TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
HỌC KỲ I-NĂM HỌC 2024 – 2025
(Phần dành cho sinh viên/ học viên)
Bài thi học phần: Tư tưởng Hồ Chí Minh Số báo danh: 72 Mã số đề thi: 35 Mã số SV/HV:
Ngày thi: 04/01/2025 Tổng số trang: 07 Lớp: Họ và tên: Điểm kết luận:
GV chấm thi 1: …….………………………......
GV chấm thi 2: …….………………………...... Bài làm SV/HV không Câu 1: được viết vào cột này)
1. Để xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc cần phải bảo đảm các điều Điểm từng câu, kiện sau đây: diểm thưởng (nếu có) và điểm
Một là, phải lấy lơi ích chung làm điểm quy tụ, đồng thời tôn trọng các lợi ích toàn bài
khác biệt chính đáng: Mục đích chung của Mặt trận được chủ tịch Hồ Chí Minh
xác định cụ thể, phù hợp với từng giai đoạn cách mạng, nhằm tập hợp tới mức GV chấm 1: Câu 1: ……… điểm
cao nhất lực lượng dân tộc vào khối đại đoàn kết. Theo Người, đại đoàn kết phải Câu 2: ……… điểm
xuất phát từ mục tiêu vì nước, vì dân, trên cơ sở yêu nước, thương dân, chống áp ………………….
bức bóc lột, nghèo nàn lạc hậu. Người cho rằng, nếu nước được độc lập mà dân ………………….
không được hưởng hạnh phúc, tự do thì độc lập cũng chẳng có ý nghĩa gì. Vì Cộng …… điểm
vậy, đoàn kết phải lấy lợi ích tối cao của dân tộc, lợi ích căn bản của nhân dân GV chấm 2:
lao động làm mục tiêu phấn đấu, đây là nguyên tắc bất di bất dịch, là ngọn cờ Câu 1: ……… điểm
đoàn kết và là mẫu số chung để quy tụ các tầng lớp, giai cấp, đảng phái, dân tộc Câu 2: ……… điểm
và tôn giáo vào trong Mặt trận. ………………….
Chủ tịch Hồ Chí Minh thường xuyên nhắc nhở rằng cá nhân phải hy sinh lợi ích ………………….
riêng vì lợi ích chung, Người khẳng định: "Việc gì lợi cho dân, ta phải hết sức Cộng …… điểm
làm. Việc gì hại đến dân, ta phải hết sức tránh." Cá nhân chỉ có thể phát triển bền
vững khi nằm trong một cộng đồng dân tộc vững mạnh. Vì vậy, mỗi người dân
cần tự giác đặt lợi ích quốc gia lên trên lợi ích của bản thân. Tìm ra cái chung, lấy cái chung làm
điểm tựa, dựa vào cái chung để hóa giải những khác biệt, mâu thuẫn riêng, đó là triết lý rất sâu sắc
của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong thực hiện đại đoàn kết dân tộc.
Hai là, phải kế thừa truyền thống yêu nước, nhân nghĩa, đoàn kết của dân tộc: Truyền thống này
được hình thành, củng cố và phát triển trong suốt quá trình dựng nước và giữ nước hàng ngàn năm
của dân tộc Việt Nam và đã trở thành giá trị bền vững, thấm sâu vào tư tưởng, tình cảm, tâm hồn
của mỗi con người Việt Nam, được lưu truyền qua nhiều thế hệ từ thời vua Hùng dựng nước và giữ
nước tới bà Trưng, bà Triệu, Trần Hưng Đạo, Lê Lơi, Quang Trung.. Truyền thống đó là cội nguồn
sức mạnh vô địch để cả dân tộc chiến đấu và chiến thắng thiên tai địch họa, làm cho đất nước được
trường tồn, bản sắc dân tộc được giữ vững.
Chủ nghĩa yêu nước là sợi chỉ đỏ, xuyên suốt trường kì lịch sử dân tộc, Người có một câu nói rất
nổi tiếng: “Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước. Đó là một truyền thống quý báu của ta. Từ xưa
đến nay mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng thì tinh thần ấy lại sôi nổi, nó kết thanh một làn sóng vô cùng
mạnh mẽ, nó lướt qua mọi khó khăn, nguy hiểm; nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và cướp nước”.
Chủ nghĩa yêu nước Việt Nam có nhiều biểu hiện phong phú qua từng thời kì, từng giai đoạn cách
mạng nhưng nhìn chung lại đây chính là giá trị cốt lõi, truyền thống quý báu nhất của dân tộc Việt
Nam. Để thể hiện sự đoàn kết, chúng ta cần phải kế thừa giá trị này.
Ba là, phải có lòng khoan dung, độ lượng với con người. Theo chủ tịch Hồ Chí Minh, trong mỗi cá
nhân cũng như mỗi cộng đồng đều có những ưu điểm, khuyết điểm, mặt tốt, mặt xấu… Cho nên, vì
lợi ích của cách mạng, cần phải có lòng khoan dung độ lượng, trân trọng phần thiện dù nhỏ nhất ở
mỗi người, có vậy mới tập hợp, quy tụ rộng rãi mọi lực lượng.
Người khẳng định: “Sông to, biển rộng thì bao nhiêu nước cũng chứa được, vì độ lượng nó sâu. Cái
chén nhỏ, cái đĩa cạn, thì một chút nước đã tràn đầy, vì độ lượng nó hẹp nhỏ. Người mà tự kiêu, tự
mãn, cũng như cái chén, cái đĩa cạn”
Người từng căn dặn đồng bào: “Năm ngón tay cũng có ngón ngắn, ngón dài. Nhưng ngắn dài đều
họp nhau lại nơi bàn tay. Trong mấy triệu người cũng có người thế này hay thế khác, nhưng thế này
hay thế khác đều dòng dõi của tổ tiên ta. Vậy nên ta phải khoan hồng đại độ. Ta phải nhận rằng đã
là con Lạc cháu Hồng thì ai cũng có ít hay nhiều lòng ái quốc. Đối với những đồng bào lạc lối lầm
đường, ta phải lấy tình thân ái mà cảm hóa họ. Có như thế mới thành đại đoàn kết, có đại đoàn kết
thì tương lai chắc chắn sẽ vẻ vang”. Dù là người Việt Nam ở trong nước hay là người Việt Nam
đang sinh sống ở nước ngoài, dù trong quá khứ hay hiện tại chúng ta thấy, truyền thống trong các
truyền thống thì truyền thống yêu nước vẫn là nổi bật nhất của dân tộc Việt Nam.
Qua đó ta có thể thấy lòng khoan dung, độ lượng của Người không phải là sách lược nhất thời, một
thủ đoạn chính trị mà là một tiếp nối và phát triển truyền thống nhân ái, bao dung của dân tộc hình
thành từ chính cuộc cách mạng mà Người theo đuổi, đó là một tư tưởng nhất quán được thể hiện
trong đường lối chính sách của Đảng và dân tộc qua thái độ và ứng xử của Người đối với những
người làm việc trong chế độ cũ, người lầm đường lạc lối bằng tất cả sự chân thành vì nghĩa lớn của
dân tộc qua tuyên bố nổi tiếng “Bất kì trước đây họ là người thế nào nếu ngày nay họ thật thà, tán
thành hoà bình, thống nhất độc lập, dân chủ; nếu họ muốn thật thà phụng sự Tổ quốc, phục vụ dân
nhân thì chúng ta cần cộng tác với họ”.
Với niềm tin vào sự hướng thiện của con người, vì lợi ích tối cao của dân tộc, Người đã chân thành
lôi kéo, tập hợp được xung quanh mình nhiều người trước đây vốn là quan đại thần của Nam triều
cũ như thượng thư Bùi Bằng Đoàn, khâm sai đại thần Phan Kế Toại..vào khối đại đoàn kết toàn
dân; tạo điều kiện để họ đóng góp vào sự nghiệp kháng chiến kiến quốc của dân tộc.
Bốn là, phải có niềm tin vào nhân dân. Với Hồ Chí Minh, yêu dân, tin dân, dựa vào dân, sống, phấn
đấu vì hạnh phúc của nhân dân là nguyên tắc tối cao trong cuộc sống. Nguyên tắc này vừa là sự tiếp
nối truyền thống dân tộc “Nước lấy dân làm
gốc”, “Chở thuyền và lật thuyền cũng là dân”, đồng
thời là sự quán triệt sâu sắc nguyê
n lý mácxít “Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng”. Dân là chỗ dựa vững chắc
đồng thời cũng là nguồn sức mạnh vô địch của khối đại đoàn kết toàn dân tộc,
quyết định thắng lợi của cách mạng, là nền, gốc của chủ thể của mặt trận. Trong bài nói chuyện tại
Hội nghị Đại biểu Mặt trận Liên Việt toàn quốc tháng 1 năm 1955, chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ:
“đại đoàn kết tức là trước hết phải đoàn kết đại đa số nhân dân mà đại đa số nhân dân là công nhân
nông dân và các tầng lớp nhân dân lao động khác. Đó là nền gốc của đại đoàn kết nó cũng là cái nền
của nhà gốc của cây nhưng đã có nền vững, gốc tốt còn phải đoàn kết các tầng lớp nhân dân khác.
Đảng ta đã xác định lấy dân làm gốc cụ thể trong các nghị quyết của Đảng đều chỉ ra đường lối dân
biết, dân bàn, dân thụ hưởng. Vì vậy, muốn thực hiện đại đoàn kết toàn dân tộc, phải có niềm tin vào nhân dân.
Điều kiện để xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc là một trong những vấn đề rất quan trọng
trong tư tưởng Hồ Chí Minh.
2. Ý nghĩa của quan điểm trên đối với xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc ở Việt Nam hiện nay:
Đại đoàn kết toàn dân tộc là vấn đề có ý nghĩa chiến lược, quyết định thành công của cách mạng.
Có ý nghĩa chiến lược tức là có ý nghĩa lâu dài, đóng vai trò quyết định đến sự thành bại của cách
mạng. Người cho rằng trong thời đại mới để đánh bại được các thế lực thực dân đế quốc nhằm giải
phóng dân tộc giải phóng giai cấp và giải phóng con người. Chủ tịch Hồ Chí Minh còn chỉ ra rằng
đại đoàn kết dân tộc không phải chỉ là mục tiêu, trách nhiệm của Đảng, mà còn là nhiệm vụ hàng
đầu của cả dân tộc. “Dễ trăm lần không dân cũng chịu, khó ngàn lần dân liệu cũng xong”, xây dựng
khối đại đoàn kết dân tộc để phát huy sức mạnh của toàn thể các tầng lớp nhân dân. Thực tế đã
chứng minh trong công cuộc dựng nước và giữ nước, đặc biệt từ khi Đảng ta ra đời (03/02/1930),
Đảng đã phát huy khối đại đoàn kết toàn dân tộc để giành thắng lợi trong công cuộc chống giặc
ngoại xâm và xây dựng đất nước hiện nay.
Người dân đã vận dụng được ý nghĩa tư tưởng Hồ Chí Minh qua việc xây dựng khối đại đoàn kết ở
địa bàn tỉnh Đắc Lắk, dưới sự lãnh đạo của cấp ủy các cấp, sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị
theo phương châm: Đại đoàn kết phải được xây dựng trên cơ sở bảo đảm lợi ích của nhân dân, tin
vào dân, dựa vào dân, phấn đấu vì quyền lợi chính đáng của dân, mọi người đã biết chia sẻ với nhau
những kinh nghiệm và mô hình hiệu quả trong phát triển kinh tế gia đình; động viên nhau tích cực
thi đua lao động sản xuất, góp phần tạo sự chuyển biến mạnh mẽ trong phát triển sản xuất nông
nghiệp của tỉnh, hình thành nhiều vùng sản xuất nông nghiệp hàng hóa tập trung, có chất lượng cao,
như chè, quế, mắc-ca..., với nhiều mô hình sản xuất có sự liên kết giữa người dân và doanh nghiệp,
hợp tác xã. Nhân dân các dân tộc trong tỉnh tích cực hưởng ứng và tham gia cùng cấp ủy, chính
quyền địa phương thực hiện có hiệu quả chương trình xây dựng nông thôn mới; đông đảo đồng bào
các dân tộc tự nguyện đóng góp công lao động, hiến hàng chục nghìn mét vuông đất để xây dựng
đường giao thông liên bản, nội đồng, nội bản, các công trình công cộng của bản, làng, khu phố, góp
phần thay đổi diện mạo nông thôn, đô thị về mọi mặt. Tại các địa phương trong tỉnh, đồng bào các
dân tộc đoàn kết giữ gìn bản sắc văn hóa tốt đẹp của dân tộc, duy trì tổ chức các hoạt động lễ hội
văn hóa truyền thống như dệt thổ cẩm, bản trường ca Đam San…; xây dựng bản, làng trở thành
những điểm du lịch cộng đồng hấp dẫn, thu hút du khách trong và ngoài tỉnh đến tham quan, góp
phần quảng bá bản sắc văn hóa truyền thống của các dân tộc và thúc đẩy phát triển du lịch của tỉnh.
Đến nay, toàn tỉnh có 100/151 xã đạt chuẩn nông thôn mới; thành phố Buôn Ma Thuột được công
nhận hoàn thành nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới năm 2023. Song song với việc phát triển kinh tế
- xã hội, nhân dân các dân tộc trong tỉnh còn đoàn kết thực hiện tốt nhiệm vụ bảo đảm quốc phòng,
an ninh trên địa bàn; nâng cao cảnh giác, không tin, không nghe theo các luận điệu tuyên truyền của kẻ xấu.
Trong cuộc chiến chống đại dịch COVID-19, thực tiễn cũng chứng minh tinh thần đoàn kết, san sẻ
cảm thông chính là một trong những nguồn sức mạnh lớn lao. Trước diễn biến phức tạp của dịch
COVID-19, kế thừa truyền thống đại đoàn kết của dân tộc, Đảng, Nhà nước và nhân dân ta một lần
nữa chung tay, đồng lòng chống dịch. Tất cả các tỉnh, thành phố, bộ, ngành, địa phương, từ tổ chức
tới cá nhân đều nêu cao tình thần trách nhiệm và quyết tâm phòng, chống dịch. Những câu chuyện
nhường cơm sẻ áo trong cao điểm dịch COVID-19, là người Việt Nam thì bất kỳ người nào cũng tự
hào về một xã hội ấm áp, lấp lánh tình người. Một trong những biểu tượng cao đẹp nhất cho tinh