Đang tải lên
Vui lòng đợi trong giây lát...
Preview text:
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
HỌC KỲ II NĂM HỌC 2020 – 2021
(Phần dành cho sinh viên/ học viên)
Bài thi học phần: Tư tưởng Hồ Chí Minh Số báo danh: 92 Mã số đề thi: 28 Lớp: 2172HCMI0111
Ngày thi: 08/12/2021 Số trang: 9
Họ và tên: Nguyễn Thị Hoài Thương Điểm kết luận:
GV chấm thi 1: …….………………………......
GV chấm thi 2: …….………………………......
Câu 1 (5 điểm): Hồ Chí Minh có quan điểm như thế nào về tính chất, đặc điểm và
nhiệm vụ của thời kỳ quá độ lên CNXH ở Việt Nam. Liên hệ với thực tiễn cách mạng Việt Nam.
Câu 2 (5 điểm): Anh (chị) hãy làm rõ những phương pháp xây dựng con người trong
tư tưởng Hồ Chí Minh. Liên hệ với việc xây dựng con người Việt Nam hiện nay.
Họ tên SV/HV: Nguyễn Thị Hoài Thương - Mã LHP: 2172HCMI0111 Trang 1 Câu 1:
Kế thừa những quan điểm về cách mạng của Mac-Lê nin, thời kỳ quá độ lên chủ
nghĩa xã hội, đồng thời xuất phát từ đặc điểm lịch sử cụ thể và điều kiện của Việt
Nam, Hồ Chí Minh đã khẳng định: Thời kỳ quá độ “là thời kỳ dân chủ mới”, tiến dần
lên chủ nghĩa xã hội. Ở Việt Nam là hình thái quá độ gián tiếp lên chủ nghĩa xã hội, bỏ
qua chế độ tư bản chủ nghĩa. Việc bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa, cơ bản là: “bỏ qua
việc xác lập vị trí thống trị của quan hệ sản xuất và kiến trúc thượng tầng tư bản chủ
nghĩa, nhưng tiếp thu, kế thừa những thành tựu mà nhân loại đã đạt được dưới chế độ
tư bản chủ nghĩa, đặc biệt về khoa học và công nghệ, để phát triển nhanh lực lượng sản
xuất, xây dựng nền kinh tế hiện đại”. Vì vậy, Người cũng nêu rõ việc xây dựng chủ
nghĩa xã hội là một cuộc đấu tranh cách mạng phức tạp, gian khổ và lâu dài chứ
“không thể một sớm một chiều”.
Thực tiễn đã khẳng định chủ nghĩa tư bản là chế độ xã hội đã lỗi thời về mặt lịch
sử, phải được thay bằng hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa mà giai đoạn đầu
là giai đoạn xã hội xã hội chủ nghĩa. Quá trình cải biến xã hội cũ, xây dựng xã hội mới
- xã hội xã hội chủ nghĩa không phải là quá trình cải lương, duy ý chí, mà là quá trình
cách mạng sôi động trải qua nhiều giai đoạn phát triển khách quan, hợp với quy luật
của lịch sử. Chủ nghĩa xã hội khoa học, tự do, dân chủ và nhân đạo mà nhân dân ta và
loài người tiến bộ đang vươn tới luôn đại diện cho những giá trị tiến bộ của nhân loại,
đại diện lợi ích của người lao động, là hình thái kinh tế - xã hội cao hơn chủ nghĩa tư
bản. Quá trình cách mạng đó vì sự nghiệp cao cả là giải phóng con người, vì sự phát
triển tự do và toàn diện của con người, vì tiến bộ chung của loài người. Đi theo dòng
chảy của thời đại cũng tức là đi theo quy luật phát triển tự nhiên của lịch sử. Cách
mạng Việt Nam phát triển theo con đường độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã
hội. Nhờ đi con đường ấy, nhân dân ta đã làm Cách mạng Tháng Tám thành công, đã
tiến hành thắng lợi hai cuộc kháng chiến hoàn thành sự nghiệp giải phóng dân tộc.
Ngày nay, chỉ có đi lên chủ nghĩa xã hội mới giữ vững được độc lập, tự do cho dân
tộc, mới thực hiện được mục tiêu: dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ,
văn minh. Sự lựa chọn con đường độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội của nhân dân ta,
như vậy là sự lựa chọn của chính lịch sử dân tộc lại vừa phù hợp với xu thế của thời
đại. Điều đó cũng đã thể hiện sự quá độ lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ
nghĩa ở nước ta là một tất yếu lịch sử. Vì thế, quá độ lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế
độ tư bản chủ nghĩa là một tất yếu lịch sử đối với nước ta. Tính tất yếu lịch sử ấy xuất
hiện từ những năm 20 của thế kỷ XX.
Về tính chất của thời kỳ quá độ, đây là thời kỳ cải biến sâu sắc nhất nhưng phức
tạp, lâu dài, khó khăn, gian khổ. Theo Hồ Chí Minh, thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã
hội ở Việt Nam là thời kỳ cải biến xã hội cũ thành xã hội mới – một xã hội hoàn toàn
chưa từng có trong lịch sử dân tộc ta. Thời kỳ dân tộc ta phải thay đổi triệt để những
nếp sống, thói quen, ý nghĩ và thành kiến có gốc rễ sâu xa hàng ngàn năm; phải xóa
bỏ giai cấp bóc lột; phải biến một nước dốt nát, cực khổ thành một nước văn hóa cao
Họ tên SV/HV: Nguyễn Thị Hoài Thương - Mã LHP: 2172HCMI0111 Trang 2
và đời sống tươi vui hạnh phúc trong điều kiện nước ta là một nước nông nghiệp lạc
hậu, mới thoát khỏi ách thực dân, phong kiến nên nó là công cuộc biến đổi sâu sắc
nhất, khó khăn nhất, thậm chí còn khó khăn, phức tạp hơn cả việc đánh giặc, vì vậy,
tiến lên chủ nghĩa xã hội không thể một sớm một chiều, không thể làm mau được mà phải làm dần dần.
Về đặc điểm của thời kỳ quá độ: Đặc điểm lớn nhất của thời kỳ quá độ ở Việt
Nam là từ một nước nông nghiệp lạc hậu tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội, không trải
qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa. Bước vào thời kỳ quá độ, Việt Nam cũng có
những đặc điểm giống như đặc điểm của các nước khác khi bước vào thời này như sự
tồn tại đan xen giữa các yếu tố của xã hội cũ bên cạnh những yếu tố của xã hội mới
trên tất cả các lĩnh vực của đời sống; là giai đoạn đầu, khi các yếu tố của xã hội cũ còn
cụm lại thành một thế lực thì có khi nó còn chiến thắng những yếu tố của xã hội mới
vừa xuất hiện, v.v.; song, từ thực tế của xã hội Việt Nam, Hồ Chí Minh nhận thấy “đặc
điểm to nhất của ta trong thời kỳ quá độ là từ một nước nông nghiệp lạc hậu tiến
thẳng lên chủ nghĩa xã hội không phải kinh qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa”.
Cùng với những đặc điểm khác và mục tiêu của chủ nghĩa xã hội, đặc điểm này quy
định nhiệm vụ của dân tộc ta trong thời kỳ quá độ.
Về nhiệm vụ của thời kỳ quá độ: Đấu tranh cải tạo, xóa bỏ tàn tích của chế độ xã
hội cũ, xây dựng các yếu tố mới phù hợp với quy luật tiến lên chủ nghĩa xã hội trên tất
cả các lĩnh vực của đời sống; trong đó:
Về chính trị, phải xây dựng được chế độ dân chủ vì đây là bản chất của chủ nghĩa xã
hội. Muốn xây dựng được chế độ này, theo Hồ Chí Minh, phải chống tất cả các biểu
hiện của chủ nghĩa cá nhân, trước hết ở trong Đảng, trong bộ máy chính quyền từ cấp
cơ sở đến Trung ương đồng thời phải bồi dưỡng, giáo dục để nhân dân có tri thức, có
năng lực làm chủ chế độ xã hội.
Về kinh tế, trong bối cảnh nền kinh tế của nước ta còn nghèo nàn, kỹ thuật lạc hậu,
Hồ Chí Minh xác định nhiệm vụ quan trọng nhất của thời kỳ quá độ là phải cải tạo
nền kinh tế cũ, xây dựng nền kinh tế mới có công nghiệp và nông nghiệp hiện đại. Đây
là quá trình xây dựng nền tảng vật chất và kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội. Giữa cải tạo
và xây dựng thì xây dựng là nhiệm vụ chủ chốt và lâu dài và phải luôn gắn với việc
thực hiện đầy đủ quyền làm chủ của nhân dân.
Về văn hóa, phải triệt để tẩy trừ mọi di tích thuộc địa và ảnh hưởng nô dịch của văn
hóa đế quốc; đồng thời, phát triển những truyền thống tốt đẹp của văn hóa dân tộc và
hấp thụ những cái mới của văn hóa tiến bộ trên thế giới để xây dựng một nền văn hóa
Việt Nam có tính chất dân tộc, khoa học và đại chúng.
Về các quan hệ xã hội, phải thay đổi triệt để những quan hệ cũ đã trở thành thói quen
trong lối sống, nếp sống của con người; xây dựng được một xã hội dân chủ, công
bằng, văn minh, tôn trọng con người, chú ý xem xét những lợi ích cá nhân đúng đắn và
bảo đảm cho nó được thỏa mãn để mỗi người có điều kiện cải thiện đời sống riêng của
Họ tên SV/HV: Nguyễn Thị Hoài Thương - Mã LHP: 2172HCMI0111 Trang 3
mình, phát huy tính cách riêng và sở trường riêng của mình trong sự hài hòa với đời
sống chung, với lợi ích chung của tập thể.
Chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam là một đề tài
lý luận và thực tiễn rất cơ bản, quan trọng, nội dung rất rộng lớn, phong phú và phức
tạp, có nhiều cách tiếp cận khác nhau, đòi hỏi phải có sự nghiên cứu rất công phu,
nghiêm túc, tổng kết thực tiễn một cách sâu sắc, khoa học. Ở nước ta, thời kỳ quá độ
lên chủ nghĩa xã hội bắt đầu từ năm 1954 ở miền Bắc và từ năm 1975, sau khi đất
nước đã hoàn toàn độc lập và thống nhất, cách mạng dân tộc - dân chủ nhân dân đã
hoàn toàn thắng lợi thì cả nước cùng tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa, cùng quá
độ lên chủ nghĩa xã hội. Đối với nước ta, một nước nông nghiệp lạc hậu đi lên chủ
nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa phải trải qua một thời kỳ quá độ lâu dài.
Đây là một quá trình cách mạng sâu sắc, triệt để, đấu tranh phức tạp giữa cái cũ và cái
mới nhằm tạo ra sự biến đổi về chất trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, nhất
thiết phải trải qua một thời kỳ quá độ lâu dài với nhiều bước phát triển, nhiều hình
thức tổ chức kinh tế, xã hội đan xen. Trong thời đại ngày nay, việc bỏ qua giai đoạn
phát triển tư bản chủ nghĩa quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam là hoàn toàn phù
hợp với yêu cầu khách quan của nền kinh tế. Trong điều kiện kinh tế thế giới có bước
nhảy vọt về cơ sở vật chất - kỹ thuật, xã hội loài người đòi hỏi phát triển lên một xã
hội mới của nền văn minh cao hơn - đó là nền văn minh của kinh tế tri thức. Sau khi
giải phóng miền Nam và thống nhất đất nước, từ nền nông nghiệp lạc hậu, mang nặng
tính chất tự cung tự cấp thì nền kinh tế nước ta đã chuyển kinh tế tự nhiên lên kinh tế
hàng hóa và thúc đẩy sản xuất hàng hóa nhỏ phát triển lên thành sản xuất lớn dựa trên
cơ sở kỹ thuật, công nghệ hiện đại. Đảng ta đã lựa chọn hướng đi phù hợp với lịch sử
cụ thể của Việt Nam là thực hiện quá độ lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ
nghĩa dựa trên cơ sở củng cố chính quyền của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân;
dựa vào khối liên minh công - nông - trí thức để tổ chức và huy động mọi tiềm lực của
các tầng lớp nhân dân, tiến hành CNH, HĐH đất nước, phát triển nền kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa, tạo lập cơ sở vật chất - kỹ thuật cho chủ nghĩa xã
hội. Con đường này hoàn toàn mới mẻ và không ít khó khăn, nhưng giảm bớt được
đau khổ cho nhân dân lao động. Toàn bộ lịch sử cách mạng Việt Nam đã chứng minh:
quy luật của cách mạng Việt Nam là độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, như
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con
đường nào khác con đường cách mạng vô sản”. Và trong thực tiễn, chủ nghĩa xã hội
vừa là động lực tinh thần vừa là sức mạnh vật chất to lớn góp phần đưa sự nghiệp cách
mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở nước ta đến thắng lợi. Quá trình cách mạng do Đảng
ta lãnh đạo đã tạo những tiền đề cả vật chất và tinh thần để có thể “rút ngắn” tiến trình
phát triển lịch sử - tự nhiên của xã hội. Những thành tựu của cuộc cách mạng khoa học
- công nghệ hiện đại và sự hợp tác kinh tế quốc tế đa phương, đa dạng cho phép chúng
ta tận dụng những thành tựu của cả thế giới để có thể “rút ngắn” quá trình phát triển
kinh tế đất nước. Trước khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, có nhiều phong trào đấu
tranh chống Pháp thấm đượm tinh thần yêu nước, bất khuất, song đều lâm vào bế tắc
và cuối cùng thất bại. Đó là sự bế tắc và thất bại về đường lối chiến lược. Và như vậy,
Họ tên SV/HV: Nguyễn Thị Hoài Thương - Mã LHP: 2172HCMI0111 Trang 4
tất cả các phương án chính trị của các giai cấp, từ đường lối cứu nước theo hệ tư tưởng
phong kiến, đến những đường lối theo lập trường nông dân, lập trường tiểu tư sản, tư
sản, đều được lịch sử khảo nghiệm nhưng rốt cuộc đều thất bại. Trong bối cảnh đó,
Đảng ta ra đời, nhanh chóng gương cao ngọn cờ độc lập dân tộc và CNXH đưa sự
nghiệp Cách mạng Việt Nam không ngừng phát triển đi lên. Dưới sự lãnh đạo của
Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhân dân cả nước đã tiến hành thắng lợi cuộc Tổng
khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945; tiến hành 9 năm kháng chiến trường kỳ, gian khổ
chống thực dân Pháp và 20 năm hy sinh đầy xương máu chống đế quốc Mỹ. Với chiến
thắng oanh liệt mùa Xuân năm 1975, cả nước độc lập, thống nhất, bước vào thời kỳ
xây dựng, từng bước quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Quá trình xây dựng đất nước quá độ
lên CNXH, có lúc Đảng ta đã phạm sai lầm nghiêm trọng về chỉ đạo chiến lược và tổ
chức thực hiện, nhưng với bản lĩnh khoa học, Đảng ta đã nhận thức rõ những sai lầm
khuyết điểm do nguyên nhân thiếu kinh nghiệm và nhất là do chủ quan duy ý chí, vi
phạm những quy luật khách quan, dẫn đến khủng hoảng kinh tế - xã hội trầm trọng.
Qua kiểm điểm, Đảng đã rút ra những bài học kinh nghiêm sâu sắc, đồng thời, tiến
hành công cuộc đổi mới toàn diện đất nước, từng bước xác định rõ hơn con đường quá
độ lên CNXH; quá trình đổi mới tư duy, trước hết là tư duy về kinh tế, Đảng đã xác
định rõ hơn phát triển kinh tế là nhiệm vụ trọng tâm, xây dựng Đảng là then chốt và đã
thu được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử trên con đường xây dựng CNXH
và bảo vệ Tổ quốc XHCN, như Đại hội XII của Đảng đã nhận định: “Những thành tựu
đó tạo tiền đề, nền tảng quan trọng để nước ta tiếp tục đổi mới và phát triển mạnh mẽ
trong những năm tới; khẳng định đường lối đổi mới của Đảng là đúng đắn, sáng tạo:
con đường đi lên CNXH của nước ta là phù hợp với thực tiễn cách mạng Việt Nam và
xu thế phát triển của lịch sử”. Như vậy, cả từ phương diện lý luận, cả từ phương diện
thực tiễn vận động của lịch sử nhân loại suốt thế kỷ XX, thập niên đầu thế kỷ XXI và
đặc biệt từ thực tiễn lịch sử đấu tranh giải phóng, xây dựng đất nước ở Việt Nam, việc
nước ta quá độ lên CNXH bỏ qua chế độ TBCN là một tất yếu khách quan, là hoàn
toàn phù hợp với xu thế của thời đại, với đặc điểm lịch sử cụ thể của cách mạng Việt
Nam, đáp ứng đúng khát vọng của nhân dân ta. Câu 2:
Theo Hồ Chí Minh, con người là một chỉnh thể, thống nhất về trí lực, tâm lực, thể
lực, đa dạng bởi mối quan hệ giữa cá nhân và xã hội (quan hệ gia đình, dòng tộc, làng
xã, quan hệ giai cấp, dân tộc...) và các mối quan hệ xã hội (quan hệ chính trị, văn hóa,
đạo đức, tôn giáo...). Trong mỗi con người đều có tính tốt và tính xấu. Người giải
thích “chữ người, nghĩa hẹp là gia đình, anh em, họ hàng, bè bạn; nghĩa rộng là đồng
bào cả nước; rộng hơn nữa là cả loài người”. Con người có tính xã hội, là con người xã
hội, thành viên của một cộng đồng xã hội.
Hồ Chí Minh cũng chỉ ra yếu tố sinh vật của con người. Theo Người, “dân dĩ thực
vi thiên”; “dân chỉ biết rõ giá trị của tự do, độc lập khi mà dân được ăn no, mặc đủ”.
Theo Người, trong mọi đường lối, chủ trương, chính sách, nhiệm vụ phải thực hiện
Họ tên SV/HV: Nguyễn Thị Hoài Thương - Mã LHP: 2172HCMI0111 Trang 5
ngay làm cho dân có ăn, có mặc, có chỗ ở, có học hành. Nét đặc sắc trong quan niệm
của Hồ Chí Minh về con người là nhìn nhận đặc điểm con người Việt Nam với những
điều kiện lịch sử cụ thể, với những cấu trúc kinh tế, xã hội cụ thể. Cách tiếp cận này đi
đến việc giải quyết mối quan hệ dân tộc và giai cấp rất sáng tạo, không chỉ về mặt
đường lối cách mạng mà cả về mặt con người. Vai trò của con người trong quan điểm
của Hồ Chí Minh là: Con người là mục tiêu của cách mạng và con người là động lực của cách mạng.
Xây dựng con người là yêu cầu khách quan của sự nghiệp cách mạng, vừa cấp
bách vừa lâu dài, có ý nghĩa chiến lược. Xây dựng con người là một trọng tâm, bộ
phận hợp thành của chiến lược phát triển đất nước, có mối quan hệ chặt chẽ với nhiệm
vụ xây dựng chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội. Hồ Chí Minh nêu hai quan điểm nổi
bật làm sáng tỏ sự cần thiết xây dựng con người. “Vì lợi ích trăm năm thì phải “trồng
người”. “Trồng người” là công việc lâu dài, gian khổ, vừa vì lợi ích trước mắt vừa vì
lợi ích lâu dài, là công việc của văn hóa giáo dục. “Trồng người” phải được tiến hành
thường xuyên trong suốt tiến trình đi lên chủ nghĩa xã hội và phải đạt được những kết
quả cụ thể trong từng giai đoạn cách mạng. Nhiệm vụ “trồng người” phải được tiến
hành song song với nhiệm vụ phát triển lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất xã hội
chủ nghĩa. “Trồng người” phải được tiến hành bền bỉ, thường xuyên trong suốt cuộc
đời mỗi người, với ý nghĩa vừa là quyền lợi vừa là trách nhiệm của cá nhân đối với sự
nghiệp xây dựng đất nước. Công việc “trồng người” là trách nhiệm của Đảng, Nhà
nước, các đoàn thể chính trị-xã hội kết hợp với tính tích cực, chủ động của từng người.
“Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội, trước hết cần phải có những con người xã hội chủ
nghĩa”. Chủ nghĩa xã hội sẽ tạo ra những con người xã hội chủ nghĩa, con người xã
hội chủ nghĩa là động lực xây dựng chủ nghĩa xã hội. Không phải chờ cho kinh tế, văn
hóa phát triển cao rồi mới xây dựng con người xã hội chủ nghĩa; cũng không phải xây
dựng xong những con người xã hội chủ nghĩa rồi mới xây dựng chủ nghĩa xã hội. Hồ
Chí Minh chỉ rõ: “Trong bất cứ phong trào cách mạng nào, tiên tiến là số ít và số đông
là trung gian, muốn củng cố và mở rộng phong trào, cần phải nâng cao hơn nữa trình
độ giác ngộ của trung gian để kéo chậm tiến”.
Hồ Chí Minh quan tâm xây dựng con người toàn diện vừa “hồng” vừa “chuyên”.
Đó là những con người có mục đích và lối sống cao đẹp, có bản lĩnh chính trị vững
vàng, những con người của chủ nghĩa xã hội, có tư tưởng, tác phong và đạo đức xã hội
chủ nghĩa và năng lực làm chủ. Xây dựng con người toàn diện với những khía cạnh chủ yếu sau:
- Có ý thức làm chủ, tinh thần tập thể xã hội chủ nghĩa và tư tưởng “mình vì mọi
người, mọi người vì mình”.
- Cần kiệm xây dựng đất nước, hăng hái bảo vệ Tổ quốc.
- Có lòng yêu nước nồng nàn, tinh thần quốc tế trong sáng.
- Có phương pháp làm việc khoa học, phong cách quần chúng, dân chủ, nêu gương.
Họ tên SV/HV: Nguyễn Thị Hoài Thương - Mã LHP: 2172HCMI0111 Trang 6
Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm đến việc nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ
nghĩa cá nhân; bồi dưỡng về năng lực trí tuệ, trình độ lý luận chính trị, văn hóa, khoa
học - kỹ thuật, chuyên môn nghiệp vụ, ngoại ngữ, sức khỏe.
Mỗi người tự rèn luyện, tu dưỡng ý thức, kết hợp chặt chẽ với xây dựng cơ chế, tính
khoa học của bộ máy và tạo dựng nền dân chủ. Việc nêu gương, nhất là người đứng
đầu, có ý nghĩa rất quan trọng. Hồ Chí Minh thường nói đến “tu thân, chính tâm” thì
mới có thể “trị quốc, bình thiên hạ” (làm những việc có lợi cho nước, cho dân). Văn
hóa phương Đông cho thấy “một tấm gương sống có giá trị hơn một trăm bài diễn văn
tuyên truyền” và “tiên trách kỷ, hậu trách nhân”. Hồ Chí Minh thường nhắc lại những
điều ấy trong khi bàn biện pháp xây dựng con người. Người nói rằng “lấy gương
người tốt, việc tốt hằng ngày để giáo dục lẫn nhau” là rất cần thiết và bổ ích.
Biện pháp giáo dục có một vị trí quan trọng. Hồ Chí Minh nhắc nhở rằng “hiền, dữ
của con người không phải là tính sẵn. Phần nhiều do giáo dục mà nên”. Theo Người,
các cháu mẫu giáo, tiểu học như tờ giấy trắng. Chúng ta vẽ xanh thì xanh, vẽ đỏ thì
đỏ. Nói như vậy để thấy giáo dục rất quan trọng trong việc xây dựng con người. Chú
trọng vai trò của tổ chức Đảng, chính quyền, đoàn thể quần chúng. Thông qua các
phong trào cách mạng như “Thi đua yêu nước”, “Người tốt việc tốt”. Đặc biệt phải dựa
vào quần chúng theo quan điểm “dựa vào ý kiến của dân chúng mà sửa chữa cán bộ và tổ chức của ta”.
Qua 35 năm đổi mới, đất nước Việt Nam đã đạt được những kết quả nhất định
trong việc xây dựng văn hóa, đạo đức, con người. Tuy nhiên, việc xây dựng văn hóa,
đạo đức, con người còn nhiều khuyết điểm. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII
của Đảng chỉ rõ: “Văn hóa chưa được quan tâm tương xứng với kinh tế và chính trị,
chưa thật sự trở thành nguồn lực, động lực nội sinh của sự phát triển bền vững đất
nước. Vai trò của văn hóa tỏng xây dựng con người chưa được xác định đúng tầm,
còn có chiều hướng coi trọng chức năng giải trí đơn thuần… Môi trường văn hóa, xã
hội vẫn còn các tệ nạn xã hội, tham nhũng và tiêu cực. Chênh lệch về hưởng thụ văn
hóa giữa các vùng miền còn lớn; đời sống văn hóa ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số,
vùng sâu, vùng xa còn gặp nhiều khó khăn”. Tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị,
đạo đức, lối sống trong Đảng và trong xã hội có chiều hướng gia tăng. Bên cạnh đó,
lối sống xa hoa, phù phiếm, giả dối, cá nhân, vị kỷ, vô cảm ... có xu hướng ngày càng
phát triển, bệnh thành tích và hình thức ngày càng lan rộng; đạo đức, lối sống, nhân
cách của người Việt Nam nhiều nơi, nhiều lúc đang ở mức báo động. Do đó, phải chú
trọng hơn nữa việc xây dựng văn hóa, đạo đức, con người để đáp ứng yêu cầu phát
triển nhanh và bền vững trong giai đoạn hiện nay.
Từ thực trạng đó, trong thời gian tới, Đảng ta xác định cần phải xây dựng, phát
triển con người Việt Nam để đáp ứng sự nghiệp đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại
hoá đất nước và hội nhập quốc tế. Trong những năm tới, để xây dựng, phát triển con
người Việt Nam, cần phải quán triệt và thực hiện tốt một số giải pháp sau đây:
Họ tên SV/HV: Nguyễn Thị Hoài Thương - Mã LHP: 2172HCMI0111 Trang 7
Một là, đẩy mạnh xây dựng con người Việt Nam với tinh thần yêu nước nồng nàn, tự
cường dân tộc, tinh thần đoàn kết, phấn đấu vì độc lập dân tộc, có ý chí vươn lên đưa
đất nước thoát khỏi nghèo nàn lạc hậu, lòng nhân ái bao dung, đoàn kết với nhân dân
thế giới trong sự nghiệp đấu tranh vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa
xã hội. Có ý thức tập thể, đoàn kết, phấn đấu vì lợi ích chung. Có lối sống lành mạnh,
nếp sống văn minh, cần kiệm, trung thực, nhân nghĩa, tôn trọng kỷ cương phép nước,
quy ước của cộng đồng; có ý thức bảo vệ và cải thiện môi trường sinh thái. Lao động
chăm chỉ với lương tâm nghề nghiệp, có kỹ thuật, sáng tạo, năng suất cao vì lợi ích
của bản thân, gia đình, tập thể và xã hội. Thường xuyên học tập, nâng cao hiểu biết,
trình độ chuyên môn, trình độ thẩm mỹ và thể lực. Xây dựng gia đình và xã hội đoàn
kết, hòa thuận, bình đẳng, hạnh phúc, kỷ cương, nền nếp, đời sống vật chất và tinh
thần phong phú, lành mạnh; có tinh thần tương thân, tương ái, tự nguyện, tự quản, dân
chủ, xây dựng môi trường xã hội lành mạnh, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp đẩy mạnh
công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế.
Hai là, việc phát triển văn hóa phải thực hiện song song với phát triển kinh tế. Nếu chỉ
quan tâm đến phát triển kinh tế đơn thuần sẽ hình thành lối sống thực dụng của xã hội
hưởng thụ; ngược lại, nếu chỉ chú ý đến giá trị văn hóa thì xã hội sẽ nghèo nàn, đời
sống vật chất sẽ khó khăn, đời sống tinh thần thiếu phong phú. Nghị quyết Hội nghị
Trung ương 9 khóa XI và Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của
Đảng định hướng: “Phát triển con người toàn diện và xây dựng nền văn hóa Việt Nam
tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc để văn hóa, con người Việt Nam thực sự trở thành
sức mạnh nội sinh, động lực phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc. Tăng đầu tư cho
phát triển sự nghiệp văn hóa. Xây dựng, phát triển, tạo môi trường và điều kiện xã hội
thuận lợi nhất để khơi dậy truyền thống yêu nước, niềm tự hào dân tộc, niềm tin, khát
vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc, tài năng, trí tuệ, phẩm chất của con
người Việt Nam là trung tâm, mục tiêu và động lực phát triển quan trọng nhất của đất nước”.
Ba là, tập trung xây dựng nếp sống mới, những chuẩn mực văn hóa mới đồng thời xây
dựng, phát triển và sáng tạo những giá trị văn hóa mới trên nền tảng bảo tồn, phát huy
các giá trị văn hóa truyền thống, kế thừa và phát huy tính đa dạng, bản sắc văn hóa của
các dân tộc, các vùng, miền. Giải quyết hợp lý, hài hòa giữa bảo tồn, tôn tạo và phát
huy các giá trị di sản văn hóa, các di tích lịch sử - văn hóa với phát triển kinh tế - xã
hội, phục vụ giáo dục văn hóa truyền thống và phát triển du lịch. Hướng các hoạt động
văn hóa, giáo dục, khoa học, công nghệ tới giá trị chân - thiện - mỹ. Gắn xây dựng, rèn
luyện đạo đức với thực hiện quyền con người, quyền và nghĩa vụ công dân. Nâng cao
trí lực, bồi dưỡng tri thức cho con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu của nền kinh tế tri
thức. Đúc kết và xây dựng hệ giá trị chuẩn của con người Việt Nam thời kỳ công
nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế.
Bốn là, nêu cao trách nhiệm nêu gương trong học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức,
phong cách Hồ Chí Minh về ý chí, tự lực, tự cường dân tộc, khát vọng phát triển đất
Họ tên SV/HV: Nguyễn Thị Hoài Thương - Mã LHP: 2172HCMI0111 Trang 8
nước phồn vinh trong cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu. Đề cao việc phát huy
vai trò, trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, trước hết là các đồng chí Uỷ
viên Bộ Chính trị, Uỷ viên Ban Bí thư, Uỷ viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng theo
phương châm cán bộ có chức vụ càng cao càng phải gương mẫu, khẳng định vai trò
lãnh đạo, tính tiên phong, gương mẫu "trên trước, dưới sau", "đảng viên đi trước, làng
nước theo sau". Mỗi cán bộ, đảng viên cần phát huy vai trò làm gương trong xây dựng
ý chí, khát vọng phát triển của bản thân và của cơ quan, đơn vị. Mỗi cán bộ, đảng viên
tự nêu gương sáng, mỗi đảng viên là những tấm gương sáng thì toàn Đảng ta sẽ thực
sự trong sạch, vững mạnh. Đây là điều kiện tiên quyết để khơi dậy khát vọng phát triển
đất nước phồn vinh, hạnh phúc trong Đảng và xã hội.
Năm là, xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện gắn với sự nghiệp CNH,
HĐH đất nước. CNH, HĐH là sự nghiệp nhân dân ta đang thực hiện, diễn ra trên mọi
mặt của đời sống và sản xuất. Sự nghiệp này được thực hiện bằng chính nguồn lực con
người. Đó là những con người có tri thức khoa học, kỹ thuật và công nghệ, về quản lý
và dịch vụ, được trang bị vững chắc về học vấn nền tảng, đào tạo có trình độ tay nghề,
họ nắm vững công nghệ, khoa học, kĩ thuật trong sản xuất, lao động sáng tạo. Sự
nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đòi hỏi người lao động phát triển cả
đạo đức và nhân cách. Đó là đạo đức trung thực, đạo đức trong hành động, tự giác
trong lao động. Biểu hiện của đạo đức cách mạng là sự thống nhất giữa lời nói với việc
làm, giữa nhận thức và hành động, giữa động cơ và hiệu quả. Đạo đức đó đáp ứng
được chuẩn mực đạo đức của xã hội mới, là điều kiện cơ bản để thực hiện thành công
công cuộc đổi mới đất nước hướng tới mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công
bằng, văn minh, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội.
Tóm lại, việc thực hiện tốt các vấn đề trên sẽ góp phần vào việc xây dựng, phát
triển con người Việt Nam, trong đó, mỗi người đều phải có ý thức tự giác, có trách
nhiệm, rèn luyện đạo đức, thực hiện tốt nghĩa vụ và bổn phận của một công dân để xây
dựng một nước Việt Nam giàu mạnh. * Chú thích:
CNH, HĐH: Công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
CNXH, XHCN: Chủ nghĩa xã hội, xã hội chủ nghĩa
CNTB, TBCN: Chủ nghĩa tư bản, tư bản chủ nghĩa
Họ tên SV/HV: Nguyễn Thị Hoài Thương - Mã LHP: 2172HCMI0111 Trang 9