TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÔN ĐỨC THẮNG
KHOA KHOA HỌC XÃ HỘI & NHÂN VĂN
BÀI TIỂU LUẬN MÔN CHỦ NGHĨA XÃ
HỘI KHOA HỌC
Giảng viên : Thầy Nguyễn Hà Thơ
Nhóm lớp : 18
Nhóm nhỏ : 6
Sinh viên thực hiện: B2200041_Lê Nguyễn Khánh Linh (NT)
B2200014_Đoàn Ngọc Bảo Ly
D2200099_Nguyễn Phạm Đăng Khoa
12200054_Lê Nguyễn Trúc Linh
62200346_Phan Trần Khánh Linh
12200188_Võ Thị Cẩm Ly
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 5 tháng 7 năm 2024
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÔN ĐỨC THẮNG
KHOA KHOA HỌC XÃ HỘI & NHÂN VĂN
BÀI TIỂU LUẬN MÔN CHỦ NGHĨA XÃ
HỘI KHOA HỌC
Giảng viên : Thầy Nguyễn Hà Thơ
Nhóm lớp : 18
Nhóm nhỏ : 6
Sinh viên thực hiện: B2200041_Lê Nguyễn Khánh Linh (NT)
B2200014_Đoàn Ngọc Bảo Ly
D2200099_Nguyễn Phạm Đăng Khoa
12200054_Lê Nguyễn Trúc Linh
62200346_Phan Trần Khánh Linh
12200188_Võ Thị Cẩm Ly
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 5 tháng 7 năm 2024
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 7 tháng 7 năm 2024
BIÊN BẢN LÀM VIỆC NHÓM - (NHÓM SỐ 6)
Môn: Chủ nghĩa xã hội khoa học - NHÓM LỚP: 18
I. Thời gian, địa điểm, thành phần tham dự
- Vào lúc 21h ngày 1 tháng 7 năm 2024, tại Phòng zoom
- Thành phần thành viên : 06 /06 (Có mặt : 6 /6(; Vắng(:
0 )
- Chủ trì(: Lê Nguyễn Khánh Linh - Nhóm trưởng
- Thư ký(: Đoàn Ngọc Bảo Ly
II. Nội dung
1. Nhóm trưởng thông báo yêu cầu của giảng viên phụ trách
môn học về việc làm bài tập nhóm đến toàn thể thành viên,
phân công trách nhiệm cho từng cá nhân, cụ thể như sau(:
ST
THọ và tên MSV Nhiệm vụ Thời gian
hoàn
thành
1Nguyễn Phạm
Đăng Khoa
D220009
9
Chuẩn bị nội dung, ý
tưởng cho câu hỏi số203/7/2024
2Lê Nguyễn
Trúc Linh 12200054
Chuẩn bị nội dung, ý
tưởng cho câu hỏi số403/7/2024
3Phan Trần
Khánh Linh 62200346
Chuẩn bị nội dung, ý
tưởng cho câu hỏi số103/7/2024
4
Lê Nguyễn
Khánh Linh B2200041
Chuẩn bị nội dung, ý
tưởng cho câu hỏi số
3, tổng hợp, biên
tập, chỉnh sửa
03/7/2024
5Võ Thị Cẩm
Ly 12200188
Chuẩn bị nội dung, ý
tưởng cho câu hỏi số403/7/2024
6 Đoàn NgọcBảo Ly B2200014Chuẩn bị nội dung, ýtưởng cho câu hỏi số 03/7/2024
1
3, biên tập, chỉnh
sửa
2. Kết quả sau khi phân công nhiệm vụ
ST
THọ và tên MSV Mức độ đóng góp Ghi chú
1Nguyễn Phạm
Đăng Khoa
D220009
9Hoàn thành 100%
2Lê Nguyễn
Trúc Linh 12200054 Hoàn thành 100%
3Phan Trần
Khánh Linh 62200346 Hoàn thành 100%
4Lê Nguyễn
Khánh Linh B2200041 Hoàn thành 100%
5Võ Thị Cẩm
Ly 12200188 Hoàn thành 100%
6Đoàn NgọcBảo Ly B220001
4Hoàn thành 100%
3. Kết quả tự đánh giá của nhóm cho từng thành viên
ST
THọ và tên MSV Điểm đánh giá Ký tên
1Nguyễn Phạm
Đăng Khoa
D220009
910
2Lê Nguyễn Trúc
Linh 12200054 10
3Phan Trần Khánh
Linh 62200346 10
4Lê Nguyễn Khánh
Linh B2200041 10
5Võ Thị Cẩm Ly 12200188 10
6Đoàn Ngọc BảoLy B220001
410
4. Cuộc họp được kết thúc vào lúc 21h, ngày 5 tháng 7
năm 2024 , biên bản đã được đọc lại cho tất cả các thành viên
2
trong Nhóm, 100% thành viên đều nhất trí với kết quả đánh giá
nêu trên, không ai có ý kiến gì thêm./.
CHỦ TRÌ CUỘC HỌP(Ký và ghi rõ họ tên) THƯ KÝ
(Ký và ghi rõ họ tên)
NỘI DUNG BÀI TIỂU LUẬN:
Câu 1 : Phân tích nét đặc thù các loại hình cấu hội trong thời kỳ quá độ
lên chủ nghĩa hội. Liên hệ các loại hình cấu hội Việt Nam hiện nay.
Cho ví dụ minh họa?
cấu trong thời quá độ nhiều loại, như: cấu hội - dân cư, cấu
xã hội - nghề nghiệp, cơ cấu xã hội - giai cấp, cơ cấu xã hội - tôn giáo, v.v… nhma đặc
biệt là cơ cấu xã hội - giai cấp
cấu kinh tế đa dạng, phức tạp khiến cấu hội giai cấp nhiều giai
cấp tầng lớp khác nhau; vị trí, vai trò của giai cấp, tầng lớp liên tục thay đổi theo
cấu kinh tế; các giai cấp vừa liên minh vừa đấu tranh tồn tại trong thời kỳ quá độ lên
chủ nghĩa xã hội.
Trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa hội, cấuhội giai cấp tổng thể
các giai cấp, tầng lớp, các nhómhội có mối quan hệ hợp tác và gắnchặt chẽ với
nhau. Yếu tố quyết định mối quan hệ đó là họ cùng chung sức cải tạohội cũxây
dựng xã hội mới trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội.
Các giai cấp, tầng lớp hội các nhóm hội bản trong cấu hội
giai cấp của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội bao gồm: giai cấp công nhân, giai cấp
nông dân, tầng lớp trí thức, tầng lớp doanh nhân, tầng lớp tiểu chủ, tầng lớp thanh
niên, phụ nữ,... Mỗi giai cấp, tầng lớp các nhóm hội này vị trí vai trò xác
định song dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản – đội tiền phong của giai cấp công nhân
cùng hợp lực, tạo sức mạnh tổng hợp để thực hiện những mục tiêu, nội dung, nhiệm vụ
của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội:
Một là, cơ cấu xã hội - giai cấp biến đổi gắn liền và bị quy định bởi cơ cấu kinh
tế của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội.
Hai là, cấu hội - giai cấp biến đổi phức tạp, đa dạng, làm xuất hiện các
tầng lớp xã hội mới
3
Ba là, cấu hội - giai cấp biến đổi trong mối quan hệ vừa đấu tranh, vừa
liên minh, từng bước xóa bỏ bất bình đẳng hội dẫn đến sự xích lại gần nhau. VN
hiện nay có các cơ cấu như Nghề nghiệp - xã hội , nhân khẩu-xã hội
Cơ cấu xã hội ở Việt Nam trong 25 năm đã đổi mới rất nhiều:
Đối với cơ cấu xã hội - giai cấp: Từ cơ cấu “hai giai, một tầng ” ở giai đoạn bao
cấp, sang giai đoạn đổi mới cấu này còn được bổ sung thêm nhiều tầng lớp
nhóm xã hội mới: đó là đội ngũ các nhà doanh nghiệp, những tiểu thương, tiểu chủ (kể
cả các chủ trang trại lớn), những người lao động làm thuê, những người Việt Nam lao
động ở nước ngoài, v.v... tầng lớp cơ bản như công nhân, nông dân, trí thức cũng có sự
phân hóa và biến đổi mạnh mẽ.
cấu hội - nghề nghiệp: sự biến đổi cấu trong giai đoạn đang sự
chuyển dịch tích cực từ nông, lâm, ngư nghiệp sang công nghiệp dịch vụ, từ các
ngành ng suất thấp sang ngành năng suất cao hơn. Còn xem xét cấu nghề
nghiệp theo thành phần kinh tế thì tỷ lệ lao động thuộc kinh tế nhà nước giảm xuống,
trong khi tỷ lệ lao động ngoài nhà nước khu vực đầu nước ngoài tăng lên; theo
khu vực thì tỷ lệ lao động thành thị tăng lên, trong khi lao động nông thôn giảm
xuống, v.v...
Cơ cấu xã hội - dân số: Đáng chú ý là tỷ lệ trẻ em trong các nhóm tuổi (từ 0 đến
14 tuổi) giảm mạnh, trong khi các nhóm tuổi từ 25 đến 49 65 trở lên đang tăng lên
khá ràng - điều góp phần vào sự chuyển đổi từ tỷ số phụ thuộc sang “cơ cấu dân số
vàng”. Báo cáo cũng chỉ ra rằng, cấu dân số theo giới tính thì dần cân bằng nhưng
tình trạng mất cân bằng giới tính trẻ sinh tăng lên; tỷ lệ dân số đô thị thấp nhưng
đang tăng lên, báo hiệu tích tụ dân số vào đô thị ngày càng mạnh, v.v...
cấu xã hội - dân tộc: Trong bối cảnh của công cuộc đổi mới, thành phần tộc
người xu hướng tăng lên (có thể vượt qua con số 54 dân tộc - do ý thức tộc người
tăng lên, do chính sách ưu đãi của Nhà nước...), sự phân bố về địa giữa các dân tộc
thay đổi mạnh (do di dân tự do từ Bắc Nam, do phát triển các khu công nghiệp...),
đặc biệt sự biến đổi cấu dân số giữa các tộc người (tỷ lệ sinh các dân tộc thiểu
số miền núi cao hơn ở người Kinh và ở đồng bằng).
cấu hội - tôn giáo: Ngoài các tôn giáo chính Phật giáo, Thiên chúa
giáo, Tin Lành, Hồi giáo, Cao Đài Hoà Hảo, trong giai đoạn đổi mới còn xuất hiện
thêm nhiều tôn giáo mới (từ 50 - 60), trong đó tôn giáo tách ra từ Phật giáo, tôn
giáo là được phục sinh từ các lễ hội dân gian và cũng có tôn giáo mới được du nhập từ
bên ngoài vào. [1]
Câu 2: Phân tích cấu hội - giai cấp vị trí, vai trò của các giai cấp, tầng
lớp bản trong cấu hội - giai cấp Việt Nam hiện nay. Cho dụ minh
họa?
a) Cơ cấu xã hội giai cấp:
Cơ cấuhội - giai cấpvị trí đặc biệt quan trọng trong việc duy trì các quan
hệ giai cấp tạo sự ổn định hội. Bởi, hội thường bị chia thành các giai cấp
4
đặc trưng bản cùa giai cấp vấn đề sở hữu liệu sản xuất nên cấu hội -
giai cấp đóng một vai trò nền tảng của hệ thống xã hội. Do vậy, khi xem xét cơ cấu
hội - giai cấp phải xem xét hai khía cạnh: một mặt xem xét không chỉ các
giai cấp cả các tập đoàn hội, mặt khác cần nhấn mạnh nêu những tập
đoàn người hợp thành các giai cấp bản của cấu hội - giai cấp chiếm vị trí
quyết định đối với toàn bộ các tầng lóp và tập đoàn xã hội khác, có vị trí quyết định
đến sự phát triển và biến đổi của cơ cấu xã hội.
Cơ cấuhội - giai cấp một hệ thống phức tạp tồn tại tương đổi độc lập, gắn
liền với sự tồn tại của hội sản xuất ra của cải vật chất các mối quan hệ
hội của con người, nó là hạt nhân quyết định sự biến đổi của cơ cấuhội. Cơ cẩu
hội một hệ thống bao gồm các nhóm hội khác nhau, các nhóm hội này
địa vị khác nhau trong một hệ thống sản xuất hội, quan hệ khác nhau đối
với tư liệu sản xuất.
Như vậy, cấu hội - giai cấp gắn liền với phương thức sản xuất ra của cải
vật chất xã hội. Quan hệ giai cấp phản ánh mối quan hệ về lợi ích giữa các giai cấp
tầng lớp trong hội. Căn cứ vào đó chia hội thành các giai cấp tầng
lớp xã hội khác nhau.
b) Vị trí, vai trò của các giai cấp, tầng lớp cơ bản:
Giai cấp công nhân: vai trò lãnh đạo cách mạng, giữ vị trí tiên phong trong
sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội.
Giai cấp nông dân: lực lượng đồng minh chủ yếu của giai cấp công nhân,
đóng góp to lớn vào sản xuất nông nghiệp, lương thực.
Tầng lớp tri thức: đóng góp vào sự phát triển khoa học - kỹ thuật, giáo dục, văn
hóa, nghệ thuật,...
Tầng lớp doanh nhân: thúc đẩy phát triển kinh tế - hội, tạo ra việc làm, góp
phần nâng cao đời sống nhân dân.
Tầng lớp trung lưu: lực lượng hội trình độ học vấn, kỹ năng cao, góp
phần thúc đẩy đổi mới sáng tạo, hội nhập quốc tế.
c) Ví dụ minh họa:
Giai cấp công nhân: công nhân làm việc trong các nhà máy, xí nghiệp, tham gia
sản xuất hàng hóa.
Giai cấp nông dân: nông dân trồng lúa, hoa màu, chăn nuôi gia súc, gia
cầm.Tầng lớp trí thức: giáo viên, bác sĩ, kỹ sư, nhà khoa học.
Tầng lớp doanh nhân: chủ doanh nghiệp, nhà đầu tư.
Tầng lớp trung lưu: cán bộ, viên chức, nhân viên văn phòng, kỹ sư, bác sĩ. [2, 3]
[3]
5
Câu 3:Tq quan đirm của chủ nghĩa Mác - Lênin vs chtc năng bản của gia
đình, phân tích sự bivn đwi trong thực hiện chtc năng của gia đình ở nxớc ta hiện
nay. Cho ví dụ minh họa?
1. Khái niệm về gia đình:
Trong buổi hội thảo hôn nhân - gia đình ngày 10/10/1959, Bác Hồ đã từng nói:
“Quan tâm đến gia đình là đúng và nhiều gia đình cộng lại mới thành xã hội, xã hội tốt
thì gia đình càng tốt. Gia đình tốt thì hội mới tốt. Hạt nhân của hội gia đình”.
Gia đình một cộng đồng người đặc biệt, vai trò quyết định đến sự tồn tại của
hội. Khi nhắc đến gia đình, C. MácPh. Ăngghen cũng từng đề cập rằng: “ Quan hệ
thứ ba tham dự ngay từ đầu vào quá trình phát triển lịch sử: hằng ngày tái tạo ra đời
sống của bản thân mình con người còn tạo ra những người khác, sinh sôi nảy nở - đó là
quan hệ giữa chồng và vợ, cha mẹ và con cái, đó là gia đình” . Gia đình hình thành dựa1
trên sở quan hệ hôn nhân quan hệ huyết thống, mỗi người trong gia đình
mối liên hệ gắn mật thiết với nhau; đi đôi với đó những quyền lợi nghĩa vụ
được quy định bằng pháp lý hoặc đạo lý.
Nhìn chung, “Gia đình” một hình thức hội đặc biệt, được hình thành, duy
trì củng cố chủ yếu dựa trên sở hôn nhân, quan hệ huyết thống quan hệ nuôi
dưỡng, cùng với những quy định về quyền nghĩa vụ của các thành viên trong gia
đình.
2. Các chức năng cơ bản của gia đình:
Theo C. Mác và Ph .Ăngghen, gia đình có 4 chức năng cơ bản sau:
a) Chức năng tái sản xuất ra con người:
Đây chức năng đặc thù, quan trọng nhất của gia đình, không một cộng đồng
nào thể thay thế. Việc thực hiện chức năng sinh sản vừa quy luật sinh tồn tự
nhiên đồng thời quy luật hội, đáp ứng được nhu cầu về tâm sinh lí, tình cảm của
chính bản thân con người. Tái sản xuất con người góp phần cung cấp sức lao động -
nguồn nhân lực cho hội. Chức năng này sẽ góp phần thay thế những lớp người lao
động cũ đã đến tuổi nghỉ hưu, đã hết khả năng lao động linh hoạt, năng động, sáng tạo
và còn tác động đến sự ổn định, phát triển bền vững của quốc gia.
b) Chức năng nuôi dưỡng giáo dục
Bên cạnh chức năng tái sản xuất ra con người, gia đình còn có trách nhiệm nuôi
dưỡng, dạy dỗ con cái trở thành người ích cho gia đình, cộng đồng hội.Gia
đình môi trường xã hội hóa đầu tiên của con người. Gia đình trang bị cho trẻ những
1 C. Mác và Ph. Ăngghen. Toàn tập, t.3. Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1995, tr.41
6
ý tưởng đầu tiên để giải thích thế giới của sự vật, hiện tượng, khái niệm thiện ác,
dạy trẻ hiểu cuộc sống và con người, đưa trẻ vào thế giới của những giá trị mà gia đình
nhận ra thực hiện trong cuộc sống của nó. Những giá trị này không chỉ hướng dẫn
con người trong cách sống còn định hình nhân cách của đứa trẻ .Vì vâỵ thực hiện
tốt chức năng nuôi dưỡng, giáo dục đòi hỏi mỗi người làm cha, làm mẹ, phải kiến
thức bản, tương đối toàn diện về mọi mặt, văn hoá, học vấn, đặc biệt phương
pháp giáo dục.
c) Chức năng kinh tế và tổ chức tiêu dùng:
Cũng như các đơn vị kinh tế khác, gia đình tham gia trực tiếp vào quá trình sản
xuất tái sản xuất ra liệu sản xuất liệu tiêu dùng.Tuy nhiên, đặc thù của gia
đình các đơn vị kinh tế khác không được chỗ , gia đình đơn vị duy nhất
tham gia vào quá trình sản xuất tái sản xuất ra sức lao động cho hội. Chức năng
kinh tế một trong những chức năng bản của gia đình nhằm tạo ra của cải, vật
chất, chức năng đảm bảo sự sống còn của gia đình, đảm bảo cho gia đình được ấm
no, giàu làm cho dân giàu, nước mạnh như lời Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói:
“dân có giàu thì nước mới mạnh”. Chức năng này bao quát về nhu cầu ăn, ở, tiện nghi,
sự hợp tác kinh tế giữa các thành viên trong gia đình, thể hiện trên hai khía cạnh:
sản xuất tiêu dùng, cả hai khía cạnh này đều nhằm thỏa mãn nhu cầu thiết yếu của
các thành viên trong gia đình.
d) Chức thoả mãn nhu cầu tâm sinh lý, duy trì tình cảm gia đình:
Bản chất con người một sinh vật hội, luôn cần giao tiếp hội để tồn tại, gia
đình chính phiên bản thu nhỏ của hội, cho nên gia đình sẽ đảm bảo cho sự cân
bằng tâm lý, chăm sóc sức khỏe cho các thành viên trong gia đình. Gia đình cung cấp
cho các thành viên một không gian an toàn, yêu thương hỗ trợ tinh thần. Điều này
giúp bảo vệ và phát triển cho sự cảm thông và sự tin tưởng vào bản thân của mỗi thành
viên. Thoả mãn nhu cầu tâm sinh cũng liên quan đến việc cung cấp sự ấm áp sự
an toàn cảm xúc cho các thành viên trong gia đình. Việc bảo vệ nuôi dưỡng tình
cảm gia đình giúp mỗi thành viên cảm thấy được yêu thương và quan tâm, tạo nên một
môi trường gắn kết ổn định. Đây nền tảng quan trọng để xây dựng các mối quan
hệ lành mạnh và hạnh phúc trong gia đình.
3. Những biến đổi trong chức năng của gia đình ở nước ta hiện nay:
Với xu hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước cùng với nhiều s thay đổi về
kinh tế, chính trị, xã hội, đã những biến đổi nhất định trong chức năng của gia đình
ở nước ta hiện nay như sau:
7
a) Về chức năng tái sản xuất ra con người:
Nếu như trước kia, do ảnh hưởng của phong tục, tập quán nhu cầu sản xuất
nông nghiệp, gia đình nào cũng tưởng càng đông con thì càng tốt,nhất thiết phải
con trai để nối dõi, thì ngày nay nhu cầu ấy đã được thay đổi nhiều.Từ những năm
70 và 80 của thế kỷ XX, Nhà nước đã tuyên truyền , phổ biến , vận động khuyến khích
mỗi cặp vợ chồng chỉ nên có từ 1-2 con.Qua đó ngày nay, nhu cầu sinh ở phụ nữ giảm,
đồng thời số con mong muốn và nhu cầu về con trai cũng ngày càng giảm.
Trong gia đình hiện nay, sự bền vững của hôn nhân phụ thuộc nhiều vào yếu tố
tâm lý, kinh tế, chứ không còn việc con hay không con, con trai hay con gái
như gia đình truyền thống trước kia. dụ ngay trong gia đình em, ông cố nội em
sinh được 9 người con thì có 7 trai và 2 gái, sang đến đời ông nội em chỉ đẻ 3 người, 3
người con của ông nội em bao gồm bố em chỉ đẻ mỗi người 2 con. Điều này thể hiện
sự thay đổi dần về nhận thức và nhu cầu của con người theo thời gian.
b) Về chức năng nuôi dưỡng giáo dục:
Trước đây, giáo dục gia đình là cơ sở của giáo dục xã hội thì ngày nay, giáo dục
hội bao trùm lên giáo dục gia đình đưa ra những mục tiêu, những yêu cầu của
giáo dục xã hội cho giáo dục gia đình.
Sự phát triển của hệ thống giáo dục hội cùng sự phát triển kinh tế hiện nay,
vai trò giáo dục của các chủ thể trong gia đình xu hướng giảm, nhưng với sự gia
tăng của các hiện tượng tiêu cực trong hội , niềm tin sự kỳ vọng vào hệ thống
giáo dục hội ngày càng giảm.Mâu thuẫn này thực tế chưa lời giải nước ta
hiện nay. những tác động đó,tỷ lệ trẻ em hỏng, tệ nạn ngày càng tăng so với
trước kia.
Một dụ điển hình về s biến đổi này sự thay đổi trong hình gia đình các
thành phố lớn như Nội TP. Hồ Chí Minh. Các gia đình đây thường ít con,
cả vợ chồng đều đi làm ít thời gian dành cho con cái. Họ phụ thuộc nhiều vào
trường học và các dịch vụ chăm sóc trẻ để đảm bảo việc giáo dục và chăm sóc con cái.
Điều này dẫn đến sự thay đổi trong vai trò và chức năng của gia đình so với trước đây,
khi mà cha mẹ đóng vai trò chính trong mọi khía cạnh của cuộc sống gia đình
c) Về chức năng kinh tế và tổ chức tiêu dùng:
Nền kinh tế trong gia đình đã chuyển từ kinh tế tự cung tự cấp sang nền kinh tế
hàng hóa. Trước đây việc sản xuất trong gia đình chỉ để phục vụ nhu cầu cho nhu cầu
của các thành viên trong gia đình, tuy nhiên, hình kinh tế gia đình hiện nay đã trở
8
thành một đơn vị kinh tế sản xuất để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng hội. Đơn giản như
những người nông dân trước đây sản xuất lương thực chỉ để đáp ứng nhu cầu cho
nhân, gia đình của họ. Nhưng người nông dân hiện nay ngoài việc sản xuất để đáp ứng
nhu cầu cá nhân, họ còn mang đi buôn bán nhằm thu được lợi ích kinh tế.
Nền kinh tế trong gia đình đã chuyển từ việc sản xuất hàng hóa đáp ứng nhu cầu
thị trường quốc gia trở thành nền kinh tế thị trường đáp ứng nhu cầu của thị trường
trên toàn thế giới. Trong giai đoạn đẩy mạnh hội nhập thế giới như hiện nay, sản phẩm
của các hộ gia đình bây giờ sản xuất ra đã có thể vươn xa trên thị trường thế giới. Như
chúng ta thể thấy được rằng ngành sản xuất lúa nước của nước ta bây giờ đã không
chỉ để phục vụ an ninh lương thực quốc gia, còn xuất khẩu sang các nước trên
thế giới. Hơn hết, việc sản xuất lúa nước chủ yếu phát triển dựa trên các hộ gia đình,
đó là minh chứng cho sự toàn cầu hóa của gia đình Việt Nam hiện nay.
Trước đây, kinh tế của gia đình tạo ra chủ yếu để đóng góp cho kinh tế của các
thành viên trong gia đình. Sau này, kinh tế gia đình trở thành một bộ phận quan trọng
trong nền kinh tế quốc dân. Cũng như đã nói về việc sản xuất lúa nước như trên, gia
đình đã đóng góp một phần không nhỏ để giúp đất nước ta phát triển mạnh mẽ như
ngày hôm nay. Từ một đất nước chịu thiệt hại rất lớn từ các cuộc chiến tranh chống lại
hai đế quốc lớn mạnh trên thế giới là Pháp và Mỹ, các hộ gia đã không ngừng tăng gia
sản xuất, không chỉ đáp ứng được nhu cầu tiêu dùng cho gia đình mà còn mang thương
hiệu Việt Nam vươn xa trên thị trường thế giới, đóng góp lớn cho nền kinh tế của đất
nước Việt Nam ta.
d) Về chức năng thoả mãn nhu cầu tâm sinh lý, duy trì tình cảm gia đình
Mạnh tử từng nói : “Nước lấy nhà làm gốc”, nghĩa sự bình yên của đất
nước sẽ được hình thành dựa trên độ bền vững của gia đình. Trong hội hiện đại, độ
bền vững của gia đình đã không còn chỉ phụ thuộc vào sự ràng buộc các mối quan hệ
về trách nhiệm nghĩa vụ của các thành viên độ bền vững vững còn bị chi phối
bởi sự hòa hợp tình cảm giữa các thành viên. Đặc biệt, khi hiện nay khi tỷ lệ gia đình
chỉ có một con ngày càng tăng nhanh, thì việc nuôi dạy một đứa sẽ không chỉ dừng
lại việc cho đứa trẻ đầy đủ vật chất, được tham gia học tập, bỏ quên đi nuôi
dưỡng về mặt tình cảm cho đứa trẻ điều này sẽ khiến cho đời sống tình cảm-tâm sẽ
trở nên kém phong phú, khó có thể hòa hợp với xã hội. Gia đình hiện nay đã không chỉ
đơn vị kinh tế, cònđơn vị tình cảm, quan trọng hạnh phúc gia đình. Vì yếu tố
gia đình đang dần một trong những thành phần quan trọng trong việc hình thành
phát triển nên các nhân tài cho đất nước. Việc củng cố tình cảm gia đình không chỉ
giúp cho người dân có đời sống tinh thần tốt hơn mà còn giúp cho xã hội văn minh, tốt
đẹp hơn.
Để thể một gia đình toàn vẹn, hội cần lên án các phong tục xưa
trọng nam khinh nữ”, phải đối xử công bằngcái nhìn tích cực hơn về người phụ
nữ. Hơn hết, bởi đất nước ta vẫn còn là nước đang phát triển, vẫn còn các gia đình điều
9
kiện khó khăn, vẫn còn nạn phân biệt giàu nghèo. Do đó, Nhà nước cần phải các
chính sách để nhằm xóa đói giảm nghèo, khắc phục khoảng cách giàu nghèo để mỗi
gia đình một cuộc sống tốt đẹp, để góp phần xây dựng hội chủ nghĩa văn minh
hơn. [4] [1]
Câu 4: Phân tích những yvu tố tác động đvn gia đình Việt Nam trong thời kỳ
quá độ lên chủ nghĩa hội phxơng hxớng bản nhằm xây dựng phát
trirn gia đình Việt Nam trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa hội. Cho dụ
minh họa?
a) Có 5 yếu tố tác động đến gia đình Việt Nam trong thời kỳ quá độ lên xã hội chủ
nghĩa:
Thứ nhất là sự phát triển kinh tế thị trường định hướng lên xã hội chủ nghĩa:
Kinh tế gia đình trở thành một bộ phận quan trọng trong nền kinh tế quốc dân,
tăng thu nhập nhân trong gia đình. Làm trầm trọng hơn sự phân hóa giàu nghèo
giữa các gia đình trong hội, giá trị truyền thống trong gia đình bị coi nhẹ, hiện
tượng gia tăng số hộ gia đình đơn thân, sinh con ngoài giá thú,...
Thứ hai là công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước gắn với phát triển kinh tế tri thức:
Biến đổi cấu chức năng của gia đình truyền thống chuyển biến thành gia
đình hiện đại. Chuyển đổi sở kinh tế từ kinh tế tự cung, tự cấp sang kinh tế hàng
hóa. Thay đổi phương thức tiêu dùng lối sống của gia đình, biến đổi các mối quan
hệ xã hội và chức năng của gia đình.
Thứ ba là xu thế toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế:
Sự phát triển của kinh tế hàng hóa, thu nhập của gia đình tăng lên trở thành
một đơn vị tiêu dùng quan trọng trong hội. Phân hóa gia đình do mức độ tiếp cận
đến toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế của mỗi gia đình là khác nhau. Do áp lực về kinh
tế, cạnh tranh dẫn đến việc các thành viên trong gia đình không dành thời gian cho
nhau, chăm sóc gia đình.
Thứ tư là cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại:
Các nhân trong gia đình nhiều hội hơn để tiếp cận, tiếp thu tri thức
mới. Sự ra đời của các phương tiện thông tin đại chúng, làm cho thế giới nội tâm của
con người trở nên nghèo nàn, ít đi sự giao tiếp của nhân đối với thế giới bên ngoài
và giữa các thành viên trong gia đình. Sự thâm nhập của các văn hóa không lành mạnh
tràn lan trên internet, gây xói mòn về mặt đạo đức. Việc áp dụng khoa học kỹ thuật,
công nghệ hiện đại vào lĩnh vực y tế, ngoài việc nâng cao chất lượng đời sống, bảo vệ
10
sức khỏe thì nó còn dẫn đến tình trạng mất cân bằng giới tính do chuẩn đoán được giơi
tính thai nhi.
Thứ năm là chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về gia đình.
Các bộ luật liên quan đến gia đình được ban hành: Luật hôn nhân gia đình
(năm 2000, sửa đổi bổ sung năm 2013), Luật bình đẳng giới (năm 2007), Luật phòng,
chống bạo lực gia đình (năm 2008),... nhằm tạo điều kiện hỗ trợ sự phát triển của
gia đình. Ngày 29/05/2012, “Chiến lược phát triển gia đình Việt Nam đến năm 2020,
tầm nhìn 2030” được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt.Tại đại hội đại biểu toàn
quốc lần thứ XII của Đảng Cộng sản Việt Nam đã đề ra mục tiêu: “Xây dựng gia đình
no ấm, tiến bộ, hạnh phúc, văn minh”.Ngày 28/06 hằng năm được chọn làm ngày “Gia
đình Việt Nam”, nhằm nhắc nhở mỗi nhân trong gia đình toàn hội nêu cao
tinh thần trách nhiệm xây dựng gia đình no ấm, tiến bộ, bền vững, văn minh”.
b) Phương hướng bản nhằm xây dựng phát triển gia đình Việt Nam trong
thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội:
Trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa hội phải thực hiện xây dựng gia đình mới
trên sự kế thừa nhưng truyển thống và tiếp thu những tiến bộ hướng tới hình thành con
người mới Việt Nam đồng thời xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản
sắc dân tộc. Để đạt được mục tiêu đó, cần lưu ý một số phương hướng cơ bản sau:
Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, nâng cao nhận thức của xã hội về xây dựng
phát triển gia đình Việt Nam:
Tiếp tục đẩy mạnh công tác tuyên truyền để các cấp ủy, chính quyền, các tổ
chức đoàn thể từ trung ương đến sở nhận thức sâu sắc về vị trí, vai trò tầm
quan trọng của gia đình công tác xây dựng, phát triển gia đình Việt Nam hiện
nay, coi đây là một trong những động lực quan trọng quyết định thành công sự phát
triển bền vững kinh tế - hội trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất
nước, xây dựng bảo vệ Tổ quốc Việt Nam hội chủ nghĩa. Cấp ủy chính
quyền các cấp phải đưa nội dung,mục tiêu của công tác xây dựng phát triển gia
đình vào chiến lược phát triển kinh tế - hội chương trình kế hoạch công tác
hàng năm của các bộ, ngành, địa phương.
Đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống kinh tế gia đình:
Tạo việc làm thu nhập ổn định đồng thời y dựng hoàn thiện chính sách
phát triển kinh góp phần tạo điều kiện việc làm, hỗ trợ phát triển sản xuất, kinh
doanh cho các gia đình, thành lập chính sách ưu tiên hỗ trợ phát triển kinh tế cho
các gia đình liệt sỹ, gia đình thương binh…Có chính sách hỗ trợ gia đình kinh
11
doanh phát triển kinh tế, sản xuấtkinh doanh các sản phẩm mới, hỗ trợ gia đình
tham gia sản xuất phục vụ xuất khẩu. Hỗ trợ tài chính tạo điều kiện thuận lợi cho
các hộ gia đình vay vốn ngắn hạn dài hạn nhằm xoá đói giảm nghèo, mở rộng
phát triển kinh tế, vươn lên làm giàu chính đáng.
Bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống đồng thời tiếp thu những tiến
bộ về gia đình trong việc xây dựng gia đình Việt Nam hiện nay.:
Tăng cường giáo dục gia đình, giữ gìn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống,
đạo đức gia đình. Bước vào thời kỳ mới gia đình truyền thống bộc lộ cả những mặt
tích cực tiêu cực. Do vậy, Nhà nước cũng như các quan văn hóa cần xác định
tiến hành duy trì phát huy những nét đẹp cũng như giá trị văn hóa, đồng thời tìm ra
những hạn chế tiến tới khắc phục những hủ tục của gia đình nhằm xây dựng
hình gia đình hiện đại, phù hợp với công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước hội
nhập kinh tế quốc tế. việc kết hợp những nét truyển thống trong văn hóa gia đình việt
nam với những giá trị của gia đình hiện đại tạo nên sự phù hợp với sự vận động phát
triển tất yếu của hội. Tất c nhằm hướng tới thực hiện mục tiêu làm cho gia đình
thực sự là tế bào lành mạnh của xã hội
Phát triển Nâng cao nhận thức vai trò của gia đình trong hội nâng cao chất
lượng phong trào xây dựng gia đình văn hóa:
Tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục về vai trò của gia đình trong việc
xây dựng xã hội mới. Phát huy giá trị đạo đức truyền thống của gia đình Việt Nam,
để phát triển gia đình Việt Nam hiện nay cần tiếp tục nghiên cứu, nhân rộng xây
dựng các mô hình gia đình văn hóa trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa với
những giá trị mới tiên tiến cần tiếp. Các tiêu chí y dựng gia đình văn hóa phải
phù hợp và có ý nghĩa thiết thực với đời sống của nhân dân, công tác bình xét danh
hiệu gia đình văn hóa phải được tiến hành theo tiêu chí thống nhất, trên nguyên tắc
công bằng, dân chủ, đáp ứng được nguyện vọng, tâm tư, tình cảm, tạo được sự
đồng tình hưởng ứng của nhân dân.
Tổ chức tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục về vai trò của gia đình
trong việc xây dựng xã hội mới.
Xây dựng phát triển gia đình Việt Nam không phải việc riêng của mỗi gia
đình nhiệm vụ chung của toàn hội, cần sự tham gia của mọi ngành,
đoàn thể, cộng đồng dân cư và mọi cá nhân. [1]
c) Ví dụ minh họa:
Tổ chức các buổi hội thảo, lớp học về giáo dục gia đình, cung cấp kiến thức về
sức khỏe sinh sản, kỹ năng nuôi dạy con cái và xây dựng hạnh phúc gia đình.
Khuyến khích hỗ trợ các gia đình tham gia vào các hoạt động kinh tế như
kinh doanh nhỏ, sản xuất nông nghiệp, thủ công nghiệp. Chính phủ có thể cung cấp
các khoản vay ưu đãi, hỗ trợ kỹ thuật và đào tạo nghề cho các hộ gia đình.
12
13
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] G. T. H. C. B. CB, Giáo trình Chủ nghĩa Xã hội khoa học, 2019,
NXB Chính trị quốc gia Sự thật, 2019.
[2] L. s. P. T. P. Thanh, “Phân tích về một số cơ cấu xã hội cơ bản? Ý
nghĩa của nghiên cứu cơ cấu xã hội,” 2023. [Trực tuyến].
Available: https://luatminhkhue.vn/vai-net-ve-mot-so-co-cau-xa-
hoi-co-ban.aspx.
[3] “Các giai cấp ở Việt Nam hiện nay bao gồm những giai cấp nào?
Đặc điểm của giai cấp công nhân Việt Nam?,” [Trực tuyến].
Available:
https://thuvienphapluat.vn/phap-luat/ho-tro-phap-luat/cac-giai-
cap-o-viet-nam-hien-nay-bao-gom-nhung-giai-cap-nao-dac-diem-
cua-giai-cap-cong-nhan-viet-na-500369-129832.html.
[4] N. N. Tú, “Kiến thức cơ bản về gia đình và các chức năng cơ bản
của gia đình,” 2023. [Trực tuyến]. Available:
https://sovanhoa.hoabinh.gov.vn/gia-dinh/2070-kia-n-tha-c-c-ba-
n-va-gia-a-nh-va-ca-c-cha-c-n-ng-c-ba-n-ca-a-gia-a-nh.
14

Preview text:

TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÔN ĐỨC THẮNG
KHOA KHOA HỌC XÃ HỘI & NHÂN VĂN
BÀI TIỂU LUẬN MÔN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI KHOA HỌC
Giảng viên : Thầy Nguyễn Hà Thơ Nhóm lớp : 18 Nhóm nhỏ : 6
Sinh viên thực hiện: B2200041_Lê Nguyễn Khánh Linh (NT)
B2200014_Đoàn Ngọc Bảo Ly
D2200099_Nguyễn Phạm Đăng Khoa
12200054_Lê Nguyễn Trúc Linh
62200346_Phan Trần Khánh Linh
12200188_Võ Thị Cẩm Ly
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 5 tháng 7 năm 2024
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÔN ĐỨC THẮNG
KHOA KHOA HỌC XÃ HỘI & NHÂN VĂN
BÀI TIỂU LUẬN MÔN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI KHOA HỌC
Giảng viên : Thầy Nguyễn Hà Thơ Nhóm lớp : 18 Nhóm nhỏ : 6
Sinh viên thực hiện: B2200041_Lê Nguyễn Khánh Linh (NT)
B2200014_Đoàn Ngọc Bảo Ly
D2200099_Nguyễn Phạm Đăng Khoa
12200054_Lê Nguyễn Trúc Linh
62200346_Phan Trần Khánh Linh
12200188_Võ Thị Cẩm Ly
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 5 tháng 7 năm 2024
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 7 tháng 7 năm 2024
BIÊN BẢN LÀM VIỆC NHÓM - (NHÓM SỐ 6)
Môn: Chủ nghĩa xã hội khoa học - NHÓM LỚP: 18
I. Thời gian, địa điểm, thành phần tham dự
- Vào lúc 21h ngày 1 tháng 7 năm 2024, tại Phòng zoom
- Thành phần: 06 /06 thành viên (Có mặt : 6 /6(; Vắng(: 0 )
- Chủ trì(: Lê Nguyễn Khánh Linh - Nhóm trưởng
- Thư ký(: Đoàn Ngọc Bảo Ly II. Nội dung
1. Nhóm trưởng thông báo yêu cầu của giảng viên phụ trách
môn học về việc làm bài tập nhóm đến toàn thể thành viên,
phân công trách nhiệm cho từng cá nhân, cụ thể như sau(: THọ và tên MSV Nhiệm vụ Thời gian ST hoàn thành Chuẩn bị nội dung, ý 1Nguyễn Phạm D220009 tưởng cho câu hỏ 2 i số 03/7/2024 Đăng Khoa 9 2Lê Nguyễn Chuẩn bị nội dung, ý Trúc Linh
12200054 tưởng cho câu hỏ 4 i số 03/7/2024 3Phan Trần Chuẩn bị nội dung, ý Khánh Linh
62200346 tưởng cho câu hỏ 1 i số 03/7/2024 Lê Nguyễn Chuẩn bị nội dung, ý 4 Khánh Linh
B2200041 tưởng cho câu hỏi số 3, tổng hợp, biên 03/7/2024 tập, chỉnh sửa 5Võ Thị Cẩm Chuẩn bị nội dung, ý Ly 12200188 tưởng cho câu hỏ 4 i số 03/7/2024 6 Đoàn Ngọc Bảo Ly B220001 4Chuẩn bị nội dung, ý
tưởng cho câu hỏi số 03/7/2024 1 3, biên tập, chỉnh sửa
2. Kết quả sau khi phân công nhiệm vụ ST THọ và tên MSV Mức độ đóng góp Ghi chú 1Nguyễn Phạm D220009 9Hoàn thành 100% Đăng Khoa 2Lê Nguyễn Trúc Linh 12200054 Hoàn thành 100% 3Phan Trần Khánh Linh 62200346 Hoàn thành 100% 4Lê Nguyễn Khánh Linh B2200041 Hoàn thành 100% 5Võ Thị Cẩm Ly 12200188 Hoàn thành 100% 6Đoàn Ngọc Bảo Ly B220001 4Hoàn thành 100%
3. Kết quả tự đánh giá của nhóm cho từng thành viên ST THọ và tên MSV Điểm đánh giá Ký tên 1Nguyễn Phạm D220009 910 Đăng Khoa 2Lê Nguyễn Trúc Linh 12200054 10 3Phan Trần Khánh Linh 62200346 10 4Lê Nguyễn Khánh Linh B2200041 10 5Võ Thị Cẩm Ly 12200188 10 6Đoàn Ngọc Bảo Ly B220001 410
4. Cuộc họp được kết thúc vào lúc 21h, ngày 5 tháng 7
năm 2024 , biên bản đã được đọc lại cho tất cả các thành viên 2
trong Nhóm, 100% thành viên đều nhất trí với kết quả đánh giá
nêu trên, không ai có ý kiến gì thêm./. CHỦ TRÌ CUỘC HỌP
(Ký và ghi rõ họ tên) THƯ KÝ
(Ký và ghi rõ họ tên)
NỘI DUNG BÀI TIỂU LUẬN: Câu
1 : Phân tích nét đặc thù và các loại hình cơ cấu xã hội trong thời kỳ quá độ
lên chủ nghĩa xã hội. Liên hệ các loại hình cơ cấu xã hội ở Việt Nam hiện nay. Cho ví dụ minh họa?
Cơ cấu trong thời kì quá độ có nhiều loại, như: cơ cấu xã hội - dân cư, cơ cấu
xã hội - nghề nghiệp, cơ cấu xã hội - giai cấp, cơ cấu xã hội - tôn giáo, v.v… nhma đặc
biệt là cơ cấu xã hội - giai cấp
Cơ cấu kinh tế đa dạng, phức tạp khiến cơ cấu xã hội – giai cấp có nhiều giai
cấp tầng lớp khác nhau; vị trí, vai trò của giai cấp, tầng lớp liên tục thay đổi theo cơ
cấu kinh tế; các giai cấp vừa liên minh vừa đấu tranh tồn tại trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội.
Trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, cơ cấu xã hội – giai cấp là tổng thể
các giai cấp, tầng lớp, các nhóm xã hội có mối quan hệ hợp tác và gắn bó chặt chẽ với
nhau. Yếu tố quyết định mối quan hệ đó là họ cùng chung sức cải tạo xã hội cũ và xây
dựng xã hội mới trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội.
Các giai cấp, tầng lớp xã hội và các nhóm xã hội cơ bản trong cơ cấu xã hội –
giai cấp của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội bao gồm: giai cấp công nhân, giai cấp
nông dân, tầng lớp trí thức, tầng lớp doanh nhân, tầng lớp tiểu chủ, tầng lớp thanh
niên, phụ nữ,... Mỗi giai cấp, tầng lớp và các nhóm xã hội này có vị trí và vai trò xác
định song dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản – đội tiền phong của giai cấp công nhân
cùng hợp lực, tạo sức mạnh tổng hợp để thực hiện những mục tiêu, nội dung, nhiệm vụ
của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội:
Một là, cơ cấu xã hội - giai cấp biến đổi gắn liền và bị quy định bởi cơ cấu kinh
tế của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội.
Hai là, cơ cấu xã hội - giai cấp biến đổi phức tạp, đa dạng, làm xuất hiện các tầng lớp xã hội mới 3
Ba là, cơ cấu xã hội - giai cấp biến đổi trong mối quan hệ vừa đấu tranh, vừa
liên minh, từng bước xóa bỏ bất bình đẳng xã hội dẫn đến sự xích lại gần nhau. ở VN
hiện nay có các cơ cấu như Nghề nghiệp - xã hội , nhân khẩu-xã hội
Cơ cấu xã hội ở Việt Nam trong 25 năm đã đổi mới rất nhiều:
Đối với cơ cấu xã hội - giai cấp: Từ cơ cấu “hai giai, một tầng ” ở giai đoạn bao
cấp, sang giai đoạn đổi mới cơ cấu này còn được bổ sung thêm nhiều tầng lớp và
nhóm xã hội mới: đó là đội ngũ các nhà doanh nghiệp, những tiểu thương, tiểu chủ (kể
cả các chủ trang trại lớn), những người lao động làm thuê, những người Việt Nam lao
động ở nước ngoài, v.v... tầng lớp cơ bản như công nhân, nông dân, trí thức cũng có sự
phân hóa và biến đổi mạnh mẽ.
Cơ cấu xã hội - nghề nghiệp: sự biến đổi cơ cấu trong giai đoạn đang có sự
chuyển dịch tích cực từ nông, lâm, ngư nghiệp sang công nghiệp và dịch vụ, từ các
ngành có năng suất thấp sang ngành có năng suất cao hơn. Còn xem xét cơ cấu nghề
nghiệp theo thành phần kinh tế thì tỷ lệ lao động thuộc kinh tế nhà nước giảm xuống,
trong khi tỷ lệ lao động ngoài nhà nước và khu vực đầu tư nước ngoài tăng lên; theo
khu vực thì tỷ lệ lao động ở thành thị tăng lên, trong khi lao động ở nông thôn giảm xuống, v.v...
Cơ cấu xã hội - dân số: Đáng chú ý là tỷ lệ trẻ em trong các nhóm tuổi (từ 0 đến
14 tuổi) giảm mạnh, trong khi các nhóm tuổi từ 25 đến 49 và 65 trở lên đang tăng lên
khá rõ ràng - điều góp phần vào sự chuyển đổi từ tỷ số phụ thuộc sang “cơ cấu dân số
vàng”. Báo cáo cũng chỉ ra rằng, cơ cấu dân số theo giới tính thì dần cân bằng nhưng
tình trạng mất cân bằng giới tính ở trẻ sơ sinh tăng lên; tỷ lệ dân số đô thị thấp nhưng
đang tăng lên, báo hiệu tích tụ dân số vào đô thị ngày càng mạnh, v.v...
Cơ cấu xã hội - dân tộc: Trong bối cảnh của công cuộc đổi mới, thành phần tộc
người có xu hướng tăng lên (có thể vượt qua con số 54 dân tộc - do ý thức tộc người
tăng lên, do chính sách ưu đãi của Nhà nước...), sự phân bố về địa lý giữa các dân tộc
thay đổi mạnh (do di dân tự do từ Bắc và Nam, do phát triển các khu công nghiệp...),
đặc biệt là sự biến đổi cơ cấu dân số giữa các tộc người (tỷ lệ sinh ở các dân tộc thiểu
số miền núi cao hơn ở người Kinh và ở đồng bằng).
Cơ cấu xã hội - tôn giáo: Ngoài các tôn giáo chính là Phật giáo, Thiên chúa
giáo, Tin Lành, Hồi giáo, Cao Đài và Hoà Hảo, trong giai đoạn đổi mới còn xuất hiện
thêm nhiều tôn giáo mới (từ 50 - 60), trong đó có tôn giáo tách ra từ Phật giáo, có tôn
giáo là được phục sinh từ các lễ hội dân gian và cũng có tôn giáo mới được du nhập từ bên ngoài vào. [1]
Câu 2: Phân tích cơ cấu xã hội - giai cấp và vị trí, vai trò của các giai cấp, tầng
lớp cơ bản trong cơ cấu xã hội - giai cấp ở Việt Nam hiện nay. Cho ví dụ minh họa?

a) Cơ cấu xã hội giai cấp:
Cơ cấu xã hội - giai cấp có vị trí đặc biệt quan trọng trong việc duy trì các quan
hệ giai cấp tạo sự ổn định xã hội. Bởi, xã hội thường bị chia thành các giai cấp mà 4
đặc trưng cơ bản cùa giai cấp là vấn đề sở hữu tư liệu sản xuất nên cơ cấu xã hội -
giai cấp đóng một vai trò nền tảng của hệ thống xã hội. Do vậy, khi xem xét cơ cấu
xã hội - giai cấp phải xem xét nó ở hai khía cạnh: một mặt xem xét không chỉ các
giai cấp mà cả các tập đoàn xã hội, mặt khác cần nhấn mạnh và nêu rõ những tập
đoàn người hợp thành các giai cấp cơ bản của cơ cấu xã hội - giai cấp chiếm vị trí
quyết định đối với toàn bộ các tầng lóp và tập đoàn xã hội khác, có vị trí quyết định
đến sự phát triển và biến đổi của cơ cấu xã hội.
Cơ cấu xã hội - giai cấp là một hệ thống phức tạp tồn tại tương đổi độc lập, gắn
liền với sự tồn tại của xã hội là sản xuất ra của cải vật chất và các mối quan hệ xã
hội của con người, nó là hạt nhân quyết định sự biến đổi của cơ cấu xã hội. Cơ cẩu
xã hội là một hệ thống bao gồm các nhóm xã hội khác nhau, các nhóm xã hội này
có địa vị khác nhau trong một hệ thống sản xuất xã hội, có quan hệ khác nhau đối với tư liệu sản xuất.
Như vậy, cơ cấu xã hội - giai cấp gắn liền với phương thức sản xuất ra của cải
vật chất xã hội. Quan hệ giai cấp phản ánh mối quan hệ về lợi ích giữa các giai cấp
và tầng lớp trong xã hội. Căn cứ vào đó mà chia xã hội thành các giai cấp và tầng lớp xã hội khác nhau.
b) Vị trí, vai trò của các giai cấp, tầng lớp cơ bản:
Giai cấp công nhân: có vai trò lãnh đạo cách mạng, giữ vị trí tiên phong trong
sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội.
Giai cấp nông dân: là lực lượng đồng minh chủ yếu của giai cấp công nhân,
đóng góp to lớn vào sản xuất nông nghiệp, lương thực.
Tầng lớp tri thức: đóng góp vào sự phát triển khoa học - kỹ thuật, giáo dục, văn hóa, nghệ thuật,...
Tầng lớp doanh nhân: thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, tạo ra việc làm, góp
phần nâng cao đời sống nhân dân.
Tầng lớp trung lưu: là lực lượng xã hội có trình độ học vấn, kỹ năng cao, góp
phần thúc đẩy đổi mới sáng tạo, hội nhập quốc tế. c) Ví dụ minh họa:
Giai cấp công nhân: công nhân làm việc trong các nhà máy, xí nghiệp, tham gia sản xuất hàng hóa.
Giai cấp nông dân: nông dân trồng lúa, hoa màu, chăn nuôi gia súc, gia
cầm.Tầng lớp trí thức: giáo viên, bác sĩ, kỹ sư, nhà khoa học.
Tầng lớp doanh nhân: chủ doanh nghiệp, nhà đầu tư.
Tầng lớp trung lưu: cán bộ, viên chức, nhân viên văn phòng, kỹ sư, bác sĩ. [2, 3] [3] 5
Câu 3:Tq quan đirm của chủ nghĩa Mác - Lênin vs chtc năng cơ bản của gia
đình, phân tích sự bivn đwi trong thực hiện chtc năng của gia đình ở nxớc ta hiện
nay. Cho ví dụ minh họa?

1. Khái niệm về gia đình:
Trong buổi hội thảo hôn nhân - gia đình ngày 10/10/1959, Bác Hồ đã từng nói:
“Quan tâm đến gia đình là đúng và nhiều gia đình cộng lại mới thành xã hội, xã hội tốt
thì gia đình càng tốt. Gia đình tốt thì xã hội mới tốt. Hạt nhân của xã hội là gia đình”.
Gia đình là một cộng đồng người đặc biệt, có vai trò quyết định đến sự tồn tại của xã
hội. Khi nhắc đến gia đình, C. Mác và Ph. Ăngghen cũng từng đề cập rằng: “ Quan hệ
thứ ba tham dự ngay từ đầu vào quá trình phát triển lịch sử: hằng ngày tái tạo ra đời
sống của bản thân mình con người còn tạo ra những người khác, sinh sôi nảy nở - đó là
quan hệ giữa chồng và vợ, cha mẹ và con cái, đó là gia đình”1. Gia đình hình thành dựa
trên cơ sở là quan hệ hôn nhân và quan hệ huyết thống, mỗi người trong gia đình có
mối liên hệ gắn bó mật thiết với nhau; đi đôi với đó là những quyền lợi và nghĩa vụ
được quy định bằng pháp lý hoặc đạo lý.
Nhìn chung, “Gia đình” là một hình thức xã hội đặc biệt, được hình thành, duy
trì và củng cố chủ yếu dựa trên cơ sở hôn nhân, quan hệ huyết thống và quan hệ nuôi
dưỡng, cùng với những quy định về quyền và nghĩa vụ của các thành viên trong gia đình.
2. Các chức năng cơ bản của gia đình:
Theo C. Mác và Ph .Ăngghen, gia đình có 4 chức năng cơ bản sau:
a) Chức năng tái sản xuất ra con người:
Đây là chức năng đặc thù, quan trọng nhất của gia đình, không một cộng đồng
nào có thể thay thế. Việc thực hiện chức năng sinh sản vừa là quy luật sinh tồn tự
nhiên đồng thời là quy luật xã hội, đáp ứng được nhu cầu về tâm sinh lí, tình cảm của
chính bản thân con người. Tái sản xuất con người góp phần cung cấp sức lao động -
nguồn nhân lực cho xã hội. Chức năng này sẽ góp phần thay thế những lớp người lao
động cũ đã đến tuổi nghỉ hưu, đã hết khả năng lao động linh hoạt, năng động, sáng tạo
và còn tác động đến sự ổn định, phát triển bền vững của quốc gia.
b) Chức năng nuôi dưỡng giáo dục
Bên cạnh chức năng tái sản xuất ra con người, gia đình còn có trách nhiệm nuôi
dưỡng, dạy dỗ con cái trở thành người có ích cho gia đình, cộng đồng và xã hội.Gia
đình là môi trường xã hội hóa đầu tiên của con người. Gia đình trang bị cho trẻ những
1 C. Mác và Ph. Ăngghen. Toàn tập, t.3. Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1995, tr.41 6
ý tưởng đầu tiên để giải thích thế giới của sự vật, hiện tượng, khái niệm thiện và ác,
dạy trẻ hiểu cuộc sống và con người, đưa trẻ vào thế giới của những giá trị mà gia đình
nhận ra và thực hiện trong cuộc sống của nó. Những giá trị này không chỉ hướng dẫn
con người trong cách sống mà còn định hình nhân cách của đứa trẻ .Vì vâỵ thực hiện
tốt chức năng nuôi dưỡng, giáo dục đòi hỏi mỗi người làm cha, làm mẹ, phải có kiến
thức cơ bản, tương đối toàn diện về mọi mặt, văn hoá, học vấn, đặc biệt là phương pháp giáo dục.
c) Chức năng kinh tế và tổ chức tiêu dùng:
Cũng như các đơn vị kinh tế khác, gia đình tham gia trực tiếp vào quá trình sản
xuất và tái sản xuất ra tư liệu sản xuất và tư liệu tiêu dùng.Tuy nhiên, đặc thù của gia
đình mà các đơn vị kinh tế khác không có được là ở chỗ , gia đình là đơn vị duy nhất
tham gia vào quá trình sản xuất và tái sản xuất ra sức lao động cho xã hội. Chức năng
kinh tế là một trong những chức năng cơ bản của gia đình nhằm tạo ra của cải, vật
chất, là chức năng đảm bảo sự sống còn của gia đình, đảm bảo cho gia đình được ấm
no, giàu có làm cho dân giàu, nước mạnh như lời Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói:
“dân có giàu thì nước mới mạnh”. Chức năng này bao quát về nhu cầu ăn, ở, tiện nghi,
là sự hợp tác kinh tế giữa các thành viên trong gia đình, thể hiện trên hai khía cạnh:
sản xuất và tiêu dùng, cả hai khía cạnh này đều nhằm thỏa mãn nhu cầu thiết yếu của
các thành viên trong gia đình.
d) Chức thoả mãn nhu cầu tâm sinh lý, duy trì tình cảm gia đình:
Bản chất con người là một sinh vật xã hội, luôn cần giao tiếp xã hội để tồn tại, mà gia
đình chính là phiên bản thu nhỏ của xã hội, cho nên gia đình sẽ đảm bảo cho sự cân
bằng tâm lý, chăm sóc sức khỏe cho các thành viên trong gia đình. Gia đình cung cấp
cho các thành viên một không gian an toàn, yêu thương và hỗ trợ tinh thần. Điều này
giúp bảo vệ và phát triển cho sự cảm thông và sự tin tưởng vào bản thân của mỗi thành
viên. Thoả mãn nhu cầu tâm sinh lý cũng liên quan đến việc cung cấp sự ấm áp và sự
an toàn cảm xúc cho các thành viên trong gia đình. Việc bảo vệ và nuôi dưỡng tình
cảm gia đình giúp mỗi thành viên cảm thấy được yêu thương và quan tâm, tạo nên một
môi trường gắn kết và ổn định. Đây là nền tảng quan trọng để xây dựng các mối quan
hệ lành mạnh và hạnh phúc trong gia đình.
3. Những biến đổi trong chức năng của gia đình ở nước ta hiện nay:
Với xu hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước cùng với nhiều sự thay đổi về
kinh tế, chính trị, xã hội, đã có những biến đổi nhất định trong chức năng của gia đình
ở nước ta hiện nay như sau: 7
a) Về chức năng tái sản xuất ra con người:
Nếu như trước kia, do ảnh hưởng của phong tục, tập quán và nhu cầu sản xuất
nông nghiệp, gia đình nào cũng có tư tưởng càng đông con thì càng tốt,nhất thiết phải
là con trai để nối dõi, thì ngày nay nhu cầu ấy đã được thay đổi nhiều.Từ những năm
70 và 80 của thế kỷ XX, Nhà nước đã tuyên truyền , phổ biến , vận động khuyến khích
mỗi cặp vợ chồng chỉ nên có từ 1-2 con.Qua đó ngày nay, nhu cầu sinh ở phụ nữ giảm,
đồng thời số con mong muốn và nhu cầu về con trai cũng ngày càng giảm.
Trong gia đình hiện nay, sự bền vững của hôn nhân phụ thuộc nhiều vào yếu tố
tâm lý, kinh tế, chứ không còn ở việc có con hay không có con, con trai hay con gái
như gia đình truyền thống trước kia. Ví dụ ngay trong gia đình em, ông bà cố nội em
sinh được 9 người con thì có 7 trai và 2 gái, sang đến đời ông nội em chỉ đẻ 3 người, 3
người con của ông nội em bao gồm bố em chỉ đẻ mỗi người 2 con. Điều này thể hiện
sự thay đổi dần về nhận thức và nhu cầu của con người theo thời gian.
b) Về chức năng nuôi dưỡng giáo dục:
Trước đây, giáo dục gia đình là cơ sở của giáo dục xã hội thì ngày nay, giáo dục
xã hội bao trùm lên giáo dục gia đình và đưa ra những mục tiêu, những yêu cầu của
giáo dục xã hội cho giáo dục gia đình.
Sự phát triển của hệ thống giáo dục xã hội cùng sự phát triển kinh tế hiện nay,
vai trò giáo dục của các chủ thể trong gia đình có xu hướng giảm, nhưng với sự gia
tăng của các hiện tượng tiêu cực trong xã hội , niềm tin và sự kỳ vọng vào hệ thống
giáo dục xã hội ngày càng giảm.Mâu thuẫn này là thực tế chưa có lời giải ở nước ta
hiện nay. Vì những tác động đó,tỷ lệ trẻ em hư hỏng, tệ nạn ngày càng tăng so với trước kia.
Một ví dụ điển hình về sự biến đổi này là sự thay đổi trong mô hình gia đình ở các
thành phố lớn như Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh. Các gia đình ở đây thường có ít con,
cả vợ chồng đều đi làm và ít có thời gian dành cho con cái. Họ phụ thuộc nhiều vào
trường học và các dịch vụ chăm sóc trẻ để đảm bảo việc giáo dục và chăm sóc con cái.
Điều này dẫn đến sự thay đổi trong vai trò và chức năng của gia đình so với trước đây,
khi mà cha mẹ đóng vai trò chính trong mọi khía cạnh của cuộc sống gia đình
c) Về chức năng kinh tế và tổ chức tiêu dùng:
Nền kinh tế trong gia đình đã chuyển từ kinh tế tự cung tự cấp sang nền kinh tế
hàng hóa. Trước đây việc sản xuất trong gia đình chỉ để phục vụ nhu cầu cho nhu cầu
của các thành viên trong gia đình, tuy nhiên, mô hình kinh tế gia đình hiện nay đã trở 8
thành một đơn vị kinh tế sản xuất để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng xã hội. Đơn giản như
những người nông dân trước đây sản xuất lương thực chỉ để đáp ứng nhu cầu cho cá
nhân, gia đình của họ. Nhưng người nông dân hiện nay ngoài việc sản xuất để đáp ứng
nhu cầu cá nhân, họ còn mang đi buôn bán nhằm thu được lợi ích kinh tế.
Nền kinh tế trong gia đình đã chuyển từ việc sản xuất hàng hóa đáp ứng nhu cầu
thị trường quốc gia trở thành nền kinh tế thị trường đáp ứng nhu cầu của thị trường
trên toàn thế giới. Trong giai đoạn đẩy mạnh hội nhập thế giới như hiện nay, sản phẩm
của các hộ gia đình bây giờ sản xuất ra đã có thể vươn xa trên thị trường thế giới. Như
chúng ta có thể thấy được rằng ngành sản xuất lúa nước của nước ta bây giờ đã không
chỉ là để phục vụ an ninh lương thực quốc gia, mà còn xuất khẩu sang các nước trên
thế giới. Hơn hết, việc sản xuất lúa nước chủ yếu phát triển dựa trên các hộ gia đình,
đó là minh chứng cho sự toàn cầu hóa của gia đình Việt Nam hiện nay.
Trước đây, kinh tế của gia đình tạo ra chủ yếu để đóng góp cho kinh tế của các
thành viên trong gia đình. Sau này, kinh tế gia đình trở thành một bộ phận quan trọng
trong nền kinh tế quốc dân. Cũng như đã nói về việc sản xuất lúa nước như trên, gia
đình đã đóng góp một phần không nhỏ để giúp đất nước ta phát triển mạnh mẽ như
ngày hôm nay. Từ một đất nước chịu thiệt hại rất lớn từ các cuộc chiến tranh chống lại
hai đế quốc lớn mạnh trên thế giới là Pháp và Mỹ, các hộ gia đã không ngừng tăng gia
sản xuất, không chỉ đáp ứng được nhu cầu tiêu dùng cho gia đình mà còn mang thương
hiệu Việt Nam vươn xa trên thị trường thế giới, đóng góp lớn cho nền kinh tế của đất nước Việt Nam ta.
d) Về chức năng thoả mãn nhu cầu tâm sinh lý, duy trì tình cảm gia đình
Mạnh tử từng nói : “Nước lấy nhà làm gốc”, có nghĩa là sự bình yên của đất
nước sẽ được hình thành dựa trên độ bền vững của gia đình. Trong xã hội hiện đại, độ
bền vững của gia đình đã không còn chỉ phụ thuộc vào sự ràng buộc các mối quan hệ
về trách nhiệm và nghĩa vụ của các thành viên mà độ bền vững vững còn bị chi phối
bởi sự hòa hợp tình cảm giữa các thành viên. Đặc biệt, khi hiện nay khi tỷ lệ gia đình
chỉ có một con ngày càng tăng nhanh, thì việc nuôi dạy một đứa bé sẽ không chỉ dừng
lại ở việc cho đứa trẻ đầy đủ vật chất, được tham gia học tập, mà bỏ quên đi nuôi
dưỡng về mặt tình cảm cho đứa trẻ điều này sẽ khiến cho đời sống tình cảm-tâm lý sẽ
trở nên kém phong phú, khó có thể hòa hợp với xã hội. Gia đình hiện nay đã không chỉ
là đơn vị kinh tế, mà còn là đơn vị tình cảm, quan trọng hạnh phúc gia đình. Vì yếu tố
gia đình đang dần là một trong những thành phần quan trọng trong việc hình thành và
phát triển nên các nhân tài cho đất nước. Việc củng cố tình cảm gia đình không chỉ
giúp cho người dân có đời sống tinh thần tốt hơn mà còn giúp cho xã hội văn minh, tốt đẹp hơn.
Để có thể có một gia đình toàn vẹn, xã hội cần lên án các phong tục xưa cũ “
trọng nam khinh nữ”, phải đối xử công bằng và có cái nhìn tích cực hơn về người phụ
nữ. Hơn hết, bởi đất nước ta vẫn còn là nước đang phát triển, vẫn còn các gia đình điều 9
kiện khó khăn, vẫn còn nạn phân biệt giàu nghèo. Do đó, Nhà nước cần phải có các
chính sách để nhằm xóa đói giảm nghèo, khắc phục khoảng cách giàu nghèo để mỗi
gia đình có một cuộc sống tốt đẹp, để góp phần xây dựng xã hội chủ nghĩa văn minh hơn. [4] [1]
Câu 4: Phân tích những yvu tố tác động đvn gia đình ở Việt Nam trong thời kỳ
quá độ lên chủ nghĩa xã hội và phxơng hxớng cơ bản nhằm xây dựng và phát
trirn gia đình Việt Nam trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Cho ví dụ minh họa?

a) Có 5 yếu tố tác động đến gia đình Việt Nam trong thời kỳ quá độ lên xã hội chủ nghĩa:
Thứ nhất là sự phát triển kinh tế thị trường định hướng lên xã hội chủ nghĩa:
Kinh tế gia đình trở thành một bộ phận quan trọng trong nền kinh tế quốc dân,
tăng thu nhập cá nhân trong gia đình. Làm trầm trọng hơn sự phân hóa giàu nghèo
giữa các gia đình trong xã hội, giá trị truyền thống trong gia đình bị coi nhẹ, hiện
tượng gia tăng số hộ gia đình đơn thân, sinh con ngoài giá thú,...
Thứ hai là công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước gắn với phát triển kinh tế tri thức:
Biến đổi cơ cấu chức năng của gia đình truyền thống và chuyển biến thành gia
đình hiện đại. Chuyển đổi cơ sở kinh tế từ kinh tế tự cung, tự cấp sang kinh tế hàng
hóa. Thay đổi phương thức tiêu dùng và lối sống của gia đình, biến đổi các mối quan
hệ xã hội và chức năng của gia đình.
Thứ ba là xu thế toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế:
Sự phát triển của kinh tế hàng hóa, thu nhập của gia đình tăng lên và trở thành
một đơn vị tiêu dùng quan trọng trong xã hội. Phân hóa gia đình do mức độ tiếp cận
đến toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế của mỗi gia đình là khác nhau. Do áp lực về kinh
tế, cạnh tranh dẫn đến việc các thành viên trong gia đình không dành thời gian cho nhau, chăm sóc gia đình.
Thứ tư là cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại:
Các cá nhân trong gia đình có nhiều cơ hội hơn để tiếp cận, tiếp thu tri thức
mới. Sự ra đời của các phương tiện thông tin đại chúng, làm cho thế giới nội tâm của
con người trở nên nghèo nàn, ít đi sự giao tiếp của cá nhân đối với thế giới bên ngoài
và giữa các thành viên trong gia đình. Sự thâm nhập
của các văn hóa không lành mạnh
tràn lan trên internet, gây xói mòn về mặt đạo đức. Việc
áp dụng khoa học kỹ thuật,
công nghệ hiện đại vào lĩnh vực y tế, ngoài việc nâng cao chất lượng đời sống, bảo vệ 10
sức khỏe thì nó còn dẫn đến tình trạng mất cân bằng giới tính do chuẩn đoán được giơi tính thai nhi.
Thứ năm là chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về gia đình.
Các bộ luật liên quan đến gia đình được ban hành: Luật hôn nhân và gia đình
(năm 2000, sửa đổi bổ sung năm 2013), Luật bình đẳng giới (năm 2007), Luật phòng,
chống bạo lực gia đình (năm 2008),... nhằm tạo điều kiện và hỗ trợ sự phát triển của
gia đình. Ngày 29/05/2012, “Chiến lược phát triển gia đình Việt Nam đến năm 2020,
và tầm nhìn 2030” được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt.Tại đại hội đại biểu toàn
quốc lần thứ XII của Đảng Cộng sản Việt Nam đã đề ra mục tiêu: “Xây dựng gia đình
no ấm, tiến bộ, hạnh phúc, văn minh”.Ngày 28/06 hằng năm được chọn làm ngày “Gia
đình Việt Nam”, nhằm nhắc nhở mỗi cá nhân trong gia đình và toàn xã hội nêu cao
tinh thần trách nhiệm xây dựng gia đình no ấm, tiến bộ, bền vững, văn minh”.
b) Phương hướng cơ bản nhằm xây dựng và phát triển gia đình Việt Nam trong
thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội:
Trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội phải thực hiện xây dựng gia đình mới
trên sự kế thừa nhưng truyển thống và tiếp thu những tiến bộ hướng tới hình thành con
người mới Việt Nam đồng thời xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản
sắc dân tộc. Để đạt được mục tiêu đó, cần lưu ý một số phương hướng cơ bản sau:
Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, nâng cao nhận thức của xã hội về xây dựng và
phát triển gia đình Việt Nam:
Tiếp tục đẩy mạnh công tác tuyên truyền để các cấp ủy, chính quyền, các tổ
chức đoàn thể từ trung ương đến cơ sở nhận thức sâu sắc về vị trí, vai trò và tầm
quan trọng của gia đình và công tác xây dựng, phát triển gia đình Việt Nam hiện
nay, coi đây là một trong những động lực quan trọng quyết định thành công sự phát
triển bền vững kinh tế - xã hội trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất
nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Cấp ủy và chính
quyền các cấp phải đưa nội dung,mục tiêu của công tác xây dựng và phát triển gia
đình vào chiến lược phát triển kinh tế - xã hội và chương trình kế hoạch công tác
hàng năm của các bộ, ngành, địa phương.
Đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống kinh tế gia đình:
Tạo việc làm có thu nhập ổn định đồng thời xây dựng và hoàn thiện chính sách
phát triển kinh góp phần tạo điều kiện việc làm, hỗ trợ phát triển sản xuất, kinh
doanh cho các gia đình, thành lập chính sách ưu tiên hỗ trợ phát triển kinh tế cho
các gia đình liệt sỹ, gia đình thương binh…Có chính sách hỗ trợ gia đình kinh 11
doanh phát triển kinh tế, sản xuất và kinh doanh các sản phẩm mới, hỗ trợ gia đình
tham gia sản xuất phục vụ xuất khẩu. Hỗ trợ tài chính tạo điều kiện thuận lợi cho
các hộ gia đình vay vốn ngắn hạn và dài hạn nhằm xoá đói giảm nghèo, mở rộng
phát triển kinh tế, vươn lên làm giàu chính đáng.
Bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống đồng thời tiếp thu những tiến
bộ về gia đình trong việc xây dựng gia đình Việt Nam hiện nay.:
Tăng cường giáo dục gia đình, giữ gìn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống,
đạo đức gia đình. Bước vào thời kỳ mới gia đình truyền thống bộc lộ cả những mặt
tích cực và tiêu cực. Do vậy, Nhà nước cũng như các cơ quan văn hóa cần xác định
tiến hành duy trì và phát huy những nét đẹp cũng như giá trị văn hóa, đồng thời tìm ra
những hạn chế và tiến tới khắc phục những hủ tục của gia đình cũ nhằm xây dựng mô
hình gia đình hiện đại, phù hợp với công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội
nhập kinh tế quốc tế. việc kết hợp những nét truyển thống trong văn hóa gia đình việt
nam với những giá trị của gia đình hiện đại tạo nên sự phù hợp với sự vận động phát
triển tất yếu của xã hội. Tất cả nhằm hướng tới thực hiện mục tiêu làm cho gia đình
thực sự là tế bào lành mạnh của xã hội
Phát triển và Nâng cao nhận thức vai trò của gia đình trong xã hội nâng cao chất
lượng phong trào xây dựng gia đình văn hóa:
Tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục về vai trò của gia đình trong việc
xây dựng xã hội mới. Phát huy giá trị đạo đức truyền thống của gia đình Việt Nam,
để phát triển gia đình Việt Nam hiện nay cần tiếp tục nghiên cứu, nhân rộng xây
dựng các mô hình gia đình văn hóa trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa với
những giá trị mới tiên tiến cần tiếp. Các tiêu chí xây dựng gia đình văn hóa phải
phù hợp và có ý nghĩa thiết thực với đời sống của nhân dân, công tác bình xét danh
hiệu gia đình văn hóa phải được tiến hành theo tiêu chí thống nhất, trên nguyên tắc
công bằng, dân chủ, đáp ứng được nguyện vọng, tâm tư, tình cảm, tạo được sự
đồng tình hưởng ứng của nhân dân.
Tổ chức tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục về vai trò của gia đình
trong việc xây dựng xã hội mới.
Xây dựng và phát triển gia đình Việt Nam không phải là việc riêng của mỗi gia
đình mà là nhiệm vụ chung của toàn xã hội, cần có sự tham gia của mọi ngành,
đoàn thể, cộng đồng dân cư và mọi cá nhân. [1] c) Ví dụ minh họa:
Tổ chức các buổi hội thảo, lớp học về giáo dục gia đình, cung cấp kiến thức về
sức khỏe sinh sản, kỹ năng nuôi dạy con cái và xây dựng hạnh phúc gia đình.
Khuyến khích và hỗ trợ các gia đình tham gia vào các hoạt động kinh tế như
kinh doanh nhỏ, sản xuất nông nghiệp, thủ công nghiệp. Chính phủ có thể cung cấp
các khoản vay ưu đãi, hỗ trợ kỹ thuật và đào tạo nghề cho các hộ gia đình. 12 13 TÀI LIỆU THAM KHẢO [1
] G. T. H. C. B. CB, Giáo trình Chủ nghĩa Xã hội khoa học, 2019,
NXB Chính trị quốc gia Sự thật, 2019. [2
] L. s. P. T. P. Thanh, “Phân tích về một số cơ cấu xã hội cơ bản? Ý
nghĩa của nghiên cứu cơ cấu xã hội,” 2023. [Trực tuyến].
Available: https://luatminhkhue.vn/vai-net-ve-mot-so-co-cau-xa- hoi-co-ban.aspx. [3
] “Các giai cấp ở Việt Nam hiện nay bao gồm những giai cấp nào?
Đặc điểm của giai cấp công nhân Việt Nam?,” [Trực tuyến]. Available:
https://thuvienphapluat.vn/phap-luat/ho-tro-phap-luat/cac-giai-
cap-o-viet-nam-hien-nay-bao-gom-nhung-giai-cap-nao-dac-diem-
cua-giai-cap-cong-nhan-viet-na-500369-129832.html. [4
] N. N. Tú, “Kiến thức cơ bản về gia đình và các chức năng cơ bản
của gia đình,” 2023. [Trực tuyến]. Available:
https://sovanhoa.hoabinh.gov.vn/gia-dinh/2070-kia-n-tha-c-c-ba-
n-va-gia-a-nh-va-ca-c-cha-c-n-ng-c-ba-n-ca-a-gia-a-nh. 14