HỌC VIỆN NGÂN HÀNG
KHOA KINH DOANH NGÂN HÀNG
BÀI TẬP LỚN
MÔN: NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
CHỦ ĐỀ 1
NHÓM 15
STT
Họ và tên
Lớp
1
24A4010957
Nguyễn Thị Dung
K24NHA-BN
2
24A4010963
Nguyễn Tô Trang Dương
K24NHA-BN
3
24A4010953
Lê Phương Ánh Diễm
K24NHA-BN
4
24A4011067
Trần Huệ Mai Phương
K24NHA-BN
5
24A4011087
Trịnh Hoài Thu
K24NHA-BN
Bắc Ninh, 2023
MỤC LỤC
LỜI MỞ
ĐẦU.....................................................................................................1
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ
THUYẾT..................................................................2
1.1. Khái quát về nền kinh tế của Việt Nam............................................2
1.2. Khái quát về nền kinh tế số................................................................3
1.2.1. Chuyển đổi số là gì?......................................................................3
1.2.2. Kinh tế số là gì?.............................................................................3
1.2.3. Đặc điểm của kinh tế số................................................................4
1.3. Khái quát về NHTM...........................................................................4
1.3.1. Khái niệm, đặc điểm, mục tiêu hoạt động....................................4
1.3.1.1. Khái niệm....................................................................................4
1.3.1.2. Đặc điểm.....................................................................................4
1.3.1.3. Mục tiêu hoạt động......................................................................4
1.3.2. Chức năng của NHTM.................................................................5
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG
THƯƠNG MẠI TRONG NỀN KINH TẾ
SỐ..................................................6
2.1. Sự cần thiết và xu hướng phát triển nền kinh tế số trong 3 năm trở
lại đây trên thế giới và Việt
Nam...................................................................6
2.1.1. Sự cần thiết của nền kinh tế
số.........................................................6
2.1.2. Xu hướng phát triển của nền kinh tế
số...........................................7
2.2. Vai trò của ngân hàng thương mại trong nền kinh tế
số...................13
CHƯƠNG 3: TÁC ĐỘNG CỦA XU HƯỚNG PHÁT TRIỂN NỀN KINH
TẾ SỐ TỚI HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA NGÂN HÀNG QUÂN
ĐỘI MB
BANK.................................................................................................20
3.1. Tác động tích
cực...................................................................................20
3.2. Tác động tiêu
cực...................................................................................21
3.3. Giải
pháp................................................................................................22
3.3.1. Đối với bản thân ngân hàng
MB....................................................22
3.3.2. Kiến nghị đối với cơ quan quản lý Nhà
nước................................24
KẾT
LUẬN........................................................................................................25
TÀI LIỆU THAM
KHẢO................................................................................26
1
LỜI MỞ ĐẦU
Trong khoảng thời gian gần 3 thập kỷ vừa qua, nền kinh tế thế giới đã chứng
kiến sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin và truyền thông và kinh tế
số. Kinh tế số, cùng với các biến thể như kinh tế Internet, kinh tế mạng, kinh tế
tri thức, kinh tế mới trở thành mối quan tâm của các nhà nghiên cứu và các
nhà
dự án chính sách kinh tế xã hội.
Ảnh hưởng của kinh tế số đã được lý giải thông qua nhiều lý thuyết, giả thuyết
lý thuyết về khuôn mẫu công nghệ, lý thuyết công nghệ mang mục tiêu chung.
Nhiều nghiên cứu định tính và định lượng đã được thực hiện để nghiên cứu và
đo lường ảnh hưởng nghiên cứu cũng như mối quan hệ nhân sự giữa ngành công
nghiệp số phát triển kinh tế dự kiến đưa ra những chính phát triển kinh tế số phù
hợp. Số hóa như thế nào, bằng cách nào cho hiệu quả chính là một vấn đề vô
cùng nan giải mà không chỉ các nhà lãnh đạo, chuyên gia đặt mối quan tâm
chuyên biệt.
Hiện nay, ngân hàng tại Việt Nam chính là một trong những bộ phận có thay đổi
lớn về số hóa, gặt hái nhiều thành công, mang đến tiện ích cho khách hàng. Thế
nhưng để biến số hóa ngân hàng thành một mục tiêu lâu dài, vững chắc chính là
thách thức vô cùng lớn đối với chúng ta.
2
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT
1.1. Khái quát về nền kinh tế của Việt Nam
Nền kinh tế Việt Nam là nền kinh tế thị trường định hướng hội chủ nghĩa đang
phát triển, chịu phụ thuộc rất nhiều vào nông nghiệp, du lịch, xuất khẩu nguyên
liệu thô và đầu tư trực tiếp nước ngoài. Cơ cấu kinh tế Việt Nam được chia thành
hai thời kchính. Trước năm 1985, Việt Nam vbản là một nước nông nghiệp
với sản xuất nông nghiệp. Kể từ năm 1985, Việt Nam đã phát triển nhanh chóng
từ một trong những nước nghèo nhất thế giới thành một nước có thu nhập trung
bình thấp, nhờ sự kết hợp của các xu hướng toàn cầu thuận lợi.
Từ năm 1986 đến năm 2000, Việt Nam trải qua quá trình chuyển đổi từ nền kinh
tế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường.. Tuy nhiên thị trường lúc
này không phải là thị trường hoàn toàn tự do mà "có sự quản lý, điều tiết của nhà
nước", nhằm hạn chế những khuyết tật của kinh tế thị trường. Tập trung triển
khai chương trình kinh tế lớn: lương thực thực phẩm, hàng tiêu dùng, hàng
xuất khẩu. Nền kinh tế đã dần dần được thị trường hóa. Kinh tế Việt Nam bắt
đầu khởi sắc. Từ một nước nghèo phải nhập khẩu lương thực, Việt Nam đã sản
xuất đđể tự cung cấp, nguồn dự trữ, thậm chí còn xuất khẩu gạo. Tnăm
1989 bắt đầu xuất khẩu dầu thô, đem lại nguồn thu lớn. Lạm phát được kiềm chế
dần dần. GDP bình quân đầu người năm 1990 mới đạt mức 98 USD. Cho đến
năm 2000 GDP bình quân đầu người đạt mức 396 USD. Từ 2002 đến 2020, GDP
đầu người tăng đến 3,6 lần, đạt tới gần 3.700 USD. Tỉ lệ đói nghèo theo (PPP
năm 2017) giảm từ hơn 14% năm 2010 xuống còn 3,8% năm 2020.
Tuy nhiên tương lai của Việt Nam đang được định hình bởi một số xu thế lớn.
Tình trạng dân số già, thương mại toàn cầu suy giảm, trong khi suy thoái môi
trường, mối lo ngại về biến đổi khí hậu và tự động hóa đang gia tăng. Đại dịch
8
- Các khối xây dựng quan trọng của nền kinh tê số, từ khả năng truy cập internet
siêu nhanh trên khắp Vương quốc Anh cho đến các khả năng an ninh mạng đều
đã có sẵn hoặc đang được xây dựng.
- Các trường đại học của Vương quốc Anh dẫn đầu thế giới về khoa học cơ bản
và khả năng ứng dụng.
Chuyển đổi số là con đường giúp phục hồi cho nền kinh tế Vương quốc Anh
mang lại nhiều cơ hội cho nước Anh:
- Tận dụng các hành vi tiêu dùng mới xuất hiện;
- Sử dụng khối lượng dliệu khổng lồ đcải thiện hiệu quả kinh doanh; - Tạo
ra các chuỗi cung ứng mạnh mẽ được hỗ trợ bởi công nghệ;...
“Tầm quan trọng của công nghệ kỹ thuật số là điều cần thiết để hiểu. Tập trung
vào tăng trưởng kỹ thuật số cho phép Chính phủ Vương quốc Anh thúc đẩy
chuyển đổi kỹ thuật số, đổi mới. Thúc đẩy tăng trưởng trên toàn nền kinh tế.”
(Theo Anubhav Mehrotra, SVP & Giám đốc Dịch vụ Tài chính - Vương quốc
Anh & Ireland, HCL Technologies.)
Công nghệ con người làm việc cùng nhau thể tạo ra những thay đổi tích
cực giúp đưa thế giới phát triển sang giai đoạn tiếp theo, sự đổi mới thông qua
chuyển đổi công nghệ kỹ thuật số sẽ củng cố môi trường kinh doanh và thúc đẩy
sự phát triển kinh tế, xã hội ở Vương quốc Anh trong tương lai.
Tại Trung Quốc:
Trung Quốc một trong những quốc gia được đánh giá nền kinh tế số phát
triển nhanh và sôi động nhất trên thế giới. Nền kinh tế số đang dần trở thành một
trong những lực lượng chủ đạo trong nền kinh tế quốc dân của Trung Quốc. Theo
sách trắng do Học viện Công nghệ thông tin Truyền thông Trung Quốc
(CAICT) ng bcho thấy, năm 2021 nền kinh tế số của Trung Quốc đạt 7,1
nghìn tỷ USD, đứng thứ 2 sau Hoa Kỳ. Thống kê cho thấy, tỷ trọng của nền kinh
tế số trong GDP quốc gia, được đo bằng giá trkết hợp của các sản phẩm công
nghệ và đầu vào kỹ thuật số tích hợp, đạt 39,8% trong năm 2021, tăng từ 20,9%
vào năm 2012. Đi kèm với sự tăng trưởng nhanh chóng của nền kinh tế số Trung
9
Quốc là việc mở rộng xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật số. Theo đó, Trung Quốc
đã có các chính sách để thúc đẩy phát triển nhanh chóng công nghệ 5G, tính đến
cuối năm 2022, quốc gia này đã có tổng cộng 2,31 triệu trạm gốc 5G và hơn 1 tỷ
người dùng 5G.
Trung Quốc cũng được xem là một trong những quốc gia đang sở hữu một trong
những sở hạ tầng mạng lớn tiên tiến nhất thế giới. Bên cạnh đó, quốc gia
này cũng đã thúc đẩy việc tích hợp dữ liệu lớn, điện toán đám mây và trí tuệ nhân
tạo. Đến năm 2025, Trung Quốc dự báo sẽ chiếm gần 30% tổng khối lượng dữ
liệu của thế giới với nhiều loại dữ liệu phong phú.
Theo dự báo của Tập đoàn Dữ liệu quốc tế IDC (International Data Corporation),
tối thiểu 80% các ứng dụng doanh nghiệp mới của Trung Quốc năm 2025 sẽ sử
dụng các ng nghệ AI. Định hướng của Chính phủ Trung Quốc tập trung vào
những lĩnh vực công nghệ số đòi hỏi công nghệ vừa phải như thương mại điện
tử, tiếp đến tiến tới phát triển những lĩnh vực công nghệ số khó hơn như AI, rô-
bốt. Trung Quốc đang đầu tư hàng tỷ USD để hỗ trợ các nhà phát triển AI, trong
đó có cả công viên phát triển AI trị giá 2 tỷ USD ở Bắc Kinh. Tập đoàn IDC dự
báo, khoảng 51,3% GDP của Trung Quốc năm 2030 sẽ liên quan tới xu hướng
số hóa trong bối cảnh các doanh nghiệp Trung Quốc đang đẩy mạnh số hóa các
hoạt động kinh doanh.
Tại Malaysia:
Đây quốc gia GDP lớn th3 Đông Nam Á, xếp hạng thứ 33 trên thế giới
và 12 ở Châu Á với quy mô GDP đạt tới 365,3 tỷ USD. Malaysia phát triển nền
kinh tế số dựa trên :
- Tạo dựng hệ thống cơ chế, chính sách cải thiện hạ tầng kinh tế số.
Malaysia quốc gia đầu tiên do Đông Nam Á ban hành Luật Bảo vệ dữ liệu.
Chính phủ đất nước này đề xuất các dự án giúp nâng cao hạ tầng kinh tế số của
quốc gia như:
+ Dự án High Speed Broadband (HSBB) 1 năm 2008 và 2 giai đoạn 2015
2025);
11
Tốc độ đường truyền Internet của Singapore được đặt ở vị thế ngang hàng nhiều
quốc gia phát triển như Phần Lan, Nhật Bản sau khi tăng từ 5,4Mbps lên 20Mbps
trong 4 năm từ (2012 – 2016).
* Tại Việt Nam:
Trong năm 2021:
Năm 2021, theo “Nền kinh tế số Đông Nam Á- Tiếng thập kỷ XX Thập kỷ kỹ
thuật số Đông Nam Á”, nền kinh tế số Việt Nam giá trị khoảng 21 tỷ USD,
cao gấp 7 lần so với 2015 được dự đoán sẽ đạt 220 tỷ USD tổng gtrị
hàng hóa (GMV) vào 2030, đứng thứ hai khu vực chsau Indonesia. Trước ảnh
hưởng của đại dịch COVID-19, Việt Nam vẫn trung tâm đổi mới hấp dẫn
khu vực và trên thế giới với hoạt động thương mại, đầu tăng nhanh, đạt mức
kỷ lục 1,37 tỷ USD nó tập trung vào các lĩnh vực thương mại điện tử, tài chính,
sức khỏe và giáo dục
Nghiên cứu của Đại học Tufts(Mỹ) cho thấy, Việt Nam đứng vị trí 48/60 trên các
quốc gia có tốc độ chuyển đổi kinh tế số(KTS) nhanh trên thế giới và đồng thời
đứng vị trí 22 về tốc độ phát triển số hóa
Vào tháng 6 năm 2021, Việt Nam thêm 8 triệu người tiêu dùng mới trên nền
tảng kỹ thuật svà nhiều nhân, doanh nghiệp đã hoạt động c dịch vụ internet
công nghệ để mua bán các sản phẩm. Trong đó: - 95% trở lên doanh nghiệp
kỹ thuật số đã thanh toán qua internet
- 79% sử dụng các hình thức chuyển tiền kỹ thuật số
- 67% chấp nhận cho vay trên internet…Mỗi doanh nghiệp sử dụng trung bình 2
nền tảng số để đáp ứng nhu cầu của khách hàng . Ngoài ra, trong lĩnh vực y tế,
mạng lưới khám bệnh, chữa bệnh trực tuyến đã kết nối thêm 1.000 sở y tế
khám chữa bệnh từ xa, góp phần thu khám khoảng cách y tế giữa các vùng,
miền và giữa tuyến Trung ương và địa phương. Do đó, tỷ lệ chuyển tuyến giảm
xuống dưới 10% giúp tiết kiệm chất lượng hàng hóa tỷ đồng và giảm tải cho hệ
thống y tế.
12
Trong năm 2022:
Sau đại dịch Covid-19, Việt Nam những quốc gia khôi phục các hoạt động "
bình thường mới "nhanh chóng. Thương mại điện tử đã trở thành đầu tàu trong
thời kỳ tăng trưởng của kinh tế số Việt Nam tới 90% người tiêu dùng số
dự kiến duy trì hoặc thậm chí chí gia tăng sử dụng nền tảng thương mại điện tử
trong 12 tháng tới. Đa số người tiêu dùng thường tập trung vào dịch vụ giao đồ
ăn( 60%) và mua hàng tạp hóa trên trực tuyến( 54%). Người dùng số thành thị ở
Việt Nam được nhận dịch vụ scao nhất, trong đó lĩnh vực thương mại điện tử,
dịch vụ vận tải và giao đồ ăn đứng đầu tròng danh sách với tỷ lệ lần lượt là 96%,
85% và 85% Nền kinh tế số của Việt Nam với tốc độ tăng trưởng lên 28%%, đạt
tổng giá trị là 23 tỷ USD.
- Về quy mô, Việt Nam đứng thứ 3 trên khu vực chỉ sau Indonesia (77 tỷ USD)
và Thái Lan (35 tỷ USD).
- Về cơ cấu, thương mại điện tử đang là một lĩnh vực với đóng góp lớn nhất vào
nền kinh tế lên đến 14 tỷ USD.
Nhận định vvai trò của nền kinh tế số đối với Việt Nam, chuyên gia Nguyễn
Thế Bính đã khẳng định “ Hiện Việt Nam đang rất nhiều điều kiện thuận lợi
để chuyển đổi hoàn toàn sang nền kinh tế số như nền kinh tế vĩ mô mô ổn định,
chính sách thuận lợi, dân số trẻ, độ phủ công nghệ cao Với kinh tế số, Việt Nam
có thể nhanh chóng đồng hành với thế giới thay vì nắng như trước đây”
Trong nửa đầu năm 2023:
Hiện nay nền kinh tế Việt Nam đứng thứ 3 trong khu vực Đông Nam Á với quy
mô thị trường là 23 tỷ USD. Dự đoán trong giai đoạn 2022- 2025, con số trên có
thể đạt đến mức 49 tỷ USD vào 2025 từ 120- 200 tỷ USD vào năm 2030.
Chuyển đổi sang kinh tế số là hướng đi mà Việt Nam quyết tâm thực hiện với nỗ
lực cao nhất từ cấp Đảng và Nhà nước. Qua Đại hội lần thứ XIII của Đảng đặt
mục tiêu đến năm 2025 kinh tế số Việt Nam sẽ đạt khoảng 20 GDP. Với tất cả
13
các định hướng mang tầm thế giới thì trong những năm trở lại đây, kinh tế số của
Việt Nam đã có nhiều sự phát triển vượt bậc.
- Hàng loạt các chính sách nhằm hỗ trợ, ưu đãi Doanh nghiệp chuyển đổi số
được ban hành
- Hạ tầng số quốc gia phát triển với tốc độ cao nhất
- Viễn thông, thanh toán điện tử, điện toán đám mây và nền tảng định danh,xác
thực số đang chú trọng cao đầu tư với tầm nhìn dài hạn
- Hàng loạt các nền tảng công nghệ “ Made in Việt Nam ” được áp dụng thực
tế nhằm giúp DN chuyển đổi số với mức kinh phí thấp nhất nhưng lại mang
hiệu quả cao nhất
Từ sự nỗ lực của đất nước ta, kinh tế số Việt Nam đã mang lại được những thành
quả của những bước đầu cùng ấn tượng. Báo cáo nền kinh tế số Đông Nam
Á lần thứ 7 được Google, Temasek và Bain & Company mới đây đưa ra nhận
định kinh tế số Việt Nam đang mức tăng trưởng cao nhất trong khu vực
vượt qua những quốc gia như Indonesia hay Thái Lan. Việt Nam đang một
nước dân số trẻ và khả năng tiếp cận công nghệ cao, tiềm năng rất lớn trong
quá trình xây dựng nền kinh tế số. Và qua đó ta thể thấy rằng phát triển nền
kinh tế số là một xu hướng tất yếu của thời đại, nhất là trong thời buổi công nghệ
đang rất phát triển mọi lĩnh vực từ trong giáo dục, y tế, giao thông- vận tải,
môi trường, công- nông nghiệp, dịch vụ,.
2.2. Vai trò của ngân hàng thương mại trong nền kinh tế số
Sự phát triển vượt bậc của kỷ nguyên công nghệ 4.0 kéo theo sự phát triển chung
trên toàn thế đi theo hướng tự động hoá. Con người ngày càng có thể làm được
nhiều việc hơn trong một khoảng thời gian ngắn hơn. Một đất nước phát triển
phụ thuộc rất lớn vào sự luân chuyển tiền tệ trong nền kinh tế. Bởi vậy vai trò
của ngân hàng là vô cùng quan trọng.
Tiết kiệm nhiều thời gian trong các khâu:
- Đăng ký hồ sơ trực tuyến:

Preview text:

HỌC VIỆN NGÂN HÀNG
KHOA KINH DOANH NGÂN HÀNG BÀI TẬP LỚN
MÔN: NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CHỦ ĐỀ 1 NHÓM 15 STT Mã SV Họ và tên Lớp 1 24A4010957 Nguyễn Thị Dung K24NHA-BN 2 24A4010963
Nguyễn Tô Trang Dương K24NHA-BN 3 24A4010953
Lê Phương Ánh Diễm K24NHA-BN 4 24A4011067
Trần Huệ Mai Phương K24NHA-BN 5 24A4011087 Trịnh Hoài Thu K24NHA-BN Bắc Ninh, 2023 MỤC LỤC LỜI MỞ
ĐẦU.....................................................................................................1
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ
THUYẾT..................................................................2
1.1. Khái quát về nền kinh tế của Việt Nam............................................2
1.2. Khái quát về nền kinh tế số................................................................3
1.2.1. Chuyển đổi số là gì?......................................................................3
1.2.2. Kinh tế số là gì?.............................................................................3
1.2.3. Đặc điểm của kinh tế số................................................................4
1.3. Khái quát về NHTM...........................................................................4
1.3.1. Khái niệm, đặc điểm, mục tiêu hoạt động....................................4
1.3.1.1. Khái niệm....................................................................................4
1.3.1.2. Đặc điểm.....................................................................................4
1.3.1.3. Mục tiêu hoạt động......................................................................4
1.3.2. Chức năng của NHTM.................................................................5
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG
THƯƠNG MẠI TRONG NỀN KINH TẾ
SỐ..................................................6
2.1. Sự cần thiết và xu hướng phát triển nền kinh tế số trong 3 năm trở
lại đây trên thế giới và Việt
Nam...................................................................6
2.1.1. Sự cần thiết của nền kinh tế
số.........................................................6
2.1.2. Xu hướng phát triển của nền kinh tế
số...........................................7
2.2. Vai trò của ngân hàng thương mại trong nền kinh tế
số...................13
CHƯƠNG 3: TÁC ĐỘNG CỦA XU HƯỚNG PHÁT TRIỂN NỀN KINH
TẾ SỐ TỚI HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA NGÂN HÀNG QUÂN ĐỘI MB
BANK.................................................................................................20
3.1. Tác động tích
cực...................................................................................20
3.2. Tác động tiêu
cực...................................................................................21 3.3. Giải
pháp................................................................................................22
3.3.1. Đối với bản thân ngân hàng
MB....................................................22
3.3.2. Kiến nghị đối với cơ quan quản lý Nhà
nước................................24 KẾT
LUẬN........................................................................................................25 TÀI LIỆU THAM
KHẢO................................................................................26 1 LỜI MỞ ĐẦU
Trong khoảng thời gian gần 3 thập kỷ vừa qua, nền kinh tế thế giới đã chứng
kiến sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin và truyền thông và kinh tế
số. Kinh tế số, cùng với các biến thể như kinh tế Internet, kinh tế mạng, kinh tế
tri thức, kinh tế mới trở thành mối quan tâm của các nhà nghiên cứu và các nhà
dự án chính sách kinh tế xã hội.
Ảnh hưởng của kinh tế số đã được lý giải thông qua nhiều lý thuyết, giả thuyết
lý thuyết về khuôn mẫu công nghệ, lý thuyết công nghệ mang mục tiêu chung.
Nhiều nghiên cứu định tính và định lượng đã được thực hiện để nghiên cứu và
đo lường ảnh hưởng nghiên cứu cũng như mối quan hệ nhân sự giữa ngành công
nghiệp số phát triển kinh tế dự kiến đưa ra những chính phát triển kinh tế số phù
hợp. Số hóa như thế nào, bằng cách nào cho hiệu quả chính là một vấn đề vô
cùng nan giải mà không chỉ các nhà lãnh đạo, chuyên gia đặt mối quan tâm chuyên biệt.
Hiện nay, ngân hàng tại Việt Nam chính là một trong những bộ phận có thay đổi
lớn về số hóa, gặt hái nhiều thành công, mang đến tiện ích cho khách hàng. Thế
nhưng để biến số hóa ngân hàng thành một mục tiêu lâu dài, vững chắc chính là
thách thức vô cùng lớn đối với chúng ta. 2
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT
1.1. Khái quát về nền kinh tế của Việt Nam
Nền kinh tế Việt Nam là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đang
phát triển, chịu phụ thuộc rất nhiều vào nông nghiệp, du lịch, xuất khẩu nguyên
liệu thô và đầu tư trực tiếp nước ngoài. Cơ cấu kinh tế Việt Nam được chia thành
hai thời kỳ chính. Trước năm 1985, Việt Nam về cơ bản là một nước nông nghiệp
với sản xuất nông nghiệp. Kể từ năm 1985, Việt Nam đã phát triển nhanh chóng
từ một trong những nước nghèo nhất thế giới thành một nước có thu nhập trung
bình thấp, nhờ sự kết hợp của các xu hướng toàn cầu thuận lợi.
Từ năm 1986 đến năm 2000, Việt Nam trải qua quá trình chuyển đổi từ nền kinh
tế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường.. Tuy nhiên thị trường lúc
này không phải là thị trường hoàn toàn tự do mà "có sự quản lý, điều tiết của nhà
nước", nhằm hạn chế những khuyết tật của kinh tế thị trường. Tập trung triển
khai chương trình kinh tế lớn: lương thực – thực phẩm, hàng tiêu dùng, hàng
xuất khẩu. Nền kinh tế đã dần dần được thị trường hóa. Kinh tế Việt Nam bắt
đầu khởi sắc. Từ một nước nghèo phải nhập khẩu lương thực, Việt Nam đã sản
xuất đủ để tự cung cấp, có nguồn dự trữ, thậm chí còn xuất khẩu gạo. Từ năm
1989 bắt đầu xuất khẩu dầu thô, đem lại nguồn thu lớn. Lạm phát được kiềm chế
dần dần. GDP bình quân đầu người năm 1990 mới đạt mức 98 USD. Cho đến
năm 2000 GDP bình quân đầu người đạt mức 396 USD. Từ 2002 đến 2020, GDP
đầu người tăng đến 3,6 lần, đạt tới gần 3.700 USD. Tỉ lệ đói nghèo theo (PPP
năm 2017) giảm từ hơn 14% năm 2010 xuống còn 3,8% năm 2020.
Tuy nhiên tương lai của Việt Nam đang được định hình bởi một số xu thế lớn.
Tình trạng dân số già, thương mại toàn cầu suy giảm, trong khi suy thoái môi
trường, mối lo ngại về biến đổi khí hậu và tự động hóa đang gia tăng. Đại dịch 8
- Các khối xây dựng quan trọng của nền kinh tê số, từ khả năng truy cập internet
siêu nhanh trên khắp Vương quốc Anh cho đến các khả năng an ninh mạng đều
đã có sẵn hoặc đang được xây dựng.
- Các trường đại học của Vương quốc Anh dẫn đầu thế giới về khoa học cơ bản và khả năng ứng dụng.
Chuyển đổi số là con đường giúp phục hồi cho nền kinh tế Vương quốc Anh và
mang lại nhiều cơ hội cho nước Anh:
- Tận dụng các hành vi tiêu dùng mới xuất hiện;
- Sử dụng khối lượng dữ liệu khổng lồ để cải thiện hiệu quả kinh doanh; - Tạo
ra các chuỗi cung ứng mạnh mẽ được hỗ trợ bởi công nghệ;...
“Tầm quan trọng của công nghệ kỹ thuật số là điều cần thiết để hiểu. Tập trung
vào tăng trưởng kỹ thuật số cho phép Chính phủ Vương quốc Anh thúc đẩy
chuyển đổi kỹ thuật số, đổi mới. Thúc đẩy tăng trưởng trên toàn nền kinh tế.”
(Theo Anubhav Mehrotra, SVP & Giám đốc Dịch vụ Tài chính - Vương quốc
Anh & Ireland, HCL Technologies.)
Công nghệ và con người làm việc cùng nhau có thể tạo ra những thay đổi tích
cực giúp đưa thế giới phát triển sang giai đoạn tiếp theo, sự đổi mới thông qua
chuyển đổi công nghệ kỹ thuật số sẽ củng cố môi trường kinh doanh và thúc đẩy
sự phát triển kinh tế, xã hội ở Vương quốc Anh trong tương lai. Tại Trung Quốc:
Trung Quốc là một trong những quốc gia được đánh giá có nền kinh tế số phát
triển nhanh và sôi động nhất trên thế giới. Nền kinh tế số đang dần trở thành một
trong những lực lượng chủ đạo trong nền kinh tế quốc dân của Trung Quốc. Theo
sách trắng do Học viện Công nghệ thông tin và Truyền thông Trung Quốc
(CAICT) công bố cho thấy, năm 2021 nền kinh tế số của Trung Quốc đạt 7,1
nghìn tỷ USD, đứng thứ 2 sau Hoa Kỳ. Thống kê cho thấy, tỷ trọng của nền kinh
tế số trong GDP quốc gia, được đo bằng giá trị kết hợp của các sản phẩm công
nghệ và đầu vào kỹ thuật số tích hợp, đạt 39,8% trong năm 2021, tăng từ 20,9%
vào năm 2012. Đi kèm với sự tăng trưởng nhanh chóng của nền kinh tế số Trung 9
Quốc là việc mở rộng xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật số. Theo đó, Trung Quốc
đã có các chính sách để thúc đẩy phát triển nhanh chóng công nghệ 5G, tính đến
cuối năm 2022, quốc gia này đã có tổng cộng 2,31 triệu trạm gốc 5G và hơn 1 tỷ người dùng 5G.
Trung Quốc cũng được xem là một trong những quốc gia đang sở hữu một trong
những cơ sở hạ tầng mạng lớn và tiên tiến nhất thế giới. Bên cạnh đó, quốc gia
này cũng đã thúc đẩy việc tích hợp dữ liệu lớn, điện toán đám mây và trí tuệ nhân
tạo. Đến năm 2025, Trung Quốc dự báo sẽ chiếm gần 30% tổng khối lượng dữ
liệu của thế giới với nhiều loại dữ liệu phong phú.
Theo dự báo của Tập đoàn Dữ liệu quốc tế IDC (International Data Corporation),
tối thiểu 80% các ứng dụng doanh nghiệp mới của Trung Quốc năm 2025 sẽ sử
dụng các công nghệ AI. Định hướng của Chính phủ Trung Quốc tập trung vào
những lĩnh vực công nghệ số đòi hỏi công nghệ vừa phải như thương mại điện
tử, tiếp đến tiến tới phát triển những lĩnh vực công nghệ số khó hơn như AI, rô-
bốt. Trung Quốc đang đầu tư hàng tỷ USD để hỗ trợ các nhà phát triển AI, trong
đó có cả công viên phát triển AI trị giá 2 tỷ USD ở Bắc Kinh. Tập đoàn IDC dự
báo, khoảng 51,3% GDP của Trung Quốc năm 2030 sẽ liên quan tới xu hướng
số hóa trong bối cảnh các doanh nghiệp Trung Quốc đang đẩy mạnh số hóa các hoạt động kinh doanh. Tại Malaysia:
Đây là quốc gia có GDP lớn thứ 3 Đông Nam Á, xếp hạng thứ 33 trên thế giới
và 12 ở Châu Á với quy mô GDP đạt tới 365,3 tỷ USD. Malaysia phát triển nền kinh tế số dựa trên :
- Tạo dựng hệ thống cơ chế, chính sách cải thiện hạ tầng kinh tế số.
Malaysia là quốc gia đầu tiên do Đông Nam Á ban hành Luật Bảo vệ dữ liệu.
Chính phủ đất nước này đề xuất các dự án giúp nâng cao hạ tầng kinh tế số của quốc gia như:
+ Dự án High Speed Broadband (HSBB) 1 năm 2008 và 2 giai đoạn 2015– 2025); 11
Tốc độ đường truyền Internet của Singapore được đặt ở vị thế ngang hàng nhiều
quốc gia phát triển như Phần Lan, Nhật Bản sau khi tăng từ 5,4Mbps lên 20Mbps
trong 4 năm từ (2012 – 2016). * Tại Việt Nam: Trong năm 2021:
Năm 2021, theo “Nền kinh tế số Đông Nam Á- Tiếng thập kỷ XX Thập kỷ kỹ
thuật số Đông Nam Á”, nền kinh tế số Việt Nam có giá trị khoảng 21 tỷ USD,
cao gấp 7 lần so với 2015 và nó được dự đoán sẽ đạt 220 tỷ USD tổng giá trị
hàng hóa (GMV) vào 2030, đứng thứ hai ở khu vực chỉ sau Indonesia. Trước ảnh
hưởng của đại dịch COVID-19, Việt Nam vẫn là trung tâm đổi mới hấp dẫn ở
khu vực và trên thế giới với hoạt động thương mại, đầu tư tăng nhanh, đạt mức
kỷ lục 1,37 tỷ USD nó tập trung vào các lĩnh vực thương mại điện tử, tài chính, sức khỏe và giáo dục
Nghiên cứu của Đại học Tufts(Mỹ) cho thấy, Việt Nam đứng vị trí 48/60 trên các
quốc gia có tốc độ chuyển đổi kinh tế số(KTS) nhanh trên thế giới và đồng thời
đứng vị trí 22 về tốc độ phát triển số hóa
Vào tháng 6 năm 2021, Việt Nam có thêm 8 triệu người tiêu dùng mới trên nền
tảng kỹ thuật số và nhiều cá nhân, doanh nghiệp đã hoạt động các dịch vụ internet
và công nghệ để mua bán các sản phẩm. Trong đó: - 95% trở lên doanh nghiệp
kỹ thuật số đã thanh toán qua internet
- 79% sử dụng các hình thức chuyển tiền kỹ thuật số
- 67% chấp nhận cho vay trên internet…Mỗi doanh nghiệp sử dụng trung bình 2
nền tảng số để đáp ứng nhu cầu của khách hàng . Ngoài ra, trong lĩnh vực y tế,
mạng lưới khám bệnh, chữa bệnh trực tuyến đã kết nối thêm 1.000 cơ sở y tế
khám chữa bệnh từ xa, góp phần thu khám khoảng cách y tế giữa các vùng,
miền và giữa tuyến Trung ương và địa phương. Do đó, tỷ lệ chuyển tuyến giảm
xuống dưới 10% giúp tiết kiệm chất lượng hàng hóa tỷ đồng và giảm tải cho hệ thống y tế. 12 Trong năm 2022:
Sau đại dịch Covid-19, Việt Nam là những quốc gia khôi phục các hoạt động "
bình thường mới "nhanh chóng. Thương mại điện tử đã trở thành đầu tàu trong
thời kỳ tăng trưởng của kinh tế số Việt Nam và có tới 90% người tiêu dùng số
dự kiến duy trì hoặc thậm chí chí gia tăng sử dụng nền tảng thương mại điện tử
trong 12 tháng tới. Đa số người tiêu dùng thường tập trung vào dịch vụ giao đồ
ăn( 60%) và mua hàng tạp hóa trên trực tuyến( 54%). Người dùng số thành thị ở
Việt Nam được nhận dịch vụ số cao nhất, trong đó lĩnh vực thương mại điện tử,
dịch vụ vận tải và giao đồ ăn đứng đầu tròng danh sách với tỷ lệ lần lượt là 96%,
85% và 85% Nền kinh tế số của Việt Nam với tốc độ tăng trưởng lên 28%%, đạt
tổng giá trị là 23 tỷ USD.
- Về quy mô, Việt Nam đứng thứ 3 trên khu vực chỉ sau Indonesia (77 tỷ USD) và Thái Lan (35 tỷ USD).
- Về cơ cấu, thương mại điện tử đang là một lĩnh vực với đóng góp lớn nhất vào
nền kinh tế lên đến 14 tỷ USD.
Nhận định về vai trò của nền kinh tế số đối với Việt Nam, chuyên gia Nguyễn
Thế Bính đã khẳng định “ Hiện Việt Nam đang có rất nhiều điều kiện thuận lợi
để chuyển đổi hoàn toàn sang nền kinh tế số như nền kinh tế vĩ mô mô ổn định,
chính sách thuận lợi, dân số trẻ, độ phủ công nghệ cao Với kinh tế số, Việt Nam
có thể nhanh chóng đồng hành với thế giới thay vì nắng như trước đây” Trong nửa đầu năm 2023:
Hiện nay nền kinh tế Việt Nam đứng thứ 3 trong khu vực Đông Nam Á với quy
mô thị trường là 23 tỷ USD. Dự đoán trong giai đoạn 2022- 2025, con số trên có
thể đạt đến mức 49 tỷ USD vào 2025 và từ 120- 200 tỷ USD vào năm 2030.
Chuyển đổi sang kinh tế số là hướng đi mà Việt Nam quyết tâm thực hiện với nỗ
lực cao nhất từ cấp Đảng và Nhà nước. Qua Đại hội lần thứ XIII của Đảng đặt
mục tiêu đến năm 2025 kinh tế số Việt Nam sẽ đạt khoảng 20 GDP. Với tất cả 13
các định hướng mang tầm thế giới thì trong những năm trở lại đây, kinh tế số của
Việt Nam đã có nhiều sự phát triển vượt bậc.
- Hàng loạt các chính sách nhằm hỗ trợ, ưu đãi Doanh nghiệp chuyển đổi số được ban hành
- Hạ tầng số quốc gia phát triển với tốc độ cao nhất
- Viễn thông, thanh toán điện tử, điện toán đám mây và nền tảng định danh,xác
thực số đang chú trọng cao đầu tư với tầm nhìn dài hạn
- Hàng loạt các nền tảng công nghệ “ Made in Việt Nam ” được áp dụng thực
tế nhằm giúp DN chuyển đổi số với mức kinh phí thấp nhất nhưng lại mang hiệu quả cao nhất
Từ sự nỗ lực của đất nước ta, kinh tế số Việt Nam đã mang lại được những thành
quả của những bước đầu vô cùng ấn tượng. Báo cáo nền kinh tế số Đông Nam
Á lần thứ 7 được Google, Temasek và Bain & Company mới đây đưa ra nhận
định kinh tế số Việt Nam đang có mức tăng trưởng cao nhất trong khu vực và
vượt qua những quốc gia như Indonesia hay Thái Lan. Việt Nam đang là một
nước có dân số trẻ và có khả năng tiếp cận công nghệ cao, tiềm năng rất lớn trong
quá trình xây dựng nền kinh tế số. Và qua đó ta có thể thấy rằng phát triển nền
kinh tế số là một xu hướng tất yếu của thời đại, nhất là trong thời buổi công nghệ
đang rất phát triển ở mọi lĩnh vực từ trong giáo dục, y tế, giao thông- vận tải,
môi trường, công- nông nghiệp, dịch vụ,.
2.2. Vai trò của ngân hàng thương mại trong nền kinh tế số
Sự phát triển vượt bậc của kỷ nguyên công nghệ 4.0 kéo theo sự phát triển chung
trên toàn thế đi theo hướng tự động hoá. Con người ngày càng có thể làm được
nhiều việc hơn trong một khoảng thời gian ngắn hơn. Một đất nước phát triển
phụ thuộc rất lớn vào sự luân chuyển tiền tệ trong nền kinh tế. Bởi vậy vai trò
của ngân hàng là vô cùng quan trọng.
Tiết kiệm nhiều thời gian trong các khâu:
- Đăng ký hồ sơ trực tuyến: