



Preview text:
GIỚI THIỆU ẨM THỰC QUÊ HƯƠNG MANG TÍNH ĐẶC TRƯNG, CHỨC NĂNG, CÁC GIÁ TRỊ CÓ TRONG CỘNG ĐỒNG?
Theo khái niệm Hán Việt được định nghĩa một cách đơn giản là hành động cơ bản của con người, trong đó “ẩm” có nghĩa là uống và “thực” có nghĩa là ăn. Văn hóa ẩm thực bao gồm cả cách chế biến, bày biện và thưởng thức từng món ăn, thức uống, từ đơn giản, đạm bạc đến cầu kỳ, mỹ vị. Chung nhất là vậy, song khi nói đến văn hóa ẩm thực ở một đất nước hay một vùng miền nào đó thì phải nói đến đặc điểm, tình hình ở đó mới có thể nêu được bản sắc văn hóa của từng dân tộc hay từng vùng miền cụ thể. Văn hóa ẩm thực là văn hóa phi vật thể, việc nhấn mạnh những nét tinh tế về phong cách và thẩm mỹ là điều không thể không quan tâm, nhưng khi đề cập đến món ăn mà không giới thiệu đặc điểm của nguyên liệu, và nói qua ít nhiều cách chế biến.
Giữa lòng đất Cố đô yên bình, nơi từng con phố nhỏ vẫn phảng phất mùi trầm hương và tiếng rao nhẹ nhàng buổi sớm, Nhắc đến bánh Huế là nhắc đến một “bản giao hưởng” của hương và vị với những cái tên thân quen như bánh bèo, bánh lọc, bánh ít, bánh ram ít, và tất nhiên không thể thiếu bánh nậm. Trong bộ sưu tập ấy, bánh nậm như một làn gió nhẹ, không quá béo, không quá dai, mà vừa vặn để người ta thương nhớ. Một món bánh mộc mạc đã gói trọn cả ký ức và hồn cốt ẩm thực Huế. Không cầu kỳ như cao lương mỹ vị, cũng chẳng cần màu mè phô trương, chiếc bánh nhỏ gói trong lớp lá chuối xanh mướt lại có sức hút lạ kỳ nhờ vào sự tinh tế từ nguyên liệu, cách làm đến hương vị. Mỗi lớp bột mỏng mềm như lụa, bên trong ẩn chứa nhân tôm thịt đậm đà, thơm lừng, chan chút nước mắm ngọt là đủ để đánh thức mọi giác quan. Bánh nậm nổi bật bởi sự thanh tao, dễ ăn và phù hợp cả trong bữa sáng, tiệc trà hay quà biếu, góp phần làm nên “nghệ thuật ẩm thực cung đình pha lẫn dân gian” của vùng đất cố đô.
Vậy bánh nậm Huế là gì, và vì sao món ăn này lại khiến bao du khách thổn thức sau mỗi lần ghé thăm? Hãy cùng khám phá món bánh dân dã nhưng mang đậm dấu ấn văn hóa của xứ Huế mộng mơ.
Bánh nậm là một loại bánh mặn truyền thống của xứ Huế, được làm từ bột gạo mịn, tráng mỏng như lớp lụa, gói bằng lá chuối xanh, bên trong là phần nhân tôm thịt được xào thơm với hành, tiêu và nước mắm. Khi hấp chín, bánh mềm dẻo, thơm ngát mùi lá và bột gạo hòa quyện cùng nhân mặn mà. Dù nhỏ nhắn, giản dị, nhưng bánh nậm lại toát lên vẻ tinh tế đặc trưng của ẩm thực Huế nơi mọi thứ đều nhẹ nhàng, chỉn chu và đầy trân quý từ cách làm đến cách thưởng thức. Bởi lẽ, bánh nậm không chỉ là một món ăn thường ngày, mà còn là hình ảnh thu nhỏ của phong cách sống Huế: mộc mạc, tinh tế, giàu chiều sâu. Từng chiếc bánh được gói cẩn thận, hấp vừa tới, bày ra đĩa như một tác phẩm thủ công giản dị nhưng cuốn hút.
Bánh nậm được cho là xuất hiện từ thời xa xưa trong các gia đình bình dân của vùng đất Thừa Thiên Huế, khi người dân tận dụng bột gạo và nguyên liệu địa phương để tạo nên món ăn giản dị mà ngon miệng. Dần theo thời gian, bánh nậm không chỉ gói trong gian bếp làng quê mà còn len lỏi vào các mâm cơm cung đình, được các bà, các mẹ Huế gìn giữ như một nét duyên ẩm thực riêng của Cố đô – nơi mỗi món ăn đều có câu chuyện và tâm hồn riêng biệt. Trong mâm cỗ Huế, từ tiệc cưới, giỗ chạp đến lễ chay ở chùa. Bánh nậm luôn giữ một chỗ khiêm nhường mà tinh tế. Không chỉ góp mặt trong nghi thức cúng bái trang nghiêm, bánh nậm còn là món ăn sáng quen thuộc của người Huế, gắn bó với đời sống hằng ngày qua từng tiếng rao “ai ăn bánh nậm không?”. Trong các dịp lễ hội, bánh nậm như gợi lại hồn quê giữa không gian trầm mặc, giúp người thưởng thức cảm nhận được cái đẹp của sự mộc mạc, gần gũi. Bánh nậm ngon nhất khi được ăn nóng, vừa bóc ra khỏi xửng hấp, còn thoảng khói nhẹ. Người Huế thường rưới một thìa nước mắm ngọt pha tỏi ớt lên bề mặt bánh, rồi dùng muỗng nhè nhẹ tách từng phần nhỏ để thưởng thức. Nước mắm thấm vào lớp bột mịn, khiến vị bánh càng thêm tròn trịa. Không cầu kỳ, không bày biện phức tạp, cách ăn bánh nậm chính là một phần tinh tế trong văn hóa ẩm thực Huế, nơi mọi thứ đều nhẹ nhàng và sâu sắc.
Ngày nay, bánh nậm đã trở thành món ăn không thể thiếu trong các tour ẩm thực Huế, thu hút du khách trong và ngoài nước. Từ những quán nhỏ ven sông Hương đến các nhà hàng truyền thống trong phố cổ, bánh nậm luôn hiện diện như một biểu tượng của ẩm thực đất Cố đô. Du khách không chỉ được thưởng thức bánh nóng hổi tại chỗ, mà còn được chứng kiến quá trình làm bánh thủ công – một trải nghiệm gần gũi, chân thực và đầy cảm xúc giữa không gian xưa cũ. Nhiều người chia sẻ, cảm giác được ngồi trên chiếc ghế nhựa nhỏ, thưởng thức bánh nậm nóng chan nước mắm ngọt, giữa không gian đậm chất Huế, là một trong những kỷ niệm đáng nhớ nhất trong hành trình khám phá vùng đất cố kính này. Bánh nậm, theo cách đó, đã trở thành cầu nối giữa người Huế và du khách thập phương.
Giữa muôn vàn tinh hoa ẩm thực đất Việt, bánh nậm Huế vẫn giữ cho mình một vị trí riêng – nhỏ bé nhưng sâu lắng, đơn sơ mà đậm tình. Đó không chỉ là món ăn, mà còn là ký ức, là hương vị quê hương theo từng lớp bánh mềm mịn, thơm mùi lá chuối và đậm đà vị nhân tôm thịt. Trong thời đại mà các món ăn nhanh, hiện đại lên ngôi, bánh nậm vẫn tồn tại như một chứng nhân của ký ức Huế xưa. Mỗi chiếc bánh là một lát cắt văn hóa, mang theo sự cần mẫn, tinh tế và tình yêu bếp núc của người dân Cố đô. Giữ gìn bánh nậm không chỉ là giữ một công thức nấu ăn, mà còn là gìn giữ bản sắc văn hóa Huế..nơi cái ngon không nằm ở sự phô trương, mà ở cái cách người ta trân quý từng món ăn như một phần máu thịt quê hương.
1. Áo Dài: Linh hồn dân tộc và hơi thở thời đại
Cội nguồn và sự chuyển mình
Áo dài không tự nhiên mà có, nó là kết quả của một hành trình "gạn đục khơi trong" suốt hàng thế kỷ. Khởi nguồn từ chiếc áo Giao Lĩnh, qua áo Tứ Thân mộc mạc của người phụ nữ lao động, rồi đến áo Ngũ Thân tượng trưng cho ngũ hành và đạo đức làm người. Sự đóng góp lớn nhất của áo dài trong lịch sử xã hội chính là khả năng văn hóa hóa trang phục: nó biến một vật phẩm che thân thành biểu tượng cho cốt cách thanh cao, sự kín đáo nhưng đầy kiêu hãnh của người Việt.
Sự liên kết và cách tân uyển chuyển
Ấn tượng mạnh mẽ nhất ở Áo dài chính là sự uyển chuyển. Hiếm có trang phục nào vừa mang tính bảo thủ (giữ nguyên cổ cao, hai tà) lại vừa cởi mở với những cách tân (như áo dài Lemur, áo dài Raglan). Sự kết nối giữa quá khứ và hiện tại nằm ở chỗ: dù thay đổi chất liệu hay kiểu dáng, Áo dài vẫn giữ được cấu trúc "mềm mại hóa" cơ thể người phụ nữ, tạo nên một nhịp cầu nối giữa truyền thống và tinh thần tự do hiện đại.
Đóng góp xã hội và dịp sử dụng
Ngày nay, Áo dài không chỉ là "quốc phục" mà còn là một đại sứ văn hóa. Trong xã hội, nó xóa tan ranh giới giàu nghèo, tuổi tác; ai mặc áo dài cũng đều toát lên vẻ trang trọng.
- Dịp sử dụng: Áo dài hiện diện trong các dịp lễ Tết, cưới hỏi, các nghi lễ ngoại giao quốc tế và là đồng hồ đo sự tinh tế trong môi trường học đường, công sở.
Lời kết: Áo dài chính là bản tuyên ngôn về một Việt Nam vừa yêu kiều, nhã nhặn, vừa kiên cường và luôn vận động không ngừng.
2. Áo Nhật Bình: Di sản vàng son và khát vọng phục hưng
Cội nguồn và ý nghĩa quyền quý
Nếu Áo dài là vẻ đẹp thanh tao của đời thường, thì Áo Nhật Bình lại là biểu tượng của sự quyền quý, chuẩn mực dưới triều Nguyễn. Tiền thân là áo Đối Khâm, Nhật Bình được dành riêng cho các bậc hậu phi, công chúa. Trong xã hội phong kiến, nó đóng vai trò là "thước đo phẩm cấp", xác lập trật tự và lễ nghi cung đình, góp phần tạo nên một diện mạo văn hóa rực rỡ và có hệ thống cho dân tộc.
Chi tiết nghệ thuật: Ngôn ngữ của biểu tượng
Ấn tượng sâu sắc nhất của Nhật Bình nằm ở hệ thống hoa văn và cấu trúc:
- Cổ áo: Hình chữ nhật đặc trưng trước ngực (nguồn gốc của tên gọi Nhật Bình) không chỉ là bố cục hình khối mà còn tượng trưng cho sự ngay thẳng, chính trực.
- Vạt áo và dải ngũ sắc: Phần tay áo với 5 vòng màu (lục, vàng, xanh, trắng, hồng/đỏ) tượng trưng cho Ngũ hành (Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ), thể hiện sự giao hòa giữa con người và vũ trụ.
- Chi tiết sóng nước (Thủy ba): Ở gấu áo thường thêu họa tiết sóng nước vô cùng tinh xảo. Đây là biểu tượng của sự trường tồn, bền vững và khát vọng về một đất nước thái bình, thịnh trị.
Sự cách tân và sự trở lại trong xã hội hiện đại
Sau một thời gian dài bị mai một, Nhật Bình đang có sự "hồi sinh" mạnh mẽ. Sự cách tân hiện nay không nằm ở việc thay đổi kiểu dáng mà ở việc ứng dụng các chất liệu mới, nhẹ nhàng hơn để phù hợp với người trẻ. Nó đóng góp cho xã hội hiện đại một cái nhìn tự hào về mỹ thuật cổ, khơi dậy tinh thần bảo tồn di sản trong thế hệ Gen Z.
- Dịp sử dụng: Hiện nay, Nhật Bình được các bạn trẻ ưu ái sử dụng trong lễ cưới (thay cho váy cưới phương Tây), các buổi chụp ảnh nghệ thuật, lễ hội văn hóa và các sự kiện tôn vinh giá trị truyền thống.
Lời kết: Nhật Bình không chỉ là một chiếc áo; đó là một bức tranh lịch sử sống động, nơi mỗi đường kim mũi chỉ đều kể câu chuyện về sự uy nghi và tâm hồn duy mỹ của cha ông.
NHẬT BÌNH
Áo Nhật Bình là Triều phục dành cho cung tần nhất, nhị, tam, tứ giai và là Thường phục của hoàng hậu, công chúa. Áo Nhật Bình có nguyên mẫu là dạng áo Phi Phong thời Minh, là loại áo xẻ cổ, có dạng đối khâm, cổ áo to bản tạo thành hình chữ nhật ở trước ngực, dưới ức có dải vải buộc hai vạt áo. Do hoa văn ở cổ áo khi ghép lại tạo thành một hình chữ nhật ngay trước ngực người mặc, nên áo này gọi là áo Nhật Bình. Khắp thân áo trang trí theo thể thức hoa văn chính là dạng hình tròn khép kín, rải rác khắp áo đan xen với các hình phượng múa, hoa lá đính thêm các hạt tuyến lấp lánh. Ở tay áo đặc biệt có dải màu ngũ hành; lục, vàng, xanh, trắng, đỏ. Tuy nhiên quy chế tay dãy màu này lại không áp dụng trên loại áo Nhật Bình của bậc Hậu.
Xuyên suốt chiều dài lịch sử Việt Nam, có thể nhận thấy qua ghi chép về điển lễ và phẩm phục triều nghi của nước ta, các đời Lý Trần Lê cho đến nhà Nguyễn đều được xây dựng dựa trên cơ sở của cùng các triều đại Trung Hoa như Hán, Đường, Tống, Minh nhưng theo lối “đại đồng tiểu dị”, vẫn mang những nét đặc sắc rất riêng của Đại Việt ta.
Theo quy chế nhà Nguyễn thì màu áo của bậc Hậu đều là màu vàng chính sắc, đôi khi là màu cam; còn bậc Công chúa đều là màu đỏ chính sắc, bậc Phi tần nhị giai là màu xích đào, bậc Tam giai là màu tím chính sắc và bậc Tứ giai là màu tím nhạt, bậc phi tần thấp hơn không có quy định trang phục này. Màu sắc áo của các mệnh phụ quy định dựa vào phẩm cấp của chồng. Bậc Nữ quan có trang phục đơn giản hơn hẳn, gần với áo Phi Phong nguyên mẫu nhất.
Vào thời Gia Long và Minh Mạng, quy chế còn đủ đầy, áo Nhật Bình thường phối với một bộ Xiêm y màu tuyết bạch, đội mũ Phượng tùy thứ bậc. Tuy nhiên về sau, nhất là từ thời Đồng Khánh trở đi, trang phục này thường phối với quần ống trắng và vấn khăn vành to bản, cho thấy quy chế thời kì cuối nhìn chung ở cung đình đã tối giản hơn hẳn. Sau khi thời Nguyễn kết thúc, bộ áo này trở thành bộ áo trang trọng của giới quý tộc được mặc vào một số dịp lễ và nhất là ngày cưới. Trong xã hội ngày nay, chúng ta đang dần hướng về với những căn cước văn hóa của dân tộc, nỗ lực bảo tồn và phát triển giá trị truyền thống từ những trang phục truyền thống của Việt Nam. Rất nhiều cô dâu ở Huế từng một lần khoác lên mình chiếc áo Nhật Bình khi vái lạy bàn thờ tổ tiên trong ngày theo chồng, nhưng ngày nay nhiều người đôi khi lại không biết đó là kiểu trang phục có tên rất hay và in đậm giá trị của người Việt. Tôi nhận thấy bên cạnh việc phát triển những yếu tố xã hội khác thì chúng ta cần phải lưu tâm phát triển, gìn giữ cho được giá trị riêng vốn có của trang phục truyền thống Việt Nam nói chung và Nhật Bình nói riêng.
Hiện nay, nhiều nhà may ở các thành phố lớn đã may, bán và cho thuê áo Nhật Bình. Đây cũng là mẫu trang phục gần gũi với nhiều cô dâu trong ngày cưới khi hành lễ trước ban thời gia tiên. Hình ảnh cổ phục Việt Nam càng ngày càng đến gần hơn với thế hệ trẻ, giữ gìn những nét đẹp của văn hóa dân tộc. Áo Nhật Bình chính là một trong những trang phục mang yếu tố để thể hiện cái riêng, mang dấu ấn đậm chất cung đình trong triều đại quân chủ cuối cùng của nước ta.