Đang tải lên

Vui lòng đợi trong giây lát...

Preview text:

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
HỌC KỲ II NĂM HỌC 2021– 2022
(Phần dành cho sinh viên/ học viên)
Bài thi học phần: Tư tưởng Hồ Chí Minh Số báo danh: Mã số đề thi: 39 Lớp: Ngày thi: 17/05/2022 Họ và tên: Tổng số trang: 07 Điểm kết luận:
GV chấm thi 1: …….………………………......
GV chấm thi 2: …….………………………...... Đề bài Câu 1:
Anh (chị) hãy làm rõ quan điểm Hồ Chí Minh về lực lượng đoàn kết quốc tế. Ý nghĩa của quan
điểm đó đối với quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam hiện nay. Câu 2:
Phẩm chất đạo đức gắn liền với hoạt động hằng ngày của mỗi người theo Hồ Chí Minh là gì?
Anh (chị) hãy làm rõ nội dung của những phẩm chất đạo đức đó. Liên hệ với bản thân. Bài làm Câu 1:
Đối với đoàn kết quốc tế, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, vấn đề tập hợp lực lượng là rất
quan trọng. Cụ thể, trong diễn văn tiễn chủ tịch K.E.Vôrôsilốp và Đoàn đại biểu Chính phủ Liên
Xô lên đường về nước. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh:
“Quan sơn muôn dặm một nhà/ Bốn phương vô sản đều là anh em.”
Câu thơ trên đã khẳng định tinh thần đoàn kết quốc tế của Việt Nam.
Quan điểm Hồ Chí Minh về lực lượng đoàn kết quốc tế: Họ tên SV/HV: Mã LHP: Trang 1/7
“Lực lượng đoàn kết quốc tế” bao gồm: phong trào cộng sản và công nhân quốc tế;
phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc và phong trào hòa bình, dân chủ thế giới, trước hết là
phong trào chống chiến tranh của nhân dân các nước đang xâm lược Việt Nam.
Các lực lượng cần đoàn kết quốc tế:
● Đối với phong trào cộng sản và công nhân quốc tế:
Hồ Chí Minh cho rằng, sự đoàn kết giữa giai cấp công nhân quốc tế là sự đảm bảo vững
chắc cho thắng lợi của chủ nghĩa cộng sản. Chủ trương đoàn kết giai cấp công nhân quốc tế,
đoàn kết giữa các đảng cộng sản trong tư tưởng Hồ Chí Minh xuất phát từ tính tất yếu về vai trò
của giai cấp công nhân trong thời đại ngày nay. Hồ Chí Minh cho rằng, chủ nghĩa tư bản là một
lực lượng phản động quốc tế, là kẻ thù chung của nhân dân lao động toàn thế giới. Trong hoàn
cảnh đó, chỉ có sức mạnh của sự đoàn kết, nhất trí, sự đồng tình và ủng hộ lẫn nhau của lao
động toàn thế giới theo tinh thần “ Bốn phương vô sản đều là anh em” mới có thể chống lại
được những âm mưu thâm độc của chủ nghĩa đế quốc thực dân.
● Đối với phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc:
Từ rất sớm Hồ Chí Minh đã thấy rõ âm mưu chia rẽ dân tộc của các nước đế quốc. Chính
vì vậy, Người đã lưu ý Quốc tế Cộng sản về những biện pháp nhằm làm cho các dân tộc thuộc
địa hiểu biết nhau hơn và đoàn kết lại để đặt cơ sở cho một Liên minh phương Đông tương lai.
Thêm vào đó, để tăng cường đoàn kết giữa cách mạng thuộc địa và cách mạng vô sản chính
quốc, Hồ Chí Minh còn đề nghị Quốc tế Cộng sản, bằng mọi cách phải “làm cho đội quân tiên
phong của lao động thuộc địa tiếp xúc mật thiết với giai cấp vô sản phương tây để dọn đường
cho một sự hợp tác thật sự sau này;chỉ có sự hợp tác này mới bảo đảm cho giai cấp công nhân
quốc tế giành thắng lợi cuối cùng.
● Đối với các lực lượng tiến bộ, những người yêu chuộng hòa bình, dân chủ, tự do và công lý:
Hồ Chí Minh cũng tìm mọi cách để thực hiện đoàn kết. Trong xu thế mới của thời đại, sự
thức tỉnh dân tộc gắn liền với sự thức tỉnh giai cấp, Hồ Chí Minh đã gắn cuộc đấu tranh vì độc
lập ở Việt Nam với mục tiêu bảo vệ hòa bình, tự do, công lý và bình đẳng để tập hợp và tranh
thủ sự ủng hộ của các lực lượng tiến bộ trên thế giới.
Gắn cuộc đấu tranh vì độc lập của dân tộc với mục tiêu hòa bình, tự do và công lý, Hồ
Chí Minh đã khơi gợi lương tri của những người tiến bộ tạo nên tiếng nói ủng hộ mạnh mẽ của
các tổ chức quần chúng, các nhân sĩ trí thức và từng con người trên hành tinh. Nhiều lần Hồ Chí
Minh khẳng định: Chính vì biết kết hợp phong trào cách mạng của giai cấp công nhân và của
các dân tộc bị áp bức, mà đảng đã vượt qua được mọi khó khăn, đưa giai cấp công nhân và nhân
dân ta đến những thắng lợi vẻ vang. Họ tên SV/HV: Mã LHP: Trang 2/7
Ý nghĩa của quan điểm đó đối với quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam hiện nay:
Tư tưởng Hồ Chí Minh về lực lượng đoàn kết quốc tế vẫn còn nguyên giá trị, nó có ý
nghĩa lý luận và thực tiễn to lớn trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam hiện nay.
Đó là cơ sở lý luận để Đảng ta xác định nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình,
hợp tác và phát triển; có chính sách đối ngoại rộng mở; đa phương hóa, đa dạng hóa các quan hệ
quốc tế với tinh thần Việt Nam là bạn, là đối tác tin cậy, có trách nhiệm với cộng đồng quốc tế.
Những thành công của đối ngoại Việt Nam, nhất là trong hơn 35 năm đổi mới, là thực tiễn
chứng minh rõ ràng và đầy đủ nhất về tầm nhìn, bản lĩnh, trí tuệ vượt thời đại của Hồ Chí Minh.
Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng khẳng định: "Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực,
vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay".
Thứ nhất, hội nhập kinh tế quốc tế luôn là nguyên tắc, chiến lược, có vai trò, vị trí, ý
nghĩa quan trọng trong quan điểm, chính sách đối ngoại của Việt Nam. Việt Nam đã và đang
triển khai hiệu quả đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa dạng hóa, đa phương hóa, là bạn, là
đối tác tin cậy, là thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế.
Từ quan hệ hợp tác toàn diện với Liên Xô, với Lào và Campuchia, với các nước khác
trong Hội đồng tương trợ kinh tế đến năm 2022, Việt Nam đã xác lập mối quan hệ ngoại giao
với 189/193 quốc gia và thiết lập mối quan hệ kinh tế quan hệ kinh tế với 160 nước và 70 vùng
lãnh thổ, là đối tác chiến lược và đối tác toàn diện với 30 quốc gia, trong đó có tất cả các nước
lớn và 5 nước Ủy viên thường trực Hội đồng bảo an Liên hợp quốc, là đối tác toàn diện với tất
cả các nước trong cộng đồng ASEAN; lần đầu tiên được bầu vào Ủy ban Luật thương mại quốc
tế của Liên hợp quốc (UNCITRAL); lần thứ hai được bầu, trở thành Ủy viên không thường trực
Hội đồng bảo an Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2020 - 2021 và tới 2020, là Chủ tịch luân phiên của
ASEAN. Là thành viên của WTO, của nhiều thể chế đa phương, đến nay, Việt Nam đã tham gia
và đang đàm phán ký kết 16 Hiệp định thương mại tự do FTA với 59 đối tác trên toàn thế giới.
Việt Nam ngày càng chủ động, sáng tạo hơn trong triển khai hội nhập kinh tế quốc tế,
góp phần phục vụ tốt lợi ích quốc gia, dân tộc. Tính đến nay, Việt Nam được 71 nước công
nhận là quốc gia có nền kinh tế thị trường và hiện trong top đầu của ASEAN về mức độ hội
nhập và độ mở của nền kinh tế. Mối quan hệ với các đối tác kinh tế khiến tổng kim ngạch xuất
nhập khẩu của Việt Nam tương đương 200% GDP.
Thứ hai, thực hiện tư tưởng Hồ Chí Minh về lực lượng đoàn kết quốc tế, hoạt động đối
ngoại của Việt Nam tập trung vào các đối tác ưu tiên, chủ chốt, các nước lớn, các nước láng
giềng, khu vực và các đối tác quan trọng khác.
Quan hệ giữa Việt Nam với Lào, Campuchia và các nước ASEAN tiếp tục có những
bước tiến mới, quan trọng. Những nỗ lực lớn của Việt Nam trong xây dựng mối quan hệ hợp tác
quốc tế, nhất là trong lĩnh vực kinh tế ngày càng nhiều. Kết quả năm 2018, Việt Nam xuất khẩu Họ tên SV/HV: Mã LHP: Trang 3/7
đạt 243,5 tỷ USD và xuất siêu 6,8 tỷ USD một phần quan trọng nhờ quan hệ tốt với các đối tác lớn.
Nhờ đường lối đổi mới, đặc biệt là xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ gắn với chủ
động, tích cực hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng, từ một nền kinh tế kém phát triển, Việt Nam
đã vươn lên mạnh mẽ, đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử.
Quy mô nền kinh tế không ngừng được mở rộng, năm 2021 đạt trên 362 tỷ USD (so với
4,2 tỷ USD năm 1986); GDP bình quân đầu người đạt gần 3.700 USD, tăng khoảng 26 lần so
với năm 1990 (142 USD) (trong bối cảnh thế giới có nhiều biến động).
Việt Nam đã trở thành nền kinh tế lớn thứ tư trong ASEAN; một trong 20 nền kinh tế có
quy mô thương mại lớn nhất thế giới; là nước xuất khẩu gạo và nhiều nông sản đứng đầu thế
giới; có mạng lưới 15 hiệp định thương mại tự do (FTAs) đã có hiệu lực. An sinh xã hội và đời
sống nhân dân được cải thiện, tỷ lệ hộ nghèo theo chuẩn đa chiều giảm còn 2,2% năm 2021. ➢Kết luận
Quan điểm của Hồ Chí Minh về lực lượng đoàn kết quốc tế có ý nghĩa lý luận và thực
tiễn to lớn đối với cách mạng Việt Nam, đặc biệt trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam hiện nay. Câu 2:
Hồ Chí Minh nhiều lần khẳng định đạo đức là gốc, là nền tảng, là sức mạnh, nguồn nuôi
dưỡng và phát triển con người. Người coi đạo đức rất quan trọng như gốc của cây, như ngọn
nguồn của sông suối. Người khái quát những phẩm chất đạo đức chung, cơ bản nhất của con
người Việt Nam, những phẩm chất cơ bản đó là: Trung với nước, hiếu với dân; Yêu thương con
người, sống có nghĩa, có tình; Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư; và tinh thần quốc tế trong
sáng. Trong đó, “Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư” là phẩm chất đạo đức gắn liền với hoạt
động hàng ngày của mỗi người. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề cập đến phẩm chất này nhiều nhất,
thường xuyên nhất trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của Người từ tác phẩm “Đường
Kách mệnh” cho đến bản “Di chúc”.
Phẩm chất đạo đức gắn liền với hoạt động hằng ngày của mỗi người theo Hồ Chí
Minh là “Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư”.
Cần, kiệm, liêm, chính là nền tảng của đời sống mới, để trở thành người có phẩm chất
đạo đức tốt, phải hội đủ các yếu tố cần, kiệm, liêm, chính. Hồ Chí Minh coi cần, kiệm, liêm,
chính là bốn đức tính cơ bản của con người như trời có bốn mùa, đất có bốn phương:
“Người có bốn đức: Cần, Kiệm, Liêm, Chính
Thiếu một mùa, thì không thành trời
Thiếu một phương, thì không thành đất
Thiếu một đức, thì không thành người” Họ tên SV/HV: Mã LHP: Trang 4/7
Phẩm chất này gắn với hoạt động thực tiễn, được thể hiện cụ thể, hàng ngày của mỗi con
người, là cái nhìn thấy được của đạo đức, không thể che giấu, gắn chặt giữa nói và làm, suy nghĩ và hành động.
Cần là lao động cần cù, siêng năng, tự lực cánh sinh, có kế hoạch, sáng tạo và có năng
suất cao, lao động với tinh thần tự lực cánh sinh, không lười biếng.
Muốn cho chữ Cần có nhiều kết quả hơn, thì phải có kế hoạch cho mọi công việc từ to
đến nhỏ. Hơn nữa, Cần phải đi đôi với Chuyên, nếu một ngày Cần mà mười ngày không Cần,
thì cũng không có kết quả. Nhưng Cần cũng không phải làm quá trớn. Phải biết nuôi dưỡng tinh
thần và lực lượng của mình để làm việc cho lâu dài.
Kiệm là tiết kiệm sức lao động, thì giờ, tiền của, tiết kiệm từ cái nhỏ đến cái to, không
phô trương, hình thức, xa xỉ, hoang phí....
Cần với Kiệm phải đi đôi với nhau. Cần mà không Kiệm như một cái thùng không đáy.
Kiệm mà không Cần, thì không tăng thêm, không phát triển được, mà không tiến tức là thoái.
Tiết kiệm không phải là bủn xỉn, khi không nên tiêu xài thì một đồng xu cũng không nên
tiêu.Việc đáng tiêu mà không tiêu là bủn xỉn chứ không phải là Kiệm. Khi có việc đáng làm,
việc ích lợi cho đồng bào, cho Tổ quốc, thì dù tốn bao nhiêu công, bao nhiêu của thì cũng vui
lòng, như thế mới đúng là kiệm. Kiệm là phải kiên quyết không xa xỉ, việc đáng làm trong một
giờ mà kéo dài là xa xỉ, hao phí tiền bạc cũng là xa xỉ.
Liêm là trong sạch, không tham lam: không tham địa vị, không tham tiền tài, không
tham sung sướng, không ham người tâng bốc mình, chỉ có một thứ ham là ham học, ham làm,
ham tiến bộ. Ngày nay, nước ta là Dân chủ Cộng hoà, chữ Liêm có nghĩa rộng hơn là mọi người đều phải Liêm.
Chữ Liêm phải đi đôi với chữ Kiệm. Có Kiệm mới Liêm được. Sống xa xỉ sẽ sinh tham
lam, tham tiền của, tham địa vị, tham danh lợi, tham ăn ngon, sống yên đều là Bất Liêm. Bất
Liêm có thể dẫn đến trộm cắp.
Chính nghĩa là không tà, thẳng thắn, đứng đắn, đối với mình đối với người và đối với
việc. “Việc thiện thì dù nhỏ mấy cũng làm, việc ác thì dù nhỏ mấy cũng tránh”. Bất kì ở từng
lớp nào, giữ địa vị nào, làm nghề nghiệp gì, sự hoạt động của một người trong xã hội có thể chia
làm 3 mặt: Mình đối với mình, mình đối với người và mình đối với việc. 1. Đối với mình:
- Không tự kiêu, tự đại vì núi cao còn có núi cao hơn, mình giỏi, còn có nhiều người giỏi hơn mình.
- Luôn luôn cầu tiến bộ, không tiến bộ thì sẽ ngừng lại. Trong khi mình ngừng lại thì
người ta cứ tiến bộ và kết quả là mình lạc hậu. Ngược lại, mình cố gắng tiến bộ, thì sẽ tiến bộ mãi. Họ tên SV/HV: Mã LHP: Trang 5/7
- Luôn luôn tự kiểm điểm, tự phê bình những lời đã nói, những việc đã làm, để phát triển
ưu điểm và sửa đổi khuyết điểm của mình. Đồng thời phải hoan nghênh người khác phê bình mình.
- Tự mình phải Chính trước thì mới giúp được người khác Chính. Mình không Chính lại
muốn người khác Chính là điều vô lý. 2. Đối với người
- Chữ Người, nghĩa hẹp là gia đình, anh em, họ hàng, bầu bạn. Nghĩa rộng là đồng bào cả
nước. Rộng nữa là cả loài người, đối với tất cả mọi người thì ta phải yêu quý, kính trọng,giúp đỡ.
-Không nịnh hót người trên, không xem thường người dưới. Thái độ phải chân thành,
khiêm tốn, phải thật thà đoàn kết. Phải học người và giúp người tiến bộ. 3. Đối với việc
-Phải để công việc nước lên trên, trước việc tư, việc nhà. Đã phụ trách việc gì, thì phải
làm đến nơi đến chốn, không sợ khó nhọc, nguy hiểm, không bỏ dở nửa chừng.
-Bất kỳ việc to, việc nhỏ đều phải có kế hoạch, phải cẩn thận, phải quyết làm cho thành
công. Việc thiện thì dù nhỏ mấy cũng làm, việc ác thì dù nhỏ mấy cũng tránh.
Cần, Kiệm, Liêm, là gốc của Chính. Một người phải Cần, Kiệm, Liêm nhưng còn phải
Chính mới là người hoàn toàn. Về chí công vô tư
-Là hoàn toàn vì lợi ích chung, không vì tư lợi; là hết sức công bằng, không chút thiên tư,
thiên vị, công tâm, luôn đặt lợi ích của Đảng, của nhân dân, của dân tộc lên trên hết, trước hết;
chỉ biết vì Đảng, vì dân tộc, “phải lo trước thiên hạ, vui sau thiên hạ”.
-Chí công vô tư là chống chủ nghĩa cá nhân. Theo Hồ Chí Minh “khi làm bất cứ việc gì
cũng đừng nghĩ đến mình trước, khi hưởng thụ thì mình nên đi sau”.
Chí công vô tư về thực chất là sự tiếp nối cần, kiệm, liêm, chính. Khi con người đã có đủ
4 đức tính Cần, Kiệm, Liêm, Chính ắt sẽ Chí công vô tư và ngược lại.
Cần, Kiệm, Liêm, Chính là bốn đức tính không thể thiếu, phải gắn với hoạt động hằng
ngày của mỗi con người. Bồi dưỡng phẩm chất đạo đức cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư là
để con người vững vàng qua mọi thử thách: “Giàu sang không thể quyến rũ, nghèo khó không
thể chuyển lay, uy vũ không thể khuất phục”. Hồ Chí Minh cho rằng, các đức tính Cần, Kiệm,
Liêm, Chính có quan hệ chặt chẽ, mật thiết với nhau, ai cũng phải thực hiện, không những phải
thực hiện mà còn phải thực hiện bền bỉ, hằng ngày, như “ngọc càng mài càng sáng, vàng càng luyện càng trong”.
Liên hệ với bản thân Họ tên SV/HV: Mã LHP: Trang 6/7
Là một công dân Việt Nam nói chung, một sinh viên đại học Thương Mại nói riêng, tôi
luôn cố gắng tu dưỡng, rèn luyện bản thân theo lời dạy “Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư”
của Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Tôi luôn cố gắng học tập tốt Tư tưởng Hồ Chí Minh, từ đó biết, hiểu, thấm nhuần những
lý luận về phẩm chất đạo đức Hồ Chí Minh cũng như vận dụng chúng vào thực tiễn hằng ngày.
Học tập đạo đức Hồ Chí Minh là ra sức thực hiện “cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư”:
● Phấn đấu nỗ lực học tập và rèn luyện với tinh thần lao động sáng tạo nhằm thu lượm kiến
thức đạt chất lượng, hiệu quả cao.
● Quý trọng công sức lao động và tài sản của tập thể; không xa hoa, lãng phí. Với tài sản
cá nhân, tôi luôn tiết kiệm những khoản chi tiêu không cần thiết và dùng chúng vào
những việc hữu ích hơn.
● Luôn kiên quyết đấu tranh chống lại tình trạng đi “chùa thầy”, “chùa cô” để xin điểm bởi
nó không chỉ làm thầy cô, bè bạn trở nên “bất chính” mà còn ảnh hưởng xấu đến cả nền giáo dục nước nhà.
● Tự phê bình bản thân để tự sửa chữa những khuyết điểm của mình. Luôn kiên quyết
chống chủ nghĩa cá nhân, lối sống thực dụng; thẳng thắn, trung thực, bảo vệ chân lý, bảo
vệ đường lối, quan điểm của Đảng, bảo vệ người tốt; chân thành, khiêm tốn; không chạy
theo chủ nghĩa thành tích, không bao che, giấu giếm khuyết điểm.
● Luôn tuân thủ nội quy của trường, chấp hành nghiêm các quy định của pháp luật.
● Luôn tích cực tham gia các cuộc thi về Tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh như: “Tuổi trẻ
học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh” do Trung ương Đoàn
Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh và Bộ Giáo dục và Đào tạo, Ban Tuyên giáo Trung
ương cùng tổ chức được phát động.
● Xây dựng bản lĩnh chính trị vững vàng, luôn kiên định với mục tiêu con đường mà Đảng
đã chọn, đó là con đường độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Kiên định với
chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng HCM.
● Thực hiện cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư là luôn kiên quyết chống bệnh lười
biếng, lối sống hưởng thụ, vị kỷ, nói không đi đôi với làm, nói nhiều, làm ít, tư lợi bản
thân, việc gì có lợi cho mình thì "hăng hái", tranh thủ kiếm lợi, việc gì không có lợi cho
mình thì thờ ơ, lãnh đạm. Luôn có thái độ lên án rõ rệt và kiên quyết đấu tranh chống
tham nhũng, tiêu cực, loại trừ mọi biểu hiện vô liêm, bất chính ra khỏi đời sống xã hội.
Bên cạnh đó tôi nhận thấy bản thân tuy đã cố gắng nhưng vẫn còn nhiều hạn chế khiến
kết quả tu dưỡng đạo đức chưa cao:
● Trong việc phê bình và tự phê bình chưa thực sự đánh giá công tâm những ưu khuyết
điểm của bản thân cũng như còn bảo thủ trong việc tiếp thu ý kiến của người khác để sửa
đổi, bổ sung những hạn chế trong quá trình rèn luyện đạo đức.
● Trong việc tiết kiệm, chưa quản lý được thời gian, dẫn đến hao phí thời gian cho những
việc vô bổ như xem phim, lướt facebook, tiktok,...vv.. Họ tên SV/HV: Mã LHP: Trang 7/7 ➢Kết luận
Thấm nhuần lời dạy của Bác, mỗi người đều phải tự tu dưỡng đạo đức cách mạng. Quá
trình đó phải thường xuyên, liên tục, “như đánh răng, rửa mặt hằng ngày”, phải bền bỉ suốt đời
bởi “Đạo đức cách mạng không phải từ trên trời rơi xuống. Nó do đấu tranh, rèn luyện bền bỉ
hằng ngày mà phát triển và củng cố”. ---Hết--- Họ tên SV/HV: Mã LHP: Trang 8/7