


















Preview text:
lOMoAR cPSD| 58728417 BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI BÀI TẬP NHÓM
BỘ MÔN TRIẾT HỌC ĐỀ BÀI SỐ 4 :
Từ nội dung và ý nghĩa phương pháp luận của cặp
phạm trù: "bản chất và hiện tượng", hãy vận dụng để
nhận thức và giải quyết vấn đề "ô nhiễm không khí ở
thành phố Hà Nội" Nhóm: 04 Lớp 4802
Hà Nội – Tháng 12 năm 2023 lOMoAR cPSD| 58728417 Nhóm: 04 Lớp: 4802
Tổng số sinh viên của nhóm: 12 + Có mặt: 12
+ Vắng mặt: 0 Có lý do: 0 Không lý do: 0
Tên bài tập: Từ nội dung và ý nghĩa phương pháp luận của cặp phạm trù “bản chất
và hiện tượng”, hãy vận dụng để nhận thức và giải quyết một vấn đề của thực tiễn.
Xác định mức độ tham gia và kết quả tham gia của từng sinh viên trong việc thực
hiện bài tập nhóm. Kết quả như sau: Tiến độ thực hiện
(đúng hạn) Mức độ hoàn thành Họp nhóm Kết luận Ký Họ và tên Công việc thực Đóng hiện Xếp tên Tham Tích góp loại1 Không gia cực Có Không Tốt Trung nhiều bình tốt đầy sôi ý đủ nổi tưởng -Tìm hiểu nội Dương Thùy 1 dung mối quan x x x x x A Linh hê -Tìm hiểu nội Lê Khánh 2 dung mối quan x x x x x A Linh hệ -Tìm hiểu nội 3 Long Thị dung mối quan x x x x x A Thảo Linh hệ -Tìm hiểu nội dung vấn đề Lộc Thùy 4 thực tiễn - x x x x x A Linh Góp ý PowerPoint -Tìm hiểu nội Ngô Nhật 5 dung vấn đề x x x x x A Linh thực tiễn -Tìm hiểu nội Phạm Thùy dung vấn đề 6 thực tiễn - x x x x x A Linh Thuyết trình
1 Có ba mức xếp loại: A: Tốt; B: Khá; C: Trung bình lOMoAR cPSD| 58728417 -Tìm hiểu nội Phạm Hoàng 7 dung ý nghĩa x x x x x A Long PPL -Tìm hiểu nội Trịnh Công dung ý nghĩa 8 x x x x x A Lương PPL -Thuyết trình -Tìm hiểu nội dung vấn đề 9 Nguyễn x x x x x A Khánh Ly thực tiễn - Viết báo cáo -Tìm hiểu nội dung vấn đề Hoàng Thị thực tiễn -Góp 10 x x x x A Trà My ý tiểu luận x Nguyễn Trà -Tìm hiểu nội 11 x x x x A My dung khái niệm x -Tìm hiểu nội dung ý nghĩa Trương Ngọc 12 PPL -Làm x x x x x A Trà My powerPoint
Hà Nội, ngày……tháng….năm 2023
Kết quả điểm bài viết:
+ Giáo viên chấm thứ nhất:............................... +
Giáo viên chấm thứ hai:.................................
- Kết quả điểm thuyết trình:.............................. - Giáo viên cho
thuyết trình:............................. - Điểm kết luận cuối
cùng:……………………
- Giáo viên đánh giá cuối cùng:.......................... Nhóm trưởng (ký và ghi rõ họ tên) Ly lOMoAR cPSD| 58728417 Nguyễn Khánh Ly lOMoAR cPSD| 58728417 MỤC LỤC
A. LỜI MỞ ĐẦU.....................................................................................................1
B. NỘI DUNG..........................................................................................................2
CHƯƠNG I: NỘI DUNG VÀ Ý NGHĨA PHƯƠNG PHÁP LUẬN CỦA CẶP
PHẠM TRÙ:"BẢN CHẤT VÀ HIỆN TƯỢNG".................................................2
1. Khái niệm cặp phạm trù bản chất và hiện tượng...................................................2
2. Mối quan hệ biện chứng giữa bản chất và hiện tượng..........................................2
2.1 Bản chất và hiện tượng đều tồn tại khách quan...................................................2
2.3 Sự mâu thuẫn giữa bản chất và hiện tượng.........................................................3
3. Ý nghĩa phương pháp luận....................................................................................4
CHƯƠNG II: VẬN DỤNG NỘI DUNG VÀ Ý NGHĨA PHƯƠNG PHÁP LUẬN
CỦA CẶP PHẠM TRÙ BẢN CHẤT HIỆN TƯỢNG VÀO NHẬN THỨC VÀ
GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ Ô NHIỄM KHÔNG KHÍ Ở HÀ NỘI HIỆN
NAY...............................................................................................................4
1. Thực trạng của vấn đề ô nhiễm không khí hiện nay..............................................5
2. Bản chất – hiện tượng của vấn đề “Ô nhiễm không khí ở Hà Nội hiện nay”........5
2.1. Phạm trù “bản chất” trong vấn đề “Ô nhiễm không khí hiện nay”....................5
2.2. Phạm trù “hiện tượng” trong vấn đề “Ô nhiễm không khí ở Hà Nội hiện nay”.6
2.3. Mối quan hệ biện chứng của phạm trù “bản chất và hiện tượng” trong vấn đề
“Ô nhiễm không khí ở Hà Nội hiện nay”..................................................................8
2.3.1 Bản chất và hiện tượng tồn tại khách quan trong cuộc
sống............................8
2.3.2 Bản chất và hiện tượng có sự thống nhất trong mỗi sự
vật.............................8 lOMoAR cPSD| 58728417 2.3.3 Sự đối lập giữa bản chất và hiện
tượng............................................................9
3. Vận dụng để rút ra giải pháp cho vấn đề “Ô nhiễm không khí ở Hà Nội hiện nay”
.................................................................................................................................10
3.1.Ý nghĩa của phương pháp luận được biểu hiện trong vấn đề............................10
3.2. Đề xuất giải pháp cho vấn đề “Ô nhiễm không khí ở Hà Nội hiện nay”.........10 3.2.1. Đối với Nhà
Nước.........................................................................................10 3.2.2. Đối với cá
nhân............................................................................................. 11
C. KẾT LUẬN…………………………………………………………………….
D. DANH MỤC THAM KHẢO………………………………………………….. lOMoAR cPSD| 58728417 A. LỜI MỞ ĐẦU
Trong triết học, có nhiều quan điểm khác nhau về quá trình chuyển hóa, vận động
và phát triển của các sự vật, hiện tượng, với hai hình thức chủ yếu là phép biện chứng
duy tâm và phép biện chứng duy vật. Trong đó, phép biện chứng duy vật do Mác và
Ăng ghen sáng lập đã có các quan điểm tương đối hoàn thiện và được kế thừa đến
ngày nay. Khi nhắc đến phép biện chứng này, không thể không nhắc đến các phạm
trù cơ bản, trong đó điển hình là cặp phạm trù bản chất và hiện tượng đã đem đến
cho nhóm chúng em cái nhìn sâu sắc về nhiều khía cạnh trong thực tế cuộc sống.
Mỗi chúng ta cần quan sát và đánh giá các vấn đề một cách khách quan, khoa học
thông qua tìm hiểu đầy đủ, toàn diện các hiện tượng bên ngoài. Từ đó đưa ra các kết
luận đúng đắn về bản chất bên trong. Qua đó giúp chúng ta có được nhận thức đúng
đắn nhất về một sự vật hiện tượng.
Theo báo cáo thống kê mới nhất trên ứng dụng IQAir, Hà Nội đã xếp trong top 3
thành phố ô nhiễm không khí nhất thế giới, với các chỉ số AQI chạm ngưỡng báo
động, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe con người. Còn xét theo khu vực, có
những ngày, tình trạng ô nhiễm không khí ở trung tâm thành phố Hà Nội đã lên mức
rất xấu với nồng độ bụi mịn nhiều trạm vượt con số 200, mức cảnh báo nguy hại cao
nhất tới sức khỏe. Theo Sở Tài Nguyên và Môi Trường Hà Nội, số người thiệt mạng
do các nguyên nhân bắt đầu từ bụi mịn của Hà Nội gần 5.800 người mỗi năm, chiếm
32% miền Bắc. Ô nhiễm không khí ở Hà Nội đang là một trong những thực trạng
được quan tâm nhất bây giờ do những hậu quả nghiêm trọng mà ô nhiễm không khí gây ra.
Vậy nên nhóm chúng em xin chọn đề bài chính là “Vận dụng nội dung và ý nghĩa
phương pháp luận của cặp phạm trù bản chất và hiện tượng vào nhận thức và giải
quyết vấn đề ô nhiễm không khí ở Hà Nội hiện nay”
B. NỘI DUNG CHƯƠNG I: NỘI DUNG VÀ Ý NGHĨA PHƯƠNG PHÁP LUẬN CỦA CẶP
PHẠM TRÙ:"BẢN CHẤT VÀ HIỆN TƯỢNG"
1. Khái niệm cặp phạm trù bản chất và hiện tượng
Trước hết, phạm trù được hiểu là những khái niệm chung nhất, rộng nhất phản
ánh những mặt, những mối liên hệ bản chất của các sự vật, hiện tượng trong tự nhiên,
xã hội và tư duy. Phạm trù triết học mang tính biện chứng và tính khách quan. Bản
chất - hiện tượng là một cặp phạm trù trong phép biện chứng duy vật của chủ nghĩa
Mác-Lênin và là một trong những nội dung của nguyên lý về mối liên hệ phổ biến lOMoAR cPSD| 58728417
dùng để chỉ mối quan hệ biện chứng giữa bản chất và hiện tượng. Trong đó, bản chất
là phạm trù triết học dùng để chỉ tổng thể các mối liên hệ khách quan, tất nhiên,
tương đối ổn định bên trong, quy định sự vận động, phát triển của đối tượng và thể
hiện mình qua các hiện tượng tương ứng của đối tượng. Ví dụ: Bản chất của pháp
luật là công cụ để Nhà nước tổ chức và quản lí xã hội hay nhằm thể hiện ý chí của
giai cấp thống trị. Hiện tượng là phạm trù triết học dùng để chỉ những biểu hiện của
các mặt, mối liên hệ tất nhiên tương đối ổn định ở bên ngoài; là mặt dễ biến đổi hơn
và là hình thức thể hiện của bản chất đối tượng. Ví dụ: Pháp luật có bản chất là công
cụ để Nhà nước tổ chức và quản lí xã hội hay nhằm thể hiện ý chí của giai cấp thống
trị thì hiện tượng chính là việc Nhà nước ban hành ra pháp luật và đảm bảo pháp luật
được thực hiện bằng các biện pháp tuyên truyền, phổ biến, giáo dục, thuyết phục,
vận động, động viên khen thưởng hay áp dụng các biện pháp cưỡng chế nhà nước.
2. Mối quan hệ biện chứng giữa bản chất và hiện tượng
2.1 Bản chất và hiện tượng đều tồn tại khách quan
Mỗi sự vật đều là sự thống nhất giữa bản chất và hiện tượng. Bản chất và hiện
tượng tồn tại khách quan; giữa chúng có mối quan hệ hữu cơ, ràng buộc chặt chẽ
không tách rời nhau. Không có bản chất nào tồn tại thuần tuý ngoài hiện tượng,
ngược lại không có hiện tượng nào lại không là sự biểu hiện của một bản chất nhất
định. Vì vậy, V.I.Lênin viết: “Bản chất hiện ra, hiện tượng là có tính bản chất”. Ví
dụ: trong nghiên cứu khoa học người ta thường bắt đầu từ việc quan sát, thống kê
các hiện tượng (quan sát tự nhiên hay qua thí nghiệm) trên cơ sở đó tiến hành nghiên
cứu(có thể thông qua việc xác lập các mô hình giả thuyết,...) về bản chất của hiện
tượng để giải thích hiện tượng quan sát được.
2.2 Sự thống nhất giữa bản chất và hiện tượng
Tính chất mâu thuẫn của sự thống nhất giữa bản chất và hiện tượng. Bản chất và
hiện tượng thống nhất với nhau, nhưng ấy là sự thống nhất của hai mặt đối lập, nghĩa
là chúng vừa thống nhất vừa mâu thuẫn.
Ví dụ: Nhúng một nửa cái thước vào chậu nước-nhìn vào ta thấy cái thước gấp khúc
nhưng thực ra thước vẫn thẳng. Về cơ bản, bản chất và hiện tượng có xu hướng phù
hợp với nhau, bởi mỗi đối tượng đều là sự thống nhất giữa bản chất với hiện tượng
và sự thống nhất đó được thể hiện ở chỗ, bản chất tồn tại thông qua hiện tượng còn
hiện tượng phải là sự thể hiện của bản chất; bản chất “được ánh lên” nhờ hiện tượng
(Hêghen). Tuy vậy, “nếu hình thái biểu hiện và bản chất sự vật trực tiếp đồng nhất
với nhau, thì mọi khoa học sẽ trở nên thừa”; trong những điều kiện nhất định, bản
chất thể hiện dưới hình thức đã bị cải biến, xuyên tạc những yếu tố thực sự của bản
chất bằng cách bổ sung vào hay bớt đi từ bản chất một vài tính chất, yêu tố do hoàn lOMoAR cPSD| 58728417
cảnh cụ thể và các mối liên hệ ngẫu nhiên quy định, làm hiện tượng phong phú hay
nghèo nàn hơn bản chất. Nhưng bản chất luôn là cái tương đối ổn định, ít biến đổi
hơn, còn hiện tượng “động” hơn, thường xuyên biến đổi. V.I. Lênin viết, “không phải
chỉ riêng hiện tượng là tạm thời, chuyển động, lưu động, bị tách rờỉ bởi những giới
hạn chỉ có tính chất ước lệ, mà bản chất của sự vật cũng như thế”. Bản chất gắn bó
chặt chẽ với cái phổ biến (là một trong số những mối liên hệ cơ bản nhất tạo thành
cơ sở cho sự thống nhất về một hệ thống chỉnh thể tất cả các cái riêng, là sợi chỉ đỏ
xuyên suốt, xâu chuỗi tất cả chúng về một mối), phản ánh cái chung tất yếu, cái
chung quyết định sự tồn tại và phát triển của sự vật, hiện tượng; còn hiện tượng phản
ánh cái cá biệt, cái ơn nhất. Bản chất cũng là tính quy luật, bởi nói đến bản chất là
nói đến tổng số các quy luật quyết định sự vận động và phát triển của sự vật, hiện
tượng. Từ ây, có thể hiểu không phải ngẫu nhiên mà V.I. Lênin nhấn mạnh về tính
cùng cấp độ, có thể dùng lẫn cho nhau của các phạm trù “Quy luật”, “Bản chất” và “Cái phổ biến”.
2.3 Sự mâu thuẫn giữa bản chất và hiện tượng
Bản chất và hiện tượng đều tồn tại một cách khách quan. Theo quan điểm của chủ
nghĩa Mac-Lenin quan điểm duy tâm không thừa nhận hoặc chưa hiểu đúng sự tồn
tại khách quan của bản chất và hiện tượng, quan điểm của họ cho rằng bản chất không
tồn tại thật sự, bản chất chỉ là tên gọi trống không do con người đặt ra, tồn tại trong
suy nghĩ chủ quan của con người, họ chỉ thừa nhận bản chất là những thực thể tinh thần.
Với chủ nghĩa duy vật biện chứng của Triết học Mac-Lenin đưa ra quan điểm cả
bản chất và hiện tượng đều tồn tại khách quan, đây là cái vốn có của sự vật không do
ai sáng tạo ra, bởi vì sự vật nào cũng được tạo nên từ những yếu tố nhất định, những
yếu tố này liên kết với nhau bằng những mối liên hệ khách quan, đan xen, chằng chịt,
trong đó có những mối liên hệ tất nhiên tương đối ổn định, những mối liên hệ tất
nhiên đó tạo thành bản chất của sự vật. Vì vậy bản chất chính là sự tồn tại khách quan
gắn liền với sự vật còn hiện tượng là biểu hiện bên ngoài của bản chất, là khách quan
không phải do cảm giác chủ quan của con người quyết định
3. Ý nghĩa phương pháp luận
Trong hoạt động nhận thức, để hiểu đầy đủ về sự vật, phải đi sâu tìm bản chất mà
không dừng ở hiện tượng. Không chỉ vậy, phương pháp luận trực tiếp đóng vai trò
đặc biệt quan trọng trong hiệu quả của các công trình khoa học. Nhiệm vụ của nhận
thức nói chung, của khoa học nói riêng là phải vạch ra được bản chất của sự vật
Trong hoạt động thực tiễn, cần phải dựa vào bản chất chứ không phải dựa vào hiện tượng vì: lOMoAR cPSD| 58728417
Thứ nhất, bản chất và hiện tượng tồn tại trong sự thống nhất hữu cơ ràng buộc,
không tách rời nhau, bản chất thì ẩn dấu bên trong sự vật còn hiện tượng lại là cái
biểu hiện ra bên ngoài. Cho nên, muốn nhận thức được bản chất của sự vật thì phải
xuất phát từ hiện tượng. Do một bản chất có thể biểu hiện ra bằng nhiều hiện tượng
khác nhau và mỗi hiện tượng chỉ phản ánh một khía cạnh của bản chất. Qua đó muốn
nhận thức bản chất sự vật chúng ta phải xem xét, tổng hợp rất nhiều hiện tượng.
Thứ hai, bản chất là cái tất nhiên tương đối ổn định bên trong sự vật, quy định sự
vận động phát triển của sự vật, còn hiện tượng là cái không ổn định, không quy định
sự vận động phát triển của sự vật, hơn nữa nhiều khi hiện tượng còn xuyên tạc bản
chất, cho nên nhận thức không chỉ dừng lại ở hiện tượng mà phải nhận thức bản chất
của nó. Nhận thức bản chất của một sự vật là quá trình phức tạp đi từ hiện tượng đến
bản chất, từ bản chất ít sâu sắc đến bản chất sâu sắc hơn. Đây cũng chính là ý nghĩa
được xác định với hoạt động, nhu cầu phát triển của con người. Như vậy, ta thấy cặp
phạm trù bản chất và hiện tượng là một cặp phạm trù quan trọng, thể hiện tính khoa
học và đúng đắn. Xuất phát từ các đặc điểm của chúng, mỗi chúng ta cần nhìn nhận
các vấn đề một cách khách quan, khoa học thông qua tìm hiểu đầy đủ, toàn diện các
hiện tượng bên ngoài. Từ đó đưa ra các kết luận đúng đắn về bản chất bên trong. Nhờ
vậy giúp chúng ra có được nhận thức một cách đúng đắn nhất về sự vật hiện tượng
và tránh được những sai lầm do chủ quan, và tư duy máy móc, dập khuôn.
CHƯƠNG II: VẬN DỤNG NỘI DUNG VÀ Ý NGHĨA PHƯƠNG PHÁP
LUẬN CỦA CẶP PHẠM TRÙ BẢN CHẤT HIỆN TƯỢNG VÀO NHẬN THỨC
VÀ GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ Ô NHIỄM KHÔNG KHÍ Ở HÀ NỘI HIỆN NAY.
1. Thực trạng của vấn đề ô nhiễm không khí hiện nay
Ô nhiễm không khí tại Hà Nội đang là vấn đề nghiêm trọng đáng báo động. Theo
TS Nguyễn Thị Trang Nhung, thành viên nhóm nghiên cứu đến từ Trường đại học Y
tế công cộng, báo cáo cũng chỉ ra số ca tử vong sớm do phơi nhiễm với bụi mịn
PM2.5 là 2.855 ca, tương đương khoảng 35,5 ca tử vong sớm trên 100.000 dân.
Thành phố Hà Nội là một trong những nơi bị ô nhiễm không khí nặng nhất của cả
nước, có nhiều thời điểm bụi mịn (PM 2.5) bao phủ cả bầu trời làm hạn chế tầm nhìn,
ảnh hưởng rất lớn đến sức khỏe của người dân. Từ năm 2010 - 2017, nồng độ bụi
PM2.5 luôn có xu hướng tăng mạnh. Từ năm 2019 đến nay, tình trạng cao điểm ô
nhiễm không khí xảy ra rất thường xuyên tại các thành phố lớn cả nước. Chỉ số báo
cáo chất lượng không khí hàng ngày (AQI) tại các thành phố này dao động ở mức
150 – 250, đây là mức báo động rất nguy hiểm. Tại Hà Nội hiện có khoảng 10 trạm
quan trắc đặt rải rác toàn thành phố và các khu vực giao thông đo 24/24h. Ngày
4/1/2022, chất lượng không khí vẫn tiếp tục ở mức báo động tại Cổng thông tin quan lOMoAR cPSD| 58728417
trắc môi trường Hà Nội, chỉ số AQI trung bình là 162, mức xấu. Có hai điểm ở mức
rất xấu thuộc trung tâm quận Hoàng Mai và khu vực Thành Công, Ba Đình, Hà Nội.
Nhiều điểm chất lượng không khí xấu nằm rải rác khắp các quận, huyện. Ngoài hiện
trạng ô nhiễm không khí ngoài trời thì ô nhiễm trong nhà cũng đáng báo động, có
khi gây hại hơn cả không khí ngoài trời như trong nhà ở, trường học, nơi làm việc,
không gian kín đặc biệt là những nhà cao tầng gây là hội chứng nhà kín. Chất lượng
không khí trong văn phòng và các tòa nhà cao ốc đang sụt giảm nghiêm trọng. Chất
ô nhiễm cao hơn từ 2 - 5 lần ngoài trời, khói trong nhà đóng góp 5% nguồn gây ô
nhiễm ngoài trời. Với hiện trạng về chất lượng không khí ở Hà Nội trong những năm
gần đây cho thấy không khí đã và đang cướp đi sinh mạng và chất lượng sống của
con người, ảnh hưởng đến nền kinh tế của toàn thành phố Hà Nội cũng như toàn
nước Việt Nam. Tuy nhiên để đánh giá ô nhiễm ở mức độ nào, ảnh hưởng ra sao thì
đều phải có kiểm định, có căn cứ khoa học chính xác, có chứng thực cụ thể, rõ ràng và minh bạch.
2. Bản chất – hiện tượng của vấn đề “ Ô nhiễm không khí ở Hà Nội hiện nay”
2.1. Phạm trù “bản chất” trong vấn đề “ Ô nhiễm không khí hiện nay” Ô
nhiễm môi trường là một trong những vấn đề nhức nhối, đặc biệt mức độ ô nhiễm
của không khí tại Hà Nội ngày càng nghiêm trọng. Bản chất của ô nhiễm không khí
là sự thay đổi lớn trong thành phần không khí, do khói, bụi, hơi hay các khí lạ được
đưa vào không khí gây nên các mùi lạ, làm giảm tầm nhìn, biến đổi khí hậu. Chúng
ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe của con người cũng như động thực vật trên trái
đất. Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO),6 chất chính gây ô nhiễm không khí ảnh
hưởng đến sức khỏe người bao gồm: Oxit nitơ (NOx); Oxit lưu huỳnh (SOx);
Cacbon monoxit (CO); Chì; Ozon tầng mặt đất; Các hạt vật chất khí quyển lơ lửng.
Trong số đó, các hạt bụi mịn với kích thước nhỏ hơn 2,5 micron (PM 2.5) đáng được
bận tâm nhất, vì chúng có khả năng xâm nhập sâu vào phổi, ảnh hưởng đến cả hệ
hô hấp và hệ thống mạch máu. Ô nhiễm không khí gia tăng là một mối đe dọa lớn
tới con người, xuất phát từ các yếu tố chủ quan và khách quan, tác động đến các
chất trong không khí. Sự nguy hiểm của ô nhiễm môi trường rất lớn bởi các hạt nhân
siêu nhỏ. Tình trạng sức khỏe bị ảnh hưởng của con người có nghiêm trọng hay
không sẽ tùy thuộc vào mức độ và thời gian tiếp xúc với không khí ô nhiễm- môi
trường bao trùm cuộc sống sinh hoạt và lao động.
Ô nhiễm không khí ở Hà Nội xuất phát từ 2 nguyên nhân cơ bản: nguyên nhân chủ
quan và nguyên nhân khách quan. Nguyên nhân khách quan là biến đổi khí hậu, các
hiện tượng thiên nhiên bất thường- Nguyên nhân rất khó dự báo và ngăn chặn. Thứ
hai nguyên nhân chủ quan là các yếu tố xuất phát từ hoạt động của con người như: lOMoAR cPSD| 58728417
giao thông, công nghiệp, nông nghiệp và đốt cháy năng lượng. Các hoạt động sinh
hoạt và lao động là nguyên nhân chủ yếu dẫn tới ô nhiễm không khí ngày càng
nghiêm trọng ở Hà Nội. Hà Nội là một trong những trung tâm kinh tế, giải trí của
Việt Nam, tích cực thực hiện quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa, bên cạnh đó cũng
kéo theo sự gia tăng nghiêm trọng của ô nhiễm môi trường, điển hình là ô nhiễm
không khí. Chất thải từ nhà máy xí nghiệp, công nghiệp chưa được xử lí, thải vào môi trường.
Với tình hình như vậy đã đặt ra yêu cầu rất lớn đối với các khu công nghiệp, nhà
máy trong việc quản lý, xử lí chất thải từ hoạt động sản xuất, hoạt động hóa chất.
Việc thiếu các biện pháp, quy chế xử lí của các hoạt động công nghiệp, nông nghiệp
ngày càng trở thành nguyên nhân khiến không khí ở Hà Nội ngày càng nghiêm trọng.
“ Theo thống kê hiện nay ở Hà Nội có tới 400 cơ sở công nghiệp đang hoạt động.
Trong đó có khoảng 147 cơ sở công nghiệp có tiềm năng thải các chất thải gây ô
nhiễm môi trường không khí. Hay sự phát triển của hoạt động nông nghiệp, ngành
nông nghiệp là ngành gây ra phát thải khí nhà kính rất lớn, chủ yếu từ trồng lúa và
chăn nuôi hay sự phân hủy xác của động thực vật. Nguồn gây phát thải chủ yếu trong
trồng lúa nước truyền thống là do lạm dụng phân hóa học, làm tỷ lệ phân thất thoát
cao gây nên sự ô nhiễm đất và phát thải oxit nito. Có thể thấy các hợp chất, chất thải
được hình thành trong hoạt động công nghiệp, nông nghiệp là rất lớ,xong các nhà
má, xí nghiệp chỉ tập trung vào hoạt động của bộ máy, thiếu trách nhiệm trong việc
quản lí, xử lí của chúng đối với môi trường hiện nay. Đó là những nguyên nhân gia
tăng sự ô nhiễm môi trường tại thành phố Hà Nội.
2.2. Phạm trù “ hiện tượng” trong vấn đề “ Ô nhiễm không khí ở Hà Nội hiện nay”
Hiện tượng là phạm trù chỉ những biểu hiện của các mặt, mối liên hệ tất nhiên
tương đối ổn định ở bên ngoài; là mặt dễ biến đổi hơn và là hình thức thể hiện của
bản chất đối tượng. Phạm trù hiện tượng được xác định trong vấn đề chính là những
chỉ số biểu hiện cụ thể của ô nhiễm không khí trên thành phố Hà Nội, và mức độ ảnh
hưởng đến sức khỏe cộng đồng, động vật, môi trường.
Đầu tiên đó là các chỉ số thể hiện sự ô nhiễm không khí ở các địa bàn trên thành
phố Hà Nội. Các chỉ số đó là chỉ số chất lượng không khí và chỉ số ô nhiễm bụi mịn.
Trong thời gian gần đây, Hà Nội luôn nằm trong những thành phố có chỉ số chất
lượng không khí rất xấu. Cụ thể năm 2022 đánh dấu thời điểm chỉ số chất lượng
không khí ở Hà Nội chạm mức 200 ( mức rất xấu ). Thậm chí một số khu vực trong
địa bàn thành phố Hà Nội có chỉ số chất lượng không khí cao tột đỉnh. Một số quận
trung tâm như Bắc Từ Liêm có chỉ số AQI là 232, quận Ba Đình là 231, quận Đống lOMoAR cPSD| 58728417
Đa 211,..Cùng với đó là chỉ số ô nhiễm bụi mịn. chỉ số ô nhiễm bụi mịn PM2.5 tại
thành phố Hà Nội thường xuyên rơi vào tình trạng cao nhất toàn quốc. So với ngưỡng
tiêu chuẩn được Bộ Tài Nguyên Môi Trường đưa ra là (25 μg/m3) thì tất cả các quận
huyện trên địa bàn đều đang vượt mức, thậm chí vượt mức gấp 2, gấp 3 lần. Ngay cả
một khu vực ngoại thành, một khu vực luôn có chỉ số bụi mịn thấp nhất thì chỉ số
vẫn cao hơn ngưỡng tiêu chuẩn được quy định.Có thể nói các chỉ số là hiện tượng có
khả năng biểu hiện trực tiếp, rõ ràng nhất sự ô nhiễm không khí ở Hà Nội. Bởi chính
các chỉ số đó là cơ sở cho việc xác định, phân loại được các mức độ ô nhiễm. Đồng
thời các chỉ số trên có thể dễ dàng thay đổi trong thời gian ngắn. Từ đó, biểu hiện ra
bên ngoài thành hiện tượng.
Thứ hai, phạm trù hiện tượng được xác định trong vấn đề ô nhiễm không khí tại
Hà Nội còn là sự ảnh hưởng đến sức khỏe cộng đồng, động vật, môi trường. Ước
tính khoảng 43% các trường hợp tử vong do các bệnh lý hô hấp có liên quan đến ô
nhiễm không khí.40% dân số của thủ đô Hà Nội đã bị phơi nhiễm với nồng độ bụi
PM2.5 ở mức trên 45 μg/m3, hơn gấp đôi mức quy chuẩn quốc gia. Đó là kết quả từ
năm 2015. Không chỉ phổi và hệ hô hấp mà ô nhiễm không khí còn ảnh hưởng tới
nhiều hệ cơ quan khác. Trong đó, hệ hô hấp và phổi là những cơ quan bị ảnh hưởng
đầu tiên và nhiều nhất. Sở dĩ, đường hô hấp trên thường xuyên tiếp xúc với không
khí bên ngoài, không khí bên ngoài ô nhiễm sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến hệ thống
niêm mạc, tế bào đường hô hấp trên. Nếu đường hô hấp trên bị nhiễm khuẩn sẽ tạo
ra viêm xoang, viêm tai giữa và sâu hơn nữa là các nhiễm khuẩn đường hô hấp dưới
gây ra các bệnh về phổi, phế quản. Nhưng có lẽ con số này đến nay cũng không giảm,
bởi gần 8 năm trôi qua, vấn đề ô nhiễm chưa được giải quyết. Trong năm 2022 có
khoảng 3000 người tử vong sớm có nguyên nhân liên quan đến bụi mịn PM2.5. Ngoài
ra, ô nhiễm không khí còn được biểu hiện qua những tác động của nó đến động –
thực vật, khí hậu, thời tiết. Nhưng tựu chung, tất cả đều có ảnh hưởng xấu đến sức
khỏe con người. Qua đó, ta khẳng định được sự ảnh hưởng của ô nhiễm không khí
chính là hiện tượng bề ngoài của đối tượng được xác định trong việc vận dụng cặp
phạm trù Bản chất - Hiện tượng. . Sự ảnh hưởng của ô nhiễm không khí có thể thay
đổi Qua việc quan sát, nghiên cứu hiện tượng ta có khả năng dự đoán được bản chất
của đối tượng bởi hiện tượng hình thức thể hiện của bản chất đối tượng. Hơn cả,
những biểu hiện bên ngoài trong phạm trù hiện tượng có mối liên hệ tương đối với
nhau. Cụ thể khi các chỉ số phản ánh chất lượng không khí được nâng lên mức tốt,
khá thì những sự ảnh hưởng tiêu cực của ô nhiễm không khí sẽ được hạn chế và ngược lại. lOMoAR cPSD| 58728417
2.3. Mối quan hệ biện chứng của phạm trù “ bản chất và hiện tượng” trong vấn
đề “ Ô nhiễm không khí ở Hà Nội hiện nay”
2.3.1 Bản chất và hiện tượng tồn tại khách quan trong cuộc sống
Cả bản chất và hiện tượng đều có thực, tồn tại khách quan bất kể con người có
nhận thức được hay không. Lý do là vì bất kỳ sự vật nào cũng được tạo nên từ những
yếu tố nhất định. Các yếu tố ấy tham gia vào những mối liên hệ qua lại, đan xen
chằng chịt với nhau, trong đó có những mối liên hệ tất nhiên, tương đối ổn định.
Những mối liên hệ này tạo nên bản chất của sự vật. Sự vật tồn tại khách quan. Mà
những mối liên hệ tất nhiên, tương đối ổn định lại ở bên trong sự vật, do đó, đương
nhiên là chúng cũng tồn tại khách quan. Hiện tượng chỉ là sự biểu hiện của bản chất
ra bên ngoài để chúng ta nhìn thấy, nên hiện tượng cũng tồn tại khách quan. Thật
vậy, khói và bụi thực sự là một phần của môi trường tự nhiên và một phần không thể
tránh khỏi trong cuộc sống hàng ngày. Tuy nhiên, khi chúng được sản xuất và tích tụ
ở mức độ quá lớn hoặc khi chứa đựng các hợp chất gây hại, chúng có thể trở thành
nguyên nhân gây ô nhiễm không khí và ảnh hưởng đến sức khỏe con người và môi trường.
2.3.2. Bản chất và hiện tượng có sự thống nhất trong mỗi sự vật
Bản chất bao giờ cũng bộc lộ ra qua hiện tượng, còn hiện tượng bao giờ cũng là
sự biểu hiện của một bản chất nhất định; không có bản chất tồn tại thuần túy tách rời
hiện tượng, cũng như không có hiện tượng lại không biểu hiện của một bản chất nào
đó; bản chất quyết định hiện tượng; khi bản chất thay đổi thì cũng kéo theo sự biến
đổi của hiện tượng tương ứng. Minh chứng là việc ô nhiễm không khí làm cho chất
lượng không khí giảm, sự thay đổi lớn trong thành phần không khí, do khói, bụi, hơi
hay các khí lạ được đưa vào không khí gây nên các mùi lạ, làm biến đổi khí hậu, làm
giảm tầm nhìn do khói, bụi hoặc hạt mịn xuất hiện trong không khí.
Những hiện tượng này xuất phát từ những nguồn gốc cơ bản như khói, bụi. Ví dụ khi
xảy ra cháy rừng, những đám cháy sẽ do khói, bụi hoặc hạt mịn xuất hiện trong không
khí. Hay dưới tác động từ tự nhiên như gió làm cho các bụi, chất độc hay mùi hôi
thối bị gió đẩy đi hàng trăm kilômét. Điều này làm lan truyền ô nhiễm không khí ảnh
hưởng trực tiếp đến sinh, thực vật và con người. Ngoài ra trong mỗi trận bão luôn
luôn chứa một lượng lớn khí nitơ dioxyt (NOx); cacbon monoxit (CO); chì (Pb) làm
ô nhiễm môi trường cực nặng. Hay cả việc bão cát mang theo bụi mịn (PM10, PM2.5)
khiến cho tỷ lệ ô nhiễm tăng lên. Như vậy, khi những bản chất này thay đổi thì vấn
đề ô nhiễm không khí cũng thay đổi theo nói cách khác là những hiện tượng như hạt
mịn xuất hiện trong không khí, có mùi hay cả màu sắc của không khí sẽ giảm nếu
việc cháy rừng, mưa gió, bão, sạt lở đất hạn chế và ngược lại. lOMoAR cPSD| 58728417
2.3.3 Sự đối lập giữa bản chất và hiện tượng
Bản chất là cái chung, cái tất yếu; còn hiện tượng là cái riêng biệt phong phú và
đa dạng; bản chất là cái bên trong, hiện tượng là cái bên ngoài; bản chất tương đối
ổn định, còn hiện tượng thường xuyên biến đổi. Vì vậy, không phải trong bất cứ
trường hợp nào cũng có thể từ hiện tượng quan sát được trực tiếp rút ra bản chất
tương ứng mà cần phải có sự nghiên cứu kỹ lưỡng, xem xét những nhân tố tác động
làm sai lệch sự biểu hiện của một bản chất. Chính vì thế bên cạnh những nguyên
nhân gây ra những hiện tượng trong ô nhiễm không khí thì nó còn bắt nguồn từ chất
thải ở những khu công nghiệp, nông nghiệp hay cả sinh hoạt. Đây là nguyên nhân
chính, gây nhức nhối cho cộng đồng và nhà nước, không riêng gì Việt Nam mà rất
nhiều các nước đang phát triển điều vướng phải tình trạng này. Khói bụi từ các ống
xả của nhà máy, xí nghiệp trong những khu công nghiệp làm đen ngòm một khoảng
trời. Chúng thải ra một lượng lớn các khí CO2, CO, SO2, NOx, các chất hữu cơ chưa
cháy hết: muội than, bụi với nồng độ cực cao. Hay việc lạm dụng thuốc trừ sâu, phân
bón hay các hoạt động đốt rơm, rạ, đốt rừng làm rẫy cũng là nguyên nhân gây ra ô
nhiễm môi trường không khí. Ngoài ra với một số lượng các phương tiện giao thông
khổng lồ và di chuyển liên tục, lượng khí thải từ các phương tiện này cũng vô cùng
khủng khiếp. Đặc biệt, đối với những xe đã cũ, hệ thống máy móc hoạt động kém thì
lượng khí thải càng lớn. Ví dụ điển hình là tại Việt Nam, các phương tiện giao thông
cơ giới sử dụng nhiên liệu hóa thạch như xăng và dầu diesel, quá trình đốt cháy nhiên
liệu dẫn tới phát sinh nhiều loại khí thải như SO2, NO2, CO, bụi (TSP, PM10,
PM2.5); thậm chí rò rỉ, bốc hơi nhiên liệu khi vận hành phát sinh VOC, Benzen,
Toluen...với nồng độ cực cao và liên tục. Nguyên nhân này chỉ đứng sau hoạt động
công nghiệp, khi mà lượng khí thải từ các phương tiện giao thông xả ra môi trường
rất lớn. Các hoạt động xây dựng cao ốc, chung cư cao tầng hay cầu đường luôn luôn
mang đến sự ô nhiễm môi trường không khí nặng nề. Khi vận chuyển vật liệu, cho
dù được che chắn kỹ lưỡng thì các bụi bẩn cũng sẽ vương vãi ra môi trường và gây
ô nhiễm. Chưa kể, đối với những trường hợp không được che chắn sẽ bị rơi vật liệu
ra đường, gây nguy hiểm và sản sinh lượng khói bụi khổng lồ. Ngoài ra, việc rác thải
được thải ra quá nhiều khiến cho các khu tập kết rác không xử lý được hết khiến cho
mùi hôi thối bốc ra. Hay các phương pháp xử lý thủ công như đốt khiến cho không
khí bị ô nhiễm trầm trọng. Tuy hiện tượng ta có thể nhìn thấy, đo lường đánh giá,
nhưng bản chất gây ra những ô nhiễm đó lại đến từ rất nhiều nguyên do, tuy nhiên
những hiện tượng này không chỉ phụ thuộc bởi những nguyên do đó mà còn vào hoàn cảnh cụ thể. lOMoAR cPSD| 58728417
3. Vận dụng để rút ra giải pháp cho vấn đề “ Ô nhiễm không khí ở Hà Nội hiện
nay” 3.1.Ý nghĩa của phương pháp luận được biểu hiện trong vấn đề
Việc ứng dụng của cặp phạm trù "bản chất và hiện tượng" trong vấn đề ô nhiễm
không khí ở Hà Nội mang lại sự hiểu biết sâu sắc về nguyên nhân cơ bản và tác động
thực tế của vấn đề này. Phân tích bản chất giúp xác định rõ nguồn gốc ô nhiễm, nhưng
quan trọng hơn là cung cấp lý giải về tại sao và làm thế nào các nguồn này gây ra tác
động độc hại. Điều này cung cấp bối cảnh và lý do cho sự xuất hiện của hiện tượng
ô nhiễm trong cộng đồng. Khi lý giải bản chất, chúng ta có thể nhận thức được những
quy trình và hệ thống mà ô nhiễm không khí được tạo ra, giúp chúng ta hiểu rõ về sự
phức tạp của vấn đề. Trong khi đó, lý giải hiện tượng hướng dẫn chúng ta về những
thay đổi và tác động cụ thể của ô nhiễm, từ sức khỏe cộng đồng đến ảnh hưởng đến
môi trường sống. Kết hợp cả hai, chúng ta có thể phát triển giải pháp chặt chẽ hơn
và có hiệu quả cao hơn. Điều này có thể bao gồm cả việc đưa ra những biện pháp cụ
thể nhằm giảm khí thải từ nguồn gốc và đồng thời triển khai các biện pháp ngăn chặn
để giảm ảnh hưởng đến cộng đồng và môi trường. Lý giải từ cặp phạm trù này không
chỉ giúp chúng ta đối mặt với vấn đề ô nhiễm hiện tại mà còn tạo ra cơ hội để phòng
ngừa và quản lý tốt hơn trong tương lai.
3.2. Đề xuất giải pháp cho vấn đề “ Ô nhiễm không khí ở Hà Nội hiện nay”
3.2.1. Đối với Nhà Nước
Nhà nước cần đưa ra các biện pháp quyết liệt để giải quyết vấn đề ô nhiễm không khí tại Hà Nội:
Hoàn thiện hệ thống pháp luật về môi trường: Việt Nam nói chung cũng như thành
phố Hà Nội nói riêng phải nhanh chóng hoàn thiện hệ thống pháp luật về bảo vệ môi
trường, xây dựng chế tài đủ mạnh để ngăn chặn, xử lý các hành vi vi phạm làm ảnh
hưởng xấu đến môi trường không khí của thành phố. Xây dựng và ngày một hoàn
thiện hệ thống pháp luật liên quan đến môi trường, bổ sung nhiều tiêu chuẩn liên
quan đến môi trường không khí. Thành lập các đội thanh tra môi trường trực tiếp
kiểm tra, đánh giá chất lượng của các cơ sở sản xuất, tiến hành đổi mới cơ chế quản
lý tài nguyên và bảo vệ môi trường. Cần phải thực hiện nghiêm lộ trình xử lý các cơ
sở gây ô nhiễm môi trường. Khắc phục suy thoái, khôi phục và nâng cao chất lượng môi trường.
Biện pháp quy hoạch: Giảm thiểu việc xây dựng các khu công nghiệp khu chế xuất
trong thành phố, chỉ giữ lại các xí nghiệp phục vụ trực tiếp cho nhu cầu sinh hoạt của
người dân. Khuyến khích người dân đi lại bằng các phương tiện công cộng để giảm
thiểu ùn tắc và phương tiện tham gia giao thông, qua đó làm giảm mật độ khói bụi
và các chất thải do quá trình đốt cháy nhiên liệu xăng dầu trong không khí, nhất là
vào giờ cao điểm. Ngoài những biện pháp khắc phục ô nhiễm không khí nêu trên, lOMoAR cPSD| 58728417
trồng và phát triển những khu rừng nhân tạo cũng là một biện pháp cực kỳ hữu ích.
Cây xanh góp phần lọc không khí và ngăn ngừa những thiên tai tự nhiên. Trồng cây
xanh tại các công viên và vỉa hè ở các đô thị lớn để giảm tình trạng khí thải, khói bụi
và góp phần làm hạ nhiệt độ cũng như tăng sự trong lành không khí. Tạo ra các diện
tích cây xanh rộng lớn trong thành phố, thiết lập các dải cây xanh nối liền các khu
vực khác nhau của thành phố, nhất là các khu vực, tuyến phố có nhiều phương tiện
qua lại và hay xảy ra tình trạng ùn tắc.
Xử lý khí thải công nghiệp đúng quy định: Để có thể khắc phục ô nhiễm môi trường
trong quá trình sản xuất, các doanh nghiệp phải tuân thủ những quy định về xử lý và
đưa chất thải ra môi trường. Thay thế những loại máy móc lạc hậu bằng các dây
chuyền sản xuất hiện đại và tiên tiến, hạn chế gây ô nhiễm không khí nói riêng và ô
nhiễm môi trường nói chung.
Dùng biện pháp kỹ thuật: Biện pháp khắc phục ô nhiễm không khí hiệu quả và an
toàn nhất hiện nay là dùng hệ thống máy móc, công nghệ hiện đại và công nghệ sinh
học để lọc và làm sạch không khí. Thay thế các loại máy móc, dây chuyền công nghệ
lạc hậu, gây nhiều ô nhiễm bằng các dây chuyền công nghệ hiện đại, ít ô nhiễm hơn.
Thay thế nhiên liệu đốt cháy từ than đá, dầu mazut bằng việc sử dụng điện để ngăn
chặn ô nhiễm không khí bởi mồ hóng và SO2. Không khí sau khi được lọc sạch chất
thải sẽ được thải ra môi trường. Điều này góp phần giảm sự ô nhiễm không khí rõ rệt.
Biện pháp tuyên truyền:Bên cạnh việc đề ra những biện pháp cụ thể nhằm ngăn ngừa
và giảm thiểu mức độ của ô nhiễm không khí, cần phải đẩy mạnh công tác tuyên
truyền về ô nhiễm không khí. Cụ thể như những buổi workshop, ngoại khóa, tác động
vào những đối tượng như học sinh, sinh viên. Những vấn đề như thực trạng, nguyên
nhân, hậu quả nghiêm trọng của ô nhiễm không khí
3.2.2. Đối với cá nhân
Đối với cá nhân, nhóm chúng em đưa ra một số biện pháp sau:
Cải thiện thói quen sinh hoạt: Một trong những biện pháp khắc phục ô nhiễm không
khí, hiệu quả nhất chính là cải thiện thói quen sinh hoạt. Việc này có thể được thực
hiện bằng cách xử lý rác thải đúng cách, không đốt rác hoặc những nhân tố dư thừa
bừa bãi. Điều này giúp hạn chế lượng khí thải độc hại và bụi bẩn bị đẩy ra môi trường.
Thay thế các nhiên liệu đốt từ than, củi, gas sang các thiết bị điện hiện đại, vừa an
toàn vừa khắc phục được ô nhiễm không khí. Tắt các thiết bị điện không cần thiết.
Sử dụng phương tiện công cộng cho việc di chuyển để giảm khí thải từ phương tiện giao thông. lOMoAR cPSD| 58728417
Tiết kiệm điện: Ở Việt Nam, sản xuất điện từ nguyên liệu hóa thạch vẫn là phương
pháp phổ biến nhất. Quá trình đốt nhiên liệu gây sản sinh ra các loại khí, khói bụi và
kim loại vô cùng độc hại, chẳng những gây ô nhiễm không khí mà còn ảnh hưởng
trực tiếp đến sức khỏe con người. Vì thế, chúng ta nên tiết kiệm điện năng bằng cách:
Tắt các thiết bị điện khi không sử dụng, dùng những sản phẩm tiết kiệm điện, sử
dụng năng lượng sạch…Bên cạnh đó, tiết kiệm điện còn giúp giảm chi phí sinh hoạt cho gia đình.
Làm xanh không khí ngay tại nơi mình sống: Việc làm sạch không khí là việc của
mỗi người và nên tổ chức thường xuyên bắt đầu từ những việc nhỏ nhặt như trồng
cây xanh để tạo ra môi trường sống tốt. Đây là một trong các biện pháp hiệu quả nhất
và đã được áp dụng lâu đời. Trồng cây xanh tại các công viên và vỉa hè ở các đô thị
lớn để giảm tình trạng khí thải, khói bụi và góp phần làm hạ nhiệt độ cũng như tăng
sự trong lành không khí. Ngoài ra chúng ta cần phải dọn dẹp nơi ở gọn gàng, không
sử dụng thuốc lá trong nhà và có điều kiện có thể lắp đặt thêm hệ thống phun sương
ngay trong nhà, giúp không khí mát mẻ và ngăn chặn các hạt bụi nhỏ.
Hạn chế sử dụng ô tô, xe máy: Khói bụi sinh ra từ xe máy, xe ô tô là một trong những
nguyên nhân chủ yếu làm cho tình trạng ô nhiễm không khí trở nên nặng nề hơn.
Giảm thiểu sử dụng các loại phương tiện này không chỉ là giải pháp góp phần bảo vệ
không khí mà còn hạn chế ùn tắc giao thông. Thay vì dùng xe máy hay ô tô, chúng
ta nên ưu tiên sử dụng xe đạp, xe điện hoặc đi bộ khi có thể. lOMoAR cPSD| 58728417 C. KẾT LUẬN
Nhìn chung, nhận thức về ô nhiễm không khí trên phương diện của cặp phạm trù bản
chất và hiện tượng góp phần làm rõ ràng hơn trong nhận thức mỗi người về thực
trạng, nguyên nhân, hậu quả nghiêm trọng của ô nhiễm không khí. Việc áp dụng
phương pháp luận cặp phạm trù bản chất và hiện tượng trong việc giải quyết vấn đề
ô nhiễm không khí ở Hà Nội đã mở ra một cánh cửa hiệu quả làm rõ hơn những
nguyên nhân cơ bản và nhận diện rõ ràng hơn về tình hình hiện tại. Mở rộng những
khía cạnh của vấn đề trên phương diện của cặp phạm trù bản chất và hiện tượng giúp
chúng ta xây dựng những giải pháp cụ thể, chính xác và thiết thực với tình hình xã
hội hiện nay. Từ việc này, chúng ta có thể phát triển những chiến lược ứng phó linh
hoạt: thúc đẩy công nghiệp sạch, cải thiện hệ thống giao thông công cộng hay thực
hiện những chính sách nhằm nâng cao nhận thức, trách nhiệm của mỗi cá nhân trong
việc bảo vệ, ngăn ngừa ô nhiễm không khí; gắn sự phát triển kinh tế-xã hội với việc
bảo vệ môi trường, giảm thiểu ô nhiễm môi trường. Sự nhìn nhận đa chiều này không
chỉ hỗ trợ giảm ô nhiễm mà còn mở ra cơ hội để xây dựng một Hà Nội xanh, sạch và bền vững cho tương lai.
D. DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Giáo trình Triết học Mác-Lênin - Nhà Xuất Bản Chính Trị Quốc Gia Sự Thật 2.
Đánh giá hiện trạng, nguyên nhân, tác động ô nhiễm không khí tại Hà Nội, đề xuất
các giải pháp - Tô Thị Phương Dung-10/2023 https://luatminhkhue.vn/danh-gia-
hien-trang-nguyen-nhan-tac-dong-o-nhiemkhong-khi-tai-ha-noi-de-xuat-cac-giai- phap.aspx
3. Hà Nội ô nhiễm không khí nghiêm trọng-Xã Hội-16/11/2023
https://suckhoedoisong.vn/ha-noi-o-nhiem-khong-khi-nghiem-trong
4.Thực trạng ô nhiễm không khí ở Hà Nội trong năm 2022 và 2023- 12/2022
https://airdog.vn/tin-tuc/thuc-trang-o-nhiem-khong-khi-o-ha-noi
5. Hà Nội ô nhiễm không khí, người dân cần làm gì để bảo vệ sức khỏe? | Báo Dân trí (dantri.com.vn)
6. Cải thiện chất lượng không khí ở Hà Nội: Cần giải pháp căn cơ (hanoimoi.vn)
7. Làm gì để Hà Nội bớt ô nhiễm không khí? | Báo Pháp luật Việt Nam điện tử (baophapluat.vn)