tư tưởng. Kinh tế chính trị nghiên cứu quan hệ sản xuất xã hội, tức
nghiên cứu những vấn đề liên quan thân thiết đến lợi ích kinh tế của mọi người,
mọi giai cấp. Một quan điểm kinh tế nào đó hoặc công khai, hoặc ẩn giấu nói
lên lợi ích của một giai cấp xã hội nhất định. Không có kinh tế chính trị học
trung lập hoặc đứng trên các giai cấp.
Câu 20. Nêu ý nghĩa của việc nghiên cứu kinh tế chính trị Mác-Lênin trong
quá trình lao động và quản trị quốc gia?
Kinh tế chính trị có vai trò quan trọng trong đời sống xã hội. Học tập môn
kinh tế chính trị giúp cho người học hiểu được bản chất của các hiện
tượng và quá trình kinh tế, nắm được các quy luật kinh tế chi phối sự vận động
và phát triển kinh tế; phát triển lý luận kinh tế và vận dụng lý luận đó vào thực
tế, hành động theo quy luật, tránh bệnh chủ quan, giáo điều, duy ý chí.
Kinh tế chính trị cung cấp các luận cứ khoa học làm cơ sở cho sự hình thành
đường lối, chiến lược phát triển kinh tế, xã hội và các chính sách, biện pháp
kinh tế cụ thể phù hợp với yêu cầu của các quy luật khách quan và điều kiện cụ
thể của đất nước ở từng thời kỳ nhất định.
Học tập kinh tế chính trị, nắm được các phạm trù và quy luật kinh tế, là cơ sở
cho người học hình thành tư duy kinh tế, không những cần thiết cho các nhà
quản lý vĩ mô mà còn rất cần cho quản lý sản xuất kinh doanh ở các doanh
nghiệp của mọi tầng lớp dân cư, ở tất cả các thành phần kinh tế. Nắm vững kiến
thức kinh tế chính trị, người học có khả năng hiểu được một cách sâu sắc các
đường lối, chiến lược phát triển kinh tế của đất nước và các chính sách kinh tế
cụ thể của Đảng và Nhà nước ta, tạo niềm tin có cơ sở khoa học vào đường lối,
chiến lược, chính sách đó.
Học tập kinh tế chính trị, hiểu được sự thay đổi của các phương thức sản
xuất, các hình thái kinh tế – xã hội là tất yếu khách quan, là quy luật của lịch sử,
giúp người học có niềm tin sâu sắc vào con đường xã hội chủ nghĩa mà Đảng
Cộng sản Việt Nam và nhân dân ta đã lựa chọn là phù hợp với quy luật khách
quan, đi tới mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh trên đất nước.
II. CHƯƠNG 2 ( BUỔI 2 ) ● Trắc nghiệm Câu 1. B Câu 2. C Câu 3. C Câu 4. B Câu 5. A Câu 6. C Câu 7. A Câu 8. C Câu 9. C Câu 10. A
● Trả lời đúng/sai và giải thích ngắn gọn
Câu 1: Kinh tế hàng hóa xuất hiện đồng thời với sự xuất hiện của con người và xã hội loài người.
Sai, vì loài người ra đời cùng với sản xuất tự cấp tự túc.
Câu 2: Phân công lao động cá biệt là sự phân chia lao động xã hội vào các
ngành, các lĩnh vực sản xuất khác nhau của đời sống xã hội.
Sai, vì phân công lao động cá biệt là chuyên môn hóa từng công đoạn của quá
trình sản xuất trong từng công ty, xí nghiệp, cơ sở.
Câu 3: Lao động giản đơn là lao động chân tay.
Đúng, vì lao động giản đơn là những lao động mà bất cứ một người nào với
một sức khỏe bình thường và điều kiện lao động bình thường cũng có thể tạo ra
hay nói cách khác lao động giản đơn là lao động không đòi hỏi phải đào tạo về
chuyên môn cũng có thể thực hiện được một công việc nào đó.
Câu 4: Lao động trừu tượng tạo ra giá trị sử dụng của hàng hóa.
Đúng, vì chính lao động trừu tượng của người sản xuất hàng hóa mới tạo ra
giá trị của hàng hóa. Như vậy, có thể nói, giá trị của hàng hóa là lao động trừu
tượng của người sản xuất hàng hóa kết tinh trong hàng hóa. Đó cũng chính là
mặt chất của giá trị hàng hóa.
Câu 5: Hàng hóa có hai thuộc tính là giá trị sử dụng và giá trị trao đổi.
Đúng, vì giữa hai thuộc tính của hàng hoá luôn có mối quan hệ ràng buộc lẫn
nhau. Trong đó, giá trị sử dụng là nội dung, là cơ sở của giá trị trao đổi; còn giá
trị trao đổi là hình thức biểu hiện của giá trị ra bên ngoài.
Câu 6: Thời gian lao động xã hội cần thiết là một đại lượng cố định.
Sai, vì trình độ thành thạo trung bình, cường độ lao động trung bình, điều kiện
trang bị kỹ thuật trung bình của xã hội ở mỗi nước khác nhau là khác nhau (có
nước phát triển, có nước chậm phát triển) và thay đổi theo sự phát triển của lực
lượng sản xuất. Khi thời gian lao động xã hội cần thiết thay đổi (cao hay thấp)
thì lượng giá trị của hàng hóa cũng sẽ thay đổi. ● Tự luận
Câu 1. Hàng hoá là gì? Phân tích hai thuộc tính của hàng hoá? Tại sao
hàng hóa có hai thuộc tính? Khái niệm hàng hoá:
Theo Mác, hàng hóa là sản phẩm của lao động, có thể thỏa mãn nhu cầu nào
đó của con người thông qua trao đổi, mua bán.
Như vậy, sản phẩm của lao động chỉ mang hình thái hàng hoá khi đưa ra trao
đổi, mua bán trên thị trường.
Hàng hoá có thể sử dụng cho nhu cầu cá nhân hoặc nhu cầu sản xuất. Hàng
hoá có thể tồn tại ở dạng vật thể và phi vật thể.
Phân tích hai thuộc tính của hàng hóa.
Thuộc tính là những tính chất thuộc về bản thân sự vật. Hàng hóa có hai thuộc
tính: giá trị sử dụng và giá trị. a. Giá trị sử dụng
Khái niệm: Giá trị sử dụng là công dụng hay tính có ích của vật nhằm thỏa
mãn nhu cầu nào đó của con người. Đặc điểm:
Chất: Giá trị sử dụng do thuộc tính tự nhiên quy định, cộng với lđ nó cấu
thành nội dung vật chất của của cải, nên nó là một phạm trù vĩnh viễn.
Lượng: Mỗi vật thể là tổng thể của thuộc tính tự nhiên, nên nó có nhiều công
dụng khác nhau. Việc tìm ra các công dụng này là tùy thuộc vào sự phát triển
của lực lượng sản xuất và tiến bộ khoa học – kỹ thuật. Để xác định lượng giá trị
sử dụng, người ta dùng các đơn vị đo lường khác nhau như: kg, m, lít… .
Vai trò: Giá trị sử dụng là thuộc tính của hàng hóa, nó nhằm thỏa mãn nhu cầu
cho người khác, cho xã hội chứ không phải cho người sản xuất ra nó, nên nó là
vật mang giá trị trao đổi. b. Giá trị
Là 1 phạm trù khái niệm trừu tượng. Muốn biết được giá trị hàng hóa phải
thông qua giá trị trao đổi.
Giá trị trao đổi, trước hết biểu hiện là một quan hệ về số lượng, là tỷ lệ trao đổi
lẫn nhau giữa những giá trị sử dụng khác nhau.
Giá trị hàng hóa: là hao phí lao động xã hội của người sản xuất hàng hoá kết
tinh trong hàng hoá, Biểu hiện quan hệ giữa những người sản xuất trao đổi hàng hóa.
Chất: Lao động (sức lao động)
Lượng: Hao phí lao động xã hội cần thiết được xác định bằng thời gian lao
động xã hội cần thiết. Phụ thuộc vào năng suất lao động (năng suất lao động tỉ
lệ nghịch với lượng giá trị lao động).
Cải tạo giá trị hàng hoá: lao động quá khứ và lao động sống.
Hai hàng hóa khác nhau, muốn trao đổi được với nhau thì chúng phải có cơ sở
chung giống nhau. Cái chung đó không thể là thuộc tính tự nhiên, không thể là
giá trị sử dụng, mà cái chung đó ở chỗ: chúng đều là sản phẩm của lao động.
Chính lao động đó tạo ra giá trị cho hàng hóa, nhờ đó mà các hàng hóa trao đổi
được cho nhau. Như vậy, giá trị là nội dung bên trong, còn giá trị trao đổi là
hình thức biểu hiện bên ngoài của hàng hóa, chỉ có thông qua giá trị trao đổi mới tìm ra giá trị.
Vậy, giá trị của hàng hóa là lao động xã hội của người sản xuất hàng hóa kết
tinh trong hàng hóa, nó biểu hiện quan hệ của những người sản xuất và người trao đổi hàng hóa.
Giá trị là một phạm trù lịch sử, nó chỉ tồn tại khi còn hàng hóa và sản xuất hàng hóa.
Giá trị sử dụng và giá trị là hai thuộc tính của hàng hóa, nên nó là hai mặt
thống nhất trong hàng hóa, nó làm tiền đề và điều kiện cho nhau. Nhưng đây là
sự thống nhất của hai mặt đối lập, nên lại mâu thuẫn với nhau. Như vậy, giá trị
sử dụng và giá trị là 2 mặt vừa thống nhất vừa mâu thuẫn trong cùng 1 hàng hoá.
Sở dĩ hàng hóa có hai thuộc tính vì lao động sản xuất có tính chất hai mặt: Lao
động cụ thể và lao động trừu tượng.
Lao động cụ thể: Là sự hao phí sức lao động giữa một ngành nghề chuyên môn
nhất định. Lao động này tạo ra giá trị sử dụng của hàng hoá
Lao động trừu tượng: Là sự hao phí sức lao động của người sản xuất hàng hoá
không kể đến các hình thức cụ thể của nó. Lao động trừu tượng tạo ra giá trị của hàng hoá.
Câu 2. Phân tích giá trị hàng hoá và các nhân tố ảnh hưởng đến lượng giá
trị hàng hoá. Ý nghĩa của vấn đề nghiên cứu?
Khái niệm giá trị hàng hoá
Giá trị của hàng hoá là lao động xã hội của người sản xuất kết tinh trong hàng hoá.
“Lượng” giá trị của hàng hoá do lượng hao phí lao động trừu tượng để sản
xuất ra hàng hoá đó quyết định. Hao phí lao động thường được tính theo đơn vị thời gian lao động.
Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến lượng giá trị của hàng hóa:
Có 3 yếu tố ảnh hưởng đến lượng giá trị hàng hoá là: Năng suất lao động Cường độ lao động
Mức độ phức tạp của lao động Cụ thể: Năng suất lao động:
Khái niệm: Năng suất lao động là năng lực sản xuất của lao động, được tính
bằng số lượng sản phẩm sản xuất ra trong một đơn vị thời gian hoặc số lượng
thời gian cần thiết để sản xuất ra một đơn vị sản phẩm.
Khi tất cả các yếu tố khác không đổi:
Năng suất lao động xã hội tăng thì số lượng hàng hóa được sản xuất ra trong
cùng 1 đơn vị thời gian tăng; nghĩa là thời gian lao động xã hội cần thiết để sản
xuất ra 1 đơn vị hàng hoá giảm thì lượng giá trị của một đơn vị hàng hoá giảm. Kết luận:
Sự thay đổi của Năng suất lao động tác động theo tỉ lệ nghịch đến lượng giá trị
của một đơn vị hàng hóa nhưng không tác động đến tổng lượng giá trị của tổng
số hàng hóa được sản xuất ra trong cùng một đơn vị thời gian. Cường độ lao động:
Khái niệm: Cường độ lao động là mức độ hao phí lao động của người lao động
trong một đơn vị thời gian, được tính bằng số calo hao phí trong 1 đơn vị thời gian.
Khi tất cả các yếu tố khác không đổi: Cường độ lao động tăng thì mức độ hao
phí lao động tăng dẫn đến tổng số hàng hóa được sản xuất ra trong cùng 1 đơn
vị thời gian tăng đồng thời với sự tăng của tổng lượng hao phí tạo nên lượng
hao phí lao động để sản xuất ra 1 đơn vị hàng hoá không đổi làm ra lượng giá trị
của một đơn vị hàng hoá không đổi. Kết luận:
Như vậy, sự thay đổi của cường độ lao động không tác động đến lượng giá trị
của một đơn vị hàng hóa nhưng nó tác động theo tỉ lệ thuận đến tổng lượng giá
trị của tổng số hàng hóa được sản xuất ra trong cùng một đơn vị thời gian.
Mức độ phức tạp của lao động:
Ảnh hưởng theo tỷ lệ thuận đến lượng giá trị của một đơn vị hàng hóa bà
TỔNG lượng giá trị của tổng số hàng hóa được sản xuất ra trong cùng 1 đơn vị thời gian.
Câu 3.Phân tích nguồn gốc và bản chất của tiền tệ? Vì sao tiền tệ lại được
coi là một loại hàng hoá đặc biệt?
Nguồn gốc của tiền tệ:
Tiền tệ xuất hiện là kết quả của quá trình phát triển lâu dài của sản xuất, trao
đổi hàng hóa và các hình thái giá trị. Có 4 hình thái giá trị:
Hình thái giá trị đơn giản: xuất hiện khi xã hội Công xã nguyên thủy tan rã, sự
trao đổi mang tính ngẫu nhiên.
Hình thái giá trị đầy đủ hay mở rộng: Khi sản xuất hàng hóa phát triển hơn, số
lượng hàng hóa được đem ra trao đổi nhiều hơn, một hàng hóa có thể trao đổi
được với nhiều hàng hóa khác.
Hình thái chung của giá trị: giá trị của hàng hóa thể hiện ở một hàng hóa đóng
vai trò vật ngang giá chung. Người ta mang hàng hóa của mình đổi lấy vật
ngang giá chung, rồi dùng vật ngang giá chung đổi lấy thứ hàng hóa mình cần.
Các địa phương, vùng khác nhau thì hàng hóa làm vật ngang giá chung cũng khác nhau.
Hình thái tiền tệ: Có nhiều vật ngang giá chung làm cho trao đổi giữa các địa
phương khó khăn, đòi hỏi phải có vật ngang giá chung thống nhất. Ban đầu, vật
ngang giá chung cố định là vàng và bạc, hình thái của giá trị xuất hiện. Những
vàng có ưu thế hơn bạc nên cuối cùng hình thái tiền tệ được cố định ở vàng. Bản chất
Tiền tệ là hàng hóa đặc biệt được tách ra làm vật ngang giá chung cho tất cả
các hàng hóa, là sự thể hiện chung của giá trị, đồng thời, tiền tệ biểu hiện mối
quan hệ sản xuất giữa người sản xuất hàng hóa.
Tiền tệ được coi là hàng hóa đặc biệt vì
Nó được tách ra làm vật ngang giá chung cho tất cả mọi hàng hóa.
Nó là hàng hoá nhưng không đi vào tiêu dùng mà cất trữ.
Nó ra đời là kết quả của quá trình phát triển lâu dài của sản xuất hàng hóa.nó
chỉ xuất hiện khi sản xuất hàng hóa đã phát triển mạnh mẽ.
Câu 4. Phân tích nội dung và tác động của quy luật giá trị. Ý nghĩa thực
tiễn của việc nghiên cứu quy luật này?
Nội dung của quy luật giá trị
Quy luật giá trị là quy luật kinh tế căn bản của sản xuất và lưu thông hàng hóa,
ở đâu có sản xuất và trao đổi hàng hoá thì ở đó có sự tồn tại và phát huy tác
dụng của quy luật giá trị.
Yêu cầu của quy luật giá trị:
Thứ nhất, theo quy luật này, sản xuất hàng hóa được thực hiện theo hao phí lao
động xã hội cần thiết, nghĩa là cần tiết kiệm lao động (cả lao động quá khứ và
lao động sống) nhằm: đối với một hàng hóa thì giá trị của nó phải nhỏ hơn hoặc
bằng thời gian lao động xã hội cần thiết để sản xuất ra hàng hóa đó, tức là giá cả
thị trường của hàng hóa
Thứ hai, trong trao đổi phải tuân theo nguyên tắc ngang giá, nghĩa là phải đảm
bảo bù đắp được chi phí chí người sản xuất (tất nhiên chi phí đó phải dựa trên
cơ sở thời gian lao động xã hội cần thiết, chứ không phải bất kỳ chi phí cá biệt
nào) và đảm bảo có lãi để tái sản xuất mở rộng.
Sự tác động, hay biểu hiện sự hoạt động của quy luật giá trị được thể hiện
thông qua sự vận động của giá cả hàng hoá. Vì giá trị là cơ sở của giá cả, còn
giá cả là sự biểu hiện bằng tiền của giá trị, nên trước hết giá cả phụ thuộc vào giá trị.
Trên thị trường, ngoài giá trị, giá cả còn phụ thuộc vào các nhân tố khác như:
cạnh tranh, cung – cầu, sức mua của đồng tiền. Sự tác động của các nhân tố này
làm cho giá cả hàng hoá trên thị trường tách rời giá trị và lên xuống xoay quanh
trục giá trị của nó. Sự vận động giá cả thị trường của hàng hoá xoay quanh trục
giá trị của nó hình là cơ chế hoạt động của quy luật giá trị. Thông qua sự vận
động của giá cả thị trường mà quy luật giá trị phát huy tác dụng.
Tác động của quy luật giá trị
Thứ nhất, điều tiết sản xuất và lưu thông hàng hoá:
Điều tiết sản xuất tức là điều hoà, phân bổ các yếu tố sản xuất giữa các
ngành, các lĩnh vực của nền kinh tế. Tác lộng này của quy luật giá trị thông qua
sự biến động của giá cả hàng hoá trên thị trường dưới tác động của quy luật cung – cầu.
Nếu cung nhỏ hơn cầu, thì giá cả lớn hơn giá trị, nghĩa là hàng hóa sản xuất
ra có lãi, bán chạy. Giá cả cao hơn giá trị sẽ kích thích mở rộng và đẩy mạnh
sản xuất để tăng cung; ngược lại cầu giảm vì giá tăng.
Nếu cung lớn hơn cầu, sản phẩm sản xuất ra quá nhiều so với nhu cầu, giá cả
thấp hơn giá trị, hàng hóa khó bán, sản xuất không có lãi. Thực tế đó, tự người
sản xuất ra quyết định ngừng hoặc giảm sản xuất; ngược lại, giá giảm sẽ kích
thích tăng cầu, tự nó là nhân tố làm cho cung tăng.
Cung cầu tạm thời cân bằng; giá cả trùng hợp với giá trị. Bề mặt nền kinh tế
người ta thường gọi là “bão hòa”.
Tuy nhiên nền kinh tế luôn luôn vận động, do đó quan hệ giá cả và cung cầu
cũng thường xuyên biến động liên tục.
Như vậy, sự tác động trên của quy luật giá trị đã dẫn đến sự di chuyển sức lao
động và tư liệu sản xuất giữa các ngành sản xuất khác nhau. Đây là vai trò điều
tiết sản xuất của quy luật giá trị.
Điều tiết lưu thông của quy luật giá trị cũng thông qua diễn biến giá cả trên thị
trường. Sự biến động của giá cả thị trường cũng có tác dụng thu hút luồng hàng
từ nơi giá cả thấp đến nơi giá cả cao, do đó làm cho lưu thông hàng hoá thông suốt.
Như vậy, sự biến động của giả cả trên thị trường không những chỉ rõ sự biến
động về kinh tế, mà còn có tác động điều tiết nền kinh tế hàng hoá.
Thứ hai, kích thích cải tiến kỹ thuật, hợp lý hoá sản xuất, tăng năng suất lao
động, thúc đẩy lực lượng sản xuất xã hội phát triển.
Trong nền kinh tế hàng hoá, mỗi người sản xuất hàng hoá là một chủ thể kinh
tế độc lập, tự quyết định hoạt động sản xuất kinh doanh của mình. Nhưng do
điều kiện sản xuất khác nhau nên hao phí lao động cá biệt của mỗi người khác
nhau, người sản xuất nào có hao phí lao động cá biệt nhỏ hơn hao phí lao động
xã hội của hàng hoá ở thế có lợi sẽ thu được lãi cao. Người sản xuất nào có hao
phí lao động cá biệt lớn hơn hao phí lao động xã hội cần thiết sẽ ở thế bất lợi, lỗ
vốn. Để giành lợi thế trong cạnh tranh, và tránh nguy cơ vỡ nợ, phá sản, họ phải
hạ thấp hao phí lao động cá biệt của mình sao cho bằng hao phí lao động xã hội
cần thiết. Muốn vậy, họ phải luôn tìm cách cải tiến kỹ thuật, cải tiến tổ chức
quản lý, thực hiện tiết kiệm chặt chẽ, tăng năng suất lao động. Sự cạnh tranh
quyết liệt càng thúc đẩy quá trình này diễn ra mạnh mẽ hơn, mang tính xã hội.
Kết quả là lực lượng sản xuất xã hội được thúc đẩy phát triển mạnh mẽ.
Thứ ba, thực hiện sự lựa chọn tự nhiên và phân hoá người sản xuất hàng hoá
thành người giàu, người nghèo.
Quá trình cạnh tranh theo đuổi giá trị tất yếu dẫn đến kết quả là: những người
có điều kiện sản xuất thuận lợi, có trình độ, kiến thức cao, trang bị kỹ thuật tốt
nên có hao phí lao động cá biệt thấp hơn hao phí lao động xã hội cần thiết, nhờ
đó phát tài, giàu lên nhanh chóng. Họ mua sắm thêm tư liệu sản xuất, mở rộng
sản xuất kinh doanh. Ngược lại những người không có điều kiện thuận lợi, làm
ăn kém cỏi, hoặc gặp rủi ro trong kinh doanh nên bị thua lỗ dẫn đến phá sản trở thành nghèo khó.
Ý nghĩa thực tiễn của việc nghiên cứu quy luật này:
Cần nhận thức sự tồn tại khách quan và phạm vi hoạt động rộng lớn, lâu dài
của quy luật giá trị trong nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần ở nước ta hiện nay.
Cần vận dụng tốt cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước để phát huy vai
trò tích cực của nó để thúc đẩy sản xuất phát triển, đảm bảo sự công bằng xã hội.
Câu 5. Phân tích khái niệm và vai trò của thị trường?
Thị trường là một môi trường cho phép người mua và người bán giao thương
hoặc trao đổi hàng hóa, dịch vụ, và thông tin. Sự tương tác này chỉ rõ tính chất
cung và cầu của thị trường, vì vậy nó là nguồn gốc cơ sở của nền kinh tế.
Thị trường có thể được định nghĩa như là một nơi mà các loại giao dịch diễn
ra. Thị trường phụ thuộc vào hai thành tố chính - đó là người mua và người bán.
Người mua và người bán chủ yếu giao dịch hàng hóa, dịch vụ, và/hoặc thông tin.
Lúc đầu, thị trường chỉ là nơi gặp gỡ, hội họp, tại đó người mua và người bán
tụ họp lại với nhau để thực hiện những giao dịch. Ngày nay thị trường thực sự
được hỗ trợ bởi mạng lưới công nghệ thông tin như Internet và đã trở thành thị
trường lớn nhất và có tính thanh khoản cao nhất.
Một vài thị trường có tính cạnh tranh rất cao, vì có nhiều nhà cung cấp bán
cùng một loại sản phẩm hoặc dịch vụ. Ngược lại, có vài thị trường tính cạnh
tranh rất thấp thậm chí là không có, cụ thể là những thị trường có ngành công
nghiệp được chính phủ bao cấp.
Số lượng người mua và người bán, tức là lượng cung và cầu sẽ ảnh hưởng trực
tiếp đến giá cả của sản phẩm và dịch vụ, điều đó được biết đến như là quy luật
của cung và cầu. Nếu có người bán nhiều hơn người mua, tức nguồn cung sẽ dư
và điều đó sẽ đẩy giá thành của sản phẩm và dịch vụ giảm xuống. Nếu có người
mua nhiều hơn người bán, tức nguồn cung sẽ thiếu và điều đó sẽ đẩy giá thành
của sản phẩm và dịch vụ tăng lên.
Khi mà có sự giao dịch về hàng hóa và dịch vụ thì thị trường sẽ hình thành một
cách tự phát, thị trường cũng có thể được hình thành từ việc hoạch định của
những người có thẩm quyền.
Vai trò của thị trường:
Hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp góp phần vào việc thoả mãn các
nhu cầu của thị trường, kích thích sự ra đời của các nhu cầu mới và nâng cao
chất lượng nhu cầu,... Tuy nhiên trong cơ chế thị trường, thì thị trường có vai
trò đặc biệt quan trọng đối với hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Thị trường vừa là động lực, vừa là điều kiện là thước đo hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp.
- Là động lực: thị trường đặt ra các nhu cầu tiêu dùng, buộc các doanh
nghiệp nếu muốn tồn tại được phải luôn nắm bắt được các nhu cầu và
định hướng mục tiêu hoạt động cũng phải xuất phát từ những nhu cầu đó.
Ngày nay mức sống của người dân được nâng lên một cách rõ rệt do đó
khả năng thanh toán của họ cũng cao hơn. Bên cạnh đó, các đơn vị, các tổ
chức kinh tế trong mọi lĩnh vực hoạt động kinh doanh đua nhau cạnh
tranh giành giật khách hàng gay gắt bởi thị trường có chấp nhận thì doanh
nghiệp mới có thể tồn tại được nếu ngược lại sẽ bị phá sản. Vậy thị
trường là động lực sản xuất, cũng như kinh doanh thương mại của doanh nghiệp.
- Là điều kiện: thị trường bảo đảm cung ứng hiệu quả các yếu tố cần thiết
để doanh nghiệp thực hiện tốt nhiệm vụ hoạt động kinh doanh của mình.
Nếu doanh nghiệp có nhu cầu về một loại yếu tố sản xuất hay một loại
hàng hoá nào đó thì tình hình cung ứng trên thị trường sẽ có ảnh hưởng
trực tiếp tiêu cực hoặc tích cực tới hoạt động kinh doanh của doanh
nghiệp. Vậy thị trường là điều kiện của mọi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
- Là thước đo: thị trường cũng kiểm nghiệm tính khả thi và hiệu quả các
phương án hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Trong quá trình hoạt
động kinh doanh thương mại, các doanh nghiệp luôn phải đối mặt với các
trường hợp khó khăn đòi hỏi phải có sự tính toán cân nhắc trước khi ra
quyết định. Mỗi một quyết định đều ảnh hưởng tới sự thành công hay thất
bại của các doanh nghiệp. Thị trường có chấp nhận, khách hàng có ưa
chuộng sản phẩm hàng hoá của doanh nghiệp thì mới chứng minh được
phương án kinh doanh đó có hiệu quả và ngược lại. Vậy, thị trường là
thước đo hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Như vậy, thông qua thị trường (mà trước hết là hệ thống giá cả) các doanh
nghiệp có thể nhận biết được sự phân phối các nguồn lực. Trên thị trường, giá
cả và dịch vụ, giá cả các yếu tố đầu vào ( như máy móc, thiết bị, nguồn sản
phẩm hàng hóa,... ) Luôn luôn biến động nên phải sử dụng có hiệu quả các
nguồn lực để tạo ra các hàng hoá và dịch vụ đáp ứng kịp thời nhu cầu hàng hoá
của thị trường xã hội.
Câu 6. Nền kinh tế thị trường là gì? Phân tích những đặc trưng của nền kinh tế thị trường?
Định nghĩa kinh tế thị trường:
Kinh tế thị trường là nền kinh tế mà ở đó tồn tại nhiều thành phần kinh tế,
nhiều loại hình sở hữu cùng tham gia, cùng vận động và phát triển trong một cơ
chế cạnh tranh bình đẳng và ổn định.
Những đặc trưng của nền kinh tế thị trường:
Thị trường và cơ chế thị trường là yếu tố khách quan, từng doanh nghiệp
không thể làm thay đổi thị trường mà họ phải tiếp cận và tuân theo thị trường.
Qua thị trường, doanh nghiệp có thể tự đánh giá lại mình và biết được mình làm ăn hiệu quả không.
Trong nền kinh tế thị trường, quan hệ kinh tế của các cá nhân, doanh nghiệp
biểu hiện qua việc mua bán hàng hoá, dịch vụ trên thị trường. Thái độ cư xử của
từng thành viên tham gia thị trường là hướng tìm kiếm lợi ích của mình theo sự
dẫn dắt của giá cả thị trường.
Trong cơ chế thị trường, những vấn đề có việc liên quan đến việc phân bố và
sử dụng nguồn tài nguyên sản xuất khan hiếm như lao động, vốn,... Về cơ bản
được giải quyết khách quan thông qua sự hoạt động của các quy luật kinh tế,
đặc biệt là quy luật cung cầu.
Khách hàng giữ vị trí trung tâm trong nền kinh tế thị trường; quyết định sự tồn
tại và phát triển của các doanh nghiệp. Doanh nghiệp phải tìm mọi cách để thu
hút thoả mãn nhu cầu của khách hàng với phương châm " khách hàng là thượng đế ".
Tất cả các mối quan hệ giữa các chủ thể kinh tế được tiền tệ hoá. Tiền tệ trở
thành thước đo hiệu quả kinh tế của các hoạt động sản xuất kinh doanh.
Thông qua các quy luật kinh tế, đặc biệt là sự linh hoạt trong giá cả thị trường
luôn duy trì sự cân bằng giữa cung - cầu của các loại hàng hoá, dịch vụ, hạn chế
xảy ra khan hiếm hàng hóa.
Câu 7. Phân tích nội dung của quy luật cung - cầu?
Quan hệ cung – cầu là mối quan hệ tác động lẫn nhau giữa người bán với
người mua hay giữa những người sản xuất với những người tiêu dùng diễn ra
trên thị trường để xác định giá cả và số lượng hàng hóa, dịch vụ.
Cung – cầu tác động lẫn nhau: khi cầu tăng lên, sản xuất, kinh doanh mở rộng,
lượng cung hàng hóa tăng lên và ngược lại, khi cầu giảm xuống, sản xuất, kinh
doanh thu hẹp, lượng cung hàng hóa giảm xuống.
Cung - cầu ảnh hưởng đến giá cả thị trường: Khi cung lớn hơn cầu, hoặc cung
nhỏ hơn cầu đều ảnh hưởng đến giá cả thị trường. Trường hợp cung lớn hơn cầu
thì giá cả thị trường thường thấp hơn giá trị hàng hóa trong sản xuất. Còn
trường hợp cung nhỏ hơn cầu, giá cả thị trường thường cao hơn giá trị hàng hóa
trong sản xuất. Chỉ khi cung bằng cầu thì giá cả thị trường mới bằng giá trị hàng hóa trong sản xuất.
Giá cả thị trường ảnh hưởng đến cung – cầu:
Về phía cung: Khi giá cả tăng lên, các doanh nghiệp mở rộng sản xuất, lượng
cung tăng lên và ngược lại, khi giá cả giảm xuống, các doanh nghiệp thu hẹp
sản xuất, lượng cung giảm xuống.
Về phía cầu: Khi giá cả giảm xuống thì cầu có xu hướng tăng lên và ngược lại.
Các trường hợp cung – cầu thường vận động không ăn khớp với nhau, nói cách
khác, thường diễn ra thông qua các trường hợp cung lớn hơn cầu hoặc cung nhỏ
hơn cầu. Cung bằng cầu xảy ra chỉ là kết quả của việc san bằng sự chênh lệch
giữa giá cả và giá trị hàng hóa, thông qua quá trình cạnh tranh giữa người bán
và người mua trên thị trường khi xét toàn bộ hàng hóa đem ra lưu thông. ● Bài tập CÂU 1.
Thời gian lao động xã hội cần thiết để sản xuất một đơn vị hàng hoá:
(100*3+600*5+200*6+100*7)/(100+600+200+100) = 5.2 CÂU 2.
Giá trị tính bằng tiền của Giá trị tính bằng tiền của một sản phẩm tổng sản phẩm NSLĐ tăng 1.5 lần 1.3 USD/ 1 sản phẩm Không thay đổi CĐLĐ tăng 2 lần Không thay đổi 320000 USD
Cả NSLĐ và CĐLĐ đều 1.3 USD/ 1 sản phẩm 240000 USD tăng 1.5 lần NSLĐ tăng 2 lần 10 USD/1 sản phẩm 800000 USD CĐLĐ giảm 2 lần CÂU 3.
Giá trị hàng hoá là 4000/1000= 4
a, NSLĐ tăng 2 thì giá trị hàng hóa giảm 2 lần:
Giá trị hàng hoá: 2 usd/ 1 sản phẩm
Tổng giá trị hàng hoá: 4000 usd
b, Khi cường độ lao động tăng lên 1.5 lần thì giá trị hàng hoá không đổi:
Giá trị hàng hoá là: 4 usd/ 1 sản phẩm
Tổng giá trị hàng hoá là: 6000 usd
III. CHƯƠNG 3 ( BUỔI 3 )
1. Trắc nghiệm ( làm tiếp của chương 2 ) Câu 24. D Câu 25. C Câu 26. C Câu 27. D Câu 28. D Câu 29. A Câu 30. D
2. Trả lời đúng/sai và giải thích ngắn gọn ( làm tiếp chương 2 ) Câu 31: Kinh
tế hàng hóa xuất hiện đồng thời với sự xuất hiện của con
người và xã hội loài người.
Sai, vì loài người ra đời cùng với sản xuất tự cấp tự túc.
Câu 32: Phân công lao động cá biệt là sự phân chia lao động xã hội vào các
ngành, các lĩnh vực sản xuất khác nhau của đời sống xã hội.
Sai, vì phân công lao động cá biệt là chuyên môn hóa từng công đoạn của quá
trình sản xuất trong từng công ty, xí nghiệp, cơ sở.
Câu 33: Lao động giản đơn là lao động chân tay.
Đúng, vì lao động giản đơn là những lao động mà bất cứ một người nào với
một sức khỏe bình thường và điều kiện lao động bình thường cũng có thể tạo ra
hay nói cách khác lao động giản đơn là lao động không đòi hỏi phải đào tạo về
chuyên môn cũng có thể thực hiện được một công việc nào đó.
Câu 34: Lao động trừu tượng tạo ra giá trị sử dụng của hàng hóa
Đúng, vì chính lao động trừu tượng của người sản xuất hàng hóa mới tạo ra
giá trị của hàng hóa. Như vậy, có thể nói, giá trị của hàng hóa là lao động trừu
tượng của người sản xuất hàng hóa kết tinh trong hàng hóa. Đó cũng chính là
mặt chất của giá trị hàng hóa.
Câu 35: Hàng hóa có hai thuộc tính là giá trị sử dụng và giá trị trao đổi
Đúng, vì giữa hai thuộc tính của hàng hoá luôn có mối quan hệ ràng buộc lẫn
nhau. Trong đó, giá trị sử dụng là nội dung, là cơ sở của giá trị trao đổi; còn giá
trị trao đổi là hình thức biểu hiện của giá trị ra bên ngoài.
Câu 36: Thời gian lao động xã hội cần thiết là một đại lượng cố định.
Sai, vì trình độ thành thạo trung bình, cường độ lao động trung bình, điều kiện
trang bị kỹ thuật trung bình của xã hội ở mỗi nước khác nhau là khác nhau (có
nước phát triển, có nước chậm phát triển) và thay đổi theo sự phát triển của lực
lượng sản xuất. Khi thời gian lao động xã hội cần thiết thay đổi (cao hay thấp)
thì lượng giá trị của hàng hóa cũng sẽ thay đổi. Câu 37: Khi
cường độ lao động giảm thì giá trị của một đơn vị hàng hóa lên.
Sai, vì khi cường độ lao động giảm thì giá trị của một đơn vị hàng hoá giảm xuống. Câu 38: Khi
tăng cường độ lao động sẽ không làm ảnh hưởng đến giá trị
của tổng số hàng hóa.
Đúng, vì khi tăng cường độ lao động không làm thay đổi giá trị của tổng số
hàng hoá mà làm cho tổng số hàng hóa tăng lên. Câu 39: Tăng
cường độ lao động giống với tăng năng suất lao động ở chỗ
cùng làm giảm giá trị của một đơn vị hàng hóa.
Sai, vì khi tăng cường độ lao động thì giá trị của một đơn vị hàng hoá vẫn
không đổi. Còn khi tăng năng suất lao động thì giá trị của một đơn vị hàng hóa sẽ giảm.
Câu 40: Mọi lao động phức tạp đều có thể quy về lao động giản đơn, trung bình.
Đúng, vì lao động phức tạp thực chất là lao động giản đơn được nhân lên.
Trong quá trình trao đổi hàng hóa, mọi lao động phức tạp đều được quy về lao
động đơn giản trung bình, và điều đó được quy đổi một cách tự phát sau lưng
những hoạt động sản xuất hàng hóa, hình thành những hệ số nhất định thể hiện trên thị trường. Câu 41: Ở
Việt Nam hiện nay, do sản xuất hàng hóa chưa phát triển nên
tác dụng của quy luật giá trị chưa thực sự rõ nét.
Sai, vì quy luật giá trị là quy luật kinh tế căn bản của sản xuất và lưu thông
hàng hóa, ở đâu có sản xuất và trao đổi hàng hoá thì ở đó có sự tồn tại và phát
huy tác dụng của quy luật giá trị.
Câu 42: Tất cả những vật phẩm có giá trị sử dụng đều là hàng hóa.
Sai, vì một sản phẩm muốn trở thành hàng hoá thì sản phẩm đó phải có giá trị
sử dụng nhưng giá trị sử dụng này do lao động tạo ra chứ không phải thuộc tính
tự nhiên của sản phẩm quyết định.
Câu 43: Xét về mặt lao động cụ thể thì tất cả các lao động đều giống nhau.
Sai, vì mỗi loại lao động sẽ có một mục đích riêng, phương pháp riêng và công
cụ thực hiện khác nhau chứ không giống nhau. Câu 44: Mâu
thuẫn cơ bản của nền sản xuất hàng hóa là mâu thuẫn giữa
lao động cụ thể và lao động trừu tượng
Đúng, vì lao động cụ thể phản ánh tính chất tư nhân của lao động sản xuất
hàng hóa, lao động trừu tượng phản ánh tính chất xã hội của lao động sản xuất
hàng hóa. Tính chất tư nhân đó có thể phù hợp hoặc không phù hợp với tính
chất xã hội. Đó chính là mâu thuẫn cơ bản của sản xuất hàng hóa
Câu 45: Tiền tệ không phải là hàng hóa.
Sai, vì tiền tệ là loại hàng hóa đặc biệt. Những hàng hóa không phải là tiền thì
nó không thể đem trao đổi với hàng hóa khác. Nhưng tiền thì có thể. Đồng thời
trong việc sử dụng tiền thì ít phải liên quan đến những công sức lao động được
kết tinh trong nó. Tiền được dùng làm vật trung gian để mua bán các loại hàng
hóa cụ thể khác. Hay nói theo chiều hướng khác trong vô số loại hàng hóa. Thì
nó được tách ra làm vật ngang giá chung. Đồng thời nó là kết quả của mối quan
hệ giữa những người sản xuất, tạo ra sản phẩm hàng hóa.
Câu 46: Tiền làm chức năng thước đo giá trị vì bản thân tiền có giá trị sử dụng rất cao.
Sai, vì tiền làm chức năng thước đo giá trị vì tiền cũng có giá trị, để thực hiện
chức năng thước đo giá trị người ta ngầm hiểu phải là tiền vàng Câu 47: Nguyê
n nhân của khủng hoảng sản xuất thừa là sự tách rời giữa
giá trị và giá trị sử dụng của hàng hóa.
Sai, vì nguyên nhân của khủng hoảng thừa là do mâu thuẫn giữa lao động cụ
thể và lao động trừu tượng.