


Preview text:
Câu 1
Đời sống tinh thần thì bao gồm ý thức xã hội và hoạt động của con người trong lĩnh vực tinh thần. Vì thế ý thức xã hội chỉ là một bộ phận của đời sống tinh thần. Ý thức xã hội bao gồm những quan điểm tư tưởng, tình cảm, tâm trạng phản ánh tồn tại xã hội nhất định - theo từng giai đoạn.
Ý thức xã hội là mặt tinh thần của đời sống xã hội, bao gồm toàn bộ những quan điểm, tư tưởng cùng những tình cảm, tâm trạng, ... của những cộng đồng xã hội, nảy sinh từ tồn tại xã hội và phản ánh tồn tại xã hội trong những giai đoạn phát triển nhất định.
Hay hiểu đơn giản hơn thì ý thức xã hội thông thường là toàn bộ những tri thức, những quan niệm ... của những con người trong một cộng đồng người nhất định, được hình thành một cách trực tiếp từ hoạt động thực tiễn hàng ngày, chưa được hệ thống hóa, khái quát hóa thành lý luận. Ý thức xã hội thường phản ánh sinh động, trực tiếp nhiều mặt cuộc sống hàng ngày của con người, thường xuyên chi phối cuộc sống đó. Ý thức xã hội có những tri thức kinh nghiệm phong phú có thể trở thành tiền đề quan trọng cho sự hình thành các lý thuyết xã hội.
Tính chất của ý thức xã hội:
- Tính giai cấp: trong xã hội có giai cấp, ý thức xã hội mang tính giai cấp. Các giai cấp khác nhau có điều kiện sống, cơ sở kinh tế khác nhau nên thường có tư tưởng, quan điểm khác nhau. Tuy nhiên các giai cấp khác nhau cũng chia sẻ những quan điểm chung được toàn xã hội thừa nhận. Tính giai cấp của tư tưởng chỉ là một cách tiếp cận của Marx và không nên bị lạm dụng. Khi nào xuất hiện giai cấp, Nhà nước, khi đó ý thức xã hội mang tính giai cấp. Giai cấp nào nắm quyền thống trị thì ý thức xã hội phục vụ cho giai cấp đó.
- Tính dân tộc: các giai cấp trong cùng một dân tộc luôn chịu sự tác động của một số yếu tố chung (điều kiện tự nhiên, lịch sử, …) và được thể hiện tập trung ở tâm lý xã hội.
- Tính nhân loại: những giá trị mang tính phổ biến toàn nhân loại và những nội dung, những vấn đề đòi hỏi mối quan tâm chung của cả nhân loại.
Bản chất của ý thức xã hội:
- Là sự phản ánh của tồn tại xã hội và do tồn tại xã hội quyết định.
- Có tính độc lập tương đối trong mối quan hệ với sự tồn tại xã hội.
- Giữa các hình thái của ý thức xã hội luôn có sự xâm nhập, ảnh hưởng và tác động qua lại lẫn nhau.
- Có thể tác động mạnh mẽ đến tồn tại xã hội, thúc đẩy sự phát triển của tồn tại xã hội nếu phản ánh đúng quy luật vận động hay thậm chí còn kìm hãm sự phát triển của tồn tại xã hội khi phản ánh không đúng quy luật vận động của tồn tại xã hội.
Câu 2
Mối quan hệ biện chứng giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội là một trong những nguyên lý cơ bản của triết học Mác-Lênin, đặc biệt liên quan đến lý thuyết về lịch sử và sự phát triển của xã hội. Theo nguyên lý này, tồn tại xã hội và ý thức xã hội có mối quan hệ qua lại, tác động lẫn nhau, nhưng tồn tại xã hội đóng vai trò quyết định đối với ý thức xã hội.
Theo đó, tồn tại xã hội bao gồm các yếu tố vật chất và điều kiện
khách quan của đời sống xã hội, cụ thể:
- Phương thức sản xuất: là yếu tố quan trọng nhất, bao gồm lực
lượng sản xuất và quan hệ sản xuất.
- Cơ sở hạ tầng kinh tế: hệ thống các quan hệ kinh tế trong xã hội,
như chế độ sở hữu, phân phối của cải.
- Điều kiện tự nhiên và môi trường sống: ảnh hưởng trực tiếp đến
đời sống con người.
Tồn tại xã hội phản ánh những điều kiện khách quan mà con người
phải đối mặt trong quá trình tồn tại và phát triển. Ý thức xã hội bao gồm toàn bộ tư tưởng, quan niệm, quan điểm, tôn giáo, đạo đức, pháp luật và các giá trị tinh thần khác được hình thành từ quá trình phản ánh hiện thực xã hội. Ý thức xã hội tồn tại
dưới nhiều hình thức như:
- Ý thức chính trị: quan điểm, hệ tư tưởng liên quan đến quyền lực nhà nước.
- Ý thức pháp quyền: các quan niệm về công bằng, quyền lợi và luật pháp.
- Ý thức tôn giáo: niềm tin và giáo lý liên quan đến các hiện tượng siêu nhiên.
- Ý thức đạo đức, văn hóa: các giá trị về đạo đức, lối sống và văn hóa trong xã hội.
Mối quan hệ giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội
Mối quan hệ giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội là một mối quan hệ biện chứng, tức là chúng tác động qua lại lẫn nhau. Trong đó:
Tồn tại xã hội quyết định ý thức xã hội: Tồn tại xã hội, đặc biệt là phương thức sản xuất, quyết định sự hình thành và phát triển của ý thức xã hội. Ví dụ, trong một xã hội phong kiến, ý thức xã hội sẽ phản ánh hệ thống giá trị và đạo đức phong kiến, trong khi trong xã hội tư bản, ý thức xã hội sẽ phản ánh những quan điểm về lợi nhuận, cạnh tranh, và sở hữu tư nhân.
Ý thức xã hội có tính độc lập tương đối và phản tác động lại tồn tại xã hội: Mặc dù tồn tại xã hội quyết định ý thức xã hội, nhưng ý thức xã hội cũng có tính độc lập tương đối và có thể tác động ngược lại sự phát triển của tồn tại xã hội. Ví dụ, một hệ tư tưởng tiến bộ có thể thúc đẩy sự thay đổi xã hội và góp phần làm cho tồn tại xã hội
phát triển theo một hướng mới.
Tính biện chứng trong mối quan hệ
Mối quan hệ này không diễn ra theo một chiều mà mang tính biện chứng, tức là tồn tại xã hội và ý thức xã hội vừa tác động, vừa ảnh hưởng qua lại lẫn nhau. Tuy nhiên, về mặt cơ bản, sự biến đổi trong tồn tại xã hội sẽ dẫn đến những thay đổi trong ý thức xã hội. Đồng thời, ý thức xã hội, đặc biệt là các yếu tố tư tưởng, văn hóa tiến bộ, có thể thúc đẩy hoặc kìm hãm sự phát triển của tồn tại xã hội.