Đang tải lên

Vui lòng đợi trong giây lát...

Preview text:

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
HỌC KỲ I NĂM HỌC 2020 – 2021
(Phần dành cho sinh viên/ học viên)
Bài thi học phần: Tư tưởng Hồ Chí Minh Số báo danh: 37 Mã số đề thi: 09 Lớp: 2171HCMI0111 Ngày thi: 15/12/2021
Họ và tên: Nguyễn Thị Huệ Tổng số trang: 11 Điểm kết luận: GV chấm thi 1: …….
………………………...... GV chấm thi 2:
…….………………………......
Câu 1: Anh (chị) cho biết Hồ Chí Minh đã kế thừa, phát triển tinh hoa văn hóa nhân
loại như thế nào để hình thành nên tư tưởng của Người?
Hồ Chí Minh đã kế thừa, phát triển tinh hoa văn hóa nhân loại trên hai phương diện đó là
tinh hoa văn hóa phương Đông và tinh hoa văn hóa phương Tây.
Tinh hoa văn hóa phương Đông Nho giáo
Tiếp thu văn hóa phương Đông, trước hết là Nho giáo, Hồ Chí Minh phân tích: “Tuy
Khổng Tử là phong kiến và tuy trong học thuyết của Khổng Tử có nhiều điều không đúng song
những điều hay trong đó thì chúng ta nên học. “Chỉ có những người cách mạng chân chính mới
thu thái được những điều hiểu biết quý báu của các đời trước để lại”. Lênin dạy chúng ta như vậy”.
Người đã đánh giá đúng đắn vai trò của Nho giáo và người sáng lập ra nó là Khổng Tử và
cũng thấy được những mặt tích cực của nó và khuyên chúng ta “ nên học ”. Theo Người, mặt
tích cực của Nho giáo là triết lý hành động, tư tưởng nhập thể, hành đạo giúp đời, là tư tưởng về
một xã hội bình trị, là triết lý nhân sinh, tu thân dưỡng tính, chủ trương từ thiên từ đến thứ dân,
ai cũng lấy tu thân làm gốc, là tư tưởng đề cao văn hóa, lễ giáo, tạo ra truyền thống hiếu học với
châm ngôn “Học không biết chán , dạy không biết mỏi”.
Họ tên SV/HV: ………………………….………… - Mã LHP: …………………… Trang 1/…..
Nho giáo đối với Hồ Chí Minh không phải là ảnh hưởng tự phát mà là ảnh hưởng có tính
tự giác. Nói cách khác, Hồ Chí Minh đã chủ động kế thừa từ lập trường mácxít những giá trị
truyền thống trong đó có Nho giáo. Năm 1923 , khi trả lời phỏng vấn của nhà báo Nga Ôxíp
Mandenxtam, Hồ Chí Minh nói: “Tôi sinh ra trong một gia đình nhà nho An Nam... Thanh niên
trong những gia đình ấy thường học Khổng giáo, đồng chí chắc biết Khổng giáo không phải là
tôn giáo mà là một thứ khoa học về kinh nghiệm đạo đức và phép ứng xử. Và trên cơ sở đó
người ta đưa ra khái niệm về “thế giới đại đồng”. Những nhà tư tưởng sáng lập ra Nho giáo, ở
thời đại của họ, đều xứng đáng là những vĩ nhân, những nhà lý luận cách mạng. Đó là điều mà
Hồ Chí Minh đã nhận ra, là cơ sở cho tư tưởng về tôn giáo cũng như cách mạng sau này của Người .
Hồ Chí Minh rất đề cao và tâm đắc ý nghĩa nhân loại phổ biến của xã hội đại đồng, một xã
hội của con người, do con người, vì con người. Nhưng trong tư tưởng Hồ Chí Minh, xã hội đại
đồng của Nho giáo chỉ có một xã hội lí tưởng nhưng có căn cứ hiện thực trong việc giải quyết
những mâu thuẫn của thời đại hiện nay. Vì vậy, Người khẳng định rằng, “chỉ
có chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức và những
người lao động trên thế giới khỏi ách nô lệ”. Tuy nhiên, hơn ai hết, Hồ Chí Minh hiểu rõ những
mặt bất cập, hạn chế của Nho giáo. Đó là trong Nho giáo có những yếu tố duy tâm, lạc hậu, phản
động như tư tưởng đẳng cấp, khinh lao động chân tay, khinh phụ nữ, khinh thường thực nghiệm,
doanh lợi... Ngày nay, Nho giáo tuy không còn giữ địa vị của hệ tư tưởng thống trị nhưng những
dấu ấn và ảnh hưởng của nó chưa phải đã hết, nó vẫn bám rễ và ảnh hưởng mang tính hai mặt
đến xã hội và con người Việt Nam ở những mức độ nhất định. Trong quá trình xây dựng nhà
nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, việc khai thác những yếu tố hợp lý phát huy ảnh
hưởng tích cực và hạn chế ảnh hưởng tiêu cực của tư tưởng trị quốc Nho giáo là việc làm có ý
nghĩa to lớn, nhưng phải có phương hướng đúng đắn và những giải pháp phù hợp. Phật giáo
Từ thủa thiếu thời, Hồ Chí Minh đã tiếp nhận ảnh hưởng sâu đậm những tư tưởng cao đẹp
của Phật giáo ngay trong gia đình của mình. Trước hết, ảnh hưởng đó bắt đầu từ bà ngoại của
Người - Cụ Nguyễn Thị Kép. Những người thân trong gia đình Bác không chỉ ảnh hưởng đến
việc hình thành tâm từ bi, nhân ái của Hồ Chí Minh mà còn trực tiếp tác động đến việc hình
thành tư tưởng của Người về Phật giáo. Lòng yêu nước thương dân và triết lí
Họ tên SV/HV: ………………………….………… - Mã LHP: …………………… Trang 2/…..
từ bi thấm nhuần từ đạo Phật của Cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc đã có ảnh hưởng nhất định tới
Chủ tịch Hồ Chí Minh trên con đường cứu nước .
Từ rất sớm (năm 1921), Hồ Chí Minh cảnh tỉnh loài người khi tìm cách xoá bỏ đẳng cấp,
tôn giáo và các thành phần giai cấp: “Thảm họa của đất nước đã xoá bỏ sự phân biệt đẳng cấp
và tôn giáo. Người giàu người nghèo, quý tộc và nông dân, Hồi giáo và Phật giáo, đều hợp sức
đoàn kết”. Hồ Chí Minh thành tâm gợi niềm tin mãnh liệt: “Rồi đây, bốn bể
một nhà...”. Từ những suy nghĩ đó, Hồ Chí Minh quan niệm: “Trong bầu trời không có gì tốt
đẹp vẻ vang bằng phục vụ lợi ích cho nhân dân, việc gì có lợi cho nhân dân phải hết sức làm,
việc gì có hại cho dân phải hết sức tránh”.
Chúng ta thấy, những ảnh hưởng của Hồ Chí Minh về tư tưởng giáo lý nhà Phật rất rõ nét.
Người đã gạn lọc, kế thừa, cách mạng hóa những hạt nhân hợp lý trong triết lý đạo Phật, nhất là
triết lý đề cao nếp sống đạo đức trong sáng, chủ trương bình đẳng, yêu thương đồng loại, chống
điều ác. Những quan điểm tích cực đó trong triết lý của Đạo Phật được Hồ
Chí Minh vận dụng sáng tạo để đoàn kết đồng bào theo Đạo Phật, đoàn kết toàn dân vì nước
Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh. Tuy nhiên, Người cũng chịu ảnh
hưởng bởi những mặt tiêu cực của Phật giáo đó là không chủ trương đấu tranh để cải tạo thế
giới cũng không đề cập tới đấu tranh giai cấp để thực hiện công bằng xã hội mà chủ
trương thông qua giáo dục để làm con người trở nên tốt đẹp hơn, tư tưởng an bài số phận, không
chủ động. Trong thư gửi Hội Phật tử năm 1947, Người viết: “Đức Phật là đại từ đại bi, cứu khổ
cứu nạn, muốn cứu chúng sinh ra khỏi khổ nạn, Người phải hy sinh tranh đấu, diệt lũ ác ma.
Nay đồng bào ta đại đoàn kết, hy sinh của cải xương máu, kháng chiến đến cùng, để đánh tan
thực dân phản động, để cứu quốc dân ra khỏi khổ nạn, để giữ quyền thống nhất và độc lập của
Tổ quốc. Thế là chúng ta làm theo lòng đại từ đại bi của Đức Phật Thích Ca, kháng chiến để
đưa giống nòi ra khỏi cái khổ ải nô lệ”. Trong giáo lý nhà Phật, “từ bi” là ước vọng mãnh liệt để
giải thoát con người thoát khỏi đau khổ. “Bác ái” là lòng thương yêu của mọi người. “Vị tha”,
“sống vì người khác”, “kết tinh bằng từ bi, trí tuệ, dũng mãnh, hướng dẫn chúng sinh đạt tới
mục đích giác ngộ và giải thoát, chuyển cõi Ta bà này thành cõi Tịnh độ và cuộc đời cơ cực này
thành nếp sống cực lạc”. Từ triết lý giáo lý của nhà Phật, Hồ Chí Minh đã tích lũy và hình thành
cho mình tư tưởng mang giá trị triết lý nhân văn sâu sắc và chính Người luôn luôn hướng đến Phật pháp. Lão giáo
Họ tên SV/HV: ………………………….………… - Mã LHP: …………………… Trang 3/…..
Đối với Lão giáo, Hồ Chí Minh đã tiếp thu và kế thừa những mặt tích cực của Lão giáo,
khuyên con người nên gắn bó với thiên nhiên, hòa đồng với thiên nhiên, hơn nữa phải biết bảo
vệ môi trường sống, tư tưởng thoát mọi sự ràng buộc của vòng danh lợi. Người kêu gọi nhân
dân ta trồng cây, tổ chức “Tết trồng cây” để bảo vệ môi trường sinh thái cho chính cuộc sống
của con người. Người khuyên cán bộ, đảng viên sống cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư,
hành động theo đúng quy luật tự nhiên; ít lòng tham muốn về vật chất; thực hiện cần, kiệm,
liêm, chính, chí công vô tư; hành động theo đạo lý với ý nghĩa là hành động đúng với quy luật tự nhiên, xã hội.
Hồ Chí Minh là tấm gương về đạo đức và tác phong gương mẫu, hy sinh vì lợi ích của
dân, lo cho hạnh phúc cho nhân dân nhằm phụng sự cho mục tiêu giành độc lập, tự do cho dân
tộc. Suốt cả cuộc đời mình, Người sống thanh cao, không màng danh lợi, yêu thiên nhiên và hòa
quyện vào thiên nhiên, lấy thiên nhiên làm bạn. Trong mọi hoàn cảnh khó khăn gian khổ nhất
nhưng Hồ Chí Minh vẫn làm thơ, viết sách, câu cá,... Trả lời các nhà báo nước ngoài, ngày 21-
1-1946, Hồ Chí Minh chỉ mong ước rằng “Tôi chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc, là
làm sao cho nước tôi được hoàn toàn độc lập, dân tôi được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có
cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành. Riêng phần tôi thì làm một cái nhà nho nhỏ, nơi có non
xanh, nước biếc, để câu cá, trồng hoa, sớm chiều làm bạn với các cụ già hái củi, em trẻ chăn
trâu, không dính líu gì với vòng danh lợi”.
Chủ nghĩa Tam dân - Tôn Trung Sơn
Chủ nghĩa Tam dân của Tôn Trung Sơn là cương lĩnh chính trị do Tôn Dật Tiên đề xuất
bao gồm: chủ nghĩa dân tộc, chủ nghĩa dân quyền, chủ nghĩa dân sinh, ưu điểm của nó là chính
sách thích hợp với điều kiện nước ta và sau này Hồ Chí Minh đã đặt tiêu ngữ cho nước Việt
Nam Dân chủ Cộng Hòa là “Độc lập - Tự do - Hạnh phúc”. Khái niệm “Độc lập - Tự do - Hạnh
phúc” đã được Hồ Chí Minh rút ra từ chủ nghĩa Tam dân và tư tưởng “Tự do - Bình đẳng - Bác
ái” của cách mạng tư sản Pháp 1789 và nâng lên một trình độ mới, mang tính giai cấp, tính nhân
dân, tính dân tộc và tính cách mạng triệt để của một cuộc cách mạng dân tộc dân chủ dưới sự
lãnh đạo của giai cấp công nhân, lấy chủ nghĩa Mác - Lênin làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động.
Trong quá trình hoạt động cách mạng, Hồ Chí Minh không tiếp thu nguyên si, máy móc
mà đã vượt hẳn lên trên những nhà yêu nước Việt Nam khác. Người đã tiếp thu một cách có
chọn lọc và sáng tạo những mặt tiến bộ của chủ nghĩa Tam dân và áp dụng thành
Họ tên SV/HV: ………………………….………… - Mã LHP: …………………… Trang 4/…..
công chúng vào hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam, coi trọng vấn đề độc lập dân tộc, nhưng tùy
theo từng hoàn cảnh cụ thể mà nhấn mạnh và đặt nó lên vị trí hàng đầu. Độc lập dân tộc gắn
liền với tự do hạnh phúc của nhân dân. Đó là điểm sáng tạo vĩ đại của Hồ Chí Minh. Bên cạnh
việc tiếp thu sáng tạo những nội dung của chủ nghĩa Tam dân, Hồ Chí Minh còn chú trọng
nghiên cứu các phương pháp cách mạng của Tôn Trung Sơn, đặc biệt là phương pháp vận dụng
đạo đức Nho giáo để tuyên truyền và giáo dục tinh thần cách mạng cho quần chúng. Học tập
Tôn Trung Sơn, Hồ Chí Minh đã lý giải tư tưởng Nho giáo “tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên
hạ” một cách giản dị và thiết thực .
Tinh hoa văn hóa phương Tây
Ba mươi năm sống ở nước ngoài, chủ yếu ở Châu Âu, người chịu ảnh hưởng sâu rộng
những giá trị văn hóa dân chủ và cách mạng của phương Tây. Về tư tưởng dân chủ của cách
mạng Pháp, Hồ Chí Minh đã tiếp thu tư tưởng tự do, bình đẳng, bác ái của đại Cách mạng Pháp.
Khi học ở Vinh, ở Huế, người đã chú tâm tìm hiểu những tư tưởng này. Trước khi ra nước
ngoài, Bác đã nghe thấy ba từ Pháp: tự do, bình đẳng, bác ái. Lần đầu sang Pháp Hồ
Chí Minh đã thể hiện bản lĩnh, nhân cách phẩm chất cao thượng, tư duy độc lập tự chủ. Người
đã nhìn thấy mặt trái của “lý tưởng” tự do, bình đẳng, bác ái. Sau này khi trở lại Pháp 1917,
người tiếp thu tận gốc những phương pháp này trong các tác phẩm của các nhà khai sáng Pháp:
Mông Teskiô, Rút xô, Vin Tie. Về tư tưởng dân chủ của cách mạng Mỹ, khi nghiên cứu cách
mạng tư sản Mỹ 1776, Người tiếp thu tư tưởng tự do, nhân quyền. Hồ Chí Minh tiếp thu giá trị
tư tưởng nhân quyền với nội dung là quyền tự do cá nhân thiêng liêng trong bản tuyên ngôn độc
lập của nước Mỹ. Trong tuyên ngôn độc lập của Mỹ, lần đầu bước vào hoạt động chính trị,
Người gia nhập công đoàn thủy thủ và tham gia các cuộc đấu tranh của chủ nghĩa chống tư bản.
Cuộc sống, lao động và hoạt động cách mạng của Người gắn liền với những người lao động,
giai cấp công nhân ở các nước chính quốc, thuộc địa đã mang lại cho Người tình yêu thương
giai cấp, yêu thương những người lao động, những người cùng khổ một cách sâu sắc. Sau này
Hồ Chí Minh đã phát triển quyền đó là quyền sống, quyền độc lập, quyền tự do, quyền mưu cầu
hạnh phúc của tất cả các dân tộc. Điều này thể hiện trong tuyên ngôn độc lập năm 1945 của Người.
Khi ở các nước phương Tây, Hồ Chí Minh không chỉ tiếp thu tư tưởng dân chủ mà còn
hình thành phong cách dân chủ thông qua việc trực tiếp tham gia các tổ chức chính trị xã hội,
viết báo, tranh luận, họp hội, lập hội. Vận dụng những tư tưởng tiến bộ và cách mạng
Họ tên SV/HV: ………………………….………… - Mã LHP: …………………… Trang 5/…..
của cách mạng Pháp, Mỹ vào các cuộc sinh hoạt ở câu lạc bộ “Gia-cô-banh” xuất hiện lúc đại
Cách mạng Pháp 1789, ở đó Người ta trao đổi đủ thứ: từ kinh tế đến chính trị, văn hóa, nghệ
thuật, tôn giáo, thiên văn, địa lý, thôi miên, trồng cải soong, nuôi ốc sên,… siêu hình thuyết
mộng du, luân hồi, Người thường lái những cuộc tranh luận đó sang vấn đề Việt nam, vấn đề
thuộc địa... Ở câu lạc bộ “Phô Bua” do Đảng xã hội Pháp tổ chức, là tổ chức duy nhất bênh vực
các dân tộc thuộc địa, Người phê phán Phong Kiến Việt Nam, khẳng định phê phán toàn quyền
Đông Dương AnBe XaRô thông qua sinh hoạt phong cách dân chủ của Người trong thực tiễn, là
cơ sở để hình thành chính kiến trong Đại hội Đảng xã hội Pháp ở Tua 1920 và trở thành người Cộng Sản.
Ngoài ra, Hồ chí Minh còn tiếp thu lòng nhân ái, đức hy sinh của Thiên chúa giáo. Thiên
chúa giáo là tôn giáo lớn của phương Tây, Hồ Chí Minh quan niệm Tôn giáo là văn hoá. Với tư
duy sắc bén, tinh thần đấu tranh vì chính nghĩa, tự do và hạnh phúc con người, Hồ Chí Minh đã
nhìn ra những quan điểm tốt đẹp, hướng thiện trong Đạo Thiên chúa, chứ
không coi đó chỉ là một công cụ xâm lược của thực dân Pháp. Điểm tích cực nhất của Thiên
chúa giáo là lòng nhân ái. Hồ Chí Minh tiếp thu có chọn lọc tư tưởng văn hoá Đông - Tây để
phục vụ cho cách mạng Việt Nam. Người dẫn lời của Lênin: “Chỉ có những người cách mạng
chân chính mới thu hái được những hiểu biết quý báu của các đời trước để lại”. Đứng trên lập
trường duy vật và phương pháp luận biện chứng, Hồ Chí Minh đã chắt lọc những yếu tố hợp lý,
có giá trị lâu dài đối với đời sống “trần gian” thiết thực của con người nói chung, của đạo hữu
Thiên chúa giáo nói riêng trong những tư tưởng cơ bản của đạo Thiên chúa nêu trên để làm
phong phú thêm tư tưởng của Người trên nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội, góp phần lãnh đạo
cách mạng Việt Nam tới thành công.
Câu 2: Anh (chị) hãy phân tích quan điểm Hồ Chí Minh về điều kiện để xây dựng
khối đại đoàn kết dân tộc. Ý nghĩa của quan điểm đó đối với xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc hiện nay.
Để xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc, quy tụ, đoàn kết được mọi giai cấp, tầng lớp cần
phải đảm bảo các điều kiện sau đây:
Một là, lấy lợi ích chung là điểm quy tụ, đồng thời tôn trọng các lợi ích khác biệt chính
đáng. Lợi ích chung và lợi ích của tập, của đất nước, còn lợi ích riêng là của cá nhân. Với Chủ
tịch Hồ Chí Minh, muốn đoàn kết được chúng ta phải thực hiện được phương châm “cầu đồng
tồn dị”, tức là lấy cái chung để hạn chế cái riêng, cái khác biệt, hay nói cách khác
Họ tên SV/HV: ………………………….………… - Mã LHP: …………………… Trang 6/…..
là lấy lợi ích tối cao của dân tộc làm điểm tương đồng để mà quy tụ tất cả các giai cấp, các tầng
lớp. Lợi ích chung của dân tộc đó là độc lập, là chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, là tự do, là dân
chủ, là bình đẳng. Đây là cái điểm tương đồng để khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Thực hiện
phương châm này, Chủ tịch Hồ Chí Minh hay sử dụng chiếc đồng hồ quả quýt để
răn dạy cho đồng bào, cán bộ về tinh thần đoàn kết của dân tộc ta. Khi đi đến các địa phương
Bác đã giơ chiếc đồng hồ quả quýt lên và hỏi: “Các cô, các chú có biết đây là cái gì không?”.
Các cô, các chú trả lời “Dạ thưa Bác, đây là chiếc đồng hồ quả quýt ạ”. Bác gật đầu và phân tích
“Các cô, các chú thấy rằng ở chiếc đồng hồ này có rất nhiều bộ phận, nào là có kim giờ, kim
phút, kim giây, có các chữ số, có nắp đồng hồ, mặt đồng hồ, ở bên trong thì có máy móc của
đồng hồ, có răng cưa và có cái dây để treo đồng hồ lên. Tất cả những bộ phận này họp lại với
nhau thì mới thành cái đồng hồ. Nếu bây giờ kim giờ, kim phút, kim giây lại đi tị nạnh với các
chữ số rằng mình thì phải hoạt động còn các chữ số thì đứng yên và nếu như chúng tráo đổi vị
trí cho nhau thì đồng hồ không còn chính xác, nó không còn là cái đồng hồ nữa”. Từ chiếc đồng
hồ này, Bác mới nói đến các cơ quan, các tổ chức rằng sẽ có những người làm ở những vị trí này
nhưng lại so bì tị nạnh với vị trí khác. Nhưng nếu như ai cũng muốn ai cũng so bì tị nạnh, ai
cũng muốn tráo đổi vị trí cho nhau tại cơ quan, tổ
chức đó có thống nhất hay không, công việc có hoàn thành tốt hay không thì Bác đã nói là
không. Như vậy là mỗi một cơ quan hay mỗi một bộ phận thì đều có sự sắp xếp về nhân lực của
mình, người thì làm ở vị trí này, người thì làm ở vị trí kia và mỗi người đều có chức năng, đều
có nhiệm vụ và bổn phận riêng để tránh việc chồng chéo. Mỗi cá nhân khi được tổ chức phân
công một nhiệm vụ nào đó thì hãy cố gắng hoàn thành trọng trách của mình nhất có thể. Như
vậy là mình đã góp một phần công sức của mình cho tập thể và cuối cùng công việc của tập thể
sẽ được hoàn thành. Nói đến đoàn kết ở đây, nó như là một chất keo để kết dính mọi người lại
với nhau, như là một chất bôi trơn để cho bộ máy có thể vận hành tốt và đem đến công việc
được thành công. Thực chất khi Bác nói đến tinh thần đoàn kết là Bác nói đến cộng đồng trách
nhiệm, tức là mỗi người cần phải tự nguyện, tự giác trong công việc hằng ngày của mình, mình
làm ở bộ phận nào, ở đâu thì mình hãy cố gắng hoàn thành tốt nhất công việc của mình. Mình
phải luôn luôn đặt lợi ích chung, lợi ích của cơ quan đoàn thể, lợi ích của nhân dân, của đất
nước lên trên lợi ích riêng của cá nhân mình. Nếu như lợi ích của đất nước được thực hiện thì
lợi ích cá nhân của mình cũng sẽ được thỏa mãn.
Hai là, kế thừa truyền thống yêu nước, nhân nghĩa, đoàn kết của dân tộc. Truyền thống
này được hình thành, củng cố và phát triển trong suốt quá trình dựng nước và giữ nước hàng
Họ tên SV/HV: ………………………….………… - Mã LHP: …………………… Trang 7/…..
ngàn năm của dân tộc và đã trở thành giá trị bền vững, thấm sâu vào tư tưởng, tình cảm, tâm
hồn của mỗi con người Việt Nam, được lưu truyền qua nhiều thế hệ. Việt Nam mình có một
ngày đó là ngày giỗ tổ mồng 10-3 “Dù ai đi ngược về xuôi/ Nhớ ngày giỗ tổ mồng mười tháng
ba” để nói rằng người Việt Nam mình có chung nguồn gốc, có chung cội nguồn. Người Việt
Nam mình gọi nhau với hai từ rất là thân thương đó là “đồng bào”, đồng là cùng, bào là bọc, tức
là chúng ta cùng trong cái bọc. Vào ngày 2-9-1945, khi Chủ tịch Hồ Chí Minh đang đọc bản
Tuyên ngôn độc lập thì Bác đã dừng lại và hỏi một câu là “Tôi nói đồng bào nghe rõ không?”.
Bác hỏi như thế bởi vì Bác là người miền Trung mặc dù 30 năm bôn ba hoạt động ở nước ngoài
nhưng Bác vẫn giữ được cái tiếng nói của người dân xứ
Nghệ, nên Bác lo đồng bào sẽ không nghe rõ giọng nói của Bác cho nên là Bác mới hỏi như thế.
Lời hỏi thăm này của Bác là thể hiện sự chu đáo, sự ân cần đối với dân. Nhưng mà khi Bác nói
hai tiếng “đồng bào” trong thời khắc thiêng liêng như thế thì nó lại có một ý nghĩa chính trị lớn
lao để khẳng định tinh thần đại đoàn kết của toàn thể dân tộc Việt Nam mình, thể hiện khí phách
hiên ngang của con Lạc, cháu Hồng.
Ba là, phải có lòng khoan dung, độ lượng với con người. Đây là một tưởng mà Bác Hồ kế thừa
từ truyền thống của cha ông. Hồ Chí Minh chỉ rõ, trong mỗi cá nhân cũng như trong mỗi cộng
đồng có những ưu điểm, khuyết điểm, mặt tốt, mặt xấu…cho nên, vì lợi ích của cách mạng, cần
phải có lòng khoan dung, độ lượng, trân trọng cái phần thiện dù nhỏ nhất ở mỗi con người mới
có thể tập hợp, quy tụ rộng rãi mọi lực lượng. Người viết: “sông to, biển rộng thì bao nhiêu nước
cũng chứa được, vì độ lượng của nó rộng và sâu. Cái chén nhỏ, cái đĩa cạn, thì một chút nước
đầy tràn, vì đọ lượng của nó hẹp, nhỏ. Người mà tự kiêu, tự mãn, cũng giống như cái chén, cái
đĩa cạn”. Người đã lấy hình tượng năm ngón tay có ngón ngắn ngón dài nhưng cả năm ngón đều
thuộc về một bàn tay, để nói lên sự cần thiết phải thực hiện đại đoàn kết. Người cho rằng:
“Trong mấy triệu người, cũng có người thế này, thế khác, nhưng thế này hay thế khác đều giòng
dõi của tổ tiên ta. Vậy nên ta phải khoan hồng, đại độ. Ta phải nhận rằng đã là con Lạc, cháu
Hồng thì ai cũng có ít hay nhiều lòng ái quốc. Đối với những đồng bào lầm đường, lạc lối, ta
phải dùng tình thân ái mà cảm hóa họ. Có như thế mới thành đoàn kết, có đại đoàn kết, thì
tương lai chắc chắn sẽ vẻ vang”. Lòng khoan dung, độ lượng ở Hồ Chí Minh không phải là một
sách lược nhất thời, một thủ đoàn chính trị mà là sự tiếp nối và phát triển truyền thống nhân ái,
bao dung của dân tộc, từ chính mục tiêu của cuộc cách mạng mà Người suốt đời đeo đuổi. Đó là
một tư tưởng nhất quán, được thể hiện trong đường lối, chính sách của Đảng đối với những
người làm việc dưới chế
Họ tên SV/HV: ………………………….………… - Mã LHP: …………………… Trang 8/…..
độ cũ và những người nhất thời lầm lạc biết hối cải. Người tuyên bố: “Bất kỳ ai mà thật thà tán
thành hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ thì dù những người đó trước đây chống chúng ta,
bây giờ chúng ta cũng thật thà đoàn kết với họ”. Người tha thiết kêu gọi tất cả những ai có lòng
yêu nước, không phân biệt tầng lớp, tín ngưỡng, chính kiến và trước đây đã từng đứng về phe
nào, hãy cùng đoàn kết vì nước, vì dân. Để thực hiện được đoàn kết, cần xóa bỏ hết mọi thành
kiến, cần phải thật thà hợp tác và giúp đỡ lẫn nhau cùng phát triển. Người cho rằng, trong mỗi
con người Việt Nam “ai cũng có ít hay nhiều tấm lòng yêu nước” tiềm ẩn bên trong. Tấm lòng
yêu nước đó có khi bị bụi bậm che mờ, chỉ cần làm thức tỉnh lương tri con người thì lòng yêu
nước đó lại bộc lộ. Với niềm tin vào sự hướng thiện của con người và vì lợi ích tối cao của dân
tộc, Hồ Chí Minh đã chân thành lôi kéo, tập hợp được chung quanh mình nhiều người trước đây
vố là quan đại thần của Nam triều cũ, như: Thượng thư Bùi Bằng Đoàn, Khâm sai đại thần Phan
Kế Toại…vào khối đại đoàn kết toàn dân, tạo điều kiện để họ có đóng góp vào sự nghiệp kháng
chiến, kiến quốc của dân tộc.
Bốn là, phải có niềm tin vào nhân dân. Với Hồ Chí Minh, yêu dân, tin dân, dựa vào dân,
ssống, đấu tranh vì hạnh phúc của nhân dân là nguyên tắc tối cao. Nguyên tắc này vừa là sự nối
tiếp truyền thống dân tộc “nước lấy dân làm gốc”, “chở thuyền và làm lật thuyền cũng là dân”,
đồng thời là sự quán triệt sâu sắc nguyên lý Macxit “cách mạng là sự nghiệp của quần chúng”.
Theo Người, DÂN là chỗ dựa vững chắc của Đảng, là nguồn sức mạnh vô tận và vô địch của
khối đại đoàn kết, quyết định thắng lợi của cách mạng, là nền, gốc và chủ thể của mặt trận.
Trong bài nói chuyện tại Hội nghị đại biểu mặt trận Liên Việt toàn quốc, tháng 1-1955, Người
chỉ rõ: “Đại đoàn kết tức là trước hết phải đoàn kết đại đa số nhân dân, mà đại đa số nhân dân ta
là công nhân và nông dân và các tầng lớp nhân dân lao động khác. Đó là nền, gốc của đại đoàn
kết. Nó cũng như cái nền của nhà, gốc của cây. Nhưng đã có nền vững, gốc tốt, còn phải đoàn
kết các tầng lớp nhân dân khác.
Ý nghĩa của các quan điểm đó đối với xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc ở Việt Nam hiện nay:
Đại đoàn kết toàn dân tộc - di sản vô giá, truyền thống cực kỳ quý báu của dân tộc Việt
Nam được hun đúc qua hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước. Trải qua bao nhiêu thế hệ lời răn
dạy của Bác về điều kiện để xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc vẫn còn mãi, càng ngày
càng phát huy, lan rộng ý nghĩa đối với Việt Nam ngày hôm nay.
Họ tên SV/HV: ………………………….………… - Mã LHP: …………………… Trang 9/…..
Ngày nay, tư tưởng đại đoàn kết của Hồ Chí Minh cũng được thấm nhuần và phát huy
mạnh mẽ. Trong nhiều năm qua, Đảng không ngừng hoàn thiện đường lối, chủ trương về đại
đoàn kết toàn dân tộc và Nhà nước kịp thời thể chế hóa bằng các chính sách, pháp luật. Chưa
khi nào, Đảng ban hành nhiều chỉ thị, nghị quyết nhằm phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn
dân tộc như những năm qua. Cùng với đó, Nhà nước đã ban hành nhiều chính sách, pháp luật về
dân tộc, tôn giáo, thanh niên, phụ nữ, công nhân, nông dân, trí thức, văn nghệ
sĩ, người Việt Nam ở nước ngoài... nhằm khơi dậy, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc
trong sự nghiệp xây dựng, bảo vệ và phát triển đất nước. Tiêu biểu là các cuộc vận động xã hội
tiêu như: Kêu gọi quyên góp giúp đỡ người nghèo, bảo vệ chăm sóc sức khỏe của nhân dân...
Các phong trào “Uống nước nhớ nguồn”, “Đền ơn đáp nghĩa”, “Ngày vì người nghèo”, “Toàn
dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”, “Toàn dân đoàn kết xây dựng nông thôn mới, đô thị
văn minh”, “Toàn dân bảo vệ an ninh quốc phòng”... đã thấm sâu vào tư tưởng của nhân dân và
tạo động lực thúc đẩy phát triển đất nước nhanh và bền vững, phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Đặc biệt là trong bối cảnh dịch Covid 19 hiện nay, nước ta có những phong trào cùng các
hoạt động đoàn kết với tinh thần “chống dịch như chống giặc” như hạn chế nhập cảnh, tiến tới
dừng nhập cảnh đối với tất cả người từ nước ngoài vào Việt Nam, cách ly tập trung toàn bộ
người từ nước ngoài về, truy vết người tiếp xúc trên diện rộng... Trong công tác chống dịch của
Bộ Y tế, chiến lược “ngăn chặn; phát hiện; cách ly; khoanh vùng dập dịch và điều trị hiệu quả”
đã được đưa ra. Từ đó rút ra bài học “thần tốc và truy vết” (khi truy vết không nên hỏi ngay
người bệnh vào chi tiết những người tiếp xúc mà phải xác định các “mốc dịch tễ” trước, bởi đây
là những đầu mối dịch tễ lớn sau đó mới truy vết đến từng người tiếp xúc), tập trung cao độ để
đạt mục tiêu kép (vừa chống dịch, vừa phát triển kinh tế - xã hội). Trong xã hội, khi có chỉ thị
cách ly xã hội thì toàn dân đều thực hiện nghiêm chỉnh, hạn chế ra ngoài nhất có thể và luôn đeo
khẩu trang khi ở các nơi công cộng.
Tư tưởng của Bác về lòng khoan dung, độ lượng với con người đã thấm nhuần vào tư
tưởng của mỗi con người Việt Nam hôm nay. Để khi ta làm điều gì đó, đưa ra một quyết định gì
vẫn luôn biết cảm thông, thấu hiểu cho người khác, từ đó đưa ra được những quyết định đúng
đắn hơn, vừa hợp tình vừa hợp lí, cân bằng giữa cảm tính và lý tính. Bởi như Bác đã nói: “dân
tộc ta là dân tộc giàu lòng bác ái”. Học tập và làm theo lời dạy của Bác, ngày nay, Đảng bộ và
nhà nước đã ban hành những nghị quyết như xem xét đặc xá cho người vi
Họ tên SV/HV: ………………………….………… - Mã LHP: …………………… Trang 10/…..
phạm pháp luật có quá trình phấn đấu, rèn luyện tu dưỡng cải tạo tốt, giúp người được đặc xá
hoàn lương bền vững; tiếp nhận, quản lý, giáo dục, giúp đỡ những người từng mắc phải lỗi lầm
để họ nhận ra và quay lại trở thành một người có ích cho xã hội. Quá trình thực hiện, các cấp ủy
đảng đã quan tâm hơn đến sự nghiệp đại đoàn kết toàn dân tộc. Sự đổi mới tổ
chức bộ máy của hệ thống chính trị, việc tăng cường dân chủ hóa đời sống xã hội, nhất là việc
xây dựng Quy chế dân chủ ở cơ sở, nhằm thực hiện “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”
và nhiều nơi gần đây bổ sung “dân thụ hưởng” đã góp phần quan trọng động viên nhân dân
hăng hái tham gia các sinh hoạt chính trị của đất nước, đẩy mạnh sản xuất, thực hiện các nhiệm
vụ phát triển kinh tế, văn hóa - xã hội, củng cố an ninh quốc phòng, đặc biệt là giúp nhau trong
khó khăn, gần đây là trong phòng, chống dịch Covid-19.
Đại đoàn kết dân tộc, từ chỗ là tư tưởng của lãnh tụ đã trở thành sợi chỉ đỏ xuyên suốt
đường lối chiến lược của Đảng cộng sản Việt Nam trong cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân
cũng như trong cách mạng xã hội chủ nghĩa. Tư tưởng đó đã thấm sâu vào tư tưởng, tình cảm
của tất cả những người Việt Nam yêu nước và biến nó thành hành động cách mạng của hàng
triệu, hàng triệu con người, tạo thành sức mạnh vô địch trong sự nghiệp giải phóng dân tộc, xây
dựng và bảo vệ Tổ Quốc.