Đang tải lên

Vui lòng đợi trong giây lát...

Preview text:

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
HC K II NĂM HỌC 2023 2024 (Ph n dành cho sinh viên/ h c viên)
Bài thi hc phn: Lịch Sử Đảng S báo danh: 30 Mã s thi: đề 10 Mã s SV/HV : 21D180133 Ngày thi: 01/06/2024 T ng s trang : 10 Lp: 232_HCMI0131_02
H và tên: Hoàng Minh Nghĩa
Điểm kết lun: GV ch m
thi 1: …….………………………...... GV ch m
thi 2: …….………………………...... Bài làm SV/HV không được viết vào
Câu 1: Anh (Ch) hãy làm rõ hoàn cnh Vit Nam cui thế k XIX đầu thế cột này) k
XX. Theo Anh (Ch) mâu thun ch yếu ca xã hi Việt Nam lúc đó là Điểm từng câu, gì? Vì sao? điểm thưởng (nếu có) và điểm toàn bài Gii: GV chm 1:
 Hoàn cảnh thế giới: Câu 1: ……… điểm
 Chủ nghĩa tư bản phương Tây chuyển nhanh từ giai đoạn tự do cạnh tranh Câu 2: ……… điểm
sang giai đoạn độc quyền (giai đoạn đế quốc chủ nghĩa). ………………….
 Cạnh tranh tự do sinh ra tích tụ và tập trung sản xuất, tích tụ và tập trung …………………. Cộng …… điểm
sản xuất đến một mức độ nào đó sẽ dẫn đến độc quyền. Từ sự phát triển mạnh
mẽ của nền sản xuất các nước đế quốc có nhu cầu lớn về nguồn nguyên nhiên GV chm 2:
liệu, nguồn nhân công, thị trường lao động hàng hóa dư thừa. Đây chính là Câu 1: ……… điểm
nguyên nhân sâu xa dẫn đến các cuộc xâm chiến, biến các nước khác thành Câu 2: ……… điểm ………………….
thuộc địa của các nước tư bản Phương Tây. Đối tượng của các nước tư bản ………………….
Phương Tây chính là các nước thuộc khu vực Châu Á, Châu Phi, Châu Mỹ La Cộng …… điểm
Tinh. Cuối thế kỉ 19 đầu thế kỉ 20 nhiều quốc gia đã trở thành thuộc địa của
các nước tư bản Phương Tây. Trong quá trình cai trị sự gia tăng áp bức và
Họ tên SV/HV: Hoàng Minh Nghĩa - Mã LHP: 232_HCMI0131_02 Trang 1/10
thôn tính dân tộc của các nước đế quốc đã đẩy mâu thuẫn giữa dân tộc thuộc địa với thực dân
ngày càng gay gắt. Hậu quả sự chuyển biến của chủ nghĩa tư bản sang giai đoạn đế quốc chủ
nghĩa chính là sự “thức tỉnh ý thức dân tộc” và sự phát triển mạnh mẽ của phong trào giải
phóng dân tộc ở các nước thuộc địa, nhất là khu vực Châu Á và trong đó có Việt Nam.
 Sự ra đời của chủ nghĩa Mác – Lênin.
 Tên gọi của chủ nghĩa Mác – Lênin gắn liền với nhà sáng lập ra chủ nghĩa này. Cụ thể chủ
nghĩa Mác ra đời vào năm 40 của thế kỉ 19 bởi 2 nhà sáng lập Karl Heinrich Marx (1818-
1883) và Friedrich Engels (1820-1895). Cuối thế kỉ 19 đầu thế kỉ 20, trong bối cảnh chủ
nghĩa tư bản chuyển sang giai đoạn đế quốc chủ nghĩa, chủ nghĩa Mác đã được Vladimir
Ilyich Lenin (1870 - 1924) bổ sung và phát triển mở ra giai đoạn phát triển mới của chủ nghĩa Mác – Lênin.  Nội dung:
Chủ nghĩa Mác – Lênin là hệ thống lý thuận khoa học với tư cách là vũ khí về tư tưởng của
giai cấp công nhân trong cuộc đấu tranh giải phóng giai cấp vô sản, giải phóng nhân dân lao động
khỏi chế độ áp bức – bóc lột tiến tới thực hiện sự nghiệp giải phóng con người. Con đường giải
phóng này là con đường đấu tranh cách mạng xóa bỏ nhà nước bóc lột xây dựng nhà nước mới,
đó là nhà nước xã hội chủ nghĩa và sau này là cộng sản chủ nghĩa ở đó không còn bất cứ sự nô
dịch, áp bức bóc lột nào.
Chủ nghĩa Mác - Lênin cũng chỉ rõ muốn giành thắng lợi trong cuộc đấu tranh thực hiện sứ
mệnh lịch sử của mình, giai cấp công nhân phải đoàn kết và tập hợp lực lượng dưới sự lãnh đạo
của Đảng Cộng sản. Sự ra đời của đảng cộng sản chính là yêu cầu khách quan đáp ứng cuộc đấu
tranh của giai cấp công nhân chống áp bức bóc lột. Chủ nghĩa Mác – Lênin cũng được truyền vào
nhiều quốc gia dẫn đến sự thay đổi mạnh mẽ trong phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân
ở cả nước tư bản và các nước thuộc địa, từ đó dẫn đến sự ra đời của một loạt các Đảng Cộng Sản trên thế giới.
 Thắng lợi của cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917 và Quốc tế cộng sản thức tỉnh phong
trào giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa trong đó có Việt Nam.
Họ tên SV/HV: Hoàng Minh Nghĩa - Mã LHP: 232_HCMI0131_02 Trang 2/10
Năm 1917, cách mạng tháng 10 Nga do Lênin và Đảng Bolshevik lãnh đạo giành thắng lợi.
Đối với nước Nga đó là “cuộc cách mạng vô sản” nhưng đối với các dân tộc thuộc địa trong đế
quốc Nga thì đó là “cuộc cách mạng giải phóng dân tộc” vì trước cách mạng nước Nga là “nhà tù
của các dân tộc” và chính thắng lợi của cách mạng tháng 10 Nga đã mở ra thời đại chống đế quốc
– thời đại giải phóng dân tộc. Sự ra đời của nhà nước Xã Hội – Chủ Nghĩa đầu tiên trên thế giới
từ chỗ chỉ là “ước mơ cao đẹp của loài người” thì sau cách mạng tháng 10 Nga, Chủ Nghĩa Xã
Hội đã trở thành hiện thực. Chủ nghĩa Mác – Lênin từ đó có cơ hội được truyền bá rộng rãi tới
phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc và giai cấp trên thế giới.
Tháng 3 năm 1919, Quốc tế cộng sản do Lênin đứng đầu được thành lập đã trở thành bộ
tham mưu chiến đấu, tổ chức lãnh đạo phong trào cách mạng vô sản trên thế giới. Quốc tế cộng
sản không những vạch đường lối cho cách mạng vô sản mà còn đề cập các vấn đề dân tộc và
thuộc địa mà còn đề cập các vấn đề dân tộc và thuộc địa giúp đỡ, chỉ đạo các phong trào giải
phóng dân tộc. Cùng với việc nghiên cứu và hoàn thiện chiến lược, sách lược về vấn đề dân tộc
thuộc địa, Quốc tế cộng sản đã tiến hành hoạt động truyền bá tư tưởng cách mạng vô sản và thúc
đẩy phong trào đấu tranh ở các khu vực này đi theo khuynh hướng vô sản cũng như định hướng
các vấn đề dân tộc và thuộc địa trên thế giới.
Tại đại hội II của Quốc tế cộng sản vào năm 1920 đã thông qua bản sơ thảo lần thứ nhất:
“Những luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa” do Lênin khởi xướng. Luận cương
nổi tiếng này đã chỉ ra phương hướng đấu tranh, giải phóng các dân tộc thuộc địa, các dân tộc bị
áp bức theo lập trường cách mạng vô sản. Với thắng lợi của cách mạng tháng 10 Nga và sự ra đờ
của Quốc tế cộng sản đã dẫn đến sự ra đời của các Đảng cộng sản ở nhiều nước tư bản và thuộc
địa trên thế giới như: Đảng cộng sản Mỹ, Đảng cộng sản Đức, Đảng cộng sản Anh,...
 Hoàn cảnh trong nước:
 1/9/1858, thực dân Pháp nổ súng xâm lược, từng bước thiết lập bộ máy thống trị ở Việt
Nam và dần biến Việt Nam thành thuộc địa của mình.
 Chính sách cai trị và khai thác bóc lột của thực dân Pháp đã làm phân hóa những giai cấp
vốn là của chế độ phong kiến và tạo nên giai cấp mới (công nhân, tư sản dân tộc, tiểu tư sản).
Họ tên SV/HV: Hoàng Minh Nghĩa - Mã LHP: 232_HCMI0131_02 Trang 3/10
 Thi hành chính sách bóc lột về mặt kinh tế:
Nông nghiệp: Thực dân Pháp đẩy mạnh lĩnh vực cướp đoạt ruộng đất.
Công nghiệp: Thực dân Pháp tập trung khai thác mỏ than và kim loại để đem về Pháp.
Thương Nghiệp: Thực dân Pháp độc chiếm thị trường Việt Nam, ưu tiên cho hàng hóa của
Pháp và đánh thuế nặng vào hàng nhập khẩu từ nước khác. Hàng hóa Việt Nam chủ yếu xuất khẩu sang Pháp.
Dưới chính sách cai trị của thực dân Pháp thì nền kinh tế Việt Nam là một nền kinh tế lạc
hậu, sản xuất nhỏ, phát triển không cân đối và đặc biệt bị cột chặt vào nền kinh tế Pháp.
 Thi hành chính sách áp bức về mặt chính trị:
Pháp thi hành chính sách chuyên chế điển hình, mọi quyền hành đều nằm trong tay Pháp.
Từ vị trị toàn quyền Đông Dương đến người đứng đầu các kỳ như: Thống Đốc, Khâm Sứ, Thống
Sứ đến các bộ máy quân đội, cảnh sát, tòa án đều do người Pháp nắm quyền và điều hành. Thực
dân Pháp biến giai cấp tư sản mại bản và địa chủ phong kiến trở thành tay sai đắc lực cho chúng.
Đồng thời chúng thực hiện chính sách đàn áp, khủng bố dã man – tàn bạo và làm cho nhân dân
Việt Nam mất hết quyền độc lập, tự do, dân chủ.
Bên cạnh đó thực dân Pháp thực hiện chính sách: “chia để trị”. Pháp chia Việt Nam thành 3
kỳ: Bắc Kỳ, Trung Kỳ và Nam Kỳ với chế độ cai trị khác nhau và nhập 3 Kỳ này với Lào và
Campuchia để lập ra liên bang Đông Dương thuộc Pháp. Đồng thời còn gây chia rẽ dân tộc, thù
hận giữa 3 miền, giữa các tôn giáo, giữa các Đảng phái. Điều này nhằm phá vỡ đoàn kết dân tộc
và giúp cho thực dân Pháp dễ dàng trong quá trình cai trị.
 Thi hành chính sách nô dịch về văn hóa:
Chúng thực hành chính sách ngu dân, khuyến khích văn hóa nô dịch tâm lý tự ti để kìm hãm
nhân dân ta trong vòng tối tăm và dốt nát. Dù duy trì phương thức bóc lột kinh tế cũ theo kiểu
phong kiến, những phương thức thống trị tư bản thực dân đã bao trùm lên toàn bộ đất nước. Tất
cả xã hội Việt Nam đều bị đặt trong quỹ đạo phát triển của chủ nghĩa tư bản theo kiểu thực dân
và phải biến chuyển theo quá trình ấy.
Họ tên SV/HV: Hoàng Minh Nghĩa - Mã LHP: 232_HCMI0131_02 Trang 4/10
 Sự chuyển biến của xã hội Việt Nam sau khi thực dân Pháp xâm lược:
 Tính chất xã hội: Việt Nam từ một nước phong kiến độc lập trở thành nước thuộc địa nửa phong kiến.  Giai cấp xã hội:
 Trước khi thực dân Pháp xâm lược Việt Nam có hai giai cấp đó là: Nông dân và địa chủ.
 Khi Pháp vào xâm lược bên cạnh hai giai cấp cũ Việt Nam xuất hiện 3 giai cấp mới đó
là: Công nhân, tiểu tư sản và tư sản. Nhưng trong những giai cấp này cũng bị phân hóa,
đó là sự phân hóa về thái độ chính trị của các giai cấp tầng lớp đối với vấn đề vận mệnh
của dân tộc. Địa vị kinh tế khác nhau cũng dẫn đến thái độ chính trị khác nhau. Với giai
cấp nông dân, đây là lực lượng đông đảo nhất chiếm trên 90% dân số, nhưng họ cũng là
lực lượng bị thực dân và phong kiến bóc lột nặng nề nhất, chính vì thế đây sẽ là lực lượng
hùng hậu nhất, có tinh thần đấu tranh kiên cường bất khuất cho nền độc lập – tự do của
dân tộc. Với giai cấp địa chủ, khi Việt Nam trở thành thuộc địa của Pháp, giai cấp địa
chủ bị phân hóa, một địa phận địa chủ cấu kết với thực dân Pháp đàn áp phong trào yêu
nước và bóc lột nhân dân; còn một địa phận khác thì nêu cao tinh thần dân tộc, khởi
xướng và lãnh đạo các phong trào chống Pháp. Với giai cấp công nhân Việt Nam ra đời
từ cuộc khai Pháp thuộc địa lần thứ nhất của thực dân Pháp, giai cấp công nhân Việt Nam
mang cả đặc điểm của giai cấp công nhân quốc tế và giai cấp công nhân Việt Nam, do
sớm tiếp nhận tư tưởng tiên tiến của thời đại nên giai cấp công nhân là giai cấp có năng
lực lãnh đạo nhất. Với giai cấp tư sản Việt Nam xuất hiện muộn hơn giai cấp công nhân,
một bộ phận có lợi ích gắn liền với tư sản Pháp trở thành tầng lớp tư sản mại bản đi ngược
lại với lợi ích dân tộc; còn một bộ phận là giai cấp tư sản dân tộc bị thực dân Pháp chèn
ép, lệ thuộc, phần lớn tư sản dân tộc có tinh thần yêu Nước nhưng không có khả năng tập
hợp các giai cấp để tiến hành cách mạng. Với giai cấp tiểu tư sản bao gồm: Học sinh, trí
thức, những người làm nghề tự do, họ đều có tinh thần dân tộc yêu nước, tuy nhiên do
đời sống bấp bênh hay lao động nên không thể lãnh đạo Cách Mạng.  Mâu thuẫn xã hội:
 Dưới ách thống trị của thực dân Pháp, mâu thuẫn cơ bản vốn có trong lòng xã hội phong
kiến cũ là mâu thuẫn nông dân với mâu thuẫn địa chủ. Mâu thuẫn này không mất đi mà
Họ tên SV/HV: Hoàng Minh Nghĩa - Mã LHP: 232_HCMI0131_02 Trang 5/10
còn xuất hiện mâu thuẫn mới, đó là mâu thuẫn dân tộc (giữa toàn thể nhân dân Việt Nam với thực dân Pháp).
 Mâu thuẫn chủ yếu của xã hội Việt Nam lúc đó là:
 Đó là mâu thuẫn dân tộc (giữa toàn thể nhân dân Việt Nam với thực dân Pháp). Mâu thuẫn
này vừa là cơ bản vừa là chủ yếu của xã hội Việt Nam – Một xã hội thuộc địa của Pháp.
Mâu thuẫn này bao trùm lên tất cả, ngày càng mở rộng và gay gắt thêm.
 Vì những lý do chủ yếu sau:
 Xâm lược và thống trị tàn bạo của thực dân Pháp:
 Năm 1858, thực dân Pháp xâm lược Việt Nam và thiết lập chế độ thống trị tàn bạo.
 Thực dân Pháp áp dụng chính sách cai trị chuyên chế, bóc lột tài nguyên và lao động của dân tộc Việt Nam.
 Chính sách đàn áp, khủng bố và chia rẽ dân tộc của thực dân Pháp gây ra những hậu quả
nghiêm trọng cho đời sống của dân tộc Việt Nam.
 Bóc lột và áp bức giai cấp nông dân:
 Giai cấp nông dân là lực lượng đông đảo nhất trong xã hội Việt Nam.
 Thực dân Pháp áp bức và bóc lột giai cấp nông dân, gây ra tình cảnh bần cùng và khốn khổ cho họ.
 Tình cảnh khốn khổ này đã làm tăng thêm lòng căm thù đế quốc và phong kiến tay sai, và
tăng thêm ý chí cách mạng của giai cấp nông dân trong cuộc đấu tranh giành lại ruộng đất và quyền sống tự do.
 Áp bức và cạnh tranh với giai cấp tư sản Việt Nam:
 Giai cấp tư sản Việt Nam bị thực dân Pháp và tư sản người Hoa cạnh tranh chèn ép.
 Thế lực kinh tế và địa vị chính trị của giai cấp tư sản Việt Nam nhỏ bé và yếu ớt.
 Giai cấp tư sản Việt Nam có tinh thần dân tộc và yêu nước ở mức độ nhất định.
 Mâu thuẫn giữa nhân dân mất nước và thực dân Pháp:
 Các giai cấp và tầng lớp trong xã hội Việt Nam đều mang thân phận người dân mất nước
và bị thực dân áp bức, bóc lột.
 Mâu thuẫn giữa toàn thể nhân dân Việt Nam và thực dân Pháp đã nảy sinh và ngày càng
gay gắt trong đời sống dân tộc.
Họ tên SV/HV: Hoàng Minh Nghĩa - Mã LHP: 232_HCMI0131_02 Trang 6/10
Câu 2: Theo Anh (Ch) tại sao Đại hội VI (1986), Đảng khẳng định phi dt khoát xoá b
chế qun lý kinh tế tp trung quan liêu, hành chính, bao cấp? Cho đến nay tàn dư của cơ chế
này có còn tn ti hay không? Vì sao? Giải:
 Khái niệm: Cơ chế quản lý kinh tế kế hoạch hóa tập trung quan liêu bao cấp là cơ chế
trong đó nền kinh tế vận động dưới sự kiểm soát của Nhà nước về các yếu tố sản xuất
cũng như phân phối về thu nhập. Nhà nước can thiệp sâu vào các hoạt động của nền kinh
tế, không coi trọng các quy luật thị trường
 Cơ chế quản lý kinh tế tập trung quan liêu, hành chính, bao cấp có vai trò rất lớn trong
công cuộc kháng chiến. Tuy nhiên, cơ chế này chỉ phát huy trong thời chiến nhưng trong
thời bình thì cơ chế này lại bộc lộ những hạn chế nhất định.
 Đặc điểm của cơ chế:
 Nhà nước quản lý nền kinh tế chủ yếu bằng mệnh lệnh hành chính dựa trên hệ thống chỉ
tiêu pháp lệnh chi tiết áp đặt từ trên xuống dưới. Các doanh nghiệp hoạt động trên cơ sở
các quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền và các chỉ tiêu pháp lệnh được giao.
Tất cả phương hướng sản xuất, nguồn vật tư, tiền vốn, định giá sản phẩm, tổ chức bộ máy
nhân sự, tiền lương... Đều do các cấp có thẩm quyền quyết định. Nhà nước giao chỉ tiêu
cấp phát vốn, vật tư cho doanh nghiệp và doanh nghiệp giao nộp sản phẩm cho nhà nước
(lỗ thì nhà nước bù, lãi thì nhà nước thu).
 Các cơ quan hành chính can thiệp quá sâu vào hoạt động sản xuất kinh doanh của các
doanh nghiệp nhưng lại không chịu trách nhiệm gì về vật chất và pháp lý đối với các quyết
định của mình. Những thiệt hại vật chất do các quyết định không đúng gây ra thì ngân sách
nhà nước phải gánh chịu, các doanh nghiệp không có quyền tự chủ sản xuất kinh doanh và
cũng không bị ràng buộc trách nhiệm đối với các kết quả sản xuất kinh doanh.
 Quan hệ hàng hóa tiền tệ trong cơ chế kế hoạch hóa tập trung quan liêu bao cấp bị coi nhẹ,
chỉ là hình thức quan hệ hiện vật là chủ yếu nhà nước quản lý kinh tế thông qua chế độ cấp
phát và giao nộp vì vậy rất nhiều hàng hóa quan trọng như: Sức lao động, các phát minh
sáng chế, tư liệu sản xuất quan trọng không được coi trọng, không được coi là hàng hóa về mặt pháp lý.
Họ tên SV/HV: Hoàng Minh Nghĩa - Mã LHP: 232_HCMI0131_02 Trang 7/10
 Bộ máy quản lý nhà nước cồng kềnh, nhiều cấp trung gian, vừa kém năng động, vừa sinh
ra đội ngũ cán bộ quản lý kém năng lực, phong cách cửa quyền quan liêu nhưng lại được
hưởng quyền lợi cao hơn người lao động.
 Chế độ bao cấp được thực hiện dưới hình thức chủ yếu sau:
 Bao cấp qua giá: Nhà nước quyết định giá trị tài sản, thiết bị vật tư, hàng hóa thấp hơn giá
trị thực của chúng nhiều lần so với giá thị trường do đó hạch toán kinh tế chỉ là hình thức
 Bao cấp qua chế độ tem phiếu: Nhà nước quy định chế độ phân phối và vật phẩm tiêu dùng
cho cán bộ công nhân viên theo định mức qua hình thức tem phiếu. Chế độ tem phiếu với
mức giá khác xa so với giá thị trường đã biến chế độ tiền lương thành lương hiện vật, phủ
tiêu động lực kích thích người lao động, hạn chế khả năng vươn lên làm chủ của người lao
động và hạn chế năng lực sáng tạo của người lao động trong quá trình sản xuất và phá vỡ
nguyên tắc phân phối theo lao động. Bao cấp theo chế độ cấp phát vốn của ngân sách
nhưng không có chế tài ràng buộc trách nhiệm vật chất đối với các đơn vị được cấp vốn,
điều đó vừa làm tăng gánh nặng đối với ngân sách vừa làm cho sử dụng vốn kém hiệu quả
và nảy sinh ra cơ chế xin cho.
 Việc Đảng duy trì quá lâu cơ chế quản lý kinh tế kế hoạch hóa tập trung quan liêu bao cấp
đã tác động đến nền kinh tế nước ta thời kỳ trước đổi mới:
 Về mặt tích cực: Trong thời kỳ kinh tế tăng trưởng chủ yếu theo chiều rộng, tức là dựa vào
sự tăng đầu tư, khai thác tài nguyên, sức lao động giá rẻ và một số lợi thế khác, cơ chế
quản lý kinh tế kế hoạch hóa tập trung quan liêu bao cấp có tác dụng nhất định. Cơ chế
này cho phép tập trung tối đa các nguồn lực kinh tế, phát huy sức mạnh tổng hợp của cả
nước vào việc các mục tiêu chủ yếu trong từng giai đoạn và điều kiện cụ thể, đặc biệt trong
quá trình công nghiệp hóa theo hướng ưu tiên phát triển công nghiệp nặng. Trong hoàn
cảnh đất nước có chiến tranh, cơ chế quản lý kinh tế kế hoạch hóa tập trung đã đáp ứng
được yêu cầu của thời chiến, bởi vì do đất nước bị xâm lược, mục tiêu của cả nước là giải
phóng dân tộc. Bởi vậy thực hiện kế hoạch hóa tập trung sẽ huy động được tối đa sức lực
của nhân dân xây dựng và phát triển kinh tế để thực hiện mục tiêu đó, đây là nhiệm vụ
chung chứ không phải riêng ai.
 Về mặt tiêu cực: Trước bối cảnh thế giới có nhiều biến động bất lợi cho hệ thống xã hội
chủ nghĩa trên toàn thế giới nói chung, việc Đảng duy trì quá lâu cơ chế quản lý kinh tế kế
Họ tên SV/HV: Hoàng Minh Nghĩa - Mã LHP: 232_HCMI0131_02 Trang 8/10
hoạch hóa tập trung quan liêu bao cấp đã làm tình hình kinh tế nước ta lâm vào tình trạng
trì trệ, khủng hoảng, không cạnh tranh, triệt tiêu động lực kinh tế của người lao động,
không kích thích được tính năng động, sáng tạo của đơn vị sản xuất kinh doanh. Nó hạn
chế sự phát triển của các thành phần kinh tế khác, kìm hãm sản xuất, làm giảm năng suất,
chất lượng, gây rối loạn trong phân phối lưu thông, tỷ lệ lạm phát nền kinh tế nước ta cao ở ba con số.
 Hạn chế của cơ chế quản lý kinh tế kế hoạch hóa tập trung quan liêu bao cấp:
 Thứ nhất, cơ chế quản lý kinh tế kế hoạch hóa tập trung quan liêu bao cấp đã thủ tiêu cạnh
tranh, kìm hãm sự phát triển của tiến bộ khoa học kỹ thuật. Nó hạn chế sự phát triển của
các thành phần kinh tế khác, kìm hãm sản xuất, làm giảm năng suất, chất lượng, gây rối
loạn trong phân phối lưu thông và gây ra nhiều hiện tượng tiêu cực trong xã hội như tham
ô, lãng phí. Khi nền kinh tế thế giới chuyển sang giai đoạn phát triển theo chiều sâu dựa
trên việc áp dụng các thành tựu của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại thì
cơ chế quản lý này càng bộc lộ những khiếm khuyết của nó, làm cho nền kinh tế các nước
xã hội chủ nghĩa trước đây, trong đó có Việt Nam, rơi vào tình trạng trì trệ và sau đó là
dẫn tới khủng hoảng trầm trọng về kinh tế xã hội.
 Thứ hai, cơ chế quản lý kinh tế kế hoạch hóa tập trung quan liêu bao cấp đã triệt tiêu động
lực kinh tế đối với người lao động, không kích thích tính năng động, sáng tạo của các đơn vị sản xuất kinh doanh.
 Thứ ba, cơ chế quản lý kinh tế kế hoạch hóa tập trung quan liêu bao cấp làm cho đội ngũ
cán bộ công chức của các cơ quan hành chính Nhà nước trở nên quan liêu, lộng hành, hống
hách, dùng quyền lực để áp bức bóc lột nhân dân lao động.
 Thứ tư, trong cơ chế quản lý kinh tế kế hoạch hóa tập trung quan liêu bao cấp, giáo dục
trở thành độc quyền của Nhà nước; nhà trường chỉ là nơi thực hiện mọi kế hoạch và chỉ
tiêu, pháp lệnh mà Nhà nước giao, không cần quan tâm nhiều đến đầu ra. Chúng ta không
phủ nhận những thành tựu của giáo dục do cơ chế tập trung bao cấp tạo ra, song cũng cần
thấy rằng, cơ chế quản lý đó đã làm cho hệ thống giáo dục thiếu tính cạnh tranh, kém năng
động, sáng tạo, là mảnh đất cho căn bệnh thành tích và chủ nghĩa hình thức tồn tại.
 Đảng và nhà nước ta đã thực hiện cơ chế quản lý kinh tế kế hoạch hóa tập trung quan liêu
bao cấp từ năm 1954 - 1986. Trong giai đoạn đầu, cơ chế này được coi là phù hợp, đúng
Họ tên SV/HV: Hoàng Minh Nghĩa - Mã LHP: 232_HCMI0131_02 Trang 9/10
đắn, đáp ứng được yêu cầu của thời chiến, chính vì vậy nó đã góp phần quan trọng vào
thắng lợi của nhân dân ta trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Tuy nhiên, đến sau
năm 1975, khi đất nước ta hoàn toàn thống nhất, thì cơ chế quản lý kinh tế kế hoạch hóa
tập trung quan liêu bao cấp đã không còn phù hợp. Dưới áp lực của tình thế khách quan và
nhằm thoát khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội, vào Đại hội VI (1986), Đảng khẳng định
phải dứt khoát xoá bỏ cơ chế quản lý kinh tế tập trung quan liêu, hành chính, bao cấp.
 Cho đến nay tàn dư của cơ chế quản lý kinh tế tập trung quan liêu, hành chính, bao cấp
vẫn còn tồn tại biểu hiện ở sự tồn tại của các thành phần kinh tế trong đó có những thành
phần kinh tế cũ như là kinh tế tư nhân, trước đây là kinh tế tư bản tư nhân, kinh tế cá thể
tiểu chủ... Còn tồn tại các cái tệ nạn tàn dư như buôn gian bán lân, hàng nhái hàng giả, cơ
chế quản lý tập trung quan liêu bao cấp vẫn còn tồn tại trong doanh nghiệp, cơ quan nhà
nước...Vì cơ chế thị trường vẫn chưa phát triển đủ mạnh mẽ để đáp ứng nhu cầu của thị
trường và xã hội, đặc biệt là trong những lĩnh vực vẫn phụ thuộc quá nhiều vào sự can
thiệp của chính phủ. Đồng thời, sự phụ thuộc quá mức vào nguồn lực quốc gia vẫn là một
thách thức đối với một số ngành công nghiệp và doanh nghiệp đặc biệt là doanh nghiệp
nhà nước, làm giảm khả năng tự chủ và động lực cạnh tranh của họ. Bộ máy nhà nước
chưa đồng bộ thiếu sự thống nhất từ cấp Trung ương đến địa phương, thủ tục hành chính
còn rườm rà phức tạp gây khó khăn cho người dân vì vậy chưa đáp ứng được những yêu
cầu của cơ chế quản lý mới cũng như yêu cầu phục vụ nhân dân trong điều kiện mới. Tình
trạng thói quen quan liêu hách dịch vẫn còn tồn tại ở một số lãnh đạo với tư duy máy móc
rập khuôn thiếu sự sáng tạo. Bộ máy hành chính ở cấp địa phương và cơ sở chưa thể hiện
sự gắn bó chặt chẽ với nhân dân, đội ngũ cán bộ nhân viên công chức còn tồn tại khuyết
điểm về cả đạo đức lẫn năng lực chuyên môn, dẫn đến không có khả năng linh hoạt trong
việc giải quyết các vấn đề cụ thể trên địa bàn và thường gặp phải sự lúng túng và động
viên khi phải đối mặt với các tình huống phức tạp. Đặc biệt tình trạng tham nhũng vẫn còn
tồn động nhiều vụ án tham nhũng lớn được phanh phui trải rộng từ cấp Trung ương đến
địa phương trong đó có nhiều người nắm giữ những chức vụ quan trọng, nhiều vụ án lên
tới con số hàng nghìn tỷ đồng gây ra sự lãng phí và hạn chế trong việc sử dụng nguồn lực
và quản lý hiệu quả nguồn ngân sách nhà nước. ---Hết---
Họ tên SV/HV: Hoàng Minh Nghĩa - Mã LHP: 232_HCMI0131_02 Trang 10/10