



















Preview text:
lOMoAR cPSD| 58707906 Nhóm 7 Danh sách thành viên Điểm cá nhân so MSV Họ tên Nhiệm vụ với điểm nhóm 11212644 Trần Quang Huy Nguồn vốn nhà nước + 0
11215518 Phạm Tiến Thịnh
Nguồn vốn tiết kiệm doanh nghiệp + 0
11218190 Nguyễn Thái Hoàng Nguốn vốn tiết kiệm dân cư + 0
11218177 Nguyễn Đức Chính
• Chuyển dịch cơ cấu nguồn vốn VN 2016 - 2021 + 1
• Tổng hợp nội dung, chia nhiệm vụ • Viết bài hoàn chỉnh Chủ đề:
Vai trò của nguồn vốn trong nước đối với sự PT của các quốc gia đang PT. Phân tích sự dịch chuyển
về cơ cấu nguồn vốn trong nước tại Việt Nam giai đoạn 2016 - 2021. lOMoAR cPSD| 58707906 Mục lục
Mục lục ......................................................................... Error! Bookmark not defined.
Mở đầu ............................................................................................................................ 3
I. Khái quát về nguồn vốn đầu tư trong nước ................................................................ 4
1. Nguồn vốn nhà nước: ............................................................................................ 4
Vốn ngân sách nhà nước: ....................................................................................... 5
Nguồn vốn tín dụng đầu tư phát triển của nhà nước: ............................................ 6
Nguồn vốn đầu tư của các doanh nghiệp nhà nước: .............................................. 7
2. Nguồn vốn của doanh nghiệp tư nhân .................................................................... 7
3. Nguồn vốn tiết kiệm dân cư.................................................................................... 8
II. Vai trò của nguồn vốn đầu tư trong nước đối với sự phát triển của một quốc gia đang
phát triển ....................................................................................................................... 10
III. Sự dịch chuyển về cơ cấu nguồn vốn trong nước tại Việt Nam giai đoạn 2016 -
2021 .............................................................................................................................. 16
1. Phân tích sự chuyển dịch cơ cấu nguồn vốn trong nước (6 đặc điểm) ................ 16
2. Đánh giá kết quả của chuyển dịch cơ cấu nguồn vốn: ........................................ 20
Kết luận ........................................................................................................................ 25
Tài liệu tham khảo ........................................................................................................ 25 lOMoAR cPSD| 58707906 Mở đầu
Vốn trong nước là một trong những yếu tố kinh tế quan trọng nhất có ảnh hưởng trực
tiếp tới sự tăng trưởng kinh tế và là "đầu tàu” duy trì và thúc đẩy hoạt động của bộ
máy kinh tế. Bên cạnh đó, vốn trong nước có mối quan hệ mật thiết với các biến số vĩ
mô - điều mà các đất nước, đặc biệt là các nước đang phát triển - phải lấy làm cơ sở
để định hướng hoạt động đầu tư, tạo môi trường phù hợp cho phát triển kinh tế-xã hội.
Vốn trong nước - với vốn nhà nước đóng vai trò chủ đạo, theo sau là vốn tiết kiệm tư
nhân và dân cư - là nguồn lực đóng góp chủ yếu vào hoạt động xây dựng cơ sở hạ
tầng, đường xá, năng lượng hay các hoạt động phát triển xã hội ở các lĩnh vực như
giáo dục, y tế, du lịch…Với quy mô lớn và ổn định, vốn trong nước là trụ cột vững
chắc giúp đảm bảo nền kinh tế phát triển bền vững, toàn diện giữa các vùng và các
ngành khác nhau cũng như giải quyết các vấn đề về lạm phát, việc làm, đồng thời
đóng góp quan trọng vào tăng trưởng GDP, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế và
còn có khả năng thu hút và kiểm soát nguồn vốn nước ngoài để tạo “cú huých” cho nền kinh tế.
Từ một nền kinh tế lúa nước lạc hậu với khoảng 90% lao động làm nông nghiệp, sau
35 năm đổi mới và đặc biệt là sau khi gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới, nền
kinh tế Việt Nam đã có chuyển dịch tích cực theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại
hóa và đạt được một số thành tựu quan trọng như: Kinh tế liên tục tăng trưởng, tỷ lệ
thất nghiệp giảm và lạm phát được kiểm soát trong giới hạn cho phép... lOMoAR cPSD| 58707906
Kết quả chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế mà Việt Nam đạt được ở do có sự phù hợp
của cơ cấu đầu tư, đặc biệt là cơ cấu đầu tư theo nguồn vốn với từng giai đoạn phát
triển của nền kinh tế - xã hội của một nước đang phát triển.
Vì vậy việc nhận thức rõ được vai trò tổng hợp của nguồn vốn trong nước cũng như xu
hướng vận động của thành phần tạo nên nguồn vốn trong nước ở từng giai đoạn trong
quá trình chuyển đổi cơ cấu nguồn vốn của một nước đang phát triển là vô cùng quan
trọng. Hơn nữa đây là những kiến thức áp dụng cần thiết đối cho sinh viên để có thể
đóng góp tích cực vào mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam.
I. Khái quát về nguồn vốn đầu tư trong nước
Nguồn vốn đầu tư trong nước là phần tích luỹ của nội bộ nền kinh tế bao gồm
tiết kiệm của khu vực dân cư, các tổ chức kinh tế, các doanh nghiệp và tiết kiệm của
chính phủ được huy động vào quá trình tái sản xuất của xã hội nhằm duy trì tiềm lực
sẵn có và tạo ra tiềm lực mới cho nền sản xuất xã hội.
Biểu hiện cụ thể của nguồn vốn đầu tư trong nước bao gồm nguồn vốn đầu tư
nhà nước và nguồn vốn của dân cư và tư nhân.
1. Nguồn vốn nhà nước:
Nguồn vốn đầu tư của nhà nước bao gồm nguồn vốn của ngân sách nhà nước, nguồn
vốn tín dụng đầu tư phát triển của nhà nước và nguồn vốn đầu tư phát triển của doanh nghiệp nhà nước.
Trong cơ cấu đầu tư toàn xã hội, nguồn vốn đầu tư của nhà nước có một vị trí khá quan
trọng. Bình quân giai đoạn 2001-2010, chiếm 45.7% tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã
hội. Nguồn vốn đầu tư của khu vực nhà nước bao gồm các nguồn chính là: nguồn vốn
đầu tư từ ngân sách nhà nước (NSNN), nguồn vốn đầu tư tín dụng Nhà nước, nguồn
vốn đầu tư từ các doanh nghiệp nhà nước (DNNN), trong đó nguồn vốn đầu tư của
NSNN và từ các DNNN chiếm trên 75% nguồn vốn đầu tư của nhà nước. lOMoAR cPSD| 58707906
Vốn ngân sách nhà nước:
Đây chính là nguồn chi của ngân sách nhà nước cho đầu tư. Đó chính là một nguồn vốn
đầu tư quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia. Nguồn
vốn này thường được sử dụng cho các dự án kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, quốc phòng
an ninh, hỗ trợ các dự án của doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực cần có sự tham gia của
nhà nước, chi cho công tác lập và thực hiện dự án quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế
xã hội vùng, lãnh thổ, quy hoạch xây dựng đô thị và nông thôn.
Trong những năm gần đây, cùng với sự tăng trưởng nói chung của nền kinh tế quy mô
tổng thu ngân sách nhà nước không ngừng gia tăng nhờ mở rộng nhiều nguồn thu khác
nhau (huy động qua thuế, phí, bán tài nguyên, bán hay cho thuê tài sản thuộc sở hữu
nhà nước…). Đi cùng với sự mở rộng quy mô ngân sách, mức chi cho đầu tư phát triển
từ ngân sách nhà nước cũng gia tăng đáng kể. Tổng thu ngân sách nhà nước trong giai
đoạn 2001-2010 tăng bình quân 15%, tỷ lệ huy động vào ngân sách nhà nước bình quân
hàng năm đạt gần 23% GDP. Nguồn thu ổn định từ sản xuất trong nước đã bước đầu
dần dần tăng. Tổng chi ngân sách nhà nước tăng bình quân 14,9%. Tỷ lệ chi ngân sách
nhà nước đạt bình quân 30,2% tổng chi ngân sách nhà nước. Tính chung cho giai đoạn
2001-2010, vốn đầu tư từ NSNN chiếm khoảng 51% tổng vốn đầu tư của khu vực nhà
nước và bằng khoảng 23% tổng vốn đầu tư toàn xã hội. Tính theo tỷ lệ trên GDP, vốn
đầu tư từ NSNN trong giai đoạn 2001-2010 lên đến khoảng 9,45%, bao gồm cả nguồn
vốn trái phiếu chính phủ.
Từ năm 2003, để tăng thêm nguồn vốn đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng, việc đầu tư từ
nguồn trái phiếu được triển khai thực hiện. Đối tượng được đầu tư bằng nguồn trái phiếu
Chính phủ là một số dự án quan trọng, thiết yếu thuộc các lĩnh vực giao thông, thuỷ lợi,
y tế, giáo dục và các dự án quan trọng đối với nền kinh tế, cần đầu tư song chưa thể cân
đối trong kế hoạch đầu tư hàng năm. Bình quân giai đoạn 2006-2010, tổng nguồn vốn
trái phiếu chính phủ thực hiện ước tính bằng khoảng 5,5% tổng vốn đầu tư toàn xã hội.
Trong những năm tiếp theo, vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước có xu hướng gia tăng về
giá trị tuyệt đối nhưng giảm về tỷ trọng trong tổng vốn đầu tư toàn xã hội lOMoAR cPSD| 58707906
Nguồn vốn tín dụng đầu tư phát triển của nhà nước:
Cùng với quá trình đổi mới và mở cửa, tín dụng đầu tư phát triển của nhà nước ngày
càng đóng vai trò đáng kể trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội. Nếu như trước
năm 1990, vốn tín dụng đầu tư phát triển của nhà nước chưa được sử dụng như một
công cụ quản lý, điều tiết nền kinh tế thì trong giai đoạn 1991-2000, nguồn vốn này đã
có mức tăng trưởng đáng kể và bắt đầu có vị trí quan trọng trong chính sách đầu tư của nhà nước.
Vốn tín dụng đầu tư giai đoạn 2001-2010 ước chiếm khoảng 22.6% tổng vốn đầu tư từ
khu vực Nhà nước, tương đương khoảng 4,2% GDP. Nguồn vốn tín dụng nhà nước
trong thời gian qua đã được tập trng hỗ trợ cho các doanh nghiệp thực hiện dự án đầu
tư, hỗ trợ tín dụng xuất khẩu, xúc tiến đầu tư, phát triển các ngành then chốt như đóng
tàu, điện, nước… nhằm góp phần nâng cao tiềm lực của doanh nghiệp, nâng cao khả
năng cạnh tranh của nền kinh tế.
Nguồn vốn tín dụng đầu tư phát triển của nhà nước có tác dụng tích cực trong việc giảm
đáng kể bao cấp vốn trực tiếp của nhà nước. Với cơ chế tín dụng, các đơn vị sử dụng
nguồn vốn này phải đảm bảo nguyên tắc hoàn trả vốn vay. Chủ đầu tư là người vay vốn
phải tính kỹ hiệu quả đầu tư, sử dụng vốn tiết kiệm hơn. Vốn tín dụng đầu tư phát triển
của nhà nước là một hình thức quá độ chuyển từ phương thức cấp phát vốn ngân sách
sang phương thức tín dụng đối với các dự án có khả năng thu hồi vốn trực tiếp.
Bên cạnh đó, vốn tín dụng đầu tư phát triển của nhà nước còn phục vụ công tác quản lý
và điều tiết kinh tế vĩ mô. Thông qua nguồn tín dụng đầu tư, nhà nước thực hiện việc
khuyến khích phát triển kinh tế xã hội của ngành, vùng, lĩnh vực theo định hướng chiến
lược của mình. Đứng ở khía cạnh là công cụ điều tiết vĩ mô, nguồn vốn này không chỉ
thực hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế mà còn thực hiện cả mục tiêu phát triển xã hội.
Việc phân bổ và sử dụng vốn tín dụng đầu tư còn khuyến khích phát triển những vùng
kinh tế khó khăn, giải quyết các vấn đề xã hội như xoá đói, giảm nghèo. Và trên hết,
nguồn vốn tín dụng đầu tư phát triển của nhà nước có tác dụng tích cực trong việc
chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá - hiện đại hoá. lOMoAR cPSD| 58707906
Nguồn vốn đầu tư của các doanh nghiệp nhà nước:
Nguồn vốn này chủ yếu bao gồm từ khấu hao tài sản cố định và thu nhập giữ lại tại
doanh nghiệp nhà nước. Theo Bộ Kế hoạch và Đầu tư, thông thường nguồn vốn của
doanh nghiệp nhà nước tự đầu tư chiếm 14-15% tổng vốn đầu tư toàn xã hội, chủ yếu
là đầu tư chiều sâu, mở rộng sản xuất, đổi mới thiết bị, hiện đại hoá dây chuyển công
nghệ của doanh nghiệp. Vốn DNNN được đầu tư vào tổng cộng 16 lĩnh vực đặc biệt
như: an ninh quốc phòng, sản xuất và cung ứng hóa chất độc hại, chất nổ, truyền tài
điện, xổ số, in, đúc tiền….
Tỷ trọng nguồn vốn đầu tư của khu vực DNNN trong tổng vốn đầu tư nhà nước có giảm
trong những năm gần đây, song vẫn là nguồn vốn quan trọng. Bình quân giai đoạn
20012010, tổng vốn đầu tư của các tập đoàn, doanh nghiệp và tổng công ty nhà nước
chiếm khoảng 25,4% tổng vốn đầu tư từ khu vực Nhà nước. Nhờ đó, khu vực DNNN
đã phát huy được vai trò đầu tàu trong nhiều lĩnh vực, nhiều ngành kinh tế quan trọng.
2. Nguồn vốn của doanh nghiệp tư nhân
Nguồn vốn từ doanh nghiệp tư nhân bao gồm phần tích luỹ của các doanh nghiệp dân doanh, các hợp tác xã.
Theo kết quả Tổng điều tra kinh tế năm 2021, nguồn vốn đầu tư trong và ngoài nước
vào doanh nghiệp duy trì nhịp tăng trưởng nhanh qua các năm, quy mô doanh nghiệp
được mở rộng chủ yếu dựa trên sự phát triển của nhân tố vốn thay vì nhân tố lao động.
Nguồn vốn thu hút vào doanh nghiệp tăng trưởng nhanh qua các năm, với tổng nguồn
vốn sử dụng cho SXKD của toàn bộ doanh nghiệp tại thời điểm 31/12/2020 đạt 48,7
triệu tỷ đồng, tăng 12,3% so với cùng thời điểm năm 2019 và tăng 73,5% so với cùng
thời điểm năm 2016. Bình quân giai đoạn 2016-2020, nguồn vốn thu hút đạt bình quân
38,4 triệu tỷ đồng/năm, với tốc độ tăng bình quân giai đoạn đạt 14,8%/năm, tăng 104,1%
so với bình quân giai đoạn 2011-2015.
Tốc độ tăng trưởng nguồn vốn luôn ở mức tăng trưởng cao hơn so tăng trưởng về số
lượng lao động, cho thấy quy mô về lao động bình quân của các doanh nghiệp có xu
hướng thu hẹp nhưng quy mô về nguồn vốn bình quân của các doanh nghiệp lại có xu lOMoAR cPSD| 58707906
hướng mở rộng. Điều này cho thấy Việt Nam là một thị trường tiềm năng để thu hút vốn
đầu tư, là tiền đề thúc đẩy các nguồn lực cho tăng trưởng kinh tế theo chiều sâu.
3. Nguồn vốn tiết kiệm dân cư
Nguồn vốn trong dân cư phụ thuộc vào thu nhập và chi tiêu của các hộ gia đình. Quy
mô của nguồn tiết kiệm này phụ thuộc vào: Trình độ phát triển của đất nước (ở những
nước có trình độ phát triển thấp thường có quy mô và tỷ lệ tiết kiệm thấp); tập quán tiêu
dùng của dân cư; chính sách động viên của nhà nước thông qua chính sách thuế thu
nhập và các khoản đóng góp xã hội….
Cùng với sự phát triển kinh tế của đất nước, một bộ phận không nhỏ trong dân cư có
tiềm năng về vốn do có nguồn thu nhập gia tăng hay do tích luỹ truyền thống. Nhìn tổng
quan nguồn vốn tiềm năng trong dân cư không phải là nhỏ, tồn tại dưới dạng vàng,
ngoại tệ, tiền mặt … nguồn vốn này xấp xỉ bằng 80% tổng nguồn vốn huy động của
toàn bộ hệ thống ngân hàng. lOMoAR cPSD| 58707906
Đến năm 2018, tiền tiết kiệm trong dân cư vượt cao hơn tổng thu ngân sách nhà
nước, khoảng 27% (1.818 nghìn tỷ đồng so với 1.431 nghìn tỷ đồng)
Tuy nhiên, sự vận động nguồn vốn lớn đang nằm trong dân còn nhiều hạn chế, tạo ra
các xu hướng gây lãng phí tiềm năng nguồn vốn như tích trữ. Tiền tiết kiệm, theo tập
quán của người dân Việt Nam, thì thường sẽ mua vàng hoặc ngoại tệ để tích trữ. Theo
thông tin báo chí, căn cứ vào con số do Hiệp hội Kinh doanh vàng thế giới công bố dựa
trên số liệu nhập vàng của Việt Nam thời gian qua, trong dân cư có khoảng trên dưới
500 tấn vàng. Nếu một phần lượng vàng này tách khỏi cất trữ, chuyển hóa thành tiền,
đưa vào lưu thông sẽ đem lại lượng vốn lớn cho nền kinh tế.
Ngoài ra, một phần không nhỏ của tiết kiệm dân cư bị lãng phí hàng năm là do được
đưa vào các sàn cá độ, đánh bạc, hoặc người dân bị dụ dỗ tham gia “đầu tư ảo” dẫn đến
bị lừa chiếm đoạt tài sản. Trong những năm qua, các cơ quan chức năng đã phát hiện và
triệt phá được nhiều đường dây đánh bạc, cá độ bóng đá hàng ngàn tỷ đồng, chủ yếu có
hình thức online, máy chủ đặt tại nước ngoài. Công ty Cá cược Ladbrokes tại Anh quốc
cho rằng, doanh số của thị trường cá cược bóng đá bất hợp pháp tại Việt Nam ước tính
từ 3-5% GDP (khoảng 10 tỷ USD). Thêm nữa, gần đây xuất hiện các sàn giao dịch tài
chính hình thức đa cấp, tiền ảo đã dụ dỗ rất nhiều người dân tham gia “đầu tư” với cam lOMoAR cPSD| 58707906
kết lơi nhuận “không tưởng”. Tất cả những hoạt động này đều không được sự cho phép
của Nhà nước nhưng lại thu hút được rất nhiều tiền của người dân đổ vào. Phần lớn số
tiền khổng lồ này đang “chảy” bất hợp pháp ra nước ngoài mỗi năm.
Vậy, làm cách nào để nguồn vốn trong dân cư được huy động cho công cuộc xây dựng
đất nước, phát triển kinh tế hiện đại, bền vững là câu chuyện rất đáng bàn và tìm các
giải pháp khả thi trong giai đoạn tới.
II. Vai trò của nguồn vốn đầu tư trong nước đối với sự
phát triển của một quốc gia đang phát triển
Thứ nhất, nguồn vốn trong nước là nguồn vốn đóng góp lớn vào GDP toàn xã
hội, góp phần thúc đẩy tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
Số liệu thống kê cho thấy tổng vốn đầu tư toàn xã hội trên GDP theo giá cố định năm
2010 tăng đều qua các giai đoạn, từ 27,2% GDP (1990-1995) lên 39,3% GDP
(20062010), giảm xuống 31,7% GDP (2011-2015) và tăng nhẹ lên 33,0% GDP (2016-
2019). Tốc độ tăng tổng vốn đầu tư qua các giai đoạn cao hơn nhiều so với tốc độ tăng
trưởng kinh tế. Điều này cho thấy, tốc độ tăng trưởng kinh tế dựa nhiều vào nhân tố vốn
đầu tư. Tốc độ tăng vốn cao hơn tốc độ tăng GDP nhưng cùng xu hướng chậm dần theo thời gian. Cụ thể:
• Tăng bình quân vốn là 20,1%/năm, tăng GDP bình quân 8,2%/năm giai đoạn (1990-1995)
• Vốn tăng 17,4%/năm và GDP tăng 6,4%/năm giai đoạn (1996-2000)
• Vốn tăng 12,3%/năm và GDP tăng 7,4%/năm giai đoạn (2001-2005)
• Vốn tăng 13,2%/năm và GDP tăng 6,2%/năm giai đoạn (2006-2010)
• Vốn tăng 7,9%/năm và GDP tăng 5,8%/năm giai đoạn (2011-2015)
• Vốn tăng 9,2%/năm và GDP tăng 7,0%/năm giai đoạn (2016-2019).
Trong đó, kinh tế tư nhân có vai trò ngày càng quan trọng trong việc đạt được các mục
tiêu kinh tế - xã hội của đất nước, nhất là trong bối cảnh tái cấu trúc, điều chỉnh phạm lOMoAR cPSD| 58707906
vi hoạt động của DNNN. DNTN đóng góp 43,22% GDP và 39% vốn đầu tư cho toàn
bộ nền kinh tế (Cục Phát triển DN, 2017).
Dù vậy, kinh tế tư nhân vẫn còn có thể cải thiện, phát triển hơn nữa để đóng góp nhiều
hơn cho kinh tế Việt Nam. Hiệu quả sản xuất kinh doanh của khu vực tư nhân vẫn còn
hạn chế, một phần nguyên nhân đến từ khối DNTN. Tỷ suất lợi nhuận của các DNTN
khá thấp. Tốc độ tăng doanh thu của DNTN cũng giảm mạnh từ 34% giai đoạn 2007 -
2011 xuống còn 10% giai đoạn 2012 - 2015.
Bên cạnh đó, kinh tế tư nhân còn chiếm tỷ trọng ngày càng lớn trong đầu tư phát triển
toàn xã hội. Kinh tế tư nhân có xu hướng vượt khu vực kinh tế nhà nước để trở thành
thành phần kinh tế thực hiện vốn đầu tư toàn xã hội lớn nhất. Vốn đầu tư toàn xã hội
của khu vực kinh tế tư nhân tăng đều đặn xấp xỉ 10% hàng năm. Dự báo rằng nếu nguồn
tiết kiệm dân cư được huy động triệt để hơn nữa cho hoạt động đầu tư của doanh nghiệp
thì con số này chắc chắn sẽ còn tăng nhiều lần trong những năm tiếp theo.
Thứ hai, nguồn vốn đầu tư trong nước đóng vài trò định hướng cho việc thay đổi
cơ cấu kinh tế, cân bằng thị trường hàng hóa, giúp nền kinh tế quốc gia tăng trưởng &
phát triển đồng đều, toàn diện.
Với mục tiêu là tối đa hoá lợi nhuận, các nhà đầu tư sẽ có xu hướng tập trung phân bổ
nguồn vốn vào các ngành có khả năng sinh lời cao, đây thường là các ngành có lợi thế
sẵn có về điều kiện phát triển. Tuy nhiên cũng có ngành có tỷ lệ sinh lời thấp hơn do
khó khăn nhiều hơn là thuận lợi, những ngành này cần có sự hỗ trợ xuyên suốt để duy
trì tồn tại và phát triển. Các ngành kém phát triển có tỷ lệ sinh lời kém, không thu hút
được vốn đầu tư thường có nguy cơ biến mất làm cho nền kinh tế thị trường phát triển
không toàn diện. Điều này là một trong những vấn đề mà các nước đang phát triển phải
quan tâm vì mục tiêu phát triển toàn diện, bền vững và lâu dài. Chính vì vậy nên nguồn
vốn đi đầu trong việc hỗ trợ các ngành yếu kém này là nguồn vốn nhà nước.
Sử dụng công cụ là nguồn vốn tín dụng đầu tư phát triển của nhà nước để tạo ưu đãi,
các ngành kém phát triển sẽ nhiều cơ hội thu hút được các doanh nghiệp tư nhân rót vốn lOMoAR cPSD| 58707906
hơn. Dù mục tiêu chính của các doanh nghiệp tư nhân vẫn là vì lợi nhuận nhưng việc
hoạt động sản xuất kinh doanh diễn ra có kết quả tốt cũng góp phần duy trì và cải tiến
các quy trình, công nghệ sử dụng trong lĩnh vực, đồng thời tạo ra công ăn việc làm cho
những lao động có chuyên môn trực tiếp hoặc gián tiếp liên quan tới lĩnh vực và thúc
đẩy sự phát triển bền vững của ngành, giảm lệ thuộc vào các nguồn ưu đãi.
Ngoài những ngành nghề yếu kém thì còn có những ngành nghề mới, thường là các
ngành có hàm lượng khoa học công nghệ cao cần hỗ trợ, hơn cả là có sự tiên phong của
vốn nhà nước, cụ thể là qua hoạt động của các doanh nghiệp nhà nước với quy mô nguồn
lực lớn, khả năng “gồng” trước khó khăn với sự hỗ trợ trực tiếp của nhà nước.
Thứ ba, nguồn vốn đầu tư trong nước có vai trò đảm bảo cho sự phát triển toàn
diện, không lệch lạc giữa các vùng miền của nền kinh tế, góp phần giúp nền kinh tế tăng
trưởng & phát triển một cách bền vững.
Vốn nhà nước vẫn là nguồn vốn chủ đạo và quyết định trong việc hỗ trợ phân bổ đầu tư
theo vùng lãnh thổ thông qua các dự án đầu tư công được chi trả bởi ngân sách nhà nước.
Trong giai đoạn 2016-2020, nguồn vốn đầu tư công được tập trung bố trí cho các dự án
hạ tầng chiến lược, thiết yếu, quan trọng, then chốt, như: đường bộ, sân bay, bến cảng,
các công trình thủy lợi đầu mối, điện, thông tin liên lạc, kết cấu hạ tầng các khu đô thị,
khu công nghiệp, bệnh viện, trường học, văn hóa thể thao, các chương trình mục tiêu
quốc gia xây dựng nông thôn mới và giảm nghèo bền vững. Kế hoạch đầu tư công trung
hạn 2016-2020 cũng đã ưu tiên đầu tư cho miền núi, biên giới, hải đảo, vùng đồng bào
dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa, vùng thường xuyên bị thiên tai, bão lũ và các vùng
có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn; các nhiệm vụ ứng phó biến đổi khí hậu,
phòng, chống, khắc phục tình trạng hạn hán, xâm nhập mặn ở các tỉnh Đồng bằng sông
Cửu Long, sự cố ô nhiễm môi trường biển ở 4 tỉnh miền Trung; ưu tiên bố trí vốn các
dự án quan trọng, cấp bách, liên kết vùng, có tính chất lan tỏa, tạo động lực thu hút vốn
đầu tư khu vực tư nhân nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội. Trong đó, nguồn vốn
ngân sách trung ương (NSTW) giai đoạn 2016-2020 bố trí cho các vùng, như: Bắc Trung lOMoAR cPSD| 58707906
Bộ và Duyên hải miền Trung 27%, vùng miền núi phía Bắc là 24%, Đồng bằng sông
Cửu Long 17%, Đồng bằng sông Hồng 13%, Đông Nam Bộ 12% và Tây Nguyên 7%
Thứ tư, nguồn vốn đầu tư trong nước góp phần kiềm chế lạm phát, đẩy nhanh
tiến trình cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước, tạo đà cho tăng trưởng & phát triển kinh tế.
Để nâng cao hiệu quả hoạt động và năng lực cạnh tranh của DNNN nhà nước trên nền
tảng công nghệ hiện đại, năng lực đổi mới sáng tạo, quản trị theo chuẩn mực quốc tế
và làm tốt vai trì dẫn dắt phát triển các DN thuộc thành phần kinh tế khác thì tái cơ
cấu kết hợp với cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước là nhiệm vụ vô cùng quan trọng và cấp thiết.
Trong quá trình cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước, nguồn vốn tư nhân và dân cư
trong nước là nguồn lực chủ yếu mà doanh nghiệp nhà nước hướng tới thu hút khi
giảm bớt tỷ lệ vốn nhà nước trong cơ cấu vốn. Như vậy cổ phần nước sẽ khiến cho các
doanh nghiệp nhà nước bị buộc phải tái cơ cấu để đảm bảo hiệu quả sản xuất và kinh
doanh, nhằm có cơ hội được nhận nguồn vốn cũng như có khả năng thu hồi vốn trong
cơ chế vốn vay thay cho vốn bao cấp như trước.
Thực tế cho thấy rất nhiều doanh nghiệp nhà nước hoạt động không hiệu quả, gây thất
thoát, lãng phí nguồn vốn và tài sản mà những doanh nghiệp này được giao quản lý,
kể cả nguồn lực đất đai. lOMoAR cPSD| 58707906
Trong khi đó, nhiều doanh nghiệp nhà nước, sau cổ phần hóa, đã hoạt động rất hiệu
quả, tăng mạnh sức cạnh tranh trên thị trường và ngày càng phát triển, điển hình như
Vinamilk và Vietnam Airlines.
Thứ năm, nguồn vốn đầu tư trong nước xây dựng hệ thống cơ sở hạ tầng đạt một
trình độ nhất định, tạo điều kiện thuận lợi để thu hút vốn đầu tư nước ngoài cũng như
tăng tính hiệu quả, nhanh chóng của việc sử dụng vốn đầu tư nước ngoài, tạo nền tảng
vững chãi cho sự tăng trưởng của nền kinh tế, thúc đẩy công nghiệp hoá, hiện đại hoá.
Vì đối với các nước đang phát triển như Việt Nam, trong việc thực hiện công nghiệp
hoá thì đầu tư công thường đóng vai trò rất quan trọng, là động lực phát triển, tỷ trọng
đầu tư công thường rất cao trong tổng đầu tư toàn xã hội bởi nhu cầu phát triển cơ sở hạ
tầng luôn cao trong tổng đầu tư xã hội. Đầu tư công được sử dụng như là một công cụ,
“đầu kéo” tạo động lực thúc đẩy công nghiệp hoá, thúc đẩy tăng trưởng nhanh và là
công cụ chính yếu điều hành kinh tế vĩ mô. Tuy nhiên, vì là nước đang phát triển nên
tình trạng thiếu vốn để đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng là khó tránh khỏi, nguồn chi là
ngân sách nhà nước còn được sử dụng cho nhiều mục đích khác nhau nên cần phải có
giải pháp bổ sung để thúc đẩy xây dựng cơ sở hạ tầng dựa trên các nguồn vốn khác.
Từ kinh nghiệm đi trước của các quốc gia trên thế giới, tại Việt Nam hình thức hợp tác
công - tư (PPP) cũng được xem là giải pháp phù hợp để thực hiện các dự án phát triển
cơ sở hạ tầng giao thông, các dịnh vụ công… nhằm giảm áp lực cho ngân sách quốc gia
và giảm sự lệ thuộc vào nguồn vốn ODA, nâng cao hiệu quả đầu tư, cải thiện chất lượng
dịch vụ, đồng thời giảm các tiêu cực trong hoạt động đầu tư xây dựng cơ bản.
Mô hình PPP đã được thực hiện cách đây hơn 20 năm ở nước ta với khung pháp lý ban
đầu là Nghị định số 77/ CP ngày 18/6/1997 về Quy chế đầu tư theo hình thức hợp đồng
xây dựng - vận hành - chuyển giao (BOT) áp dụng cho đầu tư trong nước. Sau đó, các
khung khổ pháp lý điều chỉnh hoạt động đầu tư theo hình thức PPP ngày được hoàn
thiện và kiện toàn. Đến nay, đã có 4 Nghị định điều chỉnh chi tiết hoạt động đầu tư theo
hình thức PPP trên cơ sở các quy định tương ứng của các luật khác; và mới nhất là Nghị lOMoAR cPSD| 58707906
định số 63/2018/NĐ-CP về đầu tư theo hình thức PPP ban hành ngày 04/5/2018. Nghị
định này có hiệu lực từ ngày 19/6/2018 thay thế Nghị định số 15/2015/NĐ-CP
Với nền tảng pháp lý được ban hành, nhiều dự án đầu tư theo phương thức kết hợp sử
dụng vốn đầu tư của Nhà nước với vốn đầu tư tư nhân để xây dựng các công trình công
ích đã được triển khai thực hiện trong nhiều năm qua. Theo thống kê, đến nay, Việt Nam
đã thực hiện được 336 dự án, trong đó 140 dự án thực hiện theo hợp đồng BOT, 188 dự
án theo hình thức hợp đồng BT và 8 dự án là các hình thức hợp đồng khác. Trong đó,
tổng nguồn lực huy động được để thực hiện các dự án về cơ sở hạ tầng đạt khoảng 69
tỷ USD. Các dự án này đã góp phần làm hoàn thiện hệ thống kết cấu hạ tầng của Việt
Nam, là điều kiện thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội.
Thứ sáu, sự lớn mạnh & ổn định của nguồn vốn đầu tư trong nước giúp hạn chế
những mặt tiêu cực của nguồn vốn đầu tư nước ngoài, đồng thời tạo dựng khung xương
vững chãi cho nền kinh tế, giúp chống lại sóng gió từ thị trường quốc tế.
Khối ngoại hiện đang chiếm ưu thế trong rất nhiều ngành như: ngành công nghiệp điện
tử, công nghiệp chế biến-chế tạo, bán lẻ, logistic, sản xuất và phân phối điện, năng lượng
và năng lượng tái tạo, kinh doanh bất động sản…
Các chuyên gia kinh tế nhận định các quốc gia không nên phụ thuộc quá nhiều vào
nguồn nguyên phụ liệu nhập khẩu từ một nước, cũng như phụ thuộc quá nhiều vào
nguồn vốn nước ngoài, đối với Việt Nam khi đang tăng cường thu hút FDI . Điều này
được giải thích dựa trên "nguyên lý phụ thuộc", tức là quốc gia phụ thuộc sẽ đóng vai
trò bên lề trong khi quốc gia còn lại sẽ là quốc gia cốt lõi và nguồn lực sẽ mất dần từ
quốc gia này sang quốc gia kia.
Hơn nữa, bên cạnh việc mất dần nguồn lực cho quốc gia khác thì phụ thuộc vào FDI
còn làm suy nhược sản xuất và kinh doanh trong nước, dẫn đến sự thiếu sự chủ động và
mất đi năng lực cạnh tranh trong ứng phó với những biến động của thị trường quốc tế,
hậu quả có thể ảnh hưởng sâu sắc tới quá trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. lOMoAR cPSD| 58707906
Do đó, là một nước đang phát triển, Việt Nam cần gia tăng sức mạnh nội tại của nền
kinh tế thông qua việc tận dụng nguồn vốn trong nước, đặc biệt chú trọng nguồn vốn tư
nhân và vốn tiết kiệm dân cư.
Song, mối quan hệ giữa nguồn vốn đầu tư trong nước & nước ngoài rất chặt chẽ, chúng
bổ sung cho nhau để tạo thành một tổng thể thống nhất. Nguồn vốn trong nước tác động
tới nguồn vốn nước ngoài một cách gián tiếp thông qua cơ sở hạ tầng kỹ thuật, môi
trường đầu tư… Nguồn vốn đầu tư nước ngoài thì bổ sung quan trọng vào tổng vốn đầu
tư toàn xã hội, có tác động lan tỏa đến các thành phần kinh tế khác sử dụng nguồn vốn
đầu tư trong nước. Cùng với đó, nguồn vốn đầu tư nước ngoài cũng làm tăng trực tiếp
nguồn vốn trong nước thông qua ngân sách nhà nước. Ngoài ra, nguồn vốn đầu tư nước
ngoài cũng tạo nguồn ngoại tệ giúp các doanh nghiệp trong nước thuận lợi hơn trong xuất nhập khẩu.
Như vậy, việc chú trọng vào nguồn vốn trong nước không chỉ làm giảm sự phụ thuộc
vào FDI mà còn gia tăng chất lượng của nguồn vốn FDI vì khi này FDI chỉ mang tính
chất bổ sung nên nước ta có thể kiểm soát, chọn lọc các nguồn FDI phù hợp với mục
tiêu phát triển kinh tế - xã hội nhất.
III. Sự dịch chuyển về cơ cấu nguồn vốn trong nước tại
Việt Nam giai đoạn 2016 - 2021
1. Phân tích sự chuyển dịch cơ cấu nguồn vốn trong nước (6 đặc điểm)
(1) Cơ cấu nguồn vốn giữa các loại hình doanh nghiệp thay đổi theo hướng
tăng dần tỷ trọng nguồn vốn doanh nghiệp ngoài nhà nước và doanh nghiệp FDI, giảm
dần tỷ trọng nguồn vốn doanh nghiệp nhà nước. Bên cạnh đó, doanh nghiệp ngoài nhà
nước thu hút nhiều nguồn vốn nhất trong số các loại hình doanh nghiệp.. lOMoAR cPSD| 58707906
Theo loại hình doanh nghiệp, tại thời điểm 31/12/2020, doanh nghiệp ngoài nhà nước
chiếm 59,4% tổng vốn toàn doanh nghiệp, thu hút 28,9 triệu tỷ đồng, tăng 11,7% so với
năm 2019 và tăng 92,5% so với năm 2016. Doanh nghiệp FDI chiếm 19,2%, thu hút 9,4
triệu tỷ đồng, tăng 18,3% so với năm 2019 và tăng 84,4% năm 2016. Doanh nghiệp nhà
nước chỉ chiếm 0,3% tổng số doanh nghiệp nhưng chiếm 21,4% tổng vốn toàn doanh
nghiệp, thu hút 10,4 triệu tỷ đồng, tăng 8,8% so với năm 2019 và tăng 30,8% so với năm 2016.
Giai đoạn 2016-2020 chứng kiến sự thay đổi cơ cấu nguồn vốn giữa các loại hình doanh
nghiệp theo hướng tăng dần tỷ trọng nguồn vốn doanh nghiệp ngoài nhà nước và doanh
nghiệp FDI, giảm dần tỷ trọng nguồn vốn doanh nghiệp nhà nước qua các năm. Bình
quân giai đoạn 2016-2020, doanh nghiệp ngoài nhà nước thu hút 21,9 triệu tỷ đồng, tăng
bình quân 17,8%/năm và tăng 135,5% so với bình quân giai đoạn 2011-2015. Doanh
nghiệp nhà nước và doanh nghiệp FDI thu hút lần lượt là 9,4 triệu tỷ đồng và 7,1 triệu
tỷ đồng, tăng bình quân 6,9% và 16,5% mỗi năm trong cả giai đoạn, tăng 55,2% và
105,5% so với bình quân giai đoạn 2011-2015.
(2) Khu vực dịch vụ huy động được nhiều vốn nhất trong giai đoạn 2016-2020. lOMoAR cPSD| 58707906
Cơ cấu nguồn vốn của doanh nghiệp đang hoạt động có kết quả SXKD theo loại hình doanh nghiệp
Theo khu vực kinh tế, khu vực dịch vụ là điểm sáng của nền kinh tế khi huy động được
nhiều vốn nhất trong toàn bộ doanh nghiệp, gấp 2 lần khu vực công nghiệp - xây dựng
và gấp 70 lần khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản. Tại thời điểm 31/12/2020, khu vực
dịch vụ thu hút 32,3 triệu tỷ đồng cho SXKD, chiếm 66,3% vốn của toàn bộ khu vực
doanh nghiệp, tăng 13,4% so với cùng thời điểm năm 2019 và tăng 80,5% so với năm
2016; khu vực công nghiệp - xây dựng thu hút 16,0 triệu tỷ đồng, chiếm 32,8%, tăng
10,7% so với năm 2019 và tăng 60,8% so với năm 2016; khu vực Nông, lâm nghiệp và
thủy sản thu hút 0,5 triệu tỷ đồng, chỉ chiếm 0,9%, giảm 9,9% so với năm 2019 nhưng
tăng 73,4% so với năm 2016.
Bình quân giai đoạn 2016-2020, khu vực dịch vụ có quy mô nguồn vốn cho hoạt động
SXKD lớn nhất, chiếm 65,3%, với tốc độ tăng trưởng cao nhất, đạt 15,9%/năm và tăng
112,3% so với bình quân giai đoạn 2011-2015. Tiếp theo, khu vực công nghiệp - xây
dựng với tỷ trọng chiếm 33,7% trong tổng nguồn vốn của doanh nghiệp, tốc độ tăng
trưởng bình quân năm đạt 12,6%, tăng 90,4% so với giai đoạn trước. Khu vực nông,
lâm nghiệp và thuỷ sản chiếm 1,0% trong tổng nguồn vốn, tốc độ tăng trưởng bình quân
giai đoạn đạt 14,8%, tăng 87,5% so với giai đoạn 2011-2015. lOMoAR cPSD| 58707906
(3) Doanh nghiệp phát triển theo hướng mở rộng quy mô nguồn vốn bình quân
trên một doanh nghiệp.
Giai đoạn 2016-2020, tốc độ tăng nguồn vốn huy động cho hoạt động SXKD nhanh hơn
so với tốc độ tăng về số lượng doanh nghiệp đã dẫn đến sự thay đổi theo hướng mở rộng
quy mô bình quân của doanh nghiệp theo nguồn vốn. Nguồn vốn bình quân doanh
nghiệp tăng đều qua các năm, từ 55,6 tỷ đồng năm 2016 lên 71,2 tỷ đồng năm 2020.
Bình quân giai đoạn 2016-2020, quy mô nguồn vốn bình quân doanh nghiệp đang dần
mở rộng với nguồn vốn bình quân mỗi doanh nghiệp là 63,4 tỷ đồng/doanh nghiệp,
tương đương với quy mô của 1 doanh nghiệp vừa, tăng 27,3% so với bình quân giai đoạn 2011-2015.
(4) Doanh nghiệp nhà nước có quy mô nguồn vốn bình quân doanh nghiệp lớn
nhất và có tốc độ tăng trưởng nguồn vốn bình quân nhanh nhất giai đoạn 2016-2020.
Theo loại hình doanh nghiệp, quy mô nguồn vốn bình quân doanh nghiệp được mở rộng
qua từng năm ở cả 3 loại hình doanh nghiệp. Đặc biệt, doanh nghiệp nhà nước với tốc
độ tăng trưởng nguồn vốn ở mức cao, tăng bình quân 15,4%/năm trong giai đoạn
20162020, từ 3,0 nghìn tỷ đồng/doanh nghiệp năm 2016 lên 5,3 nghìn tỷ đồng/doanh
nghiệp năm 2020, tăng 110,4% so với bình quân giai đoạn 2011-2015. Đây là kết quả
của tiến trình cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước, thu hút thêm nhiều nguồn vốn đầu
tư từ các tổ chức, đơn vị tư nhân.
Doanh nghiệp FDI cũng có quy mô về nguồn vốn tương đối lớn, bình quân 1 doanh
nghiệp có quy mô nguồn vốn đạt 420 tỷ đồng tại thời điểm 31/12/2020, tương đương
với quy mô của 1 doanh nghiệp lớn và có xu hướng tăng nhẹ qua các năm, với tốc độ
tăng trưởng bình quân giai đoạn đạt 3,8%/năm, tăng 19,4% so với bình quân giai đoạn trước.
Trong khi đó, khối doanh nghiệp ngoài nhà nước có quy mô bình quân thấp hơn nhiều
so với 2 khối doanh nghiệp trên, bình quân nguồn vốn 1 doanh nghiệp ngoài nhà nước
đạt 43,8 tỷ đồng tại thời điểm 31/12/2020 và có tốc độ tăng trưởng bình quân đạt
9,2%/năm, tăng 46,6% so với bình quân giai đoạn trước. lOMoAR cPSD| 58707906
(5) Khu vực công nghiệp - xây dựng có quy mô nguồn vốn bình quân doanh
nghiệp lớn nhất trong khi khu vực dịch vụ duy trì mức tăng trưởng nguồn vốn bình quân
doanh nghiệp ổn định nhất.
Theo khu vực kinh tế, khu vực công nghiệp - xây dựng có quy mô nguồn vốn bình quân
doanh nghiệp lớn nhất. Tại thời điểm 31/12/2020, khu vực công nghiệp - xây dựng có
quy mô nguồn vốn bình quân đạt 75,7 tỷ đồng/doanh nghiệp, khu vực nông, lâm nghiệp
và thủy sản đạt 69,4 tỷ đồng/doanh nghiệp và khu vực dịch vụ đạt 69,2 tỷ đồng/doanh nghiệp.
Khu vực dịch vụ có quy mô nguồn vốn bình quân doanh nghiệp thấp nhất trong ba khu
vực, tuy nhiên đây lại là khu vực duy trì mức tăng trưởng ổn định nhất. Khu vực này có
quy mô nguồn vốn bình quân liên tục tăng qua các năm trong giai đoạn 2016-2020,
khiến quy mô nguồn vốn bình quân khu vực dịch vụ đang dần thu hẹp được khoảng
cách với hai khu vực còn lại.
Bình quân giai đoạn 2016-2020, khu vực công nghiệp - xây dựng, khu vực nông, lâm
nghiệp và thủy sản và khu vực Dịch vụ có quy mô nguồn vốn bình quân doanh nghiệp
đạt lần lượt là 70,6 tỷ đồng/doanh nghiệp; 63,2 tỷ đồng/doanh nghiệp và 60,2 tỷ
đồng/doanh nghiệp, tương ứng tốc độ tăng so với bình quân giai đoạn 2011-2015 là 21,4%; 11,1% và 31,2%.
2. Đánh giá kết quả của chuyển dịch cơ cấu nguồn vốn:
Thứ nhất, về hướng chuyển dịch cơ cấu nguồn vốn:
Cơ cấu nguồn vốn chuyển dich theo hướng hợp lý , gắn với quy hoạch và định hướng
phát triển. Cơ cấu theo nguồn vốn đã đạt được những thay đổi đáng kể và về cơ bản phù
hợp với cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
Tuy vẫn giữ vai trò nòng cốt, chi phối trong một số ngành, lĩnh vực chủ yếu nhưng đầu
tư của Nhà nước đã giảm đáng kể. Đầu tư ngoài nhà nước, nhất là đầu tư tư nhân trong
nước có sự gia tăng mạnh mẽ (nhất là khi Luật Doanh nghiệp ra đời và đi và cuộc sống).
Đầu tư nước ngoài, mặc dù có những thăng trầm theo xu hướng chung của kinh tế thế