



















Preview text:
lOMoAR cPSD| 61601688
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH KHOA TÂM LÝ HỌC ----------------
BÀI TIỂU LUẬN HỌC PHẦN : TÂM LÝ HỌC CĂN BẢN Đề tài
1. Quá trình cơ bản của trí nhớ, nêu ứng dụng cụ thể
2. Cấu trúc của nhân cách và các yếu tố ảnh hưởng đến sựhình
thành và phát triển nhân cách
Sinh viên thực hiện : Nguyễn Minh Châu MSSV : 46.01.703.009 Lớp học phần : PSYC170301 Giảng viên
: Lê Duy Hùng, Mai Hiền Lê lOMoAR cPSD| 61601688
Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 05 năm 2023 MỤC LỤC
MỞ ĐẦU......................................................................................................................3
NỘI DUNG...................................................................................................................5
PHẦN 1. QUÁ TRÌNH CƠ BẢN CỦA TRÍ NHỚ VÀ ỨNG DỤNG.....................5
1. Sơ lược về trí nhớ.........................................................................................5
2. Các quá trình cơ bản của trí nhớ...................................................................5
2.1. Quá trình ghi nhớ............................................................................6
2.2. Sự tái hiện.......................................................................................7
2.3. Sự quên............................................................................................8
3. Ứng dụng cụ thể các quá trình cơ bản của trí nhớ.........................................9
3.1. Trong giáo dục................................................................................9
3.2. Trong y tế......................................................................................10
3.3. Trong kinh doanh và marketing.....................................................11
3.4. Trong đời sống cá nhân.................................................................11
PHẦN 2. CẤU TRÚC CỦA NHÂN CÁCH VÀ CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG
ĐẾN SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN NHÂN CÁCH.....................................13
1. Sơ lược về khái niệm nhân cách.................................................................13
2. Cấu trúc của nhân cách...............................................................................14
3. Các yếu tố ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển nhân cách...............16
3.1. Sinh học.........................................................................................16
3.2. Môi trường....................................................................................17
3.3. Giáo dục........................................................................................18
3.4. Hoạt động......................................................................................19
3.5. Giao tiếp........................................................................................20 lOMoAR cPSD| 61601688
KẾT LUẬN.................................................................................................................22
TÀI LIỆU THAM KHẢO...........................................................................................23 lOMoAR cPSD| 61601688 MỞ ĐẦU
Dù mới ra đời hơn một thế kỷ, Tâm lý học đã nhanh chóng trở thành một ngành khoa
học thiết thực và hấp dẫn trong mắt đại chúng. Đặc biệt là khi xã hội ngày càng phát
triển theo hướng hiện đại hóa - đô thị hóa, guồng quay cuồn cuộn của nhịp sống nơi
thành phố đang ngày một khiến áp lực và lo toan đè nặng lên bờ vai mỗi con người. Do
đó, nhu cầu quan tâm và chăm sóc sức khỏe tinh thần cũng dần được chú trọng hơn cả.
Những nghiên cứu và ứng dụng của Tâm lý học giúp con người hiểu hơn về bản thân
mình và tìm được hướng giải quyết cho các vấn đề trong cuộc sống, từ đó luôn giữ được
sự bình yên trong tâm hồn và phát huy tối đa khả năng của mình, góp phần xây dựng xã hội phát triển hơn.
Ở học phần Tâm lý học đại cương, tôi đi vào tìm hiểu những kiến thức cơ bản, những
vấn đề cốt lõi nhất về tâm lý con người. Vì thế, trong bài tiểu luận này, tôi chọn trình
bày về hai nội dung chính như sau:
Phần đầu tiên, tôi sẽ đề cập đến chủ đề trí nhớ, cụ thể là các quá trình cơ bản của
trí nhớ và ứng dụng cụ thể các quá trình này trong thực tế.
Phần thứ hai, tôi sẽ đề cập đến chủ đề nhân cách con người, cụ thể là cấu trúc của
nhân cách và các yếu tố ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển nhân cách.
Đây là hai đề tài mà tôi cảm thấy hứng thú và tôi nghĩ mình có khả năng nghiên cứu
được. Trong đời sống hằng ngày, chúng ta cần sử dụng trí nhớ trong tất cả mọi việc,
nhưng có lúc nhớ có lúc quên, tôi vẫn luôn thắc mắc đâu là lý do ? Việc hiểu rõ bản chất
và các quá trình cơ bản của trí nhớ sẽ giúp giải đáp thắc mắc này, đồng thời cung cấp
thêm kiến thức từ góc độ chuyên ngành về cách thức hoạt động của trí nhớ. Từ đó, ta
có thể rút ra được những mẹo nhỏ để cải thiện khả năng ghi nhớ của bản thân trong học
tập và làm việc. Tiếp theo, việc nghiên cứu về các ứng dụng thực tiễn cũng giúp mở
mang vốn hiểu biết về mức độ ứng dụng của Tâm lý học nói chung và của trí nhớ nói
riêng trong các lĩnh vực khác nhau.
Ngoài trí nhớ, nhân cách con người cũng là một vấn đề đáng suy ngẫm. Nhân cách
là một khía cạnh quan trọng của con người, ảnh hưởng đến hành vi, tư duy và cảm xúc
của mỗi người. Việc hiểu rõ cấu trúc của nhân cách và các yếu tố ảnh hưởng đến sự lOMoAR cPSD| 61601688
hình thành và phát triển nhân cách sẽ giúp ta có thể phát hiện và giải quyết các vấn đề
liên quan đến tâm lý của bản thân và của người khác một cách hiệu quả hơn, đồng thời
đề ra những giải pháp để liên tục phát triển và hoàn thiện nhân cách. lOMoAR cPSD| 61601688 NỘI DUNG
PHẦN 1. QUÁ TRÌNH CƠ BẢN CỦA TRÍ NHỚ VÀ ỨNG DỤNG
1. Sơ lược về trí nhớ
Trí nhớ là một hoạt động tâm lý phản ánh những kinh nghiệm đã trải qua của con
người dưới hình thức biểu tượng, bao gồm những hình ảnh của sự vật, hiện tượng được
nảy sinh trong óc (não) khi những sự vật, hiện tượng đó không còn trực tiếp tác động vào các giác quan.
Theo Robert J. Sternberg (1999) thì trí nhớ có nghĩa là bằng trí não, con người dựa
vào những kinh nghiệm đã trải qua để sử dụng những thông tin đó trong hiện tại. Như
vậy, ta kết luận được định nghĩa rằng trí nhớ là một quá trình tâm lý phản ánh những
kinh nghiệm đã trải qua của con người dưới hình thức biểu tượng, không cần sự tác động trực tiếp.
Trí nhớ giữ một vai trò quan trọng trong đời sống và hoạt động của con người. Như
nhà sinh lý học người Nga I.M. Sechenov đã nói: “Nếu không có trí nhớ thì con người
mãi mãi ở tình trạng của một đứa trẻ sơ sinh”, trí nhớ giúp con người học tập, tư duy và
hiểu biết thế giới đồng thời xác định phương hướng để thích nghi với môi trường bên
ngoài. Nhờ có ghi nhớ, con người mới có thể có thể tiếp thu những kiến thức và kinh
nghiệm nhận được trong cuộc sống, sau đó thông qua quá trình nhận lại và nhớ lại mà
áp dụng chúng vào hoạt động hằng ngày.
Có thể thấy, trí nhớ là điều kiện không thể thiếu để con người có được đời sống tâm
lý bình thường, ổn định và lành mạnh, là điều kiện để con người phát triển các chức
năng tâm lý cấp cao, tích lũy kinh nghiệm và sử dụng vào đời sống, đáp ứng yêu cầu
ngày càng cao của xã hội.
2. Các quá trình cơ bản của trí nhớ
Trí nhớ là một quá trình phức tạp, bao gồm nhiều quá trình thành phần. Trên thế
giới, có nhiều cách phân tích về các quá trình cơ bản của trí nhớ, song sau đây các quá
trình căn bản nhất được đề cập ở nhiều quan điểm khác nhau. lOMoAR cPSD| 61601688
2.1. Quá trình ghi nhớ
Đây là quá trình ghi lại và giữ lại (lưu trữ) trong não con người những hình ảnh của
sự vật, hiện tượng trong quá trình tri giác. Dựa vào tính mục đích của quá trình ghi nhớ,
người ta chia ra làm ghi nhớ không chủ định và có chủ định.
* Ghi nhớ không chủ định là loại ghi nhớ được tiến hành mà không cần đề ra mục
đích ghi nhớ từ trước, không cần dùng một cách thức nào để giúp cho sự ghi nhớ được
dễ dàng, không đòi hỏi sự nỗ lực của ý chí.
Chẳng hạn như khi ta ngồi trên xe buýt và vô tình nghe thấy một bài nhạc rất bắt
tai, rất hợp với sở thích của mình thì sau đó ta sẽ tự động ghi nhớ giai điệu của nó và
nhẩm theo dù không còn nghe thấy bài hát đó nữa. Đó chính là sự ghi nhớ không chủ định.
Độ bền vững của nó phụ thuộc vào:
- Mức độ cảm xúc mạnh mẽ, thỏa mãn nhu cầu và mức độ hứng thú của cá nhân.
- Màu sắc, sự di động và những đặc điểm khác của đối tượng.
- Mục đích và nội dung cơ bản của hoạt động của bản thân.
* Ghi nhớ có chủ định là loại ghi nhớ với mục đích đã được xác định từ trước. Trong
quá trình ghi nhớ đòi hỏi con người phải có sự nỗ lực bản thân, phải sử dụng phương
tiện và phương pháp để ghi nhớ được tốt.
Ví dụ tiêu biểu của loại ghi nhớ này là chuyện đi học nghe giảng bài. Khi ta đến lớp,
ta đã xác định được rằng mình đến để học hỏi và tiếp thu kiến thức, kinh nghiệm mà
thầy cô truyền đạt. Vì thế ta sẽ phải tập trung lắng nghe và ghi nhớ nằm lòng lời giảng
của thầy cô. Đồng thời để dễ nhớ hơn, ta còn có thể kết hợp với việc ghi chép vào tập
vở, đòi hỏi phải có các kỹ năng ghi chép như chắt lọc từ khóa quan trọng hay trình bày
dưới dạng sơ đồ tư duy.
Ngoài ra, dựa trên tính chất mối liên hệ giữa các tri thức mới và cũ, giữa các phần
của dữ liệu cần ghi nhớ, người ta còn tiếp tục chia ghi nhớ có chủ định làm hai loại.
Ghi nhớ máy móc, tức là sự lập mối liên hệ kế cận bằng cách nhắc đi nhắc
lại nhiều lần, tạo ra mối liên hệ bên ngoài giữa các phần của tài liệu ghi nhớ, lOMoAR cPSD| 61601688
không còn thông hiểu nội dung tài liệu. “Học vẹt” là một biểu hiện cụ thể của cách ghi nhớ này.
Ghi nhớ ý nghĩa, tức là dựa trên sự thành lập những mối liên hệ ý nghĩa giữa
dữ liệu mới với dữ liệu đã có và giữa những phần của dữ liệu cần nhớ. Dữ
liệu cần ghi nhớ sẽ được chia thành các phần, phân loại và hệ thống chúng
theo một logic nhất định. Hiện nay, sơ đồ tư duy đang là một phương pháp
ghi nhớ ý nghĩa được khuyến khích sử dụng nhiều trong quá trình dạy và học. 2.2. Sự tái hiện
Sự tái hiện là một quá trình trí nhớ làm sống lại những nội dung đã ghi nhớ. Sự tái
hiện bao gồm sự nhận lại và nhớ lại.
* Nhận lại là quá trình làm nảy sinh ở trong não những hình ảnh của sự vật, hiện
tượng trong điều kiện tri giác lại đối tượng đó.
Sự nhận lại cũng có thể không đầy đủ và không xác định. Ví dụ như khi ta gặp một
người mà ta biết chắc đó là người quen, nhưng ngay lúc đó ta không thể nhớ ra tên
người đó là gì; hoặc ta nhận ra người quen, biết tên người đó, nhưng lại không thể nhớ
ra đã làm quen người đó ở nơi nào, vào lúc nào. Do đó không nên lấy sự nhận lại làm
tiêu chuẩn đánh giá trí nhớ con người.
Tính chính xác và tốc độ của nhận lại phụ thuộc vào các yếu tố:
- Mức độ bền vững của ghi nhớ.
- Sự giống nhau giữa các kích thích cũ và mới.
* Nhớ lại là quá trình làm xuất hiện lại trong não những hình ảnh của sự vật, hiện
tượng con người đã tri giác trước đây, mà hiện tại sự vật, hiện tượng đó không còn trực
tiếp tác động vào các giác quan và não nữa. Nhớ lại không diễn ra tự nó, mà bao giờ
cũng có nguyên nhân, theo quy luật liên tưởng, mang tính logic chặt chẽ và có chủ định.
Nhớ lại bao gồm hồi tưởng và hồi ức. lOMoAR cPSD| 61601688
Hồi tưởng là nhớ lại một cách có chủ định. Ví dụ như ta đang cần dùng điện
thoại nhưng lại không thấy đâu, ta sẽ cố gắng nhớ lại xem lần gần nhất mình
dùng điện thoại là lúc nào và đặt nó ở đâu để đi tìm.
Hồi ức là nhớ lại những hình ảnh cũ được khu trú trong không gian, thời gian
nhất định. Ví dụ như ta đi ngang qua một công viên, dù không hề cố nhớ
nhưng kí ức hồi nhỏ chơi ở công viên vẫn sẽ tự động hiện lên trong đầu ta.
Bởi vì ta từng có một khoảng thời gian dài gắn bó với nơi này và lưu lại
những kỉ niệm vui, cho nên kí ức đã gắn liền với địa điểm.
Sự nhớ của con người chịu sự chi phối của các quy luật sau:
- Con người thường nhớ tốt, sâu sắc ở những thời điểm đầu và cuối của một quá trình hoạt động.
- Con người thường nhớ tốt, sâu sắc ở những thời điểm có những biến cố quan
trọng trong cuộc đời, khi có cảm xúc mạnh mẽ.
- Ý thức được sự cần thiết phải nhớ, có mục đích.
- Nhớ những gì có liên quan đến cuộc sống, nhu cầu, hứng thú và nghề nghiệp của bản thân.
- Biết tổ chức hoạt động trí nhớ của mình (thuật nhớ).
- Biết đem vận dụng những điều đã lĩnh hội vào thực tiễn. 2.3. Sự quên
Quên là không tái hiện lại được những nội dung đã ghi nhớ trước đây vào thời điểm cần thiết. Sự quên có 3 mức độ:
o Quên hoàn toàn là mức độ mà dù có những kích thích tương tự như cũ, dù sự
vật, hiên tự ợng đã được tri giác trước đây đang trực tiếp tác đông vào các giác ̣
quan thì con người vẫn không nhận lại hay nhớ lại được. Quên hoàn toàn có thể
vì không ghi nhận rõ ràng, không chú ý đến nội dung cần nhớ.
o Quên cục bộ từng phần là không nhớ lại nhưng nhận lại được những hình ảnh đã
ghi nhớ, có thể vì không có dịp lặp lại nội dung đã tri giác được. Thường xuyên lOMoAR cPSD| 61601688
gặp khi ta học ngoại ngữ, ta nhận biết rõ rằng mình đã học về từ vựng này rồi,
biết nghĩa của nó rồi, song khi gặp lại nó trong một văn bản thì ta không thể nhớ ra nghĩa của nó.
o Quên tạm thời hay chốc lát là mức độ mà không thể nhân lại hoặ c nḥ ớ lại sự
vât, hiệ n tự ợng trong khoảng một thời gian nào đó, nhưng sau đó trong những
điều kiện nhất định vẫn có thể tái hiện được. Hiện tượng này còn được gọi là
“sực nhớ”, xuất hiện do gặp kích thích mạnh làm ức chế một số mối liên hệ tạm thời trên vỏ não.
Quên chịu sự chi phối của các quy luật sau:
- Con người thường quên ở những thời điểm giữa của một quá trình hoạt động.
- Con người thường quên ở những thời điểm không có những biến cố quan trọng
trong cuộc đời, khi không có cảm xúc mạnh mẽ.
- Quên khi không xác định rõ mục đích, nhiệm vụ cần nhớ.
- Quên những gì ít có liên quan đến cuộc sống, nhu cầu, hứng thú và nghề nghiệp của bản thân.
- Quên những điều không vận dụng nhiều vào thực tiễn.
- Quên khi gặp kích thích mới lạ và mạnh.
- Quên khi không có thủ thuật, phương pháp ghi nhớ tốt, thiếu sự tập trung chú ý, thể lực không tốt.
3. Ứng dụng cụ thể các quá trình cơ bản của trí nhớ
Các quá trình ghi nhớ, tái hiện và quên diễn ra liên tục trong cuộc sống hằng ngày
của chúng ta. Việc nghiên cứu các quá trình này nhằm nắm rõ bản chất và cách vận hành
của chúng góp phần làm phong phú thêm kho tàng tri thức của nhân loại, đồng thời
cũng đặt ra một nền tảng lý thuyết vững chắc để ứng dụng vào thực tế. Hiện nay, trong
nhiều lĩnh vực khác nhau đều có ứng dụng các quá trình cơ bản của trí nhớ để giúp hoạt
động của con người diễn ra thuận lợi hơn, đạt được trải nghiệm tốt hơn và tạo ra những
giá trị mới cho xã hội. lOMoAR cPSD| 61601688 3.1. Trong giáo dục
Về phần giảng dạy, giáo viên thường sử dụng các kỹ thuật như phương pháp tương
tác và kết hợp với giáo cụ trực quan như hình ảnh, âm thanh, clip nghe nhìn trong bài
giảng của mình để thu hút sự chú ý của học sinh, tạo sự sôi động và hứng thú cho lớp
học. Ngoài ra màu sắc và âm thanh nổi bật đi kèm với những từ khóa sẽ giúp học sinh
dễ dàng liên tưởng và ghi nhớ không chủ định hơn trong trường hợp các em còn lơ là
và thiếu mục tiêu học tập.
Về phần kiểm tra đánh giá, ngoài đánh giá định kỳ bằng các kỳ thi theo cách thức
truyền thống thì các cơ sở giáo dục cũng bắt đầu quan tâm hơn đến việc tổ chức đánh
giá thường xuyên xuyên suốt quá trình học, có thể kể đến như cho học sinh kiểm tra
miệng mỗi đầu giờ hay kiểm tra giấy đột xuất. Bởi một nghiên cứu đã chỉ ra rằng, các
bài kiểm tra nhỏ như thế này cũng là một trong những cách học hiệu quả. Bằng cách
này, học sinh có cơ hội lặp đi lặp lại quá trình tái hiện kiến thức đã học trước đó, từ đó
kiến thức được lưu giữ lâu hơn trong trí nhớ dài hạn. Sau này, trong các kỳ thi đánh giá
định kỳ hay trong các tình huống thực tế, học sinh có thể dễ dàng nhớ lại kiến thức đó
và sử dụng để giải quyết những vấn đề đặt ra. Đánh giá thường xuyên không chỉ cho
thấy những gì học sinh đã ghi nhớ, mà thậm chí còn giúp các em ghi nhớ nhiều hơn
những gì có thể làm được. 3.2. Trong y tế
Trong lĩnh vực y tế, kiến thức về các quá trình của trí nhớ đóng vai trò quan trọng
trong việc chẩn đoán và điều trị các rối loạn về não bộ, bao gồm các bệnh liên quan đến
trí nhớ. Lấy ví dụ trong trường hợp của bệnh Alzheimer, đây là một bệnh lý về trí nhớ
được chẩn đoán bằng cách sử dụng các phương pháp khác nhau, trong đó có kiểm tra
trí nhớ và chụp hình ảnh não bộ. Để đánh giá các triệu chứng, bác sĩ có thể yêu cầu bệnh
nhân trả lời các câu hỏi hoặc thực hiện các nhiệm vụ liên quan đến khả năng ghi nhớ,
suy nghĩ trừu tượng, giải quyết vấn đề, sử dụng ngôn ngữ và các kỹ năng liên quan.
Thông qua các bài test này, bác sĩ sẽ nhận được một điểm số và sử dụng nó để đánh giá lOMoAR cPSD| 61601688
đánh giá tình trạng trí nhớ của bệnh nhân và mức độ suy giảm trí nhớ, từ đó đưa ra kết luận cuối cùng.
3.3. Trong kinh doanh và marketing
Đây là một lĩnh vực ứng dụng khá nhiều các kiến thức tâm lý học, nhờ đó các doanh
nghiệp có thể tạo ra các chiến lược quảng cáo và tiếp thị hiệu quả, tăng độ nhớ và ấn
tượng của khách hàng với sản phẩm của mình và thúc đẩy sự tương tác. Họ thường sử
dụng các kỹ thuật như viết tiêu đề và thông điệp ngắn gọn, đơn giản với các cụm từ bắt
trend của giới trẻ để gây ấn tượng mạnh và kích thích khả năng ghi nhớ của đối tượng
khách hàng trẻ. Hay chẳng hạn như thiết kế những tờ rơi, áp phích màu sắc, quay những
đoạn phim quảng cáo với ý tưởng độc lạ kết hợp với âm nhạc để thu hút giác quan nghe
nhìn của các khách hàng, sau đó tiến hành chiến dịch quảng cáo ở khắp mọi nơi.
Một ví dụ tiêu biểu ở Việt Nam chính là đoạn video quảng cáo của Điện Máy Xanh,
với những hình ảnh những nhân vật người nộm màu xanh dương nhảy múa trên nhạc
nền khác lạ, đoạn video này truyền tải một thông điệp ngắn gọn, rõ ràng, dễ ghi nhớ và
được lặp đi lặp lại liên tục: “Bạn muốn mua tủ lạnh – đến Điện Máy Xanh”. Sự kì lạ
của nó đã gây một làn sóng tranh cãi lớn từ người tiêu dùng, nhiều người thậm chí tỏ ra
khó chịu, bức xúc. Tuy nhiên, càng nhiều lời than phiền, chỉ trích lại càng khiến nhiều
người tò mò tìm xem đoạn video quảng cáo này. Không thể phủ nhận đây là một cách
hiệu quả để gây chú ý và tăng mức độ nhận biết thương hiệu, mỗi lần nhắc đến mua đồ
điện tử là người ta sẽ nghĩ ngay đến đoạn video và siêu thị Điện Máy Xanh.
3.4. Trong đời sống cá nhân
Quá trình ghi nhớ cũng rất hữu ích trong đời sống cá nhân của mỗi con người, đặc
biệt là ghi nhớ máy móc. Bởi chúng ta cần ghi nhớ ghi nhớ các thông tin quan trọng
không có nội dung khái quát như số nhà, số điện thoại, ngày tháng năm sinh, kỷ niệm,
cuộc hẹn,… Nếu không nhớ được các thông tin này, ta có khả năng gặp rắc rối trong
cuộc sống hàng ngày hoặc bỏ lỡ các sự kiện quan trọng.
Còn với ghi nhớ ý nghĩa, hiện nay có nhiều người đã tìm hiểu và phát triển về các
kỹ thuật như phương pháp đọc nhanh, phương pháp ghi nhớ và tổ chức thông tin, lOMoAR cPSD| 61601688
phương pháp sử dụng sơ đồ tư duy, … để giúp các cá nhân tích lũy thêm những kỹ năng
mới, phục vụ cho quá trình học tập và làm việc.
Có vẻ ngoài ý muốn, nhưng trong đời sống cá nhân thì đôi khi sự quên lại mang đến
tác dụng tích cực. Đối với những thông tin không cần thiết, ta có thể tự chủ việc quên
bằng cách hạn chế hoặc không tái hiện chúng nữa. Điều này giúp loại bỏ bớt các thông
tin và giúp cho “bộ nhớ” của con người không bị quá tải để tập trung vào những thông
tin quan trọng hơn. Chẳng hạn, chúng ta có thể quên các chi tiết về một cuộc hội thoại
chưa quan trọng hoặc một bài học cũ. Tiếp theo, quá trình quên cũng góp phần làm giảm
stress cho con người. Khi chúng ta quên một số thông tin không quan trọng, chúng ta
có thể giảm bớt áp lực về việc phải nhớ nhiều thông tin. Hay khi ta quên đi những phiền
não và đau buồn trong ngày, ta sẽ cảm thấy nhẹ nhõm hơn và có một tâm trạng tốt nhất
có thể để chào đón một ngày mới với những điều mới. lOMoAR cPSD| 61601688
PHẦN 2. CẤU TRÚC CỦA NHÂN CÁCH VÀ CÁC YẾU TỐ ẢNH
HƯỞNG ĐẾN SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN NHÂN CÁCH
1. Sơ lược về khái niệm nhân cách
Nhân cách là một khái niệm rộng và phức tạp của tâm lí học. Ở mỗi góc độ khác
nhau, các tác giả lại có những quan điểm, quan niệm khác nhau về nhân cách.
Dựa trên quan điểm duy vật về bản chất con người của K. Marx, các nhà tâm lý duy
vật biện chứng cho rằng nhân cách có bản chất xã hội – lịch sử. Khái niệm nhân cách
vừa là một phạm trù tâm lý vừa là một phạm trù xã hội, nội dung của nhân cách là nội
dung của hiện thực xã hội cụ thể chuyển thành những đặc điểm nhân cách của mỗi con người.
Với quan niệm nhân cách bao gồm những phẩm chất tâm lý quy định hành vi xã hội
của con người, E.V. Sorokhova cho rằng: “Nhân cách là con người với tư cách là kẻ
mang toàn bộ thuộc tính về phẩm chất tâm lí, quy định hình thức hoạt động và hành vi có ý nghĩa xã hội.”
Khẳng định nhân cách là chủ thể có ý thức trong việc thực thi các vai trò xã hội,
A.G. Covaliov định nghĩa: “Nhân cách là một cả nhân có ý thức, chiếm một vị trí nhất
định trong xã hội và đang thực hiện một vai trò xã hội nhất định.”
Ở Việt Nam, tác giả Lê Đức Phúc đưa ra ý kiến nhấn mạnh tính độc đáo và tính giá
trị của nhân cách: “Nhân cách là cấu tạo tâm lý phức tạp, bao gồm những thuộc tính
tâm lý cá nhân, được hình thành, phát triển trong cuộc sống và hoạt động, tạo nên nhân
diện và quy định giá trị xã hội của mỗi người.”
Tựu trung, có thể tóm tắt những điểm tương đồng khi hiểu về khái niệm nhân cách như sau:
- Nhân cách là một chỉnh thể của nhiều thuộc tính, đặc điểm bền vững của con người
- Những đặc điểm thuộc tính ấy mang tính độc đáo riêng ở mỗi cá nhân
- Những thuộc tính nhân cách thể hiện trong hành vi xã hội, mang giá trị xã hội lOMoAR cPSD| 61601688
Kết luận, nhân cách là tổ hợp những đặc điểm, những thuộc tính tâm lý cá nhân thể
hiện bản sắc và giá trị xã hội của con người.
2. Cấu trúc của nhân cách
Nhân cách là một tổng thể thống nhất của nhiều thành phần, nhiều thuộc tính kết
hợp chặt chẽ với nhau. Nhắc đến cấu trúc nhân cách là nói đến các thành phần nào tạo
nên nhân cách, chúng được sắp xếp tổ chức ra sao và có mối quan hệ với nhau như thế
nào. Cho nên, ta có thể hiểu cấu trúc nhân cách là sự sắp xếp các thuộc tính, các thành
phần của nhân cách thành một chỉnh thể trọn vẹn tương đối ổn định trong mối liên hệ và quan hệ nhất định.
Tùy theo quan niệm về bản chất nhân cách, mỗi tác giả đưa ra cấu trúc khác nhau.
- A.G. Covaliov cho rằng, trong cấu trúc nhân cách bao gồm: các quá trình tâm
lý, các trạng thái tâm lý và các thuộc tính tâm lý cá nhân.
- K.K. Platonov thì cho rằng nhân cách bao gồm bốn tiểu cấu trúc: xu hướng (thế
giới quan, lý tưởng, niềm tin, nhu cầu, hứng thú, tâm thế), kinh nghiệm (tri thức,
kỹ năng, kỹ xảo, thói quen), đặc điểm các quá trình phản ánh (các phẩm chất trí
tuệ, phẩm chất ý chí và đặc điểm của xúc cảm, tình cảm), các thuộc tính sinh học
(khí chất, giới tính, các đặc điểm bệnh lý).
- Còn những nghiên cứu về nhân cách gần đây ở Việt Nam, các tác giả đưa ra một
cấu trúc nhân cách bao quát gồm bốn thành phần sau:
* Xu hướng của nhân cách là hệ thống những thúc đẩy quy định tính
lựa chọn của thái độ và tính tích cực của con người, bao gồm: hệ thống nhu
cầu, hứng thú, lý tưởng, niềm tin. Các thành phần này quan hệ chặt chẽ, chi
phối và tác động qua lại với nhau.
* Những khả năng của nhân cách gồm hệ thống các năng lực của cá
nhân đảm bảo cho hoạt động đạt kết quả.
* Phong cách hành vi của nhân cách gồm tính cách và khí chất.
Những thuộc tính này quy định những đặc điểm trong hành vi và tác phong của mỗi người. lOMoAR cPSD| 61601688
* “Cái tôi” - hệ thống điều khiển của nhân cách là hình ảnh tổng thể
hay biểu tượng về bản thân. “Cái tôi” được phát triển do khả năng tự ý thức
của mỗi người. Nhờ “cái tôi”, cá nhân nhận thức được bản thân, so sánh với
người khác, xác định được khoảng cách giữa mục tiêu, mong đợi và thực tế
hiện có của bản thân. Từ đó, “cái tôi”, thực hiện sự điều khiển và điều chỉnh
nhân cách của mình như: tăng cường hay giảm bớt hoạt động, tự kiểm soát
và sửa chữa hành vi, tự khích lệ và xoa dịu bản thân, dự kiến hoạch định cuộc
sống của mình. Mức độ phát triển của “cái tôi” chi phối sức mạnh và mức độ
phát triển của nhân cách. Với biểu tượng “cái tôi” khách quan và phù hợp,
con người sẽ trở thành chủ nhân của sự phát triển nhân cách chính mình.
Tuy nhiên, theo cách nhìn truyền thống của con người Việt Nam, cấu trúc nhân cách
bao gồm hai mặt có mối liên hệ thống nhất: đức và tài hay phẩm chất và năng lực. Đức (phẩm chất) Tài (năng lực)
Phẩm chất xã hội (đạo đức - chính trị): Năng lực xã hội hóa: khả năng thích
thế giới quan, lý tưởng, niềm tin, lập
ứng, năng lực sáng tạo, cơ động, mềm
trường, thái độ chính trị,…
dẻo, linh hoạt trong cuộc sống.
Phẩm chất cá nhân (đạo đức, tư cách): Năng lực chủ thể hóa: khả năng thể
các nét tính cách, thói quen, ham
hiện cái riêng, cái độc đáo, bản lĩnh cá muốn của cá nhân. nhân.
Phẩm chất ý chí: tính mục đích, tính Năng lực hành động: khả năng hành
độc lập, tính tự chủ, tính quyết đoán,
động có mục đích, chủ động, tích cực … và hiệu quả.
Cung cách ứng xử: tính khí, tác phong, Năng lực giao tiếp: khả năng thiết lập lễ tiết,…
và duy trì mối quan hệ với người khác.
Hiện nay, đây cũng chính là quan niệm mà Bộ Giáo dục và Đào tạo nước ta đang
hướng tới để phát triển nhân cách cho học sinh trong quá trình giáo dục. Chương trình
giáo dục phổ thông 2018 được ban hành đã khẳng định học sinh trung học cần hình
thành và rèn luyện tổng cộng 5 phẩm chất và 10 năng lực. Năm phẩm chất chủ yếu là
yêu nước, nhân ái, chăm chỉ, trung thực, trách nhiệm. Mười năng lực cốt lõi bao gồm 3
năng lực chung được hình thành, phát triển trong tất cả các môn học và hoạt động giáo lOMoAR cPSD| 61601688
dục: năng lực tự chủ và tự học, năng lực giao tiếp và hợp tác, năng lực giải quyết vấn
đề và sáng tạo; 7 năng lực chuyên biệt được hình thành và phát triển thông qua một số
môn học và hoạt động giáo dục nhất định: năng lực ngôn ngữ, năng lực tính toán, năng
lực khoa học, năng lực công nghệ, năng lực tin học, năng lực thẩm mỹ, năng lực thể
chất. Tùy bối cảnh xã hội, yêu cầu về nhân cách con người cũng có sự thay đổi bởi vì
tâm lý người mang bản chất xã hội - lịch sử.
3. Các yếu tố ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển nhân cách
Nhân cách không có sẵn từ thuở sơ sinh, cũng không phải là sự bộc lộ dần ra từ các
bản năng nguyên thuỷ mà nhân cách là các cấu tạo tâm lý mới được hình thành trong
quá trình sống - giao tiếp, vui chơi, học tập, lao động,… Sự hình thành nhân cách là tiến
trình suốt cả cuộc đời con người dù ở mỗi giai đoạn có những khác biệt nhất định. Trong
quá trình đó, có rất nhiều yếu tố chi phối sự hình thành và phát triển nhân cách, nhưng
năm yếu tố sau đây là quan trọng nhất. 3.1. Sinh học
Yếu tố sinh học là những đặc điểm hình thái - sinh lí đặc trưng cho mỗi cá thể như
đặc điểm cơ thể (như màu da, tóc, vóc dáng,…), hệ thần kinh, cấu trúc và chức năng
não bộ,… Những đặc điểm này có thể là bẩm sinh (sinh ra đã có) hoặc được di truyền
(ghi lại trong gen truyền cho các thế hệ sau).
Theo quan điểm tâm lí học K. Marx thì yếu tố sinh học giữ vai trò tiền đề cho sự
hình thành và phát triển. Chúng không quyết định chiều hướng cũng như giới hạn phát
triển của nhân cách con người, mặc dù có thể gây ảnh hưởng đến quá trình hình thành
tài năng, xúc cảm, sức khoẻ thể chất... trong giai đoạn đầu của quá trình phát triển con người.
Ở một số trường hợp đặc biệt, yếu tố sinh học có thể ảnh hướng tới mức độ cao tạo
ra sự khác biệt về những đặc điểm nhân cách nào đó giữa các cá nhân, rõ ràng nhất ở
lĩnh vực năng lực. Điển hình như thiên tài âm nhạc Mozart, ông sinh ra và lớn lên trong
môt gia đ ̣ ình tràn đầy chất âm nhạc. Cùng với sự chăm lo dạy dỗ của người cha mà khi lOMoAR cPSD| 61601688
3 tuổi Mozart đã nghe được nhạc, khi 4 tuổi ông đã đánh được đàn dương cầm và organ,
khi lên 5 bắt đầu soạn nhạc cho đàn phím và viết bản nhạc hòa tấu lúc 8 tuổi. 3.2. Môi trường
Môi trường là tập hợp các yếu tố tự nhiên và yếu tố vật chất nhân tạo quan hệ mật
thiết với nhau, bao quanh con người, có ảnh hưởng đến đời sống sản xuất, sự tồn tại,
phát triển của con người và thiên nhiên.
Có hai cách phân chia về môi trường:
- Môi trường tự nhiên và môi trường xã hội, trong đó môi trường tự nhiên bao
gồm các điều kiện tự nhiên - sinh thái phục vụ cho đời sống con người; môi
trường xã hội bao gồm hệ thống quan hệ chính trị, xã hội - lịch sử, văn hóa giáo dục,…
- Môi trường vĩ mô và môi trường vi mô, trong đó môi trường vĩ mô là toàn bộ
những sự kiện và hiện tượng xã hội diễn ra trong phạm vi rộng về không gian và
kéo dài về thời gian; môi trường vi mô được giới hạn ở phạm vi hẹp, gần gũi với
cuộc sống con người bao gồm gia đình, nhà trường, các tổ chức Đoàn, Hội, câu lạc bộ,…
Môi trường có vai trò là nguồn gốc của sự hình thành và phát triển nhân cách. Môi
trường tự nhiên có thể tác động một phần đến nếp suy nghĩ hay hướng phát triển năng
lực nào đó của con người nhưng không trực tiếp. Môi trường xã hội mới ảnh hưởng to
lớn đến sự phát triển nhân cách. Một xã hội nghèo đói và xung đột sẽ tác động đến mặt
đạo đức và định hướng giá trị của con người sống trong xã hội ấy, nền kinh tế thị trường
ứng dụng công nghệ và kỹ thuật cao chi phối hướng phát triển năng lực và hình thành
các nét tính cách mới ở con người. Những chuẩn mực, tập tục của các dân tộc, các nền
văn hóa góp phần tạo nên bản sắc về lối sống và nét đạo đức của nhân cách.
Môi trường vĩ mô cho con người một không gian học tập và quan hệ rộng mở, hình
thành nên một thế giới ngày càng “phẳng” giúp sự hình thành năng lực đa dạng, những
nét tính cách mới, nhu cầu thị hiếu cao của con người. Còn trong môi trường vi mô, gia
đình là cái nôi, quy định phần lớn nhân cách của chúng ta. Cha mẹ và người thân trong lOMoAR cPSD| 61601688
gia đình góp phần rất lớn cho định hướng lối sống năng lực và nghề nghiệp, đồng thời
là người dạy dỗ, uốn nắn con cái về đạo đức phép tắc, cách ứng xử. Bầu không khí, lối
sống, phương pháp giáo dục của gia đình và tấm gương sống thực tế của cha mẹ đều
ảnh hưởng lớn đến nhân cách của trẻ.
Ví dụ như một đứa trẻ sống ở Mỹ - đất nước phát triển, đa sắc tộc, đa văn hóa sẽ
khác một đứa trẻ sống ở Việt Nam - đất nước đang phát triển với nền văn hóa phương
Đông đậm nét. Đứa trẻ sống ở Mỹ sẽ có lối sống phóng khoáng hơn, tự do hơn và cũng
có thể là năng động hơn những đứa trẻ sống ở Việt Nam sẽ có lối sống khuôn phép và kín đáo hơn.
Có thể thấy, môi trường góp phần tạo nên mục đích, động cơ, phương tiện và điều
kiện cho hoạt động giao lưu của cá nhân, nhờ đó giúp con người chiếm lĩnh được các
kinh nghiệm để hình thành và phát triển nhân cách của mình. Tuy nhiên, tính chất và
mức độ ảnh hưởng của môi trường đối với sự hình thành và phát triển nhân cách còn
tùy thuộc vào lập trường, quan điểm, thái độ của cá nhân đối với các ảnh hưởng đó,
cũng như tùy thuộc vào xu hướng và năng lực, vào mức độ cá nhân tham gia cải biến môi trường. 3.3. Giáo dục
Giáo dục được hiểu là toàn bộ các tác động có mục đích, có tổ chức, có kế hoạch từ
gia đình, nhà trường, xã hội (bao gồm cả dạy học và các tác động giáo dục khác) lên
con người nhằm thực hiện có hiệu quả các mục đích đã đề ra.
Trong sự hình thành và phát triển nhân cách, yếu tố giáo dục giữ vai trò chủ đạo.
- Giáo dục đem lại cho con người ta tri thức, kinh nghiệm mà yếu tố bẩm sinh –
di truyền hay môi trường tự nhiên không thể đem lại được.
Chẳng hạn như trẻ em đến 2 tuổi sẽ biết đi, 3 tuổi sẽ biết nói, đó là những cái mà
yếu tố bẩm sinh - di truyền đem lại. Nhưng trẻ không thể tự biết đọc, biết viết, biết về
các quy tắc xã hội, các kiến thức khoa học nếu không được chỉ bảo và dạy dỗ, đây là
cái mà chỉ yếu tố giáo dục mới có thể đem lại. lOMoAR cPSD| 61601688
- Giáo dục có thể uốn nắn những phẩm chất tâm lý xấu do tác động tự phát của
môi trường xã hội gây nên và làm cho nó phát triển theo chiều hướng mong muốn của xã hội.
Lấy ví dụ trường hợp những thanh thiếu niên nhiễm thói hư tật xấu, vi phạm pháp
luật thì việc đưa các em vào trại giáo dưỡng và áp dụng các biện pháp giáo dục đặc biệt
sẽ giúp uốn nắn, điều chỉnh sự phát triển tâm lý và nhân cách của các em sao cho phù
hợp với các chuẩn mực xã hội.
- Giáo dục cũng bù đắp những thiếu hụt, hạn chế trong tâm lý người do các yếu tố
bẩm sinh - di truyền không bình thường, do hoàn cảnh bị tai nạn hay chiến tranh gây nên.
Đối với những trẻ em bị khuyết tật, có thể sử dụng phương pháp giáo dục đặc biệt
như dạy chữ nổi cho trẻ khiếm thị, cử chỉ tay cho trẻ câm điếc bẩm sinh để các em vẫn
có thể tiếp thu được tri thức và kỹ năng như những bạn khác, giúp các em tự tin, mạnh
dạn hơn trong giao tiếp, hòa nhập được với cộng đồng xã hội.
Cuối cùng, lưu ý ta không nên tuyệt đối hóa vai trò của giáo dục, giáo dục chỉ vạch
ra phương hướng và thúc đẩy sự hình thành, phát triển của nhân cách mà thôi. 3.4. Hoạt động
Hoạt động là mối quan hệ tác động qua lại giữa con người và thế giới (khách thể) để
tạo ra sản phẩm cả về thế giới và cả về phía con người (chủ thể), là phương thức của sự
tồn tại xã hội loài người nói chung và con người nói riêng. Mọi tác động của môi trường
hay giáo dục đều là những yếu tố bên ngoài, chúng sẽ không thể được phát huy tác dụng
và trở thành hiện thực nếu con người không có hoạt động tiếp nhận các tác động ấy.
- Nhân cách hình thành từ yêu cầu của hoạt động. Mỗi hoạt động có những yêu
cầu đặc trưng, đòi hỏi con người phải có những phẩm chất tâm lý nhất định.
Tham gia vào hoạt động, con người phải có những hành động, những thao tác
thích hợp với đối tượng của hoạt động, phải phát triển những phẩm chất và năng
lực để có thể đáp ứng với hoạt động đó.