Câu 1
a) Khái ni m con ng i ườ
Con ng i là m t th c th t nhiên mang đ c tính xã h i có s th ng nh t bi n ườ
ch ng gi a hai ph ng di n t nhiên và xã h i. ươ
Ti n đ v t ch t đ u tiên quy đ nh s hình thành, t n t i và phát tri n c a con
ng i chính là gi i t nhiên. Vì v y, b n tính t nhiên là m t trong nh ng ph ng di n ườ ươ
c b n c a con ng i, loài ng i. Do v y, vi c nghiên c u, khám phá khoa h c v c u ơ ườ ườ
t o t nhiên và ngu n g c t nhiên c a con ng i là c s khoa h c quan tr ng đ con ườ ơ
ng i hi u bi t v chính b n thân mình, ti n đ n làm ch b n thân mình trong m i ườ ế ế ế
hành vi và ho t đ ng sáng t o ra l ch s c a nó, t c l ch s nhân lo i.
B n tính t nhiên c a con ng i đ c phân tích t hai giác đ : ườ ượ
Con ng i là k t qu c a quá trình ti n hóa và phát tri n lâu dài c a gi i t nhiên. ườ ế ế
C s khoa h c c a k t lu n này đã đ c ch ng minh b ng toàn b s phát tri n c a ơ ế ượ
ch nghĩa duy v t và khoa h c t nhiên, đ c bi t là h c thuy t c a Đácuyn v s ti n ế ế
hóa c a các loài.
Con ng i là m t b ph n c a gi i t nhiên và đ ng th i gi i t nhiên cũng "là thân ườ
th vô c c a con ng i". Do đó, nh ng bi n đ i c a gi i t nhiên và tác đ ng c a quy ơ ườ ế
lu t t nhiên tr c ti p ho c gián ti p th ng xuyên quy đ nh s t n t i c a con ng i ế ế ườ ườ
và xã h i loài ng i, nó là môi tr ng trao đ i v t ch t gi a con ng i và gi i t nhiên; ườ ườ ườ
ng c l i, s bi n đ i và ho t đ ng c a con ng i, loài ng i luôn luôn tác đ ng tr ượ ế ườ ườ
l i môi tr ng t nhiên, làm bi n đ i môi tr ng đó. Đây chính là m i quan h bi n ườ ế ườ
ch ng gi a s t n t i c a con ng i, loài ng i và các t n t i khác c a gi i t nhiên. ườ ườ
Tuy nhiên, con ng i không đ ng nh t v i các t n t i khác c a gi i t nhiên, nó ườ
mang đ c tính xã h i b i vì m i con ng i v i t cách là "ng i" chính là xét trong m i ườ ư ườ
quan h c a các c ng đ ng xã h i, đó là các c ng đ ng: gia đình, giai c p, qu c gia, dân
t c, nhân lo i.... Vì v y, b n tính xã h i nh t đ nh ph i là m t ph ng di n khác c a ươ
b n tính con ng i, h n n a đây là b n tính đ c thù c a con ng i. ườ ơ ườ
B n tính xã h i c a con ng i đ c phân tích t các giác đ : ườ ượ
Xét t giác đ ngu n g c hình thành, loài ng i không ph i ch có ngu n g c t s ườ
ti n hóa, phát tri n c a v t ch t t nhiên mà còn có ngu n g c xã h i c a nó, mà tr cế ướ
h t và c b n nh t là nhân t lao đ ng. Chính nh lao đ ng mà con ng i có kh năng ế ơ ườ
v t qua loài đ ng v t đ ti n hóa và phát tri n thành ng i. Đó là m t trong nh ng ượ ế ườ
phát hi n m i c a ch nghĩa Mác - Lênin, nh đó có th hoàn ch nh h c thuy t v ế
ngu n g c c a loài ng i mà t t c các h c thuy t trong l ch s đ u ch a có l i gi i ườ ế ư
đáp đúng đ n và đ y đ .
Xét t giác đ t n t i và phát tri n, thì s t n t i c a loài ng i luôn luôn b chi ph i ườ
b i các nhân t xã h i và các quy lu t xã h i. Xã h i bi n đ i thì m i con ng i cũng có ế ườ
s thay đ i t ng ng. Ng c l i, s phát tri n c a m i cá nhân l i là ti n đ cho s ươ ượ
phát tri n c a xã h i. Ngoài m i quan h xã h i thì m i con ng i ch t n t i v i t ườ ư
cách là m t th c th sinh v t thu n túy, không th là "con ng i" v i đ y đ ý nghĩa ườ
c a nó.
Hai ph ng di n t nhiên và xã h i c a con ng i t n t i trong tính th ng nh t, quy ươ ườ
đ nh l n nhau, tác đ ng l n nhau, làm bi n đ i l n nhau, nh đó t o nên kh năng ho t ế
đ ng sáng t o c a con ng i trong quá trình làm ra l ch s c a chính nó. Vì th , nêu lý ườ ế
gi i b n tính sáng t o c a con ng i đ n thu n ch t giác đ b n tính t nhiên ho c ườ ơ
ch t b n tính xã h i thì đ u là phi n di n, không tri t đ và nh t đ nh cu i cùng sẽ ế
d n đ n nh ng k t lu n sai l m trong nh n th c và th c ti n. ế ế
b) B n ch t c a con ng i ườ
Trong l ch s t t ng nhân lo i đã có nhi u quan ni m khác nhau v b n ch t, ư ưở
"b n tính ng i" c a con ng i, nh ng v c b n nh ng quan ni m đó th ng là ườ ườ ư ơ ườ
nh ng quan ni m phi n di n, tr u t ng và duy tâm, th n bí. Trong tác ph m Lu n ế ượ
c ng v Phoi b c, C.Mác đã phê phán v n t t nh ng quan ni m đó và xác l p quan ươ ơ
ni m m i c a mình "B n ch t con ng i không ph i là m t cái tr u t ng c h u c a ườ ượ
cá nhân riêng bi t. Trong tính hi n th c c a nó, b n ch t con ng i là t ng hòa nh ng ườ
quan h xã h i".
H n ch căn b n c a quan ni m duy v t siêu hình, tr c quan là đã tr u t ng hóa, ế ượ
tuy t đ i hóa ph ng di n t nhiên c a con ng i, th ng xem nh vi c lý gi i con ươ ườ ườ
ng i t ph ng di n l ch s xã h i c a nó, do đó v căn b n ch th y b n tính t ườ ươ
nhiên c a con ng i. Khác v i quan ni m đó, quan ni m duy v t bi n ch ng v con ườ
ng i trong khi th a nh n b n tính t nhiên c a con ng i còn lý gi i con ng i t ườ ườ ườ
giác đ các quan h l ch s xã h i, t đó phát hi n b n tính xã h i c a nó.
H n n a, chính b n tính xã h i c a con ng i là ph ng di n b n ch t nh t c a conơ ườ ươ
ng i v i t cách "ng i", phân bi t con ng i v i các t n t i khác c a gi i t nhiên. ườ ư ườ ườ
Nh v y, có th đ nh nghĩa con ng i là m t th c th t nhiên nh ng đó là th c th t ư ườ ư
nhiên mang đ c tính xã h i. V y, b n ch t c a con ng i, xét trên ph ng di n tính ườ ươ
hi n th c c a nó, chính là "t ng hòa nh ng quan h xã h i", b i vì xã h i chính là xã h i
c a con ng i, đ c t o nên t toàn b các quan h gi a ng i v i ng i trên các m t ườ ượ ườ ườ
kinh t , chính tr , văn hóa,...ế
Theo quan đi m duy v t bi n ch ng v b n ch t xã h i c a con ng i thì s hình ườ
thành và phát tri n c a con ng i cùng nh ng kh năng sáng t o l ch s c a nó c n ườ
ph i đ c ti p c n t giác đ phân tích và lý gi i s hình thành và phát tri n c a ượ ế
nh ng quan h xã h i c a nó trong l ch s . Xét t giác đ nhân ch ng h c, t c ph ng ươ
di n b n tính t nhiên, ng i da đen" v n ch là ng i da đen, nh ng ch trong quan h ườ ườ ư
kinh t - chính tr c a xã h i chi m h u nô l anh ta m i b bi n thành "ng i nô l ", ế ế ế ườ
còn trong quan h kinh t - chính tr xã h i ch nghĩa, anh ta là "ng i t do”, làm ch ế ườ
và sáng t o l ch s . Nh th không có m t b n ch t nô l c h u và b t bi n c a ng i ư ế ế ườ
da đen hay da tr ng, nó là s n ph m t t y u c a nh ng quan h kinh t , chính tr - xã ế ế
h i trong nh ng đi u ki n l ch s xác đ nh, khi nh ng quan h này thay đ i thì cũng
t o s thay đ i b n ch t c a con ng i. Vì v y, gi i phóng b n ch t con ng i c n ườ ườ
ph i h ng vào s giài phóng nh ng quan h kinh t , chính tr , văn hóa, xã h i c a nó, ướ ế
thông qua đó có th phát huy kh năng sáng t o l ch s c a con ng i. ườ
Nh v y, không có con ng i phi l ch s mà trái l i luôn g n v i nh ng đi u ki n ư ườ
hoàn c nh l ch s nh t đ nh. C n ph i t quan ni m nh v y m i có th lý gi i đúng ư
đ n v kh năng sáng t o l ch s c a con ng i. S h n ch v năng l c sáng t o l ch ườ ế
s c a nh ng con ng i ti u nông không th lý gi i t b n tính t nhiên c a h , trái ườ
l i c n ph i đ c lý gi i t giác đ tính h n ch v trình đ phát tri n c a các quan h ượ ế
kinh t , chính tr , văn hóa c a xã h i ti u nông. Nh th , con ng i, xét t giác đ b n ế ư ế ườ
ch t xã h i c a nó, là s n ph m c a l ch s ; l ch s sáng t o ra con ng i trong ch ng ườ
m c nào thì con ng i l i cũng sáng t o ra l ch s trong ch ng m c đó. Đây là bi n ườ
ch ng c a m i quan h gi a con ng i – ch th c a l ch s v i chính l ch s do nó ườ
t o ra và đ ng th i l i b quy đ nh b i chính l ch s đó. T đó có th th y, h n ch c ế ơ
b n c a quan ni m duy v t siêu hình v b n ch t c a con ng i chính là ch ch ườ
nh n th y tính quy t đ nh c a hoàn c nh l ch s đ i v i con ng i mà không nh n ế ườ
th y m i quan h sáng t o c a con ng i trong quá trình c i t o hoàn c nh và do đó ườ
cũng chính là c i t o b n thân nó. C.Mác đã kh ng đ nh: "Cái h c thuy t duy v t ch ế
nghĩa cho r ng con ng i là s n ph m c a nh ng hoàn c nh và c a giáo d c... cái h c ườ
thuy t y quên r ng chính nh ng con ng i làm thay đ i hoàn c nh và b n thân nhà ế ườ
giáo d c cũng c n ph i đ c giáo d c". Trong tác ph m Bi n ch ng c a t nhiên, ượ
Ph.Ăngghen cũng cho r ng: "Thú v t cũng có m t l ch s , chính là l ch s ngu n g c c a
chúng và l ch s phát tri n d n d n c a chúng cho t i tr ng thái hi n nay c a chúng.
Nh ng l ch s y không ph i do chúng làm ra và trong ch ng m c mà chúng có tham ư
d vào vi c làm ra l ch s y thì đi u đó di n ra mà chúng không h bi t và không ph i ế
do ý mu n c a chúng. Ng c l i, con ng i càng cách xa con v t, hi u theo nghĩa h p ượ ườ
c a t này bao nhiêu thì con ng i l i càng t mình làm ra l ch s c a mình m t cách ườ
có ý th c b y nhiêu".
Nh v y, v i t cách là th c th xã h i, con ng i trong ho t đ ng th c ti n, thông ư ư ườ
qua ho t đ ng th c ti n, tác đ ng vào gi i t nhiên, làm c i bi n gi i t nhiên theo nhu ế
c u sinh t n và phát tri n c a nó thì đ ng th i con ng i cũng sáng t o ra l ch s c a ườ
chính nó, th c hi n s phát tri n c a l ch s đó.
T quan ni m khoa h c c a ch nghĩa Mác - Lênin v con ng i, có th rút ra m t ườ
s ý nghĩa ph ng pháp lu n quan tr ng: ươ
Đ lý gi i m t cách khoa h c nh ng v n đ v con ng i thì không th ch đ n ườ ơ
thu n t ph ng di n b n tính t nhiên c a nó mà đi u căn b n h n, có tính quy t ươ ơ ế
đ nh ph i là t ph ng di n b n tính xã h i c a nó, t nh ng quan h kinh t - xã h i ươ ế
c a nó.
Đ ng l c c b n c a s ti n b và phát tri n c a xã h i chính là năng l c sáng t o ơ ế
l ch s c a con ng i. Vì v y, phát huy năng l c sáng t o c a m i con ng i, vì con ườ ườ
ng i chính là phát huy ngu n đ ng l c quan tr ng thúc đ y s ti n b và phát tri n ườ ế
c a xã h i.
S nghi p gi i phóng con ng i nh m phát huy kh năng sáng t o l ch s c a nó ườ
ph i là h ng vào s nghi p gi i phóng nh ng quan h kinh t - xã h i. Trên ý nghĩa ướ ế
ph ng pháp lu n đó, có th th y m t trong nh ng giá tr căn b n nh t c a cu c cách ươ
m ng xã h i ch nghĩa chính là m c tiêu xóa b tri t đ các quan h kinh t - xã h i ế
áp b c và bóc l t, ràng bu c kh năng sáng t o l ch s c a con ng i. Cu c cách m ng ườ
đó cũng th c hi n s nghi p gi i phóng toán nhân lo i b n ph ng th c xây d ng m i ươ
quan h kinh t - xã h i xã h i ch nghĩa và c ng s n ch nghĩa nh m xác l p và phát ế
tri n m t xã h i mà t do và sáng t o c a ng i này tr thành đi u ki n cho t do và ườ
sáng t o c a ng i khác. Đó cũng chính là th c hi n tri t lý đ o đ c nhân sinh cao đ p ườ ế
nh t c a ch nghĩa c ng s n: "m i ng i vì m i ng i,m i ng i vì m i ng i". ườ ườ ườ ườ

Preview text:

Câu 1

a) Khái niệm con người

Con người là một thực thể tự nhiên mang đặc tính xã hội có sự thống nhất biện chứng giữa hai phương diện tự nhiên và xã hội.

Tiền đề vật chất đầu tiên quy định sự hình thành, tồn tại và phát triển của con người chính là giới tự nhiên. Vì vậy, bản tính tự nhiên là một trong những phương diện cơ bản của con người, loài người. Do vậy, việc nghiên cứu, khám phá khoa học về cấu tạo tự nhiên và nguồn gốc tự nhiên của con người là cơ sở khoa học quan trọng để con người hiểu biết về chính bản thân mình, tiến đến làm chủ bản thân mình trong mọi hành vi và hoạt động sáng tạo ra lịch sử của nó, tức lịch sử nhân loại.

Bản tính tự nhiên của con người được phân tích từ hai giác độ:

Con người là kết quả của quá trình tiến hóa và phát triển lâu dài của giới tự nhiên. Cơ sở khoa học của kết luận này đã được chứng minh bằng toàn bộ sự phát triển của chủ nghĩa duy vật và khoa học tự nhiên, đặc biệt là học thuyết của Đácuyn về sự tiến hóa của các loài.

Con người là một bộ phận của giới tự nhiên và đồng thời giới tự nhiên cũng "là thân thể vô cơ của con người". Do đó, những biến đổi của giới tự nhiên và tác động của quy luật tự nhiên trực tiếp hoặc gián tiếp thường xuyên quy định sự tồn tại của con người và xã hội loài người, nó là môi trường trao đổi vật chất giữa con người và giới tự nhiên; ngược lại, sự biến đổi và hoạt động của con người, loài người luôn luôn tác động trở lại môi trường tự nhiên, làm biến đổi môi trường đó. Đây chính là mối quan hệ biện chứng giữa sự tồn tại của con người, loài người và các tồn tại khác của giới tự nhiên.

Tuy nhiên, con người không đồng nhất với các tồn tại khác của giới tự nhiên, nó mang đặc tính xã hội bởi vì mỗi con người với tư cách là "người" chính là xét trong mối quan hệ của các cộng đồng xã hội, đó là các cộng đồng: gia đình, giai cấp, quốc gia, dân tộc, nhân loại.... Vì vậy, bản tính xã hội nhất định phải là một phương diện khác của bản tính con người, hơn nữa đây là bản tính đặc thù của con người.

Bản tính xã hội của con người được phân tích từ các giác độ:

Xét từ giác độ nguồn gốc hình thành, loài người không phải chỉ có nguồn gốc từ sự tiến hóa, phát triển của vật chất tự nhiên mà còn có nguồn gốc xã hội của nó, mà trước hết và cơ bản nhất là nhân tố lao động. Chính nhờ lao động mà con người có khả năng vượt qua loài động vật để tiến hóa và phát triển thành người. Đó là một trong những phát hiện mới của chủ nghĩa Mác - Lênin, nhờ đó có thể hoàn chỉnh học thuyết về nguồn gốc của loài người mà tất cả các học thuyết trong lịch sử đều chưa có lời giải đáp đúng đắn và đầy đủ.

Xét từ giác độ tồn tại và phát triển, thì sự tồn tại của loài người luôn luôn bị chi phối bởi các nhân tố xã hội và các quy luật xã hội. Xã hội biến đổi thì mỗi con người cũng có sự thay đổi tương ứng. Ngược lại, sự phát triển của mỗi cá nhân lại là tiền đề cho sự phát triển của xã hội. Ngoài mối quan hệ xã hội thì mỗi con người chỉ tồn tại với tư cách là một thực thể sinh vật thuần túy, không thể là "con người" với đầy đủ ý nghĩa của nó.

Hai phương diện tự nhiên và xã hội của con người tồn tại trong tính thống nhất, quy định lẫn nhau, tác động lẫn nhau, làm biến đổi lẫn nhau, nhờ đó tạo nên khả năng hoạt động sáng tạo của con người trong quá trình làm ra lịch sử của chính nó. Vì thế, nêu lý giải bản tính sáng tạo của con người đơn thuần chỉ từ giác độ bản tính tự nhiên hoặc chỉ từ bản tính xã hội thì đều là phiến diện, không triệt để và nhất định cuối cùng sẽ dẫn đến những kết luận sai lầm trong nhận thức và thực tiễn.

b) Bản chất của con người

Trong lịch sử tư tưởng nhân loại đã có nhiều quan niệm khác nhau về bản chất, "bản tính người" của con người, nhưng về cơ bản những quan niệm đó thường là những quan niệm phiến diện, trừu tượng và duy tâm, thần bí. Trong tác phẩm Luận cương về Phoiơbắc, C.Mác đã phê phán vắn tắt những quan niệm đó và xác lập quan niệm mới của mình "Bản chất con người không phải là một cái trừu tượng cố hữu của cá nhân riêng biệt. Trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hòa những quan hệ xã hội".

Hạn chế căn bản của quan niệm duy vật siêu hình, trực quan là đã trừu tượng hóa, tuyệt đối hóa phương diện tự nhiên của con người, thường xem nhẹ việc lý giải con người từ phương diện lịch sử xã hội của nó, do đó về căn bản chỉ thấy bản tính tự nhiên của con người. Khác với quan niệm đó, quan niệm duy vật biện chứng về con người trong khi thừa nhận bản tính tự nhiên của con người còn lý giải con người từ giác độ các quan hệ lịch sử xã hội, từ đó phát hiện bản tính xã hội của nó.

Hơn nữa, chính bản tính xã hội của con người là phương diện bản chất nhất của con người với tư cách "người", phân biệt con người với các tồn tại khác của giới tự nhiên. Như vậy, có thể định nghĩa con người là một thực thể tự nhiên nhưng đó là thực thể tự nhiên mang đặc tính xã hội. Vậy, bản chất của con người, xét trên phương diện tính hiện thực của nó, chính là "tổng hòa những quan hệ xã hội", bởi vì xã hội chính là xã hội của con người, được tạo nên từ toàn bộ các quan hệ giữa người với người trên các mặt kinh tế, chính trị, văn hóa,...

Theo quan điểm duy vật biện chứng về bản chất xã hội của con người thì sự hình thành và phát triển của con người cùng những khả năng sáng tạo lịch sử của nó cần phải được tiếp cận từ giác độ phân tích và lý giải sự hình thành và phát triển của những quan hệ xã hội của nó trong lịch sử. Xét từ giác độ nhân chủng học, tức phương diện bản tính tự nhiên, người da đen" vẫn chỉ là người da đen, nhưng chỉ trong quan hệ kinh tế - chính trị của xã hội chiếm hữu nô lệ anh ta mới bị biến thành "người nô lệ", còn trong quan hệ kinh tế - chính trị xã hội chủ nghĩa, anh ta là "người tự do”, làm chủ và sáng tạo lịch sử. Như thế không có một bản chất nô lệ cố hữu và bất biến của người da đen hay da trắng, nó là sản phẩm tất yếu của những quan hệ kinh tế, chính trị - xã hội trong những điều kiện lịch sử xác định, khi những quan hệ này thay đổi thì cũng tạo sự thay đổi bản chất của con người. Vì vậy, giải phóng bản chất con người cần phải hướng vào sự giài phóng những quan hệ kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội của nó, thông qua đó có thể phát huy khả năng sáng tạo lịch sử của con người.

Như vậy, không có con người phi lịch sử mà trái lại luôn gắn với những điều kiện hoàn cảnh lịch sử nhất định. Cần phải từ quan niệm như vậy mới có thể lý giải đúng đắn về khả năng sáng tạo lịch sử của con người. Sự hạn chế về năng lực sáng tạo lịch sử của những con người tiểu nông không thể lý giải từ bản tính tự nhiên của họ, trái lại cần phải được lý giải từ giác độ tính hạn chế về trình độ phát triển của các quan hệ kinh tế, chính trị, văn hóa của xã hội tiểu nông. Như thế, con người, xét từ giác độ bản chất xã hội của nó, là sản phẩm của lịch sử; lịch sử sáng tạo ra con người trong chừng mực nào thì con người lại cũng sáng tạo ra lịch sử trong chừng mực đó. Đây là biện chứng của mối quan hệ giữa con người – chủ thể của lịch sử với chính lịch sử do nó tạo ra và đồng thời lại bị quy định bởi chính lịch sử đó. Từ đó có thể thấy, hạn chế cơ bản của quan niệm duy vật siêu hình về bản chất của con người chính là ở chỗ chỉ nhận thấy tính quyết định của hoàn cảnh lịch sử đối với con người mà không nhận thấy mối quan hệ sáng tạo của con người trong quá trình cải tạo hoàn cảnh và do đó cũng chính là cải tạo bản thân nó. C.Mác đã khẳng định: "Cái học thuyết duy vật chủ nghĩa cho rằng con người là sản phẩm của những hoàn cảnh và của giáo dục... cái học thuyết ấy quên rằng chính những con người làm thay đổi hoàn cảnh và bản thân nhà giáo dục cũng cần phải được giáo dục". Trong tác phẩm Biện chứng của tự nhiên, Ph.Ăngghen cũng cho rằng: "Thú vật cũng có một lịch sử, chính là lịch sử nguồn gốc của chúng và lịch sử phát triển dần dần của chúng cho tới trạng thái hiện nay của chúng. Nhưng lịch sử ấy không phải do chúng làm ra và trong chừng mực mà chúng có tham dự vào việc làm ra lịch sử ấy thì điều đó diễn ra mà chúng không hề biết và không phải do ý muốn của chúng. Ngược lại, con người càng cách xa con vật, hiểu theo nghĩa hẹp của từ này bao nhiêu thì con người lại càng tự mình làm ra lịch sử của mình một cách có ý thức bấy nhiêu".

Như vậy, với tư cách là thực thể xã hội, con người trong hoạt động thực tiễn, thông qua hoạt động thực tiễn, tác động vào giới tự nhiên, làm cải biến giới tự nhiên theo nhu cầu sinh tồn và phát triển của nó thì đồng thời con người cũng sáng tạo ra lịch sử của chính nó, thực hiện sự phát triển của lịch sử đó.

Từ quan niệm khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin về con người, có thể rút ra một số ý nghĩa phương pháp luận quan trọng:

Để lý giải một cách khoa học những vấn đề về con người thì không thể chỉ đơn thuần từ phương diện bản tính tự nhiên của nó mà điều căn bản hơn, có tính quyết định phải là từ phương diện bản tính xã hội của nó, từ những quan hệ kinh tế - xã hội của nó.

Động lực cơ bản của sự tiến bộ và phát triển của xã hội chính là năng lực sáng tạo lịch sử của con người. Vì vậy, phát huy năng lực sáng tạo của mỗi con người, vì con người chính là phát huy nguồn động lực quan trọng thúc đẩy sự tiến bộ và phát triển của xã hội.

Sự nghiệp giải phóng con người nhằm phát huy khả năng sáng tạo lịch sử của nó phải là hướng vào sự nghiệp giải phóng những quan hệ kinh tế - xã hội. Trên ý nghĩa phương pháp luận đó, có thể thấy một trong những giá trị căn bản nhất của cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa chính là ở mục tiêu xóa bỏ triệt để các quan hệ kinh tế - xã hội áp bức và bóc lột, ràng buộc khả năng sáng tạo lịch sử của con người. Cuộc cách mạng đó cũng thực hiện sự nghiệp giải phóng toán nhân loại bản phương thức xây dựng mối quan hệ kinh tế - xã hội xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa nhằm xác lập và phát triển một xã hội mà tự do và sáng tạo của người này trở thành điều kiện cho tự do và sáng tạo của người khác. Đó cũng chính là thực hiện triết lý đạo đức nhân sinh cao đẹp nhất của chủ nghĩa cộng sản: "mỗi người vì mọi người,mọi người vì mỗi người".