TỔNG LIÊN ĐOÀN LAO ĐỘNG VIỆT NAM
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÔN ĐỨC THẮNG
BÀI TIỂU LUẬN
Môn: CHỦ NGHĨA XÃ HỘI KHOA HỌC
HỌC KỲ II/2023-2024
ĐỀ TÀI:
SINH VIÊN THỰC HIỆN :Nhóm 06-N21
Nguyễn Thị Tuyết Nhung -72200416
Nguyễn Thành Nhân 62200125
Lê Dương Nghi 72200026
Ngô Khánh Ngọc72200172
Khúc Khánh Ngọc 72200375
Nguyễn Trần Thảo Nhi 62200145
Đinh Hữu Ninh MSSV B2200009
Nguyễn Việt Tiến Phong 62200153
GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN:
TP.HCM, Tháng 02 năm 2024
MỤC LỤC
M C L C .......................................................................................................................................................1
L i m đ u ...................................................................................................................................................2
I.Khái ni m nhà n c ướ ...............................................................................................................................3
II. Nhà n c xã h i ch nghĩaướ ...............................................................................................................3
1. Khái ni m nhà n c XHCN ướ ..................................................................................................................... 3
2. S ra đ i ....................................................................................................................................................... 3
3. B n ch t ....................................................................................................................................................... 3
4. Ch c năngứ..................................................................................................................................................... 5
4.1. Ch c năng đ i n i ................................................................................................................................................................. 5
4.2. Ch c năng đ i ngo i ............................................................................................................................................................ 7
III. M i quan h gi a dân ch xã h i ch nghĩa và nhà n c xã h i ch nghĩa ướ ..............8
1. Dân ch xã h i ch nghĩa là c s , n n t ng cho vi c xây d ng và ho t đ ng c a nhà ơ
n c xã h i ch nghĩaướ .................................................................................................................................. 8
2. Nhà n c xã h i ch nghĩa là công c quan tr ng cho vi c th c thi quy n làm ch c a ướ
ng i dânườ ......................................................................................................................................................... 9
Ph n k t lu n ế ...........................................................................................................................................11
Tài li u tham kh o ..................................................................................................................................12
1
Lời mở đầu
Ý thức về một xã hội công bằng, dân chủ, và bình đẳng đã hiện hữu từ xa xưa trong
lịch sử của loài người. Nó bắt nguồn từ lòng khao khát của những người lao động
mong muốn thoát khỏi sự bóc lột, không công bằng, và đặc quyền, và sự ra đời của
nhà nước xã hội chủ nghĩa là kết quả của cuộc cách mạng được tiến hành bởi giai
cấp vô sản và nhân dân lao động dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản.
Nhà nước xã hội chủ nghĩa được coi là tổ chức quyền lực của nhân dân, đại diện
cho ý chí của họ và thực hiện việc quản lý kinh tế, văn hóa, và xã hội của nhân dân.
Điều này thường được thực hiện dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, mang tính
chất của giai cấp công nhân và sự đại diện cho nhân dân rộng rãi.
Trong một nước theo chế độ dân chủ nhân dân như Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt
Nam, nhà nước xã hội chủ nghĩa là tổ chức pháp quyền, đặt dưới sự lãnh đạo của
Đảng Cộng sản Việt Nam. Vì vậy, việc nắm vững kiến thức về nhà nước xã hội chủ
nghĩa là cần thiết để nhận biết và khẳng định tính tiến bộ của chế độ dân chủ xã hội
chủ nghĩa, cũng như sẵn sàng thừa kế và phát triển công việc xây dựng chủ nghĩa
xã hội từ thế hệ trước.
2
I.Khái niệm nhà nước
Nhà nước là tổ chức quyền lực, chính trị của xã hội có giai cấp, có lãnh thổ, dân cư
và chính quyền độc lập, có khả năng đặt ra và thực thi pháp luật nhằm thiết lập trật
tự xã hội nhất định trong phạm vi lãnh thổ của mình.
II. Nhà nước xã hội chủ nghĩa
1. Khái niệm nhà nước XHCN
Nhà nước xã hội chủ nghĩa là một kiểu nhà nước mà ở đó, sự thống trị chính trị thuộc về
giai cấp công nhân, do cách mạng xã hội chủ nghĩa sản sinh ra và có sứ mệnh xây dựng
thành công chủ nghĩa xã hội, đưa nhân dân lao động lên địa vị làm chủ trên tất cả các mặt
của đời sống xã hội trong một xã hội phát triển cao - xã hội xã hội chủ nghĩa.
2. Sự ra đời
Năm 1917 nhà nước xã hội chủ nghĩa đầu tiên ra đời, năm 1924 thành lập Liên bang Cộng
hòa hội chủ nghĩa Viết, bao gồm 15 nước cộng hoà được thành lập. Sau Đại chiến
thế giới thứ lI (sau năm 1945), hệ thống xã hội chủ nghĩa ra đời.
Nhà nước xã hội chủ nghĩa kết quả của cuộc cách mạng do giai cấpsản và nhân dân
lao động tiến hành dưới sự lãnh đạo của đảng Cộng sản. Đây nhà nước của số đông
nhân dân lao động sẽ làm chủ nhà nước, người dân có quyền tham gia đóng góp xây dựng
đất nước.
Nhà nước hội chủ nghĩa nhà nước đó sự thống trị chính trị thuộc về giai cấp
công nhân do cách mạng xã hội chủ nghĩa sinh ra và có sứ mệnh xây dựng thành công chủ
nghĩa hội, đưa nhân dân lao động đến địa vị làm chủ trên tất cả các mặt của đời sống
xã hội trong một xã hội phát triển cao- xã hội chủ nghĩa.
3. Bản chất
Về chính trị
Nhà nước hội chủ nghĩa mang bản chất của giai cấp công nhân, giai cấp lợi ích phù
hợp với lợi ích chung của quần chúng nhân dân lao động. Giai cấp vô sản là lực lượng giữ
địa vị thống trị về chính trị. Tuy nhiên, sự thống trị của giai cấp sản có sự khác biệt về
chất so với sự thống trị của giai cấp bóc lột. Sự thống trị của giai cấp bóc lột sự thống
3
trị nhằm bảo vệ duy trì địa vị của mình. Còn sự thống trị về chính trị của giai cấp
sản sự thống trị nhằm giải phóng giai cấp mình giải phóng tất cả các tầng lớp nhân
dân lao động khác trong xã hội.
Về kinh tế
Chịu sự quy định của cơ sở kinh tế của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa là chế độ sở hữu xã
hội về những tư liệu sản xuất chủ yếu nhằm đáp ứng những nhu cầu ngày càng cao của
lực lượng sản xuất dựa trên sự phát triển của khoa học kỹ thuật - công nghệ hiện đại.
Sự khác biệt giữa bản chất kinh tế của các nhà nước bóc lột khác với nhà nước chủ nghĩa
xã hội đó được thể hiện qua việc quan hệ sản xuất bóc lột đã được loại bỏ. Nếu tất cả các
nhà nước bóc lột khác trong lịch sử đều là bộ máy của kẻ bóc lột chiếm thiểu số dùng để
trấn áp đại đa số người lao động. Thì ngược lại nhà nước xã hội chủ nghĩa vừa là một bộ
máy chính trị - hành chính, cơ quan cưỡng chế, vừa là một tổ chức quản lý kinh kinh tế -
xã hội của nhân dân lao động. Dường như nó đã không còn là nhà nước theo đúng nghĩa
mà chỉ là “nửa nhà nước”. Giờ đây, việc chăm lo cho lợi ích của đại đa số nhân dân lao
động đã được đặt thành mục tiêu hàng đầu của nhà nước xã hội chủ nghĩa.
Và đặc biệt, so với nhà nước dân chủ tư sản thì nhà nước xã hội chủ nghĩa còn đảm bảo
cho người lao động nhận được sự bình đẳng khi thực hiện chế độ công hữu về tư liệu sản
xuất chủ yếu và chế độ phân phối lợi ích theo kết quả lao động là chủ yếu.
Về văn hóa xã hội
Dựa trên hệ tư tưởng Mác - Lênin và hệ tư tưởng của giai cấp công nhân, Nhà nước xã
hội chủ nghĩa đã được xây dựng nên. Đồng thời nó cũng kế thừa và phát huy những tinh
hoa văn hoá truyền thống của dân tộc, những tư tưởng tiến bộ, văn minh mà nhân loại đã
tạo ra. Để từ đó, sự phân hoá giữa các giữa các giai cấp được thu hẹp, tạo sự bình đẳng
trong việc tiếp cận các nguồn lực và cơ hội để phát triển.
Khi đến một mức phát triển nào đó, khi nhà nước xã hội chủ nghĩa ngày càng được phát
triển và mở rộng, cơ sở cho sự tồn tại của nó không còn thì nhà nước xã hội chủ nghĩa
cũng sẽ tự tiêu vong và chuyển sang một hệ thôngs nhà nước khác phù hợp hơn
4
4. Chức năng
Tùy theo góc độ tiếp cận khác nhau mà nhà nước xã hội chủ nghĩa có các chức năng khác
nhau.
Theo đó, dựa vào phạm vi tác động của quyền lực nhà nước chức năng nhà
nước được chia thành chức năng đối nội và chức năng đối ngoại.
Đối với tác động của quyền lực nhà nước, chức năng nhà nước được chia thành
các chức năng về chính trị, văn hóa, xã hội,...
Đối với tính chất của quyền lực nhà nước, chức năng nhà nước được chia thành
chức năng giai cấp và chức năng xã hội.
4.1. Chức năng đối nội
Chức năng bảo đảm ổn định chính trị, an ninh, an toàn xã hội, bảo vệ các quyền và lợi
ích cơ bản của công dân.
Chức năng bảo đảm ổn định chính trị, an ninh, an toàn hội chức năng đặc biệt quan
trọng của nhà nước XHCN. Nội dung của chức năng này như sau:
Thông qua bộ máy cưỡng chế trong khuôn khổ pháp luật, nhà nước XHCN sử
dụng nhằm ổn định về mặt chính trị, kiên quyết loại trừ mọi hành vi biểu hiện cản
trở sự nghiệp đổi mới và làm sai lệch đường lối đổi mới đúng đắn của Đảng và nhà
nước; trấn áp các phần tử phản động những hành vi chống đối chế độ, xâm
phạm quyền tự do dân chủ và lợi ích hợp pháp của công dân, …
Nhằm bảo vệ trật tự an toàn hội, nhà nước XHCN đã y dựng pháp luật, đổi
mới các quan bảo vệ pháp luật, thực hiện các biện pháp, kết hợp sức mạnh nhà
nước với khả năng của xã hội để ngăn ngừa vi phạm và tội phạm…
Chức năng bảo vệ quyền lợi ích bản của công dân chức năng ý nghĩa
quan trọng của nhà nước XHCN. Bởi việc bảo vệ trật tự hội gắn liền với bảo vệ
quyền và lợi ích của công dân.
Nhà nước XHCN đã ghi nhận quyền nghĩa vụ cơ bản của công dân trong pháp
luật cũng như thực hiện các chế được quy định trong pháp luật một cách hữu
hiệu nhằm bảo vệ quyền lợi ích chính đáng của công dân; tạo mọi điều kiện để
công dân phát huy các quyền tự do của mình xử nghiêm minh mọi hành vi vi
phạm quyền và lợi ích của công dân.
Chức năng tổ chức và quản lý kinh tế
Nhà nước XHCN là tổ chức quyền lực chính trị, đại diện cho ý chí và lợi ích của nhân dân
lao động; người chủ đại diện cho sở hữu toàn dân đối với các liệu sản xuất chủ yếu;
5
có quyền quản lý, kiểm soát việc sử dụng tài sản của quốc gia. Chính vì vậy, chức năng tổ
chức và quản lý kinh tế là chức năng cần thiết với nhà nước XHCN.
Để thực hiện chức năng này, nhà nước XHCN phải nhận thức đúng đắn quy luật khách
quan của nền sản xuất xã hội và nền kinh tế thị trường và phân tích thực trạng kinh tế –
xã hội của đất nước và quốc tế. Từ đó, nhà nước XHCN xây dựng một chiến lược đúng
đắn và một cơ chế quản lý hợp lý với đội ngũ cán bộ công chức có năng lực quản lý và
kinh doanh. Tóm lại, chức năng tổ chức quản lý kinh tế của nhà nước gồm những nội
dung sau:
Xây dựng chiến lược, chương trình phát triển kinh tế làm định hướng cho nền kinh
tế quốc dân phát triển theo định hướng
Xây dựng thực hiện các chính sách tài chính, tiền tệ phù hợp chính sách đầu
hợp lý vào các chương trình, mục tiêu, vùng, lãnh thổ,….
Áp dụng các biện pháp khuyến khích, bảo vệ sản xuất trong nước, chống độc
quyền,
kinh doanh trái phép, tham nhũng, bảo vệ người tiêu dùng,…
Kết hợp với các biện pháp xử hành chính nghiêm minh mọi hành vi vi phạm
pháp luật trong hoạt động kinh doanh nhằm quản lý kinh tế tốt hơn.
Chức năng tổ chức và quản lý văn hóa – xã hội
Chức năng quản lý văn hóa – xã hội phản ánh thuộc tính xã hội của nhà nước
XHCN. Chuyển sang nền kinh tế thị trường, các vấn đề như văn hóa, giáo dục, sức
khỏe, việc làm, … cần phải được giải quyết trong mối quan hệ với sự tăng trưởng kinh
tế.
Nội dung cơ bản của chức năng này là:
Chăm lo sự nghiệp giáo dục đào tạo, coi giáo dục quốc sách hàng đầu của
quốc gia.
Đảm bảo cho sự phát triển khoa học công nghệ với vai trò then chốt trong sự
nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Tạo nhiều việc làm cho người lao động, khuyến khích mở rộng sản xuất để thu hút
nguồn lao động, khuyến khích đào tạo nghề,….
Đầu phát triển sở hạ tầng hệ thống quản chăm sóc sức khỏe cho công
dân.
Xây dựng chính sách về lương, thuế hợp lý nhằm đảm bảo đời sống của người dân.
Thực hiện các biện pháp kiên quyết nhằm giải quyết tệ nạn xã hội.
6
Chức năng kinh tế: Đây chức năng của mọi nhà nước. Nhà nước thực hiện chức năng
này nhằm củng cố và bảo vệ cơ sở tồn tại của nhà nước, ổn định và phát triển kinh tế.
Chức năng hội: Đó toàn bộ hoạt động của nhà nước trong việc tổ chức quản
các vấn đề hội của đời sống như vấn đề về môi trường, giáo dục, y tế, lao động, việc
làm, thu nhập của người dân, phòng chống thiên tai... Đây là các hoạt động góp phần củng
cố bảo vệ lợi ích chung của toàn hội, bảo đảm sự ổn định, phát triển an toàn hài
hoà của toàn xã hội.
Chức năng trấn áp: Trong điều kiện đấu tranh giai cấp, chức năng trấn áp sự phản
kháng của giai cấp bị trị rất cần thiết nhằm bảo vệ sự tồn tại vững chắc của nhà nước,
bảo vệ lợi ích về mọi mặt của giai cấp thống trị.
Chức năng tiến hành chiến tranh xâm lược: Đây chức năng đặc trưng của các nhà
nước chủ nô, nhà nước phong kiến, nhà nước sản giai đoạn chủ nghĩa đế quốc trở về
trước. Các nhà nước đó thực hiện chức năng này nhằm xâm chiếm mở rộng lãnh thổ,
bóc lột nhân dân cũng như áp đặt sự nô dịch đối với các dân tộc khác.
Chức năng bảo vệ trật tự pháp luật, bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của nhân, tổ
chức trong hội: Đây chức ng của các nhà nước nói chung. Thực hiện chức năng
này, nhà nước phải sử dụng nhiều biện pháp, nhất các biện pháp pháp nhằm phòng,
chống tội phạm và các vi phạm pháp luật khác, đảm bảo ổn định, trật tự xã hội, bảo vệ các
quyền, lợi ích hợp pháp của các chủ thể trong xã hội.
4.2. Chức năng đối ngoại
Các chức năng đối ngoại là những mặt hoạt động chủ yếu của nhà nước trong quan hệ với
các quốc gia, dân tộc khác, chẳng hạn chức năng tiến hành chiến tranh xâm lược, chức
năng phòng thủ, bảo vệ đất nước, chức năng thiết lập quan hệ ngoại giao, hợp tác quốc tế.
Chức năng bảo vệ tổ quốc
Chức năng bảo vệ tổ quốc, củng cố quốc phòng để bảo vệ độc lập dân tộc là nhiệm
vụ hàng đầu của các nước XHCN. Bởi thông qua chức năng này nhằm mục đích bảo
vệ chủ quyền quốc gia, bảo đảm hòa bình ổn định đất nước.
Nền quốc phòng của các nước XHCN mang tính chất tự vệ. Tính chất đó thể hiện
trong việc xây dựng các lực lượng vũ trang với đầy đủ sức mạnh cần thiết và khả năng
tác chiến cao sẵn sàng chống lại mọi âm mưu phá hoại, thế lực phản động từ các thế
lực đế quốc.
Chức năng củng cố, mở rộng quan hệ hữu nghị và hợp tác với các nước
7
Mục đích của chức năng này là nhằm mở rộng quan hệ hữu nghị, hợp tác quốc tế
để góp phần vào cuộc đấu tranh chung của nhân dân thế giới vì hòa bình, độc lập dân
tộc, dân chủ và tiến bộ. Nội dung của chức năng này gồm:
Củng cố tăng cường tính đoàn kết, hợp tác, tương trợ lẫn nhau giữa các nước
trên thế giới.
Mở rộng mối quan hệ và hợp tác với các tổ chức quốc tế.
Ủng hộ và góp phần tích cực vào phong trào đấu tranh của nhân dân thế giới vì hòa
bình, độc lập và dân tộc
III. Mối quan hệ giữa dân chủ xã hội chủ nghĩa và nhà
nước xã hội chủ nghĩa
1. Dân chủ xã hội chủ nghĩa là cơ sở, nền tảng cho việc xây dựng và
hoạt động của nhà nước xã hội chủ nghĩa
Trong XHCN, người dân mới có đầy đủ các điều kiện cho việc thực hiện ý chí của mình
thông qua việc lựa chọn công bằng, bình đẳng, những người đại diện cho quyền lợi, lợi
ích chính đáng của mình vào bộ máy nhà nước.
Tích cực tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp vào hoạt động quản lý nhà nước.
Phát huy tốt sức mạnh trí tuệ của nhân dân cho hoạt động của nhà nước
Với tính ưu việt đó, nền dân chủ XHCN sẽ kiểm soát 1 cách có hiệu quả quyền lực của
nhà nước, ngăn chặn được sự tha hóa của quyền lực nhà nước. Ngược lại nếu các nguyên
tắc bị vi phạm thì việc xây dựng nhà nước XHCN cũng không được thực hiện.
Với tư tưởng dân chủ xã hội chủ nghĩa, nhà nước xã hội chủ nghĩa sẽ tạo ra một xã hội
công bằng, với sự tham gia và hưởng lợi của toàn bộ thành viên xã hội. Đây là một hệ
thống mục tiêu cao cả, đòi hỏi sự cam kết và tương tác tích cực giữa nhà nước và người
dân để xây dựng và tiếp tục duy trì một xã hội dân chủ và xã hội chủ nghĩa.
Tuy nhiên, nếu nguyên tắc của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa bị vi phạm, thì việc xây
dựng nhà nước xã hội chủ nghĩa cũng không được thực hiện. Lúc đó, quyền lực nhân dân
sẽ biến thành quyền lực của một nhóm người, phục vụ cho lợi ích của một nhóm người.
Nhà nước xã hội chủ nghĩa có trách nhiệm bảo vệ và thực hiện quyền làm chủ của người
dân.
8
2. Nhà nước xã hội chủ nghĩa là công cụ quan trọng cho việc thực thi
quyền làm chủ của người dân
Một trong những giá trị tiến bộ mà các nhà nước dân xã hội chủ nghĩa đều hướng đến là
quyền làm chủ của nhân dân. Đó là thước đo trình độ phát triển của mỗi quốc gia trong
lịch sử phát triển của nhân loại. Quyền làm chủ của nhân dân được thể hiện dưới nhiều
nội dung khác nhau với những phương diện, cách tiếp cận đa dạng, phong phú. Đó có thể
là quyền làm chủ trực tiếp hoặc quyền làm chủ gián tiếp.
Dân chủ trực tiếp là hình thức dân chủ với những quy chế, thiết chế để nhân dân
biểu quyết, tham gia trực tiếp quyết định công việc của nhà nước.
Dân chủ gián tiếp là hình thức dân chủ thông qua những quy chế, thiết chế để nhân
dân bầu ra những người đại diện thay mặt mình quản lý các công việc chung của
nhà nước.
Bảo đảm quyền làm chủ của nhân dân thông qua cơ chế tự quản địa phương cũng là một
trong những cách thức mà nhiều quốc gia đã và đang thực hiện. Bằng việc thể chế hóa ý
chí của nhân dân thành các hành lang pháp lý, đồng thời là công cụ bạo lực để ngăn chặn
các hành vi xâm phạm đến quyền lợi chân chính đáng của người dân, bảo vệ nền dân chủ
xã hội chủ nghĩa.
Hiến pháp năm 2013 ra đời đã tạo cơ sở pháp lý để ban hành các đạo luật quan trọng
nhằm mở rộng và phát huy dân chủ trực tiếp, như: Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Luật
Công đoàn, Luật Thanh niên, ... Đặc biệt là sau khi Hiến pháp năm 2013 được ban hành,
nhiều văn bản quy phạm pháp luật thuộc nhiều lĩnh vực đã được sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ
hoặc ban hành mới, bao gồm các nội dung về quyền con người, quyền công dân.
Nhà nước là thiết chế có chức năng trực tiếp nhất trong việc thể chế hóa và tổ chức thực
hiện những yêu cầu dân chủ chân chính của nhân dân. Là công cụ sắc bén nhất trong cuộc
đấu tranh với mọi mưu đồ làm ảnh hưởng đến lợi ích của nhân dân; là thiết chế tổ chức có
hiệu quả việc xây dựng xã hội mới; là công cụ hữu hiệu đóng vai trò lãnh đạo Đảng trong
quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội được thực hiện. Do đó, trong hệ thống chính trị xã
hội chủ nghĩa Đảng thì Nhà nước là “trụ cột”, là “một công cụ chủ yếu, vững mạnh” của
nhân dân trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Để xây dựng hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, phát huy quyền làm chủ của nhân
dân là một nhiệm vụ trọng yếu và quyền thuộc về nhân dân, do nhân dân, phục vụ lợi ích
của nhân dân, chứ không phải chỉ cho một thiểu nào. Chúng ta ta phải phát huy vai trò
chủ thể của Đảng, Nhà nước, các tổ chức chính trị - xã hội và nhân dân, nhằm huy động
mọi nguồn lực đẩy nhanh sự nghiệp đổi mới đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
Liên hệ:
9
Thấm nhuần đường lối, tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Việt Nam đã đưa ra được
nhận định: “Mọi đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật và hoạt động của Nhà nước
đều vì lợi ích của nhân dân, lấy hạnh phúc của nhân dân làm mục tiêu phấn đấu”. Nhân
dân là người chủ xã hội, cho nên nhân dân không chỉ có quyền, mà còn có trách nhiệm
tham gia hoạch định, thi hành các chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà
nước.
Theo kim chỉ nam chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, thể chế hóa quan điểm
của Đảng, Hiến pháp Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (được sửa đổi năm
2013) đã bắt đầu có hiệu lực từ 1/1/2014. Trong bản Hiến pháp, nội dung bao trùm nhất là
đề cao quyền lực của nhân dân và quyền làm chủ của nhân dân. Hiến pháp long trọng
tuyên bố: “Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam do nhân dân làm chủ; tất cả quyền
lực nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai
cấp nông dân và đội ngũ trí thức”.
10
Phần kết luận
Giữa nền dân chủ xã hội chủ nghĩa và Nhà nước xã hội chủ nghĩa có mối quan hệ chặt chẽ
và ảnh hưởng lẫn nhau, có tác động lớn đến đời sống chính trị - xã hội của đất nước. Nhà
nước là trụ cột trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Ở Nhà nước xã hội chủ nghĩa Dân chủ là một phạm trù rộng lớn. Trong cuộc sống hiện
đại, người dân càng quan tâm nhiều hơn đến nền dân chủ thực sự. Nhà nước xã hội chủ
nghĩa sẽ tạo ra một xã hội công bằng, với sự tham gia và hưởng lợi của toàn bộ thành viên
xã hội. Đây là một hệ thống mục tiêu cao cả, đòi hỏi sự cam kết và tương tác tích cực giữa
nhà nước và người dân để xây dựng và tiếp tục duy trì một xã hội dân chủ và xã hội chủ
nghĩa. Quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam vẫn đang
tiếp diễn và phải đối mặt với không ít khó khăn, thách thức. Thế nên là một công dân của
nước xã hội chủ nghĩa ta cùng tham gia xây dựng đất nước, tin tưởng rằng, dưới sự lãnh
đạo của Ðảng, với sự nỗ lực phấn đấu bền bỉ của Nhà nước và nhân dân ta, Nhà nước
pháp quyền XHCN của dân, do dân, vì dân sẽ được tiếp tục xây dựng và trở thành hiện
thực ở Việt cũng là một cách thực hiện dân chủ từ tư cách một người công dân.
11
Tài liệu tham khảo
1. Thư viện pháp luật, , Nhà nước là gì? https://thuvienphapluat.vn/hoi-dap-
phap-luat/1D7EE-hd-nha-nuoc-la-gi.html, trích ngày 29/1/2024
2. Bộ Giáo dục và Đào Tạo, Dân chủ Xã hội chủ nghĩa và Nhà nước xã hội chủ
nghĩa, , NXB Chính trị Quốc Gia Sự Giáo trình Chủ nghĩa xã hội khoa học
thật, Hà Nội, trang 143
3. Bộ Giáo dục và Đào Tạo, Dân chủ Xã hội chủ nghĩa và Nhà nước xã hội chủ
nghĩa, Giáo trình Chủ nghĩa xã hội khoa học, NXB Chính trị Quốc Gia Sự
thật, Hà Nội, trang 95.
4. https://bqllang.gov.vn/hien-phap-2013/3428-quyen-lam-chu-cua-nhan-
dan.html
5. https://baomoi.com/bao-dam-thuc-hien-phat-huy-quyen-lam-chu-va-vai-tro-
chu-the-cua-nhan-dan-trong-xay-dung-hoan-thien-nha-nuoc-phap-quyen-xa-
hoi-chu-nghia-viet-nam-c44816734.epi
12

Preview text:

TỔNG LIÊN ĐOÀN LAO ĐỘNG VIỆT NAM
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÔN ĐỨC THẮNG BÀI TIỂU LUẬN
Môn: CHỦ NGHĨA XÃ HỘI KHOA HỌC HỌC KỲ II/2023-2024 ĐỀ TÀI:
SINH VIÊN THỰC HIỆN :Nhóm 06-N21
Nguyễn Thị Tuyết Nhung -72200416 Nguyễn Thành Nhân 62200125 Lê Dương Nghi 72200026 Ngô Khánh Ngọc72200172 Khúc Khánh Ngọc 72200375
Nguyễn Trần Thảo Nhi 62200145 Đinh Hữu Ninh MSSV B2200009
Nguyễn Việt Tiến Phong 62200153 GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN: TP.HCM, Tháng 02 năm 2024 MỤC LỤC M C L Ụ Ụ C
.......................................................................................................................................................1 Lờ i mở đầ u
...................................................................................................................................................2 I.Khái niệ m nhà nướ c
...............................................................................................................................3 II. Nhà n ướ c xã h ộ ủ i ch nghĩa
...............................................................................................................3
1. Khái niệ m nhà nướ c XHCN
..................................................................................................................... 3
2. Sự ra đờ i....................................................................................................................................................... 3
3. Bả n chấ t....................................................................................................................................................... 3 4. Chứ c năng
..................................................................................................................................................... 5
4.1. Chứ c năng đố i nộ i
................................................................................................................................................................. 5 4.2. Ch ứ c năng đố i ngoạ i
............................................................................................................................................................ 7 III. M ố i quan h ệ ữ gi a dân ch ủ xã h ộ ủ i ch nghĩa và nhà n ướ ộ c xã h ủ i ch nghĩa ..............8 1. Dân ch ủ ộ xã hủ i ch nghĩa là c ơ ở ề s , n ả n t ng cho vi ệ c xây d ự ng và ho ạ ộ t đủ ng c a nhà n ướ c xã h ộ ủ i ch nghĩa
.................................................................................................................................. 8 2. Nhà n ướ ộc xã h ủ i ch nghĩa là công c ụ quan tr ọ ng cho vi ệ ự c th c thi quy ề n làm ch ủ ủ c a ngườ i dân
......................................................................................................................................................... 9 Phầ n kế t luậ n
...........................................................................................................................................11 Tài li ệ u tham khả o
..................................................................................................................................12 1 Lời mở đầu
Ý thức về một xã hội công bằng, dân chủ, và bình đẳng đã hiện hữu từ xa xưa trong
lịch sử của loài người. Nó bắt nguồn từ lòng khao khát của những người lao động
mong muốn thoát khỏi sự bóc lột, không công bằng, và đặc quyền, và sự ra đời của
nhà nước xã hội chủ nghĩa là kết quả của cuộc cách mạng được tiến hành bởi giai
cấp vô sản và nhân dân lao động dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản.
Nhà nước xã hội chủ nghĩa được coi là tổ chức quyền lực của nhân dân, đại diện
cho ý chí của họ và thực hiện việc quản lý kinh tế, văn hóa, và xã hội của nhân dân.
Điều này thường được thực hiện dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, mang tính
chất của giai cấp công nhân và sự đại diện cho nhân dân rộng rãi.
Trong một nước theo chế độ dân chủ nhân dân như Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt
Nam, nhà nước xã hội chủ nghĩa là tổ chức pháp quyền, đặt dưới sự lãnh đạo của
Đảng Cộng sản Việt Nam. Vì vậy, việc nắm vững kiến thức về nhà nước xã hội chủ
nghĩa là cần thiết để nhận biết và khẳng định tính tiến bộ của chế độ dân chủ xã hội
chủ nghĩa, cũng như sẵn sàng thừa kế và phát triển công việc xây dựng chủ nghĩa
xã hội từ thế hệ trước. 2 I.Khái niệm nhà nước
Nhà nước là tổ chức quyền lực, chính trị của xã hội có giai cấp, có lãnh thổ, dân cư
và chính quyền độc lập, có khả năng đặt ra và thực thi pháp luật nhằm thiết lập trật
tự xã hội nhất định trong phạm vi lãnh thổ của mình.
II. Nhà nước xã hội chủ nghĩa
1. Khái niệm nhà nước XHCN
Nhà nước xã hội chủ nghĩa là một kiểu nhà nước mà ở đó, sự thống trị chính trị thuộc về
giai cấp công nhân, do cách mạng xã hội chủ nghĩa sản sinh ra và có sứ mệnh xây dựng
thành công chủ nghĩa xã hội, đưa nhân dân lao động lên địa vị làm chủ trên tất cả các mặt
của đời sống xã hội trong một xã hội phát triển cao - xã hội xã hội chủ nghĩa. 2. Sự ra đời
Năm 1917 nhà nước xã hội chủ nghĩa đầu tiên ra đời, năm 1924 thành lập Liên bang Cộng
hòa xã hội chủ nghĩa Xô Viết, bao gồm 15 nước cộng hoà được thành lập. Sau Đại chiến
thế giới thứ lI (sau năm 1945), hệ thống xã hội chủ nghĩa ra đời.
Nhà nước xã hội chủ nghĩa là kết quả của cuộc cách mạng do giai cấp vô sản và nhân dân
lao động tiến hành dưới sự lãnh đạo của đảng Cộng sản. Đây là nhà nước của số đông và
nhân dân lao động sẽ làm chủ nhà nước, người dân có quyền tham gia đóng góp xây dựng đất nước.
Nhà nước xã hội chủ nghĩa là nhà nước mà ở đó sự thống trị chính trị thuộc về giai cấp
công nhân do cách mạng xã hội chủ nghĩa sinh ra và có sứ mệnh xây dựng thành công chủ
nghĩa xã hội, đưa nhân dân lao động đến địa vị làm chủ trên tất cả các mặt của đời sống
xã hội trong một xã hội phát triển cao- xã hội chủ nghĩa. 3. Bản chất Về chính trị
Nhà nước xã hội chủ nghĩa mang bản chất của giai cấp công nhân, giai cấp có lợi ích phù
hợp với lợi ích chung của quần chúng nhân dân lao động. Giai cấp vô sản là lực lượng giữ
địa vị thống trị về chính trị. Tuy nhiên, sự thống trị của giai cấp vô sản có sự khác biệt về
chất so với sự thống trị của giai cấp bóc lột. Sự thống trị của giai cấp bóc lột là sự thống 3
trị nhằm bảo vệ và duy trì địa vị của mình. Còn sự thống trị về chính trị của giai cấp vô
sản là sự thống trị nhằm giải phóng giai cấp mình và giải phóng tất cả các tầng lớp nhân
dân lao động khác trong xã hội. Về kinh tế
Chịu sự quy định của cơ sở kinh tế của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa là chế độ sở hữu xã
hội về những tư liệu sản xuất chủ yếu nhằm đáp ứng những nhu cầu ngày càng cao của
lực lượng sản xuất dựa trên sự phát triển của khoa học kỹ thuật - công nghệ hiện đại.
Sự khác biệt giữa bản chất kinh tế của các nhà nước bóc lột khác với nhà nước chủ nghĩa
xã hội đó được thể hiện qua việc quan hệ sản xuất bóc lột đã được loại bỏ. Nếu tất cả các
nhà nước bóc lột khác trong lịch sử đều là bộ máy của kẻ bóc lột chiếm thiểu số dùng để
trấn áp đại đa số người lao động. Thì ngược lại nhà nước xã hội chủ nghĩa vừa là một bộ
máy chính trị - hành chính, cơ quan cưỡng chế, vừa là một tổ chức quản lý kinh kinh tế -
xã hội của nhân dân lao động. Dường như nó đã không còn là nhà nước theo đúng nghĩa
mà chỉ là “nửa nhà nước”. Giờ đây, việc chăm lo cho lợi ích của đại đa số nhân dân lao
động đã được đặt thành mục tiêu hàng đầu của nhà nước xã hội chủ nghĩa.
Và đặc biệt, so với nhà nước dân chủ tư sản thì nhà nước xã hội chủ nghĩa còn đảm bảo
cho người lao động nhận được sự bình đẳng khi thực hiện chế độ công hữu về tư liệu sản
xuất chủ yếu và chế độ phân phối lợi ích theo kết quả lao động là chủ yếu. Về văn hóa xã hội
Dựa trên hệ tư tưởng Mác - Lênin và hệ tư tưởng của giai cấp công nhân, Nhà nước xã
hội chủ nghĩa đã được xây dựng nên. Đồng thời nó cũng kế thừa và phát huy những tinh
hoa văn hoá truyền thống của dân tộc, những tư tưởng tiến bộ, văn minh mà nhân loại đã
tạo ra. Để từ đó, sự phân hoá giữa các giữa các giai cấp được thu hẹp, tạo sự bình đẳng
trong việc tiếp cận các nguồn lực và cơ hội để phát triển.
Khi đến một mức phát triển nào đó, khi nhà nước xã hội chủ nghĩa ngày càng được phát
triển và mở rộng, cơ sở cho sự tồn tại của nó không còn thì nhà nước xã hội chủ nghĩa
cũng sẽ tự tiêu vong và chuyển sang một hệ thôngs nhà nước khác phù hợp hơn 4 4. Chức năng
Tùy theo góc độ tiếp cận khác nhau mà nhà nước xã hội chủ nghĩa có các chức năng khác nhau.
Theo đó, dựa vào phạm vi tác động của quyền lực nhà nước mà chức năng nhà
nước được chia thành chức năng đối nội và chức năng đối ngoại.
Đối với tác động của quyền lực nhà nước, chức năng nhà nước được chia thành
các chức năng về chính trị, văn hóa, xã hội,...
Đối với tính chất của quyền lực nhà nước, chức năng nhà nước được chia thành
chức năng giai cấp và chức năng xã hội. 4.1. Chức năng đối nội
Chức năng bảo đảm ổn định chính trị, an ninh, an toàn xã hội, bảo vệ các quyền và lợi
ích cơ bản của công dân.
Chức năng bảo đảm ổn định chính trị, an ninh, an toàn xã hội là chức năng đặc biệt quan
trọng của nhà nước XHCN. Nội dung của chức năng này như sau:
Thông qua bộ máy cưỡng chế trong khuôn khổ pháp luật, nhà nước XHCN sử
dụng nhằm ổn định về mặt chính trị, kiên quyết loại trừ mọi hành vi biểu hiện cản
trở sự nghiệp đổi mới và làm sai lệch đường lối đổi mới đúng đắn của Đảng và nhà
nước; trấn áp các phần tử phản động có những hành vi chống đối chế độ, xâm
phạm quyền tự do dân chủ và lợi ích hợp pháp của công dân, …
Nhằm bảo vệ trật tự an toàn xã hội, nhà nước XHCN đã xây dựng pháp luật, đổi
mới các cơ quan bảo vệ pháp luật, thực hiện các biện pháp, kết hợp sức mạnh nhà
nước với khả năng của xã hội để ngăn ngừa vi phạm và tội phạm…
Chức năng bảo vệ quyền và lợi ích cơ bản của công dân là chức năng có ý nghĩa
quan trọng của nhà nước XHCN. Bởi việc bảo vệ trật tự xã hội gắn liền với bảo vệ
quyền và lợi ích của công dân.
Nhà nước XHCN đã ghi nhận quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân trong pháp
luật cũng như thực hiện các cơ chế được quy định trong pháp luật một cách hữu
hiệu nhằm bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của công dân; tạo mọi điều kiện để
công dân phát huy các quyền tự do của mình và xử lý nghiêm minh mọi hành vi vi
phạm quyền và lợi ích của công dân.
Chức năng tổ chức và quản lý kinh tế
Nhà nước XHCN là tổ chức quyền lực chính trị, đại diện cho ý chí và lợi ích của nhân dân
lao động; là người chủ đại diện cho sở hữu toàn dân đối với các tư liệu sản xuất chủ yếu; 5
có quyền quản lý, kiểm soát việc sử dụng tài sản của quốc gia. Chính vì vậy, chức năng tổ
chức và quản lý kinh tế là chức năng cần thiết với nhà nước XHCN.
Để thực hiện chức năng này, nhà nước XHCN phải nhận thức đúng đắn quy luật khách
quan của nền sản xuất xã hội và nền kinh tế thị trường và phân tích thực trạng kinh tế –
xã hội của đất nước và quốc tế. Từ đó, nhà nước XHCN xây dựng một chiến lược đúng
đắn và một cơ chế quản lý hợp lý với đội ngũ cán bộ công chức có năng lực quản lý và
kinh doanh. Tóm lại, chức năng tổ chức quản lý kinh tế của nhà nước gồm những nội dung sau:
Xây dựng chiến lược, chương trình phát triển kinh tế làm định hướng cho nền kinh
tế quốc dân phát triển theo định hướng
Xây dựng và thực hiện các chính sách tài chính, tiền tệ phù hợp và chính sách đầu
tư hợp lý vào các chương trình, mục tiêu, vùng, lãnh thổ,….
Áp dụng các biện pháp khuyến khích, bảo vệ sản xuất trong nước, chống độc quyền,
kinh doanh trái phép, tham nhũng, bảo vệ người tiêu dùng,…
Kết hợp với các biện pháp xử lý hành chính nghiêm minh mọi hành vi vi phạm
pháp luật trong hoạt động kinh doanh nhằm quản lý kinh tế tốt hơn.
Chức năng tổ chức và quản lý văn hóa – xã hội
Chức năng quản lý văn hóa – xã hội phản ánh thuộc tính xã hội của nhà nước
XHCN. Chuyển sang nền kinh tế thị trường, các vấn đề như văn hóa, giáo dục, sức
khỏe, việc làm, … cần phải được giải quyết trong mối quan hệ với sự tăng trưởng kinh tế.
Nội dung cơ bản của chức năng này là:
Chăm lo sự nghiệp giáo dục và đào tạo, coi giáo dục là quốc sách hàng đầu của quốc gia.
Đảm bảo cho sự phát triển khoa học và công nghệ với vai trò then chốt trong sự
nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Tạo nhiều việc làm cho người lao động, khuyến khích mở rộng sản xuất để thu hút
nguồn lao động, khuyến khích đào tạo nghề,….
Đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng và hệ thống quản lý chăm sóc sức khỏe cho công dân.
Xây dựng chính sách về lương, thuế hợp lý nhằm đảm bảo đời sống của người dân.
Thực hiện các biện pháp kiên quyết nhằm giải quyết tệ nạn xã hội. 6
Chức năng kinh tế: Đây là chức năng của mọi nhà nước. Nhà nước thực hiện chức năng
này nhằm củng cố và bảo vệ cơ sở tồn tại của nhà nước, ổn định và phát triển kinh tế.
Chức năng xã hội: Đó là toàn bộ hoạt động của nhà nước trong việc tổ chức và quản lí
các vấn đề xã hội của đời sống như vấn đề về môi trường, giáo dục, y tế, lao động, việc
làm, thu nhập của người dân, phòng chống thiên tai... Đây là các hoạt động góp phần củng
cố và bảo vệ lợi ích chung của toàn xã hội, bảo đảm sự ổn định, phát triển an toàn và hài hoà của toàn xã hội.
Chức năng trấn áp: Trong điều kiện có đấu tranh giai cấp, chức năng trấn áp sự phản
kháng của giai cấp bị trị là rất cần thiết nhằm bảo vệ sự tồn tại vững chắc của nhà nước,
bảo vệ lợi ích về mọi mặt của giai cấp thống trị.
Chức năng tiến hành chiến tranh xâm lược: Đây là chức năng đặc trưng của các nhà
nước chủ nô, nhà nước phong kiến, nhà nước tư sản giai đoạn chủ nghĩa đế quốc trở về
trước. Các nhà nước đó thực hiện chức năng này nhằm xâm chiếm và mở rộng lãnh thổ,
bóc lột nhân dân cũng như áp đặt sự nô dịch đối với các dân tộc khác.
Chức năng bảo vệ trật tự pháp luật, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ
chức trong xã hội: Đây là chức năng của các nhà nước nói chung. Thực hiện chức năng
này, nhà nước phải sử dụng nhiều biện pháp, nhất là các biện pháp pháp lí nhằm phòng,
chống tội phạm và các vi phạm pháp luật khác, đảm bảo ổn định, trật tự xã hội, bảo vệ các
quyền, lợi ích hợp pháp của các chủ thể trong xã hội.
4.2. Chức năng đối ngoại
Các chức năng đối ngoại là những mặt hoạt động chủ yếu của nhà nước trong quan hệ với
các quốc gia, dân tộc khác, chẳng hạn chức năng tiến hành chiến tranh xâm lược, chức
năng phòng thủ, bảo vệ đất nước, chức năng thiết lập quan hệ ngoại giao, hợp tác quốc tế.
Chức năng bảo vệ tổ quốc
Chức năng bảo vệ tổ quốc, củng cố quốc phòng để bảo vệ độc lập dân tộc là nhiệm
vụ hàng đầu của các nước XHCN. Bởi thông qua chức năng này nhằm mục đích bảo
vệ chủ quyền quốc gia, bảo đảm hòa bình ổn định đất nước.
Nền quốc phòng của các nước XHCN mang tính chất tự vệ. Tính chất đó thể hiện
trong việc xây dựng các lực lượng vũ trang với đầy đủ sức mạnh cần thiết và khả năng
tác chiến cao sẵn sàng chống lại mọi âm mưu phá hoại, thế lực phản động từ các thế lực đế quốc.
Chức năng củng cố, mở rộng quan hệ hữu nghị và hợp tác với các nước 7
Mục đích của chức năng này là nhằm mở rộng quan hệ hữu nghị, hợp tác quốc tế
để góp phần vào cuộc đấu tranh chung của nhân dân thế giới vì hòa bình, độc lập dân
tộc, dân chủ và tiến bộ. Nội dung của chức năng này gồm:
Củng cố và tăng cường tính đoàn kết, hợp tác, tương trợ lẫn nhau giữa các nước trên thế giới.
Mở rộng mối quan hệ và hợp tác với các tổ chức quốc tế.
Ủng hộ và góp phần tích cực vào phong trào đấu tranh của nhân dân thế giới vì hòa
bình, độc lập và dân tộc
III. Mối quan hệ giữa dân chủ xã hội chủ nghĩa và nhà nước xã hội chủ nghĩa
1. Dân chủ xã hội chủ nghĩa là cơ sở, nền tảng cho việc xây dựng và
hoạt động của nhà nước xã hội chủ nghĩa
Trong XHCN, người dân mới có đầy đủ các điều kiện cho việc thực hiện ý chí của mình
thông qua việc lựa chọn công bằng, bình đẳng, những người đại diện cho quyền lợi, lợi
ích chính đáng của mình vào bộ máy nhà nước.
Tích cực tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp vào hoạt động quản lý nhà nước.
Phát huy tốt sức mạnh trí tuệ của nhân dân cho hoạt động của nhà nước
Với tính ưu việt đó, nền dân chủ XHCN sẽ kiểm soát 1 cách có hiệu quả quyền lực của
nhà nước, ngăn chặn được sự tha hóa của quyền lực nhà nước. Ngược lại nếu các nguyên
tắc bị vi phạm thì việc xây dựng nhà nước XHCN cũng không được thực hiện.
Với tư tưởng dân chủ xã hội chủ nghĩa, nhà nước xã hội chủ nghĩa sẽ tạo ra một xã hội
công bằng, với sự tham gia và hưởng lợi của toàn bộ thành viên xã hội. Đây là một hệ
thống mục tiêu cao cả, đòi hỏi sự cam kết và tương tác tích cực giữa nhà nước và người
dân để xây dựng và tiếp tục duy trì một xã hội dân chủ và xã hội chủ nghĩa.
Tuy nhiên, nếu nguyên tắc của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa bị vi phạm, thì việc xây
dựng nhà nước xã hội chủ nghĩa cũng không được thực hiện. Lúc đó, quyền lực nhân dân
sẽ biến thành quyền lực của một nhóm người, phục vụ cho lợi ích của một nhóm người.
Nhà nước xã hội chủ nghĩa có trách nhiệm bảo vệ và thực hiện quyền làm chủ của người dân. 8
2. Nhà nước xã hội chủ nghĩa là công cụ quan trọng cho việc thực thi
quyền làm chủ của người dân
Một trong những giá trị tiến bộ mà các nhà nước dân xã hội chủ nghĩa đều hướng đến là
quyền làm chủ của nhân dân. Đó là thước đo trình độ phát triển của mỗi quốc gia trong
lịch sử phát triển của nhân loại. Quyền làm chủ của nhân dân được thể hiện dưới nhiều
nội dung khác nhau với những phương diện, cách tiếp cận đa dạng, phong phú. Đó có thể
là quyền làm chủ trực tiếp hoặc quyền làm chủ gián tiếp.
Dân chủ trực tiếp là hình thức dân chủ với những quy chế, thiết chế để nhân dân
biểu quyết, tham gia trực tiếp quyết định công việc của nhà nước.
Dân chủ gián tiếp là hình thức dân chủ thông qua những quy chế, thiết chế để nhân
dân bầu ra những người đại diện thay mặt mình quản lý các công việc chung của nhà nước.
Bảo đảm quyền làm chủ của nhân dân thông qua cơ chế tự quản địa phương cũng là một
trong những cách thức mà nhiều quốc gia đã và đang thực hiện. Bằng việc thể chế hóa ý
chí của nhân dân thành các hành lang pháp lý, đồng thời là công cụ bạo lực để ngăn chặn
các hành vi xâm phạm đến quyền lợi chân chính đáng của người dân, bảo vệ nền dân chủ xã hội chủ nghĩa.
Hiến pháp năm 2013 ra đời đã tạo cơ sở pháp lý để ban hành các đạo luật quan trọng
nhằm mở rộng và phát huy dân chủ trực tiếp, như: Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Luật
Công đoàn, Luật Thanh niên, ... Đặc biệt là sau khi Hiến pháp năm 2013 được ban hành,
nhiều văn bản quy phạm pháp luật thuộc nhiều lĩnh vực đã được sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ
hoặc ban hành mới, bao gồm các nội dung về quyền con người, quyền công dân.
Nhà nước là thiết chế có chức năng trực tiếp nhất trong việc thể chế hóa và tổ chức thực
hiện những yêu cầu dân chủ chân chính của nhân dân. Là công cụ sắc bén nhất trong cuộc
đấu tranh với mọi mưu đồ làm ảnh hưởng đến lợi ích của nhân dân; là thiết chế tổ chức có
hiệu quả việc xây dựng xã hội mới; là công cụ hữu hiệu đóng vai trò lãnh đạo Đảng trong
quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội được thực hiện. Do đó, trong hệ thống chính trị xã
hội chủ nghĩa Đảng thì Nhà nước là “trụ cột”, là “một công cụ chủ yếu, vững mạnh” của
nhân dân trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Để xây dựng hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, phát huy quyền làm chủ của nhân
dân là một nhiệm vụ trọng yếu và quyền thuộc về nhân dân, do nhân dân, phục vụ lợi ích
của nhân dân, chứ không phải chỉ cho một thiểu nào. Chúng ta ta phải phát huy vai trò
chủ thể của Đảng, Nhà nước, các tổ chức chính trị - xã hội và nhân dân, nhằm huy động
mọi nguồn lực đẩy nhanh sự nghiệp đổi mới đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Liên hệ: 9
Thấm nhuần đường lối, tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Việt Nam đã đưa ra được
nhận định: “Mọi đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật và hoạt động của Nhà nước
đều vì lợi ích của nhân dân, lấy hạnh phúc của nhân dân làm mục tiêu phấn đấu”. Nhân
dân là người chủ xã hội, cho nên nhân dân không chỉ có quyền, mà còn có trách nhiệm
tham gia hoạch định, thi hành các chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước.
Theo kim chỉ nam chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, thể chế hóa quan điểm
của Đảng, Hiến pháp Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (được sửa đổi năm
2013) đã bắt đầu có hiệu lực từ 1/1/2014. Trong bản Hiến pháp, nội dung bao trùm nhất là
đề cao quyền lực của nhân dân và quyền làm chủ của nhân dân. Hiến pháp long trọng
tuyên bố: “Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam do nhân dân làm chủ; tất cả quyền
lực nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai
cấp nông dân và đội ngũ trí thức”. 10 Phần kết luận
Giữa nền dân chủ xã hội chủ nghĩa và Nhà nước xã hội chủ nghĩa có mối quan hệ chặt chẽ
và ảnh hưởng lẫn nhau, có tác động lớn đến đời sống chính trị - xã hội của đất nước. Nhà
nước là trụ cột trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Ở Nhà nước xã hội chủ nghĩa Dân chủ là một phạm trù rộng lớn. Trong cuộc sống hiện
đại, người dân càng quan tâm nhiều hơn đến nền dân chủ thực sự. Nhà nước xã hội chủ
nghĩa sẽ tạo ra một xã hội công bằng, với sự tham gia và hưởng lợi của toàn bộ thành viên
xã hội. Đây là một hệ thống mục tiêu cao cả, đòi hỏi sự cam kết và tương tác tích cực giữa
nhà nước và người dân để xây dựng và tiếp tục duy trì một xã hội dân chủ và xã hội chủ
nghĩa. Quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam vẫn đang
tiếp diễn và phải đối mặt với không ít khó khăn, thách thức. Thế nên là một công dân của
nước xã hội chủ nghĩa ta cùng tham gia xây dựng đất nước, tin tưởng rằng, dưới sự lãnh
đạo của Ðảng, với sự nỗ lực phấn đấu bền bỉ của Nhà nước và nhân dân ta, Nhà nước
pháp quyền XHCN của dân, do dân, vì dân sẽ được tiếp tục xây dựng và trở thành hiện
thực ở Việt cũng là một cách thực hiện dân chủ từ tư cách một người công dân. 11 Tài liệu tham khảo
1. Thư viện pháp luật, Nhà nước là gì?, https://thuvienphapluat.vn/hoi-dap-
phap-luat/1D7EE-hd-nha-nuoc-la-gi.html, trích ngày 29/1/2024
2. Bộ Giáo dục và Đào Tạo, Dân chủ Xã hội chủ nghĩa và Nhà nước xã hội chủ
nghĩa, Giáo trình Chủ nghĩa xã hội khoa học, NXB Chính trị Quốc Gia Sự thật, Hà Nội, trang 143
3. Bộ Giáo dục và Đào Tạo, Dân chủ Xã hội chủ nghĩa và Nhà nước xã hội chủ
nghĩa, Giáo trình Chủ nghĩa xã hội khoa học, NXB Chính trị Quốc Gia Sự thật, Hà Nội, trang 95. 4. https://bqllang.gov
.vn/hien-phap-2013/3428-quyen-lam-chu-cua-nhan- dan.html
5. https://baomoi.com/bao-dam-thuc-hien-phat-huy-quyen-lam-chu-va-vai-tro-
chu-the-cua-nhan-dan-trong-xay-dung-hoan-thien-nha-nuoc-phap-quyen-xa-
hoi-chu-nghia-viet-nam-c44816734.epi 12