



















Preview text:
16:45, 07/01/2026
Bài Thu Hoạch VHVN: Khám Phá Bảo Tàng Lịch Sử TP.HCM - Studocu
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN HIẾN ----------
Học phần: Văn Hiến Việt Nam BÀI THU HOẠCH
Bảo tàng lịch sử Thành phố Hồ Chí Minh
GIẢNG VIÊN GIẢNG DẠY: T.S Nguyễn Thành Đạo
HỌ VÀ TÊN: Trần Minh Tuấn MSSV: 231A320425 NGÀNH: Luật TP. HỒ CHÍ MINH - 2024 1 16:45, 07/01/2026
Bài Thu Hoạch VHVN: Khám Phá Bảo Tàng Lịch Sử TP.HCM - Studocu MỤC LỤC
I. Lịch sử hình thành bảo tàng...............................................................................3
II. Tiến trình lịch sử văn hóa Việt Nam (từ thời nguyên thủy đến hiện đại).........4
2.1. Thời nguyên thủy.......................................................................................4
2.1.1. Thời kì đá cũ........................................................................................4
2.1.2. Thời kỳ đá mới....................................................................................5
2.2. Thời dựng nước và giữ nước......................................................................8
2.2.1. Nền văn hóa Đông Sơn........................................................................9
2.2.2. Nền văn hóa Sa Huỳnh......................................................................11
2.3. Thời Ngô - Đinh - Tiền Lê (939 - 1009)..................................................13
2.4. Thời lý (1009 - 1225)...............................................................................16
2.5. Thời Trần - Hồ (1226 - 1407)...................................................................18
2.6. Văn hóa Champa (Thế kỷ 2 - 17).............................................................23
2.7. Văn hóa Óc Eo (Thế kỷ 1 - 7)..................................................................27
2.8. Thời Lê sơ - Mạc - Lê Trung Hưng (1428 - 1788)...................................29
2.9. Thời Tây Sơn (1771 - 1802).....................................................................31
2.10. Thời Nguyễn (1802 - 1945)....................................................................34
2.11. Văn hóa các Dân tộc phía Nam Việt Nam.............................................37
III. Tổng kết.........................................................................................................40
3.1. Kết luận....................................................................................................40
3.2. Cảm nhận..................................................................................................41 2 16:45, 07/01/2026
Bài Thu Hoạch VHVN: Khám Phá Bảo Tàng Lịch Sử TP.HCM - Studocu
I. Lịch sử hình thành bảo tàng
Bảo tàng Lịch sử Thành phố Hồ Chí Minh có một lịch sử hình thành lâu
đời và là một trong những bảo tàng nổi tiếng của thành phố. Ban đầu, bảo tàng
được xây dựng vào ngày 1 tháng 1 năm 1929 dưới tên gọi "Musée Blanchard de
la Brosse", để vinh danh ông Blanchard de la Brosse (thống đốc Nam kỳ lúc bấy
giờ), một quan chức người Pháp. Kiến trúc của bảo tàng mang phong cách Đông
Dương, được thiết kế bởi kiến trúc sư người Pháp Auguste Delaval, tạo nên sự
kết hợp giữa nét cổ kính Á Đông và phong cách hiện đại.
Ban đầu, bảo tàng chủ yếu phục vụ mục đích trưng bày các hiện vật văn
hóa, khảo cổ và nghệ thuật của Việt Nam và các nước Đông Nam Á, nhưng sau
này đã mở rộng phạm vi nội dung để giới thiệu toàn diện về lịch sử đất nước từ
thời tiền sử đến hiện đại.
Năm 1955, bảo tàng được đổi tên thành "Viện Bảo tàng Quốc gia Việt
Nam tại Sài Gòn". Sau năm 1975, bảo tàng tiếp tục được cải tạo và mở rộng, và
đến ngày 23 tháng 8 năm 1979, chính thức đổi tên lần cuối cùng hiện tại là "Bảo
tàng Lịch sử Thành phố Hồ Chí Minh".
Hiện nay, trải qua gần 100 năm hình thành và phát triển bảo tàng trưng
bày hơn 30.000 hiện vật liên quan đến nhiều giai đoạn lịch sử khác nhau, từ thời
tiền sử, thời đại đồ đá đến thời kỳ nhà Nguyễn (vương triều phong kiến cuối
cùng), với không gian được phân chia theo chủ đề như khảo cổ học, văn hóa
Chăm, văn hóa Óc Eo, và các nền văn hóa dân tộc Việt Nam. 3 16:45, 07/01/2026
Bài Thu Hoạch VHVN: Khám Phá Bảo Tàng Lịch Sử TP.HCM - Studocu
II. Tiến trình lịch sử văn hóa Việt Nam (từ thời nguyên thủy đến hiện đại)
2.1. Thời nguyên thủy
2.1.1. Thời kì đá cũ
Việt Nam nằm Ở bán cầu Bắc cửa trái đất ngay rìa phía Đông Nam lục địa
châu Á. Lãnh thổ Việt Nam bao gồm đất liền có hình chữ "S" cùng với gần
3.000 hòn đảo và quần đảo diện tích tổng cộng 331.720 km2, thuộc khí hậu nhiệt đới gió mùa.
Đất nước Việt Nam như ngày nay được hình thành từ rất lâu trước khi con
người xuất hiện, tuổi địa chất từ thời tiền Cambri cho đến Mesozoi (Trung sinh)
muộn khoảng 570 - 65 triệu năm về trước. Những biến đổi khí hậu và môitrường
trong những thời kù dài, đặc biệt ở kỷ thứ 3 và đầu kỷ thứ 4 (Kỷ Nhân sinh)
cách ngày nay 1,6 - 0,7 triệu năm, đã là điều kiện thuận lợi cho con người có thể sinh sống đuợc
Con người chúng ta có nguồn gốc ban đầu từ một loài vượn cổ, trải qua
hàng triệu năm thành người khéo léo, người đứng thẳng và cuối cùng là người hiện đại bây giờ.
Bảo tàng Lịch sử Thành phố Hồ Chí Minh là kho tàng lưu giữ những
chứng minh vô giá về quá trình hình thành và phát triển của đất nước. Con
người được phát hiện từ các hang ở Lạng Sơn, Yên Bái với khoảng 10 chiếc
răng có niên đại 10.000 năm, cách đây khoảng 500.000 năm
Công cụ chủ yếu làm từ đá cuội, đá sông suối, được ghè đẽo thô sơ để tạo
cạnh sắc, phù hợp với các nhu cầu cơ bản như săn bắt, chế biến thức ăn. Người
nguyên thủy ở thời kỳ đá cũ chưa biết trồng trọt và chăn nuôi, chủ yếu sinh sống
nhờ vào việc săn bắt thú rừng và hái lượm, thường sống trong các hang động để
tránh thú dữ và thời tiết khắc nghiệt. Các di chỉ hang động là nguồn tư liệu quý
giá cho các nhà khảo cổ học nghiên cứu đời sống của người cổ đại 4 16:45, 07/01/2026
Bài Thu Hoạch VHVN: Khám Phá Bảo Tàng Lịch Sử TP.HCM - Studocu
Hang Thẩm Khuyên và Thẩm Hai (Lạng Sơn) là những di chỉ rất quan
trọng, nơi các nhà khảo cổ phát hiện nhiều công cụ đá và các hóa thạch người
Homo erectus. Di chỉ Núi Đọ (Thanh Hóa) nơi phát hiện nhiều công cụ đá ghè
đẽo, cho thấy đây là nơi người tiền sử sinh sống và phát triển kỹ thuật chế tác
công cụ đá. Di chỉ An Khê (Gia Lai) một di chỉ quan trọng của thời kỳ đá cũ
sớm, có nhiều công cụ đá thô sơ được tìm thấy. Hang Con Moong (Thanh Hóa)
nơi ghi dấu ấn của các giai đoạn phát triển từ thời kỳ đá cũ đến thời kỳ đá mới,
với nhiều tầng văn hóa chồng lên nhau.
2.1.2. Thời kỳ đá mới
Và bước sang thời kỳ đá mới cách đây khoảng 10.000 năm, nhiều công cụ
bằng đá được mài sắc, từ các loại rìu, búa, đến các dụng cụ cắt gọt. Những công
cụ này cho thấy sự khéo léo và óc sáng tạo của con người thời kỳ nguyên thủy
trong việc tận dụng tài nguyên thiên nhiên để chế tạo các vật dụng phục vụ cuộc
sống hàng ngày. Các công cụ đá mài, những mảnh gốm thô tìm được từ các nền
văn hóa Hòa Bình, Bắc Sơn, Quỳnh Văn… đã cho thấy cư dân cổ Việt Nam
đang từ cuộc sống thu lượm chuyển dần sang sản xuất nông nghiệp. 5 16:45, 07/01/2026
Bài Thu Hoạch VHVN: Khám Phá Bảo Tàng Lịch Sử TP.HCM - Studocu
Một đặc điểm rất quan trong trong thời kỳ đá mới là họ biết chế tạo đá
bằng kỹ thuật mài, cưa,… để công cụ hoàn thiện hơn và tiện lợi hơn trong lao động và chiến đấu.
Di chỉ Hòa Bình và Bắc Sơn văn hóa Hòa Bình (tỉnh Hòa Bình) và văn
hóa Bắc Sơn (tỉnh Lạng Sơn) là hai nền văn hóa đá mới quan trọng, đại diện cho
sự phát triển của kỹ thuật mài đá và chế tác đồ gốm ở Việt Nam. Di chỉ Đa Bút
(Thanh Hóa) là một trong những di chỉ nổi tiếng của thời kỳ đá mới ở miền Bắc
Việt Nam, nơi tìm thấy nhiều công cụ bằng đá mài và đồ gốm. Di chỉ này có
niên đại khoảng 5.000 - 6.000 năm TCN và cho thấy cuộc sống định cư cùng với
kỹ thuật nông nghiệp sơ khai. Di chỉ Cái Bèo (Hải Phòng) là một di tích quan
trọng ở vùng duyên hải Bắc Bộ, minh chứng cho nền văn hóa biển trong thời kỳ
đá mới. Tại đây, các nhà khảo cổ đã tìm thấy nhiều công cụ bằng đá, xương và
đồ gốm, cho thấy cuộc sống của con người gắn liền với việc khai thác tài
nguyên biển. Di chỉ Xóm Ốc (Quảng Ninh) đây là một di chỉ thời kỳ đá mới nổi
tiếng ở miền Bắc Việt Nam, với các hiện vật như công cụ đá mài, đồ gốm và
những công cụ đánh bắt thủy sản. Điều này cho thấy sự đa dạng trong lối sống
và sự thích nghi của con người với môi trường ven biển. 6 16:45, 07/01/2026
Bài Thu Hoạch VHVN: Khám Phá Bảo Tàng Lịch Sử TP.HCM - Studocu
Hậu kỳ đá mới đóng vai trò quan trọng trong lịch sử nhân loại, đặc biệt
trong sự phát triển văn hóa và công nghệ. Đây là thời kỳ chuyển tiếp từ việc sử
dụng công cụ đá sang việc khai thác kim loại, mở đầu cho thời kỳ đồ đồng và
nền văn minh phức tạp hơn. Thời kỳ này không chỉ thúc đẩy sự phát triển nông
nghiệp, định cư, mà còn tạo ra nền tảng cho các tổ chức xã hội và văn hóa. Với
những phát hiện khảo cổ về thời kỳ này ở Việt Nam, chúng ta có thể hiểu rõ hơn
về quá trình phát triển của cư dân tiền sử, từ lối sống săn bắt, hái lượm sang
nông nghiệp, mở ra những bước tiến quan trọng cho sự phát triển của các nền
văn hóa cổ đại trên lãnh thổ Việt Nam. Cuối hậu kỳ đá mới, những tiến bộ kỹ
thuật trong chế tác đá làm cho công cụ trở nên sắc bén hơn, dễ sử dụng hơn và
tăng năng suất lao động tạo tiền đề để Việt Nam bước vào thời đại kim khí. 7 16:45, 07/01/2026
Bài Thu Hoạch VHVN: Khám Phá Bảo Tàng Lịch Sử TP.HCM - Studocu
2.2. Thời dựng nước và giữ nước
Khoảng cuối thời đại đồng thau đến cuối thời đại đồ sắt (thế kỷ VIII TCN
- thế kỷ lI), trên lãnh thổ nước ta đã lần lượt xuất hiện ba nền văn hoá với các
nhà nước sớm đó là: Quốc gia Văn Lang - Âu Lạc trên cơ sở Văn hoá Đông Sơn
ở miền Bắc, nước Lâm Ấp tiền thân của Vương quốc Champa trên cơ sở nền
Văn hóa Sa Huỳnh ở miền Trung và Vương quốc Phù Nam trên cơ sở nền Văn
hóa Đồng Nai - Óc Eo ở miền Nam. Sự ra đời của các quốc gia này đa mở ra
một thời đại mới - thời đại dựng nước và giữ nước đầu tiên của dân tộc. Đồng
thời, ba khu vực này cũng có quan hệ mật thiết, lâu dài với nhau tạo nên đặc
trưng truyền thống văn hóa Việt Nam. Đây cũng là thời kì xây dựng nền văn
minh nông nghiệp, xây dựng lối sống và tính cách truyền thống của một nước
Việt Nam thống nhất sau này.
2.2.1. Nền văn hóa Đông Sơn
Đầu tiên, nền văn hóa Đông Sơn thì tiền Đông Sơn là thời kỳ trước văn
hóa Đông Sơn và phát triển trực tiếp lên văn hóa Đông Sơn. Thời đại này bao
gồm ba giai đoạn văn hóa: Phùng Nguyên, Đồng Đậu và Gò Mun, có niên đại
cách đây khoảng 4.000 đến 2.800 năm. Trong thời gian này, cư dân vẫn tiếp tục
sử dụng đá để chế tạo công cụ. Tuy nhiên, trong thời kỳ Đông Sơn, đã có sự tiến
bộ đáng kể trong đồ đồng. 8 16:45, 07/01/2026
Bài Thu Hoạch VHVN: Khám Phá Bảo Tàng Lịch Sử TP.HCM - Studocu
Trống đồng Đông Sơn thường được sử dụng trong các nghi lễ cầu mùa, lễ
hội, lễ cúng thần linh và tổ tiên. Âm thanh vang vọng của trống được xem là
cách giao tiếp với các thần linh, cầu cho mưa thuận gió hòa và mùa màng bội
thu. Các hình ảnh trên trống đồng còn thể hiện sự uy nghiêm và sức mạnh của
người đứng đầu trong cộng đồng, qua đó củng cố vai trò và địa vị của họ trong
xã hội. Trống đồng còn được dùng trong những trận đánh.
Mặt trống là phần phẳng trên cùng, thường được trang trí hoa văn tinh xảo
với các hình sao ở trung tâm. Xung quanh là các vòng tròn đồng tâm với
những họa tiết như cảnh sinh hoạt, lễ hội, chiến đấu và các biểu tượng
thiên nhiên. Ngôi sao ở trung tâm mặt trống có thể có từ 8 đến 14 cánh,
biểu tượng cho mặt trời, thể hiện tín ngưỡng của người Đông Sơn.
Phần thân trống phía trên, nối với mặt trống, có hoa văn trang trí chi tiết,
thường là các hình người, động vật và cây cối, tái hiện cảnh sinh hoạt và
nghi lễ của người Đông Sơn. 9 16:45, 07/01/2026
Bài Thu Hoạch VHVN: Khám Phá Bảo Tàng Lịch Sử TP.HCM - Studocu
Hoa văn trên trống đồng rất đa dạng và phong phú, gồm các họa tiết hình
học, hoa văn hình người và động vật. Những cảnh sinh hoạt đời thường
như cảnh cày cấy, săn bắt, chèo thuyền, hay các nghi lễ tôn giáo và cảnh
chiến đấu cũng được thể hiện sống động.
Ở khu vực di tích Cổ Loa là nơi phát triển mũi tên đồng, khoảng hơn
10.000 chiếc. Mũi tên đồng Đông Sơn là minh chứng cho trình độ phát triển cao
về kỹ thuật đúc đồng và nghệ thuật chiến đấu của cư dân Đông Sơn. Những mũi
tên này không chỉ đơn thuần là vũ khí mà còn là biểu tượng của sức mạnh quân
sự và sự bảo vệ của cộng đồng. Qua các di chỉ khảo cổ, mũi tên đồng Đông Sơn
góp phần giúp ta hiểu rõ hơn về đời sống, tín ngưỡng, và tổ chức xã hội của người Việt cổ.
Mũi tên đồng Đông Sơn có nhiều hình dáng khác nhau, nhưng phổ biến
nhất là dạng mũi nhọn, hai cạnh sắc và mũi nhọn hình tam giác. Một số
mũi tên có dạng lá liễu hoặc hình búp măng. 10 16:45, 07/01/2026
Bài Thu Hoạch VHVN: Khám Phá Bảo Tàng Lịch Sử TP.HCM - Studocu
Một số mũi tên đồng có các khe rãnh nhỏ ở phần thân, giúp tạo ra tiếng rít
khi bay, làm tăng khả năng uy hiếp kẻ thù. Điều này cho thấy người Đông
Sơn không chỉ chú trọng tính thực dụng mà còn quan tâm đến yếu tố tâm lý trong chiến đấu.
2.2.2. Nền văn hóa Sa Huỳnh
Nền văn hóa Sa Huỳnh là một trong những nền văn hóa cổ xưa và quan
trọng ở Việt Nam, hình thành từ cuối thiên niên kỷ III TCN, ở khu vực miền
Trung Việt Nam, đặc biệt là vùng ven biển như Quảng Bình đến Bình Thuận và
Ninh Thuận cùng thời với nền văn hóa Đông Sơn. Đây là nền văn hóa tiền sử
nổi bật với những đặc điểm đặc trưng về phong tục, tập quán, kỹ thuật chế tác và
đời sống tâm linh, tạo nên bản sắc riêng của cư dân Sa Huỳnh và có sự giao lưu
rộng rãi với các nền văn hóa trong khu vực Đông Nam Á. 11 16:45, 07/01/2026
Bài Thu Hoạch VHVN: Khám Phá Bảo Tàng Lịch Sử TP.HCM - Studocu
Nét nổi bật nhất của văn hóa Sa Huỳnh là tục chôn người chết trong mộ
chum. Các chum mộ thường được làm từ đất nung, có hình dạng và kích thước
đa dạng, thường chôn người chết và đôi khi là các vật dụng chôn theo để làm
"tang vật" cho người quá cố. Chum mộ có nắp đậy kín và đặt theo các phương
thức khác nhau, có khi chôn đứng hoặc nằm ngang. Cùng với các mộ chum,
người ta còn phát hiện nhiều công cụ, vũ khí và đồ trang sức bằng đá, sắt, thủy
tinh và mã não trong các khu mộ táng, phản ánh quan niệm tâm linh và tín
ngưỡng của cư dân Sa Huỳnh về thế giới bên kia.
Văn hóa Sa Huỳnh là một trong ba nền văn hóa cổ quan trọng của Việt
Nam (cùng với Đông Sơn và Óc Eo), đại diện cho sự phát triển phong phú và
độc đáo của cư dân miền Trung. Văn hóa Sa Huỳnh đóng vai trò quan trọng
trong việc định hình bản sắc và cội nguồn văn hóa của các dân tộc ở miền
Trung, đặc biệt là người Chăm Pa sau này. Những đặc trưng của văn hóa Sa
Huỳnh như mộ chum, đồ trang sức và kỹ thuật chế tác sắt còn ảnh hưởng sâu sắc
đến các nền văn hóa sau này ở khu vực Đông Nam Á. 12 16:45, 07/01/2026
Bài Thu Hoạch VHVN: Khám Phá Bảo Tàng Lịch Sử TP.HCM - Studocu
2.3. Thời Ngô - Đinh - Tiền Lê (939 - 1009)
Sau thất bại của An Dương Vương trong cuộc kháng chiến chống Triệu
Đà (năm 179 TCN), Việt Nam nằm dưới sự kiểm soát của một loạt các thế lực
phong kiến phương Bắc nhằm mục đích đồng hóa dân Việt. Thời kỳ này thường
được gọi là thời kỳ Hán hóa hoặc thiên niên kỷ cai trị của Trung Quốc. Trong
suốt thời gian này, nhiều cuộc nổi dậy chống lại những kẻ xâm lược đã được
phát động, bắt đầu với cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng (năm 40 CN) và lên đến
đỉnh điểm là chiến thắng tại Bạch Đằng (năm 938 CN).
Trong phòng trưng bày có ta thấy bản đồ tái hiện các phong trào chống
xâm lược của phương Bắc:
+ Năm 40: Hai Bà Trưng đánh đuổi quân Đông Hán.
+ Năm 248: Triệu Thị Trinh khởi nghĩa chống quân Đông Ngô.
+ Năm 542 – 548: Lý Bí đã đánh tan bọn đô hộ nhà Lương, giảnh độc lập được
65 năm, lập nên nước Vạn Xuân, xưng Lý Nam Đế.
+ Năm 550 – 602: Triệu Quang Phục kế nghiệp vua Lý Nam Đế chống Lương,
xưng là Triệu Việt Vương, giữ chủ quyền trong 52 năm.
+ Năm 687: Khởi nghĩa Lý Tự Tiên và Đinh Kiến chống lại sự cai trị của nhà Đường.
+ Năm 722: Sự đô hộ của nhà Đường sụp đổ do cuộc khởi nghĩa Mai Thúc
Loan, đóng đô ở Vạn An, xưng Mai Hắc Đế.
+ Năm 766 – 791: Bố Cái Đại Vương (Phùng Hưng) lãnh đạo nhân dân chống quânnhà Đường.
+ Năm 906 – 930: Khúc Thừa Dụ xưng là Tiết Độ Sứ đã khởi nghĩa chống nhà
Đường, giành độc lập được 24 năm. 13 16:45, 07/01/2026
Bài Thu Hoạch VHVN: Khám Phá Bảo Tàng Lịch Sử TP.HCM - Studocu
+ Hộp hình chiến thắng Bạch Đằng (năm 938): chiến thắng này đã chấm dứt
thời kỳ mất nước hơn 1000 năm và đã mở ra khỉ nguyên mới, thời kì quốc gia
phong kiến trên đất nước Việt Nam.
Chúng ta khởi đầu kỷ nguyên độc lập với 3 triều đại: Ngô - Đinh - Tiền
Lê. Tuy nhiên, nhân dân tiếp tục cuộc đấu tranh chống xu hướng các cứ dẹp loạn
12 xứ quân. Nhắc đến 12 sứ quân, chúng ta nhắc đến một cậu bé cờ lao tập trận
đó là Đinh Bộ Lĩnh. Năm 968, Đinh Bộ Lĩnh tái thống nhất đất nước, lên ngôi vua
với hiệu Đinh Tiên Hoàng đế. Ông đặt quốc hiệu là Đại Cồ Việt, đóng đô tại Hoa
Lư, và thiết lập hệ thống quân đội chính quy. Triều Đinh khắc sâu ấn tượng với sự
định đoạt và sáng tạo trong chính trị và quân sự.
Lê Hoàn và Triều Tiền Lê (981-1009): Năm 981, Lê Hoàn lên ngôi vua,
thành lập triều Tiền Lê. Dưới sự lãnh đạo của ông, nhân dân kháng chiến thành
công chống lại quân Tống trong lần thứ nhất, giữ vững độc lập cho đất nước. 14 16:45, 07/01/2026
Bài Thu Hoạch VHVN: Khám Phá Bảo Tàng Lịch Sử TP.HCM - Studocu
2.4. Thời lý (1009 - 1225)
Năm 1009, Lý Công Uẩn lên ngôi lập ra vương triều nhà Lý. Vương triều
này trải 9 đời vua. Sau khi lên ngôi, Lý Công Uẩn lấy niên hiệu là Lý Thái Tổ.
Một trong những quyết sách đầu tiên của ông là dời đô từ Hoa Lư (Ninh Bình)
về thành Đại La, mà sau này được đổi tên thành Thăng Long (Hà Nội ngày nay).
Việc dời đô được coi là một bước ngoặt quan trọng, giúp nhà Lý ổn định chính
trị và phát triển kinh tế, văn hóa ở khu vực đồng bằng sông Hồng.
Chiến dịch tấn công nhà Tống (1075-1076):
+ Danh tướng Lý Thường Kiệt dẫn 10 vạn quân tiến công vào các châu Khâm,
Liêm, và Ung thuộc nhà Tống (nay là Quảng Tây, Trung Quốc). Trong chiến 15 16:45, 07/01/2026
Bài Thu Hoạch VHVN: Khám Phá Bảo Tàng Lịch Sử TP.HCM - Studocu
dịch này, quân Đại Việt đã tiêu diệt nhiều kho tàng và lực lượng của nhà Tống,
phá tan kế hoạch chuẩn bị tấn công của Tống rồi rút quân về nước.
+ Cuộc tấn công này làm suy yếu quân Tống, giúp Đại Việt có thời gian chuẩn
bị phòng thủ trước khi quân Tống phản công.
Phòng tuyến sông Như Nguyệt (1076-1077):
+ Sau khi bị tấn công, nhà Tống quyết định phản công và huy động một đội
quân lớn tiến xuống Đại Việt vào năm 1076. Lý Thường Kiệt đã cho xây dựng
một phòng tuyến kiên cố tại sông Như Nguyệt (sông Cầu) để ngăn chặn quân Tống.
+ Tại phòng tuyến này, Lý Thường Kiệt đã chỉ huy quân dân kiên cường chống
trả. Ông còn đọc bài thơ "Nam quốc sơn hà" – được xem như bản "Tuyên ngôn
Độc lập" đầu tiên của dân tộc ta – để khích lệ tinh thần quân dân. Trận chiến kéo
dài, quân Đại Việt đã đánh bại quân Tống, buộc họ phải rút lui vào năm 1077. 16 16:45, 07/01/2026
Bài Thu Hoạch VHVN: Khám Phá Bảo Tàng Lịch Sử TP.HCM - Studocu
Tượng Phật A Di Đà là hình ảnh quan trọng trong Phật giáo, đại diện cho
lòng từ bi, trí tuệ và sự cứu độ. Phật A Di Đà được tôn thờ đặc biệt trong Tịnh Độ Tông, một
nhánh Phật giáo có mục tiêu là giúp chúng sinh đạt được cõi Tây
Phương Cực Lạc, một nơi không có đau khổ và tái sinh. Tượng thường có dáng
vẻ nghiêm trang, gương mặt thanh tịnh với đôi mắt hơi khép, tượng trưng cho sự
tỉnh thức và lòng từ bi vô hạn. Vẻ mặt của Ngài thể hiện sự điềm đạm, thư thái
và an lạc. Tượng Phật A Di Đà thường được đặt trên đài sen, tượng trưng cho sự
thanh tịnh và giác ngộ; hoa sen là biểu tượng của sự thuần khiết, mọc lên từ bùn
nhưng không bị ô nhiễm, tượng trưng cho sự vượt qua khổ đau để đạt đến sự
giác ngộ. Phật A Di Đà thường mặc áo cà sa với họa tiết đơn giản, mang phong
cách của sự bình dị nhưng vẫn uy nghiêm, thể hiện sự giác ngộ và giải thoát
khỏi những ràng buộc của thế gian. 17 16:45, 07/01/2026
Bài Thu Hoạch VHVN: Khám Phá Bảo Tàng Lịch Sử TP.HCM - Studocu
Đến cuối thời Lý, do các vị vua ít quan tâm đến chính sự và nội bộ triều
đình mâu thuẫn, quyền lực dần dần rơi vào tay họ Trần. Trần Thủ Độ, một nhân
vật quyền lực của họ Trần, đã sắp đặt để vị vua cuối cùng của nhà Lý là Lý
Chiêu Hoàng (vua nữ duy nhất trong lịch sử Việt Nam) nhường ngôi cho Trần
Cảnh, mở ra triều đại nhà Trần vào năm 1225.
2.5. Thời Trần - Hồ (1226 - 1407)
Năm 1225, triều Trần thay thế triều Lý, tiếp tục công cuộc mở mang nước
Đại Việt về mọi mặt. Dưới thời Trần, bộ máy cai trị được củng cố, kiện toàn;
quân đội được quan tâm xây dựng; nông nghiệp, công thương nghiệp đạt nhiều 18 16:45, 07/01/2026
Bài Thu Hoạch VHVN: Khám Phá Bảo Tàng Lịch Sử TP.HCM - Studocu
tiến bộ; các cơ sở giáo dục được thành lập. Đặc biệt chữ Nôm bắt đầu được sử
dụng trong văn học. Và nhà Trần 3 lần kháng chiến chống quân Nguyên Mông
Quân Nguyên bắt nguồn từ các bộ tộc du mục trên thảo nguyên Mông Cổ.
Thành Cát Tư Hãn đã thống nhất các bộ tộc này vào đầu thế kỷ 13, hình thành
một đế chế hùng mạnh với kỷ luật và chiến thuật quân sự đặc biệt. Sau khi thống
nhất các bộ tộc, quân Mông Cổ bắt đầu mở rộng lãnh thổ, chinh phục nhiều
vùng đất rộng lớn từ châu Á sang châu Âu với câu nói vó ngựa Mông Nguyên đi
đến đâu cỏ không mọc được đến đó. Đến thời Hốt Tất Liệt, cháu của Thành Cát
Tư Hãn, quân Nguyên chiếm được Trung Hoa và lập nên triều đại nhà Nguyên,
đồng thời tiếp tục các cuộc chiến tranh mở rộng xuống Đông Nam Á, trong đó có Đại Việt.
Đầu năm 1258, kháng chiến quân Mông Nguyên lần 1, quân Mông Cổ với
lực lượng chủ yếu là kỵ binh đã tiến vào Đại Việt qua đường Tây Bắc.
Với chiến thuật di chuyển nhanh chóng và tàn bạo, họ dễ dàng đánh bại
các đội quân phòng thủ ở biên giới và tiến sâu vào lãnh thổ. Đối diện với
đội quân mạnh mẽ và dày dạn trận mạc của Mông Cổ, nhà Trần đã sử
dụng chiến thuật vườn không nhà trống và rút
lui chiến lược để tránh đối
đầu trực diện với quân Mông Cổ, đồng thời làm suy yếu nguồn lương
thực và tiếp tế của địch. Sau khi quân Mông Cổ tiến vào Thăng Long (Hà
Nội ngày nay), vua Trần Thái Tông và quân đội nhà Trần quyết định tập
trung lực lượng để phản công. Tại bến Đông Bộ Đầu trên sông Hồng (gần
Hà Nội), quân Trần đã tổ chức một trận phục kích bất ngờ, giáng đòn
nặng nề vào quân Mông Cổ, buộc chúng phải rút chạy khỏi Thăng Long.
Sau trận Đông Bộ Đầu, quân Mông Cổ gặp khó khăn về tiếp tế và tổn thất
nặng nề, buộc phải rút lui khỏi Đại Việt vào tháng 1 năm 1258.
Năm 1284, sau khi thất bại trong lần xâm lược Đại Việt năm 1258, nhà
Nguyên (lúc này do Hốt Tất Liệt làm hoàng đế) vẫn nuôi tham vọng xâm
lược và chiếm đóng Đại Việt. rước nguy cơ bị tấn công, vua Trần Nhân 19 16:45, 07/01/2026
Bài Thu Hoạch VHVN: Khám Phá Bảo Tàng Lịch Sử TP.HCM - Studocu
Tông và các quan tướng đã tổ chức Hội nghị Bình Than (1282) và sau đó
là Hội nghị Diên Hồng (1285), trong đó vua Trần đã cùng với các bô lão
trong cả nước quyết tâm bảo vệ đất nước. Trần Quốc Tuấn (Hưng Đạo
Đại Vương), được phong làm tổng chỉ huy tối cao, đã tổ chức các kế sách
và chuẩn bị chiến lược, xây dựng tinh thần quyết tâm trong quân đội và
nhân dân. Đầu năm 1285, quân Nguyên chia làm nhiều hướng, tiến vào
Đại Việt từ phía Bắc. Một cánh quân do Thoát Hoan chỉ huy tiến vào từ
Lạng Sơn, và một cánh quân khác từ phía tây do tướng Toa Đô dẫn đầu
tiến đánh từ phía Nam. Ban đầu, do lực lượng quân Nguyên đông và
mạnh, quân đội Đại Việt thực hiện chiến lược vườn không nhà trống, rút
lui có kế hoạch để bảo toàn lực lượng, tránh đối đầu trực diện. Sau khi
quân Nguyên rơi vào thế bất lợi, quân đội Đại Việt tiến hành các đợt phản
công mạnh mẽ. Trần Hưng Đạo chỉ huy quân đánh thắng nhiều trận lớn
tại Tây Kết, Hàm Tử, Chương Dương, và đặc biệt là trận Tây Kết đã chặn
đứng bước tiến của Toa Đô. Chiến thắng của Đại Việt trong cuộc kháng
chiến lần thứ hai đã khiến quân Nguyên thiệt hại lớn, đồng thời phá tan ý
đồ xâm lược của nhà Nguyên tại Đại Việt.
Sau hai lần thất bại nặng nề ở Đại Việt, Hốt Tất Liệt vẫn muốn khuất
phục Đại Việt để khẳng định quyền uy và bành trướng lãnh thổ. Ông cho
rằng Đại Việt chỉ giành chiến thắng do may mắn và không chấp nhận sự
thất bại của đế quốc Mông Nguyên. Trần Hưng Đạo cùng các tướng lĩnh
chủ động phòng ngự, thực hiện kế sách “vườn không nhà trống” – cho rút
lui, phá hủy lương thực và chuyển dân đến nơi an toàn để cắt đứt nguồn
tiếp tế của địch. Quân Nguyên tiến vào Đại Việt với hai hướng: quân bộ
do Thoát Hoan chỉ huy từ biên giới phía Bắc, và thủy quân do Ô Mã Nhi
và Phàn Tiếp dẫn đầu theo đường biển để vận chuyển lương thực và tiếp
viện. Trần Khánh Dư, một danh tướng của nhà Trần, chỉ huy quân thủy
chặn đánh quân lương của địch ở Vân Đồn (Quảng Ninh); trận đánh thành 20