lOMoARcPSD| 61685031
BỘ ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP VẤN ĐÁP MÔN LUẬT HIẾN PHÁP
CÂU 1: Phân tích đối tượng điều chỉnh của ngành luật hiến pháp Việt Nam. Lấy dụ minh họa.
Khái Niệm: đối tượng điều chỉnh của nghành LHP các QHXH nền tảng, bản nhất quan
trọng nhất trong xã hội.
-Đối tượng điều chỉnh của nghành LHP có thể chia thành 3 nhóm lớn:
+ Thứ nhất: Các quan hệ hội nền tảng, bản và quan trọng nhất trong các lĩnh vực chính trị,
kinh tế, văn hóa,giáo dục, khoa học, công nghệ, an ninh, quốc phòng, chính sách đối ngoại.
Trong lĩnh vực chính trị, ngành Luật Hiến pháp điều chỉnh các mối quan hệ nền tảng, bản
quan trọng nhất liênquan tới quốc gia, lãnh thổ, quyền lực nhà nước tổ chức thực hiện quyền
lực nhà nước. thể kể đến như vấn đề chủquyền quốc gia, quyền dân tộc bản, bản chất của
nhà nước, nguồn gốc của quyền lực nhà nước, hthống chính trị. Khiđiều chỉnh các quan h
hội nền tảng của lĩnh vực chính trị, ngành Luật Hiến pháp đồng thời thiết lập nền tảng của chếđộ
chính trị.
Trong các lĩnh vực kinh tế, văn hoá, giáo dục, khoa học, công nghệ, an ninh, quốc phòng và chính
sách đối ngoại,những quan hệ hội nền tảng mà ngành Luật Hiến pháp điều chỉnh những quan
hệ xã hội liên quan tới định hướngphát triển lớn của từng lĩnh vực, dụ hình phát triển kinh
tế, định hướng giá trị phát triển nền văn hoá, khoa học,công nghệ…
Qua việc điều chỉnh các quan hệ hội đó, ngành Luật Hiến pháp hình thành các chính sách
bản nhất, quan trọngnhất định hướng hoạt động của các cơ quan nhà nước trong từng lĩnh vực.
+ Thứ hai: Các quan hệ hội nền tảng, bản quan trọng nhất trong lĩnh vực quan hệ giữa
nhà nước và ngườidân, hay nói cách khác là các quan hệ xã hội xác định quyền và nghĩa vụ cơ bản
của người dân.
Trong đời sống hội, các ngành luật của hệ thống pháp luật Việt Nam quy định về quyền và nghĩa
vụ của công dân.Đó những quyền nghĩa vụ nền tảng, bản quan trọng của người dân
trong từng lĩnh vực. Đó có thể quyền bầucử, ứng cử trong lĩnh vực chính trị, quyền sở hữu đối
với liệu sản xuất, tự do kinh doanh trong nh vực lĩnh vực, quyềnbất khả xâm phạm danh dự,
nhâm phẩm, tính mạng, tài sản trong lĩnh vực tự do cá nhân. Những quyền cơ bản này là nềntảng
hình thành các quyền cụ thể của người dân trong từng lĩnh vực, dụ như quyền được đăng kí kinh
doanh, quyềnđược khởi kiện, quyền được yêu cầu bồi thường dân sự ngoài hợp đồng.
+ Thứ ba: Các quan hệ hội nền tảng, cơ bản quan trọng nhất trong lĩnh vực tổ chức hoạt
động của bộ máynhà nước.
Đây là các quan hệ xã hội liên quan tới việc xác định các nguyên tắc tổng thể của bộ máy nhà nước
Việt Nam, cácnguyên tắc tổ chức hoạt động, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cấu tổ chức
hoạt động của các quan trọng bộmáy nhà nước Việt Nam từ trung ương đến địa phương. Đây
là nhóm đối tượng điều chỉnh lớn nhất của ngành Luật Hiếnpháp.
Ví dụ: Trong lĩnh vực dân sự, quan hệ sở hữu là một quan hệ nền tảng, nếu không xác định được
quan hệ sở hữu thìkhông thể thiết lập được các giao dịch dân sự có liên quan. Từ đây, có thể hiểu,
quan hệ sở hữu chính là đối tượng điềuchỉnh của Luật Hiến pháp.
lOMoARcPSD| 61685031
Câu2: Nêu định nghĩa và phân tích đặc điểm của hiến pháp.
- Hiến pháp là hệ thống các quy phạm pháp luật hiệu lực pháp lí cao nhất quy định những vấn
đề bản nhất về chủ quyền quốc gia, chế độ chính trị, chính sách kinh tế, văn hóa, hội, tổ
chức quyền lực nhà nước, địa vị pháp lí của con người và công dân.
- Hiến pháp có bốn đặc trưng cơ bản sau:
+ Thứ nhất, hiến pháp là luật cơ bản (basic law), là “luật mẹ”, luật gốc. Nó là nền tảng, là cơ sở để
xây dựng phát triển toàn bộ hệ thống pháp luật quốc gia. Mọi đạo luật văn bản QPPL khác
dù trực tiếp hay gián tiếp đều phải căn cứ vào hiến pháp để ban hành.
+ Thứ hai, hiến pháp luật tổ chức (organic law), là luật quy định các nguyên tắc tổ chức bộ máy,
luật xác định cách thức tổ chức xác lập các mối quan hệ giữa các quan lập pháp, hành
pháp pháp; quy định cấu trúc các đơn vị hành chính lãnh thổ cách thức tổ chức chính
quyền địa phương.
+ Thứ ba, hiến pháp luật bảo vệ (protective law). Các quyền con người công dân bao giờ
cũng là một phần quan trọng của hiến pháp. Do hiến pháp là luật cơ bản của nhà nước nên các quy
định về quyền con người và công dân trong hiến pháp là cơ sở pháp lí chủ yếu để nhà nước và xã
hội tôn trọng và bảo đảm thực hiện các quyền con người và công dân.
+ Thứ tư, hiến pháp luật hiệu lực pháp tối cao (highest law), tất cả các văn bản pháp luật
khác không được trái với hiến pháp. Bất văn bản pháp luật nào trái với hiến pháp đều phải bị
hủy bỏ.
Câu3: Tại sao nói hiến pháp là công cụ kiểm soát quyền lực nhà nước?
-HP là công cụ kiểm soát quyền lực nhà nước tại vì:
+ Hiến pháp phương tiện bảo vệ quyền con người quyền công dân Hiến pháp văn bản vị
trí cao nhất trong thang bậc hiệu lực pháp lý, đóng vai trò đạo luật gốc, làm sở cho các văn
bản khác trong hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật của mỗi quốc gia. Những nội dung không
thể thiếu trong hầu hết các bản hiến pháp, đó những quy định về cách thức tổ chức quyền lực
nhà nước ghi nhận quyền con người, quyền công dân đã làm cho hiến pháp đóng một vai trò
quan trọng trong việc đảm bảo nhân quyền
+ Hiến pháp là công cụ phòng chống tham nhũng Một trong những vai trò quan trọng bậc nhất
của Hiến pháp làphòng, chống tham nhũng, hay nói một cách khác, Hiến pháp một trong
những công cụ để phòng, chống tham nhũngcủa quốc gia. Muốn cho Hiến pháp là công cụ của
việc phòng, chống tham nhũng, cũng việc hiểu Hiến pháp như công cụ kiểm soát, quyền
lực. Nếu quyền lực không kiểm soát được, cũng quyền lực đã góp phần gia tăng cho tệ nạn
tham nhũng.
+ Hiến pháp công cụ để đánh giá một nền dân chủ ''Hiến pháp không phải một công cụ của
chính phủ để đàn ápnhân dân, mà một công cụ để nhân dân kiềm chế chính phủ " Câu nói này
phản ánh một cách khái quát mối quan hệgiữa hiến pháp dân chủ. ng nghĩa thông
qua hiến pháp thế bước đầu đánh giá được một nền dân chủ Dânchủ nghĩa là một hệ thống
chính phủ được thành lập mang tính chính danh thông qua bầu cử. Tuy nhiên, không phảiai
cũng được ứng cử trong các cuộc bầu cử; chỉ có những người tham gia mới được lựa chọn để ứng
cử. Thêm vào đó,không phải ai cũng được đi bầu. Bản chất của hiến pháp dân chủ, thể
hiện quyền lực của nhân dân phải đượcthông qua với sự đồng ý của nhân dân. Như vậy, hiến
pháp phản ánh một nền dân chủ trước hết qua cách thức làm ra nó.Về khía cạnh này, khả năng,
mức độ tham gia (thực chất) của người dân vào việc xây dựng và thông qua hiến pháp tỷ lệthuận
lOMoARcPSD| 61685031
với tính dân chủ của một nhà nước. một quốc gia càng dân chủ, nhà nước càng áp dụng nhiều
biện pháp để ngườidân thế tự do thuận lợi đóng góp ý kiến vào việc xây dựng hiến pháp,
cũng như vào việc bỏ phiếu trong các cuộctrưng cầu ý dân về hiến pháp. Thêm vào đó, ở một quốc
gia dân chủ, quá trình trưng cầu ý dân và xin ý kiến nhân dânđược thực hiện một cách trân trọng,
minh bạch, dưới sự giám sát chặt chẽ của báo chí và các tổ chức xã hội dân sự. Điềunày rất quan
trọng vì hầu hết các nước thực hiện trưng cầu ý dân hoặc các hình thức xin ý kiến nhân dân về dự
thảo hiếnpháp, nhưng nhiều quốc gia quá trình này được tiến hành một cách hình thức, thiếu
minh bạch hoặc đi kèm với sự đedoạ (công khai hay ngấm ngầm) của chính quyền khiến người
dân không dám thể hiện quan điểm thật sự của mình.
Câu4: Tại sao nói hiến pháp là luật bảo vệ?
Hiến pháp là phương tiện bảo vệ quyền con người quyền công dân ? Hiến pháp là văn bản có vị trí
cao nhất trongthang bậc hiệu lực pháp lý, đóng vai trò là đạo luật gốc, làm cơ sở cho các văn bản
khác trong hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật của mỗi quốc gia. Những nội dung không thể
thiếu trong hầu hết các bản hiến pháp, đó những quy định về cách thức tổ chức quyền lực nhà
nước ghi nhận quyền con người, quyền công dân đã làm cho hiến pháp đóng mộtvai trò quan
trọng trong việc đảm bảo nhân quyền Thông qua hiến pháp, người dân xác định những quyền
của nh nhà nước phải tôn trọng bảo đảm thực hiện, cùng những cách thức đế bảo đảm
thực thi những quyền đó. Với tính chất văn bản pháp hiệu lực tôi cao, hiến pháp bức
tường chắn quan trọng nhất để ngăn ngừa những hành vi lạm dụng, xâm phạm quyền con người,
quyền công dân, cũng nnguồn tham chiếu đầu tiên người dân thường nghĩđến khi các
quyền của mình bị vi phạm. Hiệu lực bảo vệ quyền con người, quyền công dân của hiến pháp còn
được pháthuy qua việc hiến định các cơ chế, thiết chế bảo vệ quyền, cụ thể như thông qua hệ thôhg
toà án pháp, các cơ quan nhân quyền quốc gia, quan thanh tra Quốc hội (Ombudsman) hay
toà án hiến pháp... Hiến pháp văn bản ghi nhận quyền con người, quyền công dân bên cạnh đó
hiến pháp là văn bản pháp lý ràng buộc trách nhiệm của nhà nước đểquyền con người, quyền công
dân được thực thi. Muốn đảm bảo quyền con người, quyền công dân thì trước hết nhà nướcphải
ghi nhận những quyền đó, nếu không sự ghi nhận thì sẽ không sự bảo vệ thúc đẩy việc
hiện thực hóa nhữngquyền này. Việc ghi nhận quyền con người trong hiến pháp cũng cách đ
một quốc gia tuyên bố với thế giới về tình trạng nhân quyền của nước mình. Hiến pháp là đạo luật
cơ bản của nhà nước có tính bắt buộc chung đối với toàn xã hội,trong đó và trước hết là những cơ
quan, cán bộ nhà nước. Điều đó có nghĩa rằng, các cơ quan nhà nước phải nỗ lực trong việc tạo ra
chế (ban hành thể chế thành lập các thiết chế) để các quyền con người, quyền công dân được
thực thi.Nếu không tạo điều kiện và cơ chế để hiện thực hóa các quyền con người, quyền công dân
ghi trong hiến pháp thì chính nhà nước cũng bị coi là không hoàn thành trách nhiệm và trong một
chừng mực nhất định thể bị coi vi hiến. Do vậy,có thể nói rằng, trong trường hợp này hiến
pháp đóng vai trò quan trọng trong việc bảo đảm quyền con người, quyền công dân. Bảo đảm bằng
cách “bắt” nhà nước phải thực hiện chính những mình đã ghi nhận về quyền con người,
quyền công dân trong nội dung của hiến pháp.
Câu5:
Câu6:
Câu7:Phân tích quy trình lập hiến theo Hiến pháp năm 2013.
1. Quan niệm về quy trình lập hiến Hiểu theo ngôn ngữ thông thường, quy trình trình tự
phải tuân theo để tiến hànhmột công việc nào đó[3]. Dưới góc độ pháp luật, “quy trình lập
lOMoARcPSD| 61685031
hiến” được hiểu là một chế định pháp luật, gồm nhữngquy định về chủ thể, quyền và nghĩa
vụ, trách nhiệm của các chủ thể trong việc xây dựng ban hành hiến pháp; trình tự,thủ
tục tiến hành các hoạt động xây dựng, ban hành hiến pháp. “Quy trình lập hiến” còn được
hiểu là quy trình hoạt độngcó tính chính trị - pháp lý, gồm nhiều giai đoạn, nhiều hoạt động
khác nhau, do nhiều chủ thể tiến hành; mối liên hệchặt chẽ tuân theo trình tự nhất
định; quy trình hoạt động mang tính sáng tạo sản phẩm bản n hiến pháp. Quathực
tiễn lập hiến của Nhà nước ta, chúng tôi cho rằng, có thể quan niệm về quy trình lập hiến
nước ta là: “Quy trìnhlập hiến trình tự, thủ tục những quan, tổ chức trách
nhiệm thực hiện hoạt động lập hiến phải tuân theo trongquá trình ban hành mới hoặc sửa
đổi hiến pháp nhằm chuyển hoá ý chí của giai cấp công nhân và nhân dân lao động dướisự
lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam thành những quy phạm hiến định và thể hiện chúng
dưới hình thức một bảnvăn hiến pháp”.
2. Đặc điểm của quy trình lập hiến Việc xác định rõ được các đặc điểm của quy trình lập hiến
những ý nghĩa quantrọng nhằm bảo đảm cho việc xác lập thực hiện quy trình này
một cách đúng đắn, qua đó bảo đảm được chất lượng vàhiệu quả của hoạt động lập hiến.
Thực tế quá trình lập hiến nước ta hơn 60 năm qua cho thấy, bởi chưa xác định đượccác
đặc điểm của quy trình lập hiến, dẫn đến không thừa nhận hoặc chưa tôn trọng đúng mức
các đặc điểm khách quancủa quy trình lập hiến, từ đó thậm chí còn phủ nhận tính độc lập
của quy trình lập hiến, đồng nhất quy trình lập hiến vớiquy trình lập pháp hoặc coi quy
trình này một nội dung thuộc về quy trình lập pháp thông thường. Tuy nhiên, theo
quanđiểm của chúng tôi, quy trình lập hiến mặc những điểm tương đồng nhất định
với quy trình lập pháp nhưng khôngthể đồng nhất hoặc lẫn lộn với quy trình này hay một
quy trình nào khác, xuất phát từ những đặc điểm bản sau của quytrình lập hiến: Thứ
nhất, nếu như các quy trình hoạt động khác được quy định chủ yếu trong các văn bản luật,
dưới luật,như: quy trình ban hành luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của
Uỷ ban Thường vụ Quốc hội được quyđịnh chủ yếu tại Luật Ban hành văn bản quy phạm
pháp luật năm 1996[4] thì quy trình sửa đổi hiến pháp cho đến nay chỉđược quy định tại
các hiến pháp. Thứ hai, quy trình lập hiến là quy trình hoạt động duy nhất được hiến pháp
quy địnhđiều kiện thông qua rất chặt chẽ. Hiến pháp năm 1959, Hiến pháp năm 1980
Hiến pháp năm 1992 đều thống nhất quyđịnh: “Việc sửa đổi Hiến pháp phải được ít nhất
là 2/3 tổng số đại biểu Quốc hội biểu quyết tán thành”[5]. Thứ ba, quytrình lập hiến là quy
trình hoạt động thường gắn với việc Quốc hội phải thành lập ra một quan đặc biệt để
giúp Quốchội thực hiện hoạt động lập hiến, đó Uỷ ban sửa đổi Hiến pháp. Theo quy trình
quyết định những vấn đề quan trọngcủa đất nước, trong trường hợp cần thiết, Quốc hội có
thể thành lập một Uỷ ban lâm thời để giúp Quốc hội thẩm tra, xácminh vấn đề. Tuy nhiên,
đây chỉ những trường hợp biệt, thực tế rất hiếm xảy ra. Ngược lại, trong các trường
hợp banhành mới hay sửa đổi Hiến pháp đều phải thành lập ra Uỷ ban dự thảo hoặc Uỷ
ban sửa đổi Hiến pháp để giúp Quốc hộisoạn thảo Hiến pháp hoặc văn bản sửa đổi Hiến
pháp (trừ trường hợp sửa đổi Lời nói đầu của Hiến pháp năm 1980).Ngoài ra, quy trình lập
hiến mang tính chính trị - pháp lý, phản ánh
đặc trưng của hệ thống chính trị một đảng duy nhấtcầm quyền, thể hiện chỗ trong toàn
bộ các khâu công việc đều được Đảng quan tâm lãnh đạo chỉ đạo trực tiếp. Đồngthời,
quy trình lập hiến quy trình hoạt động đòi hỏi sự tham gia chủ động, tích cực của
nhân dân
lOMoARcPSD| 61685031
3. Các nguyên tắc bản của quy trình lập hiến Các nguyên tắc của quy trình lập hiến
những tưởng chỉ đạoxuyên suốt quá trình xây dựng tổ chức thực hiện quy trình lập
hiến. Trong điều kiện nước ta, để bảo đảm cho hoạtđộng lập hiến chất lượng hiệu
quả, quy trình lập hiến đòi hỏi phải tuân thủ nhiều nguyên tắc quan trọng, trong đó cóbốn
nguyên tắc bản sau: Thứ nhất, bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động lập
hiến. nước ta, hệ thốngchính trị đặc trưng một đảng duy nhất cầm quyền, pháp
luật là thể chế hoá đường lối, chủ trương của Đảng, nhằmxác lập về phương diện pháp lý
sự lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước hội. thế, bảo đảm sự lãnh đạo của Đảngđối
với hoạt động lập hiến trở thành yêu cầu hàng đầu trong toàn bộ hoạt động của Nhà nước.
Sự lãnh đạo của Đảng đốivới hoạt động lập hiến được thể hiện qua các nội dung như: Đảng
xác định mục đích, nội dung, yêu cầu của việc xâydựng, sửa đổi hiến pháp; Đảng cử cán
bộ của Đảng trực tiếp tham gia vào hoạt động lập hiến; các cơ quan lãnh đạo củaĐảng như
Bộ Chính trị, Ban thư, Ban Chấp hành trung ương Đảng thường xuyên theo dõi, xem
xét và cho ý kiến đốivới các vấn đề quan trọng của hiến pháp trong quá trình xây dựng, sửa
đổi hiến pháp... Thứ hai, phát huy dân chủ tronghoạt động lập hiến; tạo điều kiện để mọi
quan, tổ chức công dân tham gia tích cực vào hoạt động lập hiến. Dân chủlà một
trong những đặc điểm bản, quan trọng nhất của hiến pháp nước ta. Để hiến pháp bảo
đảm tính dân chủ thực sựthì quy trình lập hiến cũng phải bảo đảm để ngay trong hoạt động
xây dựng sửa đổi hiến pháp cũng phải bảo đảmnhdân chủ. Bởi vì, không thể hiến
pháp dân chủ thực sự khi chính hoạt động xây dựng, sửa đổi hiến pháp lại thiếu dânchủ.
Dân chủ trong hoạt động lập hiến càng cao bao nhiêu thì càng phát huy được tối đa trí tuệ
của tập thể đại biểu Quốchội, các cơ quan, tổ chức hữu quan công dân trong việc tạo lập
các quy phạm hiến định; càng phản ánh được thực chấthơn, sâu sắc hơn ý chí, nguyện vọng
của quần chúng nhân dân, để hiến pháp thực sự là hiến pháp "của nhân dân, do nhândân và
nhân dân", càng góp phần bảo đảm cho các quy phạm hiến định phù hợp hơn với điều
kiện kinh tế - hội củađất nước xu thế thời đại. Thứ ba, tuân thủ nghiêm chỉnh trình
tự, thủ tục đã được xác lập trong quy trình lập hiến.Nguyên tắc này yêu cầu mỗi chủ thể
tham gia hoạt động lập hiến phải thực hiện nghiêm chỉnh các trình tự, thủ tục đãđược pháp
luật quy định, phù hợp với nhiệm vụ quyền hạn của từng loại chủ thể trong hoạt động
lập hiến. Mỗi hoạtđộng của từng chủ thể là một khâu trong hoạt động lập hiến, chỉ cần trục
trặc ở một khâu nhất định sẽ ảnh hưởng tới hàngloạt các khâu tiếp theo, thậm chí vô hiệu
hoá các nỗ lực lập hiến trước đó.
4. Phân loại quy trình lập hiến Qua nghiên cứu các quy định về quy trình lập hiến và thực tiễn
lập hiến nước ta, cóthể phân ra hai loại quy trình lập hiến bản là: quy trình ban hành
mới hiến pháp và quy trình sửa đổi hiến pháp. 4.1. Quy trình ban hành mới hiến pháp Thực
tiễn lập hiến ở các nước trên thế giới cho thấy, việc ban hành hiến phápmới thường xảy ra
trong ba trường hợp sau: i) khi thành lập quốc gia mới; ii) khi thay đổi chế độ chính trị; iii)
khi cónhững thay đổi bản về chế độ kinh tế, chính sách phát triển xã hội trong đường
lối, chính sách của giới cầm quyền. Ởnước ta, quy trình ban hành mới
hiến pháp hầu như chưa được pháp luật quy định. Trong văn bản pháp luật đầu tiên liênquan
trực tiếp đến việc xây dựng Hiến pháp năm 1946 - bản hiến pháp đầu tiên của Nhà nước ta
- Sắc lệnh số 34/SLngày 20/9/1945 (do Chủ tịch Hồ Chí Minh ban hành) cũng như
chính bản Hiến pháp m 1946 tất cả các bản hiếnpháp được ban nh sau này đều
không một điều khoản, một quy định nào về quy trình ban hành hiến pháp mới.
Nhìnchung, hiến pháp của các nước cũng thường không có quy định về quy trình ban hành
lOMoARcPSD| 61685031
mới hiến pháp. Điều này có thểđược lý giải bởi hai lý do sau: - Thứ nhất, hiến pháp là văn
bản pháp nh cương lĩnh, quy định những vấn đề bản,quan trọng nhất của một
quốc gia. Đó là những vấn đề mang tính ổn định cao, ít bị tác động bởi sự thay đổi thường
xuyêndiễn ra của đời sống kinh tế - xã hội và vì vậy, các bản hiến pháp bao giờ cũng rất ổn
định, ít bị thay đổi như các đạo luậtthường. Cũng vì vậy, trong khoa học pháp lý cũng như
trong pháp luật thực định, vấn đề ban hành mới hiến pháp để thaythế hiến pháp hiện hành
ít được đặt ra. - Thứ hai, khi ban hành hiến pháp, nhìn chung về mặt chủ quan, các nhà lập
hiếnđều mong muốn (và tin tưởng) bản hiến pháp được ban hành cũng như thể chế chính
trị đã sản sinh ra nó phải tồn tại lâudài, nếu không nói vĩnh viễn. Do đó, trong các hiến
pháp họ thường không đặt ra quy định về việc ban hành mới hiếnpháp chỉ các quy
định về việc sửa đổi hiến pháp.
Quy trình sửa đổi hiến pháp Trên thế giới, có những nước coi việc sửa đổi hiến pháp cũng
như sửa đổi một đạoluật nên quy trình sửa đổi hiến pháp cũng tương tự như quy trình sửa đổi luật,
thậm chí được áp dụng bởi quy trình lậppháp. Những hiến pháp được sửa đổi bởi quy trình lập
pháp như vậy được các nluật học trên thế giới xếp vào nhóm“hiến pháp mềm”. Tuy nhiên, số
nước sử dụng quy trình lập pháp để sửa đổi hiến pháp rất ít, hầu hết các nước trên thếgiới sử
dụng một quy trình sửa đổi riêng đối với hiến pháp và thông thường là quy trình này chặt chẽ hơn
hơn so với quytrình lập pháp. Đó cũng là lý do để các nhà luật học xếp hiến pháp của các nước này
vào nhóm “hiến pháp cứng", cónghĩa là thuộc loại hiến pháp khó bị sửa đổi. Ở các nước, việc sửa
đổi hiến pháp thường được tiến hành theo hai loại quytrình là: (a) Do Quốc hội lập pháp thực hiện,
đây là quy trình phổ biến nhất hiện nay; (b) Do một hội nghị dân cử đặc biệtthực hiện, đây là quy
trình được áp dụng một số nước. Nước Mỹ một điển hình trong việc áp dụng quy trình
này.Ngoài ra, cũng một số nước, như các tiểu bang của Thuỵ áp dụng quy trình sửa đổi
hiến pháp theo phương thứcdo nhân dân quyết định Câu8:Phân tích ý nghĩa của vấn đề bảo vệ hiến
pháp.
Trước hết, tại sao cần phải bảo vệ Hiến pháp?
Các nước đều nhận thấy cần phải bảo vệ HP vì 2 lý do: một là, xuấtphát từ vai trò của HP đối với
Nhà nước và hội; hai là, xuất phát từ thực tế hành vi vi hiến, do đó, nếu khôngcơ chế
bảo vệ HP thì sẽ không cách thức để ngăn chặn hay xử những hành vi vi hiến đó.Vậy, bản
chất của bảo vệ HP gì? Nếu hiểu về mặt thuật ngữ, bảo vệ HP đặt ra những biện pháp ngăn
chặn nguycơ xâm phạm HPxử lý hành vi vi phạm các quy định của HP nhằm đảm bảo các quy
định của HP được thực thi 1 cáchđầy đủ, nghiêm túc trên thực tế. Tuy nhiên, cần phải hiểu sâu sắc
hơn vấn đề bảo vệ HP, nắm được bản chất của bảo vệHP 1 cách hiệu quả.Từ các đặc trưng của HP,
thể thấy, HP vai trò cùng quan trọng không chỉ đối với hệ thống pháp luật quốc giamà
còn mang ý nghĩa về mặt chính trị,hay nói cách khác, HP là minh chứng cho 1 Nhà nước dân chủ,
tại nhiều nước, HPra đời đánh dấu bước ngoặt lịch sử của một dân tộc, là căn cứ pháp lý nền tảng
để định hướng xây dựng chế độ XHCN ởmột quốc gia, giống như học giả Daniel Webster đã nhận
định: “ Một quốc gia, một hiến pháp, một vận mệnh.”. Do đó,bảo vệ HP thực chất là bảo vệ “thành
quả” của sự thoả thuận giữa một bên lầ người dân và một bên chính quyền.Những thoả thuận về
quyền lực Nhà nước thuộc về ai, quyền lực Nhà nước giới hạn đến đâu, được tổ chức ntn, Nhà
nướcsẽ có trách nhiệm bảo vệ những quyền cơ bản nào của con người, của công dân và công dân
có nghĩa vụ nào đối với Nhànước..được ghi nhận trong HP cần phải được tôn trọng. Trong vấn đề
thực hiện thoả thuận đó,rõ ràng bên nắm quyền lựcNhà nước thường sẽ bên dễ vi phạm “Khế
lOMoARcPSD| 61685031
ước’ bởi lẽ bản khế ước đó phần lớn để kiểm soát quyền lực của họ, đểtiết chế họ nhưng một
khi họ nắm giữ quyền lực thì sự ràng buộc đó khiến họ không muốn tuân thủ hiến pháp. Trong
khiđó, với người dân thì HP chính sở quan trọng để họ yên tâm về sự vận hành của chính
quyền, giúp họ thể bảo vệcác quyền lợi chính đáng của mình. Từ đây, chúng ta thể lý giải tại
sao thực tế hành vi vi hiến lại chủ yếu được thựchiện bởi Nhà nước, bản chất của bảo vệ hiến
pháp chính là ngăn chặn và xử lý các cơ quan nhà nước, quan chức nhànước không thực hiện hoặc
thực hiện không đúng cam kết với người dân đã được hiến định. Có thể thấy rằng, xây dựngcơ chế
bảo hiến chính sự “dũng cảm” của Nhà nước, sẵn sàng chịu trách nhiệm với những hành động
đi ngược lại vớinhững gì đã thoả thuận với người dân.
Câu9: Phân tích quy định về bảo vệ hiến pháp theo Hiến pháp năm 2013.
Hiện nay, trên thế giới có 3 hình bảo vệ hiến pháp phổ biến gồm: Hội đồng bảo vệ Hiến pháp,
Tán Hiến phápvà Toà án tư pháp chức năng bảo vệ hiến pháp. Mỗi hình lại cạc thức
bảo vệ hiến pháp khác nhau. Việc lựachọn mô hình nào phụ thuộc vào truyền thống chính trị pháp
lý của mỗi quốc gia. Tuy nhiên, dù là mô hình nào thì đều cómột số điểm chung sau:
Một là, các mô hình bảo hiến đều thể hiện nh độc lập. Đây là một yếu tố rất quan trọng để đảm
bảo tính hiệu quảcủa chế bảo vệ hiến phápHai là, các hình bảo hiến đảm bảo tính chuyên
nghiệp. Tính chuyên nghiệp ở đây thể hiện ở cơ quan đảm nhậnchức năng này phải đánh giá được
đâu là đâu là hành vi có thể bị coi là vi hiến.Ba là, các quyết định của cơ quan bảo hiến phải đảm
bảo tính hiệu lực. Có thể thấy, dù là mô hình hội đồng hay toàán thì các nước đều cho phép đây là
cơ quan có quyền quyết định tối cao trong việc đánh giá và xử lý hành vi vi phạmhiến pháp.Theo
HP 2013, vấn đề bảo vệ HP Việt Nam được quy định tại Khoản 2 Điều 119. Theo đó, việc bảo vệ
hiến pháp làtrách nhiệm của toàn bộ các cơ quan nhà nước và toàn thể Nhân dân. Còn cơ chế bảo
vệ bảo HP sẽ do luật định. Như vậy,cơ chế bảo vệ HP cụ thể ntn sẽ có luật quy định chi tiết. Hiện
nay, Quốc hội vẫn chưa ban hành một đạo luật quy định cơchế bảo hiến cụ thể mà việc bảo vệ HP
mới chỉ được thể hiện thông qua những quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của cơquan nhà nước
trong đó đề cập đến trách nhiệm của cơ quan nhà nước khi ban hành hay phát hiện văn bản pháp
luật viphạm hiến pháp và cách thức xử lý văn bản pháp luật đó. Theo các quy định này thì nguyên
tắc bảo vHP nước ta chủ yếu dựa trên cơ chế kiểm tra, giám sát việc ban hànhVBPL của CQNN
cấp trên đối với CQNN cấp dưới, giữa quan quyền lực Nhà nước ( QH, HĐND ) với quan
chấphành cùng cấp ( CP, UBND ).Ví dụ: Quốc hội quyền xem xét VBPL của Chính Phủ, nếu
phát hiện Chính Phủ ban hành VBPL trái với Hiếnpháp thì có quyền bãi bỏ văn bản đó Hay Chính
phủ quyền bãi bỏ VBPL trái với Hiến pháp của UBND cấp tỉnh…Có thể thấy, dưới góc độ Hiến
định chúng ta đề cao tinh thần bảo vệ HP khi xác định đó trách nhiệm của Nhà nướcvà Nhân
dân. Nhưng muốn bảo vệ HPhiệu quả thì cần phải sớm có chế bảo hiến cụ thể. Việc lựa chọn
mô hình phitập trung như hiện nay ( không có cơ quan chuyên trách bảo vệ hiến pháp) sẽ khó đáp
ứng được các tiêu chí về một môhình bảo hiến có hiệu quả như đã đề cập ở trên.
Câu9:Tại sao nói Hiến pháp năm 2013 là luật cơ bản của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt
Nam?
HP 2013 ra đời xuất phát từ nhu cầu hoàn thiện thêm 1 bươc nữa HP 1992. Mắc HP 1992 ra đời
với tưởng “Đổimới” đã đánh dấu bước ngoặt quan trọng đưa VN thoát khỏi thời khủng hoảng,
đặc biệt là trong lĩnh vực kinh tế. Tuynhiên, trước bối cảnh quốc tế mới, HP 1992 đã bộc lộ nhiều
điểm chưa đáp ứng được nhu cầu làm căn cứ pháp lý nềntảng cho việc phát triển đất nước. Do vậy,
trên sở Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH ( bổsung, phát triển
2011) việc sửa đổi HP1992 đã được đặt ra. Kết quả của sự sửa đổi này đã mang lại cho chúng ta 1
bản HPmới với nhiều nội dung có sự thay đổi căn bản so với HP 1992.Có thể nói, HP 2013 ra đời
có ý nghĩa đáp ứng kịp thời nhu cầu xây dựng đất nước trong thời kì mới. Là bản HP cơbản nhất,
lOMoARcPSD| 61685031
đặc trưng nhất. Đối với xã hội, HP 2013 tiếp tục củng cố và đề cao hơn nữa nguyên tắc chủ quyền
nhân dân,khẳng định quyền làm chủ của người dân đối với quyền lực nhà nước. Bên cạnh đó, HP
2013 còn đề cao hơn nữa tráchnhiệm của NN trong việc bảo đảm quyền con người, quyền cơ bản
của công dân; Đối với Nhà nước, HP 2013 là cơ sởpháp lý quan trọng để đổi mới và hoàn thiện tổ
chức và hoạt động của BMNN theo hướng tăng cường vấn đề kiểm soátquyền lực nhà nước, hạn
chế vấn đề tham ô, tham nhũng, hướng tới 1 Nhà nước phục vụ cho lợi ích của Nhân dân,…
Câu10: Nêu khái niệm và phân tích các đặc trưng cơ bản của quyền con người.
- Khái niệm: “ Quyền con người là những nhu cầu, khả năng, lợi ích tự nhiên, vốn có của con
người, được pháp luật quy định bảo đảm bởi Nhà nước” - Quyền con người có 4 đặc trưng:
+ Tính phổ quát: điều này nghĩa quyền con người thuộc về tất cả mọi người một cách như
nhau. Tuy nhiên, để đảm bảo sự bình đẳng giữa tất cả thể trong khi những nhóm người về
bản chất đã không được hưởng trọn vẹn các quyền của mình; có 1 số quyn phổ quát dành cho họ.
Ví dụ: các dân tộc thiểu số bản địa có quyền bảo vệ bản sắc của mình, điều này có nghĩa là người
dân tộc khácc không được tự do cư trú tại nơi ở của họ.
+ Tính không thể tước bỏ: điều này có nghĩa các quyền gắn chặt với phẩm giá của con người.,
NN cũng như các chủ thể khác không được tuỳ tiện tước bỏ hay cản trở các quyền đó. Tuy nhiên,
trong 1 số trường hợp, các quyền con người thể bị tước bỏ hoặc hạn chế để khắc phục tình
trạng đó.
Ví dụ: trong tình trạng bệnh dịch, quyền tự do đi lại thể bị hạn chế để bảo vệ sức khoẻ của cộng
đồng.
+ Tính không thể phân chia: điều nàynghĩa các quyền không thứ tự ưu tiên cần phải
được tôn trọngngang bằng nhau. Tuy nhiên, với 1 số trường hợp nguy cấp, 1 số quyền phải chấp
nhận đứng dưới các quyền khác bởi nếu các quyền đó không được bảo đm thì thì các quyền còn
lại cũng không được duy trì.
Ví dụ: khi xảy ra tình trạng lũ lụt, những người không có chỗ trú có thể đến lánh nạn tại bất kỳ nhà
người khác an toàn vì quyền được sống của họ ưu tiên hơn quyền sở hữu của người khác.
+ Tính liên hệ và phụ thuộc lẫn nhau. Điều này có nghĩa là các quyền không tồn tại 1 cách độc lập
mà có sự liên hệ với nhau. Sở dĩ có điều này là vì các quyền phản ánh những khía cạnh khác nhau
của đời sống con người mà những khía cạnh đó lại có sự liên hệ với nhau, hỗ trợ nhau.
Câu11: Nêu khái niệm quyền con người. Nhà nước Việt Nam có trách nhiệm gì đối với quyền con
người?
- Khái niệm: “ Quyền con người là những nhu cầu, khả năng, lợi ích tự nhiên, vốn có của con
người, được phápluật quy định và bảo đảm bởi Nhà nước” - Quyền con người có 4 đặc trưng:
+ Tính phổ quát: điều này nghĩa quyền con người thuộc về tất cả mọi người một cách như
nhau. Tuy nhiên, đểđảm bảo sự bình đẳng giữa tất cả thể trong khi những nhóm người về
bản chất đã không được hưởng trọn vẹn cácquyền của nh; 1 số quyền phổ quát dành cho
họ.Ví dụ: các dân tộc thiểu số bản địa quyền bảo vệ bản sắc của mình, điều này nghĩa
người dân tộc khácckhông được tự do cư trú tại nơi ở của họ
.+ Tính không thể tước bỏ: điều này có nghĩa là các quyền gắn chặt với phẩm giá của con người.,
NN cũng như cácchủ thể khác không được tuỳ tiện tước bỏ hay cản trở các quyền đó. Tuy nhiên,
trong 1 số trường hợp, các quyền conngười thể bị tước bỏ hoặc hạn chế đkhắc phục tình trạng
lOMoARcPSD| 61685031
đó.Ví dụ: trong tình trạng bệnh dịch, quyền tự do đi lại thể bị hạn chế để bảo vệ sức khoẻ của
cộng đồng.
+ Tính không thể phân chia: điều nàynghĩa các quyền không thứ tự ưu tiên cần phải
được tôn trọngngang bằng nhau. Tuy nhiên, với 1 số trường hợp nguy cấp, 1 số quyền phải chấp
nhận đứng dưới các quyền khác bởi nếucác quyền đó không được bảo đảm thì thì các quyền còn
lại cũng không được duy trì.Ví dụ: khi xảy ra nh trạng lụt, những người không chỗ trú
thể đến lánh nạn tại bất kỳ nhà người khác antoàn quyền được sống của họ ưu tiên hơn quyền
sở hữu của người khác.
+ Tính liên hệ và phụ thuộc lẫn nhau. Điều này có nghĩa là các quyền không tồn tại 1 cách độc lập
mà có sự liên hệvới nhau. Sở dĩ có điều này là vì các quyền phản ánh những khía cạnh khác nhau
của đời sống con người mà những khíacạnh đó lại có sự liên hệ với nhau, hỗ trợ nhau.
Câu12: Nêu khái niệm quyền con người. Nhà nước Việt Nam có trách nhiệm gì đối với quyền con
người?
- Khái niệm: Quyền con người những nhu cầu, khả năng, lợi ích tự nhiên, vốn của con
người, được phápluật quy định bảo đảm bởi Nhà nước”Việc bảo đảm quyền con người ý
nghĩa rất quan trọng, đó là điều kiện để phát triển tự do của con người trong khuôn khổ pháp luật
đạo đức hội, để mọi người được hưởng các quyền dân sự chính trị một cách bình đẳng,
hội bình đẳng nêu ra quan điểm ý kiến mang tính chất xây dựng khi tham gia vào đời
sống chính trị, xã hội của đất nước Việc bảo đảm quyền con người còn vai trò rất to lớn trong
việc bảo vệ tính mạng, sức khỏe, tài sản, danh dự, nhân phẩm của con người. Bảo đảm hiệu
quả quyền con người sẽ hỗ trợ cho mỗi người tránh được sự đe dọa bởi bạo lực, áp bức, bóc lột,
đói nghèo, bệnh tật những rủi ro bất thường khác; đồng thời được sống trong môi trường kinh
tế, hội văn minh, lành mạnh, môi trường tự nhiên trong lành, thể hiện tính ưu việt của hội
xã hội chủ nghĩa
Việt Nam, quan điểm về quyền con người của Đảng Cộng sản Việt Nam được thể hiện tại
Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm
2011), trong đó xác định: “Con người là trung tâm của chiến lược phát triển, đồng thời là chủ thể
phát triển. Tôn trọng bảo vệ quyền con người, gắn quyền con người với quyền lợi ích của
dân tộc, đất nước và quyền làm chủ của nhân dân". Quyền con người được hình thành từ bản sắc
văn hóa Việt Nam, từ lịch sử đấu tranh chống giặc ngoại xâm, từ nền tảng của chủ nghĩa Mác -
Lênin, tưởng Hồ Chí Minh, từ những nguyên tắc tiêu chuẩn quốc tế về quyền con người
mang giá trị phổ quát, được các dân tộc thừa nhận từ thực tiễn đổi mới, hội nhập quốc tế, xây
dựng Nhà nước pháp quyền hội chủ nghĩa. Việc đổi mới duy chính trị - pháp đã khẳng
định rằng quyền con người giá trị chung của nhân loại, không phải sản phẩm riêng của chủ nghĩa
tư bản. “Đó là thành quả của cuộc đấu tranh lâu dài qua các thời đại của nhân dân lao động và các
dân tộc bị áp bức trên thế giới cũng thành quả của cuộc đấu tranh của loài người làm chủ
thiên nhiên, qua đó nhân quyền trở thành giá trị chung của nhân loại”. Tuy nhiên, “trong xã hội có
phân chia giai cấp đối kháng, khái niệm nhân quyền mang tính giai cấpsâu sắc”. Nhân quyền vừa
có tính phổ biến, vừa có tính đặc thù, “nhân quyền luôn luôn gắn liền với lịch sử, truyền thống và
phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế, văn hóa của đất nước. Do vậy không thể áp đặt hoặc sao
chép máy móc các tiêu chuẩn, mô thức của nước này cho nước khác”. Vì vậy, “khi tiếp cận và xử
các vấn đề nhân quyền cần kết hợp hài hòa các chuẩn mực, nguyên tắc chung của pháp luật quốc
tế với những điều kiện đặc thù về lịch sử, chính trị, kinh tế - xã hội, các giá trị văn hóa, tôn giáo,
lOMoARcPSD| 61685031
tín ngưỡng, phong tục tập quán của mỗi quốc gia khu vực. Không một nước nào quyền áp
đặt hình chính trị, kinh tế, văn hóa của mình cho một quốc gia khác”. Chúng ta cũng quan niệm
rất rõ rằng nhân quyền và quyền dân tộc cơ bản là thống nhất vì “quyền thiêng liêng, cơ bản nhất
của con người là quyền được sống trong độc lập, tự do, quyền tự quyết định vận mệnh của mình”.
Để bảo đảm chắc chắn quyền con người, cần có một hệ thống quy phạm pháp luật điểu chỉnh các
quan hệ xã hội liên quan đến quyền con người. Khi nói về quyền con người, thì quyền không tách
rời nghĩa vụ trách nhiệm. “Dân chủ gắn liền với kỷ luật, kỷ cương phải được thchế hóa
bằng pháp luật, được pháp luật bảo đảm. Nhà nước tôn trọng bảo đảm các quyền con người,
quyền công dân; chăm lo hạnh phúc, sự phát triển tự do của mỗi người. Quyền và nghĩa vụ công
dân do Hiến pháp và pháp luật quy định. Quyền của công dân không tách rời nghĩa vụ công dân”.
Một vấn đề rất quan trọng đặt ra các quyền con người cần phải được tôn trọng được thực
hiện trên thực tế. Điều đó khẳng định trách nhiệm của Đảng và Nhà nước ta trong việc bảo vệ
thúc đẩy quyền con người trong quá trình xây dựng hoàn thiện Nhà nước pháp quyền hội
chủ nghĩa.
Thể chế hóa quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về quyền con người, Hiến pháp năm 2013
của Nhà nước Cộng hòa hội chủ nghĩa Việt Nam đã ghi nhận quyền con người, quyền công
dân ngày Chương II của Hiến pháp, chỉ sau chương quy định về chế độ chính trị, đã thể hiện
nhận thức mới đầy đủ, sâu sắc hơn trong việc đề cao quyền tự nhiên của con người; đồng thời,
coi con người chủ thể, nguồn lực chủ yếu và là mục tiêu của sự phát triển. Đó là quyền sống,
quyền được pháp luật bảo hộ tính mạng, quyền bình đẳng của mọi người trước pháp luật, quyền
không bị phân biệt đối xử trong đời sống chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, hội; quyền bất khả
xâm phạm về thân thể, quyền được pháp luật bảo hộ về sức khoẻ, danh dự và nhân phẩm, quyền
được đối xử nhân đạo và tôn trọng nhân phẩm của những người bị Tòa án tước tự do; quyền được
xét xử công bằng, quyền được bồi thường khi bị quan nhà nước công chức nhà nước gây
thiệt hại về vật chất và tinh thần...
Hiến pháp năm 2013 ghi nhận một nguyên tắc mang đậm nh pháp quyền nhân văn, đó quyền
con người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế bởi một đạo luật trong trường hợp cần thiết vì lý
do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng.
Điều đó đã đề cao trách nhiệm của Nhà nước trong việc tôn trọng bảo vệ quyền con người,
quyền công dân. Đồng thời cũng là cơ sở pháp để mọi người tự bảo vệ và thực hiện quyền con
người, quyền công dân của mình
Câu13: Nêu khái niệm quyền cơ bản của công dân. Mối quan hệ giữa quyền cơ bản của công dân
với quyền cụ thể của công dân?
Công dân là những người có quốc tịch của một quốc gia nhất định. Mối quan hệ giữa công dân và
Nhà nước tínhchất bền chặt và thể hiện công dân đó là một thành viên, thuộc về một cộng đồng
đó sự chia sẻ về cả chủng tộc,văn hoá, lịch sử cũng như vận mệnh tương lai.Quyền
nghĩa vụ bản của công dân các quyền nghĩa vụ được xác định trong Hiến pháp trên các
lĩnh vựcchính trị, dân sự, kinh tê, xã hội, văn hóa, là cơ sở để thực hiện các quyền và nghĩa vụ cụ
thể khác của công dân sởchủ yếu để xác định địa vị pháp của công dânXét về chủ thể,
quyền con người rộng hơn quyền công dân ( bao hàm cả người không quốc tịch, người nước
ngoài).
Xét về nội dung, mối liên hệ giữa quyền công dân quyền con người mối quan hệ giữa cái
riêng cái chung; quyềncông dân hàm chứa quyền con người nhưng lại những điểm biệt
mà chỉ có công dân mới có.
lOMoARcPSD| 61685031
Câu14: Phân tích nguyên tắc tôn trọng quyền con người được quy định trong khoản 1, Điều 14
Hiến pháp năm 2013.
Khoản 1, Điều 14 ghi nhận: “Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người,
quyền công dân vềchính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ,
bảo đảm theo Hiến pháp pháp luật. ”. Đâythực chất sự hiến pháp hóa quan điểm của Đảng
về quyền con người “Nhà nước tôn trọng và bảo đảm quyền conngười, quyền công dân; chăm lo
hạnh phúc, sự phát triển tự do của mỗi người. Quyền và nghĩa vụ công dân do Hiến phápvà pháp
luật quy định”[2] [3]. Như vậy, lần đầu tiên trong Hiến pháp Việt Nam ghi nhận “Quyền con
người”, điều nàycho thấy không phải các bản Hiến pháp trước đó chúng ta không ghi nhận về
“quyền con người” (nhân quyền) trướcđây chúng ta chưa phân biệt hai khái niệm “quyền
con người” “quyền công dân”, hay nói cách khách chúng ta đãđồng nhất hai khái niệm trên,
cũng chính vì điều này mà chúng ta bị các thế lực thù địch xuyên tạc Nhà nước ta khôngquan tâm
đến “quyền con người”, vi phạm nhân quyền…lần ghi nhận này ý nghĩa hết sức quan trọng một
mặt chúng taphân biệt rõ hai khái niệm “quyền con người” “quyền công dân”, ghi nhận “quyền
con người” đứng trước “quyền côngdân” cũng nghĩa chúng ta ghi nhận “quyền con người”
nội hàm rộng hơn “quyền công dân”, “quyền công dân” làmột bộ phận của quyền con người,
đồng thời cũng ghi nhận từ trước đến nay chúng ta luôn thừa nhận quyền con người đãđược cụ thể
hóa trong quyền công dân các Hiến pháp trước đây đã công nhận, điều chúng ta chưa tách
bạch độclập về hai khái niệm trên
Câu15: Phân tích nguyên tắc công nhận quyền con người được quy định trong khoản 1, Điều 14
Hiến pháp năm 2013.
Câu16: Phân tích nguyên tắc công nhận quyền con người được quy định trong khoản 1, Điều 14
Hiến pháp năm 2013.
Câu17: Phân tích nguyên tắc bảo vệ quyền con người được quy định trong khoản 1, Điều 14
Hiến pháp năm 2013.
Câu18: Phân tích nguyên tắc “Mọi người đều bình đẳng trước pháp luật” được quy định tại khoản
1 Điều 16 Hiến pháp 2013
Câu19: Theo khoản 1 Điều 14 Hiến pháp năm 2013, trách nhiệm của Nhà nước đối với quyền con
người, quyền công dân được thể hiện như thế nào?
Quyền con người, quyền công dân gắn liền với bản chất quyền lực của Nhà nước ta Nhà nước
pháp quyền hộichủ nghĩa Việt Nam của Nhân dân, do Nhân dân, Nhân dân. Do đó, trách
nhiệm của Nhà nước là phải bảo đảm vàkhông ngừng phát huy quyền làm chủ của Nhân dân, công
nhâ Žn, tôn trọng, bảo Ž bảo đảm quyền con người, quyềncông dân trong mọi hoàn cảnh
phù hợp với mục tiêu xây dựng xã hội dân chủ, công bằng, văn minh và xu hướng toàn cầuhóa hội
nhập quốc tế toàn diện với cơ chế bảo vệ quyền con người, quyền công dân của các quốc gia
Câu20: Phân tích nội dung, ý nghĩa của nguyên tắc “Quyền con người, quyền công dân chỉ có th
bị hạn chế theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết lý do quốc phòng, an ninh quốc
gia, trật tự, an toàn hội, đạo đức hội, sức khỏe của cộng đồng” (Khoản 2, Điều 14 Hiến
pháp năm 2013).
Câu21: Trước tình hình ô nhiễm môi trường ngày càng gia tăng nghiêm trọng, đặc biệt ô
nhiễm không khí, ô nhiễm tiếng ồn và tắc đường, thành phố H ban hành quy định cấm xe máy lưu
thông ở các quận nội thành. Dựa trên nguyên tắc hạn chế quyền, hãy bình luận về quy định trên.
Câu22:Trình bày vị trí, vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong hệ thống chính trị theo pháp
luật hiện hành.
lOMoARcPSD| 61685031
Vị trí: Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là tổ chức liên minh chính trị, liên hiệp tự nguyện của tổ chức
chính trị, các tổchức chính trị - hội, tổ chức xã hội và các cá nhân tiêu biểu trong các giai cấp,
tầng lớp xã hội, dân tộc, tôn giáo, ngườiViệt Nam định cư ở nước ngoài.Vai trò: Mặt trận Tổ quốc
Việt Nam là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân; đại diện, bảo vệ quyền và lợi íchhợp pháp,
chính đáng của Nhân dân; tập hợp, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, thực hiện dân
chủ, tăngcường đồng thuận hội; giám sát, phản biện hội; tham gia xây dựng Đảng, Nhà nước,
hoạt động đối ngoại nhân dângóp phần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Câu23:Phân tích chức năng giám sát phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam theo pháp
luật hiện hành.
+ Giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam: 1. Giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam việc
Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp trực tiếp hoặc đề nghịcác tổ chức thành viên của Mặt
trận Tổ quốc Việt Nam theo dõi, xem xét, đánh giá, kiến nghị đối với hoạt động của cơquan, tổ
chức, đại biểu dân cử, cán bộ, công chức, viên chức trong việc thực hiện chính sách, pháp luật.2.
Giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam mang tính xã hội; đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp
pháp, chính đángcủa Nhân dân, kịp thời phát hiện và kiến nghị xử lý sai phạm, khuyết điểm; kiến
nghị sửa đổi, bổ sung chính sách, pháp luật; phát hiện, phổ biến những nhân tố mới, các điển hình
tiên tiến những mặt tích cực; phát huy quyền làm chủ củaNhân dân, góp phần xây dựng Nhà
nước trong sạch, vững mạnh.3. Hoạt động giám sát được thực hiện theo nguyên tắc bảo đảm phát
huy dân chủ, sự tham gia của Nhân dân, thànhviên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; xuất phát từ
yêu cầu, nguyện vọng của Nhân dân; thực hiện công khai, minh bạch,không chồng chéo; không
làm cản trở hoạt động của quan, tổ chức, nhân được giám sát.+ Phản biện hội của Mặt
trận Tổ quốc Việt Nam: 1. Phản biện hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam việc Ủy ban Mặt
trận Tổ quốc Việt Nam các cấp trực tiếphoặc đề nghị các tổ chức thành viên của Mặt trận Tổ quốc
Việt Nam nhận xét, đánh giá, nêu chính kiến, kiến nghị đối vớidự thảo văn bản pháp luật, quy
hoạch, kế hoạch, chương trình, dự án, đề án (sau đây gọi chung dự thảo văn bản) của cơquan
nhà nước.2. Phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam mang tính xã hội, khách quan, khoa
học, xây dựng, góp phầnbảo đảm tính đúng đắn, phù hợp với thực tiễn đời sống hội và tính hiệu
quả của văn bản; bảo đảm quyền và lợi ích hợppháp, chính đáng của Nhân dân; phát huy dân chủ,
tăng cường đồng thuận xã hội.3. Hoạt động phản biện xã hội được thực hiện theo nguyên tắc dân
chủ, công khai, minh bạch, bảo đảm sự thamgia của thành viên, hội viên, đoàn viên và Nhân dân;
tôn trọng các ý kiến khác nhau nhưng không trái với quyền lợiích hợp pháp, chính đáng của
Nhân dân, lợi ích quốc gia, dân tộc.(Luật Mặt trận)
Câu24: Phân tích những biểu hiện của nguyên tắc “tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân
trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước theo pháp luật hiện hành.
1.Theo khoản 2 Điều 2 Hiến pháp 2013: Nước Cộng hòa hội Chủ nghĩa Việt Nam do Nhân
dân làmchủ; tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp
công nhân với giai cấp nôngdân và đội ngũ trí thức.” Liên minh giữa giai cấp công nhân với giai
cấp nông dân tầng lớp trí thức chính bộ phận đông đảo nhất - tầnglóp nhân dân lao động,
chiếm tuyệt đại đa số trong khái niệm Nhân dân ý thức hệ tiên tiến trong hội. Do đó,
bộphận này được xác định nền tảng để thực hiệh quyền lực nhà nước của Nhân dân; xác định
như vậy cũng để bảo đảmviệc thực hiện quyền lực nhà nước thực sự lợi ích của đa số trong
hội. Chính vì quyền lực nhà nước xuất phát từNhân dân nên bộ máy nhà nước Việt Nam cũng phải
xuất phát từ Nhân dân,2. Nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước bằng dân chủ trực tiếp, bằng dân
chủ đại diện thông qua Quốchội, Hội đồng nhân dân và các quan khác của nhà nước.Hiến pháp
năm 2013 xác định hai hình thức để Nhân dân Việt Nam thực hiện quyền lực nhà nước. Hình thức
lOMoARcPSD| 61685031
thứ nhấtlà người dân trực tiếp thể hiện ý chí của mình để quyết định công việc của nhà nước, bởi
vì về nguyên lý quyền lực thuộcvề ai thì do người đó thực hiện. Khi có những công việc hệ trọng
của đất nước cần ý kiến quyết định của người dân thì cơquan nhà nước có thẩm quyền tổ chức để
người dân thể hiện ý chí lựa chọn của mình; sau đó các cơ quan nhà nước thựcthi theo quyết định
của người dân. Công việc của Nhà nước sẽ được quyết định theo hình thức thứ hai, tức bởi
nhữngngười đại diện do Nhân dân bầu ra, đó chính là đại biểu Quốc hội ở trung ương và đại biểu
Hội đồng nhân dân ở địaphương. Những đại biểu này đại diện cho Nhân dân biểu quyết công việc
của Nhà nước và chịu ữách nhiệm trước Nhândân về những quyết định mà nh đưa ra. Khi người
đại diện không còn được tín nhiệm của Nhân dân thì Nhân dân cóquyền bãi nhiệm họ hoặc không
bầu chọn họ làm người đại diện nữa (Điều 7 Hiến pháp năm 2013). Từ các quan đạidiện của
nhân dân hình thành nên các cơ quan khác trong bộ máy nhà nước và như vậy cả bộ máy nhà nước
đều bắtnguồn từ Nhân dân. Bộ máy nhà nước vận hành theo cách này được được gọi chính
quyền đại diện
3. Theo Khoản 2 Điều 8 Hiến pháp năm 2013: “Các quan nhà nước, n bộ, công chức, viên
chức phảitôn họng Nhân dân, tận tuỵ phục vụ Nhân dân, liên hệ chặt chẽ với Nhân dân, lắng nghe
ý kiến và chịu sự giám sát củaNhân dân.” Khi quyền lực nhà nước là của Nhân dân thì bộ máy nhà
nước cũng là của Nhân dân, do Nhân dân bầu ra vàphục vụ lợi ích của Nhân dân. Các cơ quan nhà
nước, cán bộ, công chức, viên chức trong bộ máy nhà nước ấy cũng phảithực sự thể hiện được mối
quan hệ phục vụ đối với Nhân dân theo tinh thần trên
Câu25: Phân tích những biểu hiện của nguyên tắc quyền lực nhà nước thống nhất” trong tổ
chức và hoạt động của bộ máy nhà nước theo pháp luật hiện hành.
Quyền lực nhà nước thống nhất, sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các quan nhà
nước trong việc thựchiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp là nguyên tắc hiến định tại Điều
2, Hiến pháp 2013. Đây nguyên tắc thểhiện rệt sự phát triển vmặt quan niệm trong cách
thức tổ chức quyền lực nhà nước ở Việt Nam. Trước hết, với bảnchất nhà nước xã hội chủ nghĩa,
Hiến pháp vẫn tiếp tục ghi nhận quyền lực nhà nước là thống nhất. Tuy nhiên, xu hướngtập quyền
xã hội chủ nghĩa ở mức cao độ không còn tiếp tục duy trì. Hơn thế, quy định trên đã tiếp thu một
cách chọn lọcvà hợp thuyết phân quyền. Đầu tiên việc thừa nhân sự tồn tại phân định
rạch ròi giữa các quyền lực lập pháp,hành pháp, pháp. Thứ hai, mặc không thiết lập xu hướng
kiềm chế đối trọng như các nhà nước tư sản phân quyền,Hiến pháp 2013 quy định việc các nhánh
quyền phải được kiểm soát. Đây là điều kiện thiết yếu để ngăn ngừa sự làmquyền của các cơ quan
nhà nước.
Nguyên tắc trên được thhiện trong 1 số quy định về tổ chức bộ máy nhà nước như sau: - Trước
hết, cần phải thấy Quốc hội là biểu tượng của sự thống nhất quyền lực nhà nước. Điều đó thể hiện
chỗ chỉduy nhất Quốc hội quan được toàn bộ cử tri trong cnước trực tiếp bầu, Các
quan nhà nước khác Trung ươngđều do Quốc hội thành lập.- Thứ hai, các quan nhà nước
được phân công rõ ràng về quyền lực, đặc biệt là quy định về Quốc hội (Điều 69),Chính phủ (Điều
94), Toà án (Điều 102) đã khẳng định rõ đây là các cơ quan gắn với quyền lập pháp, hành pháp và
tưpháp.- Thứ ba, trong quy định về thẩm quyền, các cơ quan có sự phối hợp với nhau rất rõ ràng.
Chẳng hạn trong quy trìnhlàm luật, các quan khác đều thể vai trò nhất định trong việc
sáng kiến lập pháp cũng như soạn thảo, góp ý.- Thứ tư, giữa các cơ quan nhà nước đã có sự kiểm
soát quyền lực nhằm ngăn ngừa sự lạm dụng quyền lực nhà nước.Điều này thể hiện trong mối
quan hệ giữa các cơ quan nhà nước.
Câu26: Phân tích nội dung, yêu cầu của nguyên tắc pháp quyền xã hội chủ nghĩa trong tổ chức và
hoạt động của bộ máy nhà nước theo pháp luật hiện hành.
lOMoARcPSD| 61685031
Nguyên tắc pháp quyền Xã hội chủ nghĩa được hiến định tại Điều 2, Hiến pháp 2013 và vận dụng
một cách cụ thểtrong các quy định về các nhà nước. Bản thân pháp quyền một tưởng
cũng là nguyên tắc được vận dụng từ rấtlâu trong lịch sử nhân loại. Nguyên tắc pháp quyền một
số đặc trưng cơ bản sau:
- Thứ nhất, pháp luật vị trí thượng tôn. Điều này nghĩa là, tất cả các chủ thể trong xã
hộiđều phải đứng dướipháp luật, tuân thủ pháp luật; kể cả đó Nhà nước. Bản thân Nhà nước
không được tuỳ tiện đặt ra các quy định pháp luậtmà phải cân nhắc tới các giá trị chung về công
lý, bình đẳng (nghĩa là pháp luật thực định phải phù hợp với luật tự nhiên).
- Thứ hai, phải chế để người dân bảo vệ các quyền của mình trên sở tình thiêng
liêngcủa hiến pháp. Điềunày nghĩa là, khi người dân nhận thấy Nhà nước xu hướng lạm
quyền, người dân phải được quyền sử dụng chếtư pháp (Thông qua Tán) để bảo vệ quyền
lợi của mình. Khi người dân đưa một hành vi của Nhà nước (có thể là luật,quyết định hành chính
v.v…) ra toà, họ sẽ thể đứng với vị thế bình đẳng với Nhà nước để được phán xmột cách
côngbằng.Để cụ thhoà nguyên tắc này, Hiến pháp năm 2013 đã bổ sung một quyền rất quan
trọng, đó là: “người bị buộc tộiphải được Toà án xét xử … công bằng, công khai” (Khoản 2 Điều
31). Quy định trên phản ánh phần nào tinh thần Điều14 Công ước quốc tế về các quyền dân sự và
chính trị năm 1966, nói về quyền được xét xử công bằng. Ngoài ra, nguyêntắc tranh tụng trong xét
xử được bảo đảm theo Điều 103 Hiến pháp m 2013 điều kiện tốt nhất để Tán phát huy
vaitrò bảo vệ công của mình. Bên cạnh đó, Hiến pháp năm 2013 lần đầu quy định về “cơ chế
bảo vệ hiến pháp” tại Khoản2 Điều 119, và mặc dù còn nhiều bỏ ngỏ nhưng đây được trông đợi
hướng đi cho việc bảo vệ quyền con người
Câu27: Phân tích vị trí, tính chất Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân” theo pháp
luật hiện hành.
- Điều 2 Hiến pháp Việt Nam năm 2013: Quốc hội một quan chiếm vị trí đặc biệt
quantrọng trong bộ máy nhànước của nước Cộng hoà hội chủ nghĩa Việt Nam. Theo Hiến pháp
năm 2013, ở nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa ViệtNam tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân
dân
.- Điều 6 Hiến pháp năm 2013: Nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước bằng dân chủ trực tiếp,
bằng dân chủ đại diệnthông qua Quốc hội, Hội đồng nhân dân và thông qua các cơ quan khác của
Nhà nước.
-> vậy, Quốc hội Hội đồng nhân dân các cấp thường được gọi quan quyền lực nhà
nước. Thêm vào đó,Quốc hội lại là cơ quan duy nhất do toàn thể Nhân dân Việt Nam bầu ra thông
qua một cuộc tổng tuyển cử, do đó Quốchội là cơ quan đại biểu cao nhất của Nhân dân .-> Trong
Hiến pháp năm 2013, Quốc hội được xác định vị trí, tính chất: Điều 69 Hiến pháp năm 2013 “Quốc
hội làcơ quan đại biểu cao nhất của Nhân dân, cơ quan quyền lực lực nhà nước cao nhất của nước
Cộng hoà xã hội chủ nghĩaViệt Nam
-Về tính chất quốc hội là cơ quan đại diện cao nhất của nhân dân. Các đại biểu QH là những công
nhân nông dân, trí thức và những người lao động thuốc mọi tầng lớp trong cả nc đc nd cả ncbaauf
cử và chịu trách nhiệm trước nd, họ có mlh chặt chẽ với quần chúng nắm vững tâm tư
nguyện vọng của nd và hoạt động vì những người họ làm đại diện
Câu 28/29: Phân tích chức năng lập hiến/ của Quốc hội theo pháp luật hiện hành:
Trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam
- quan đại biểu cao nhất của Nhân n được HIến pháptrao cho chức năng lập hiến, lập
pháp(Điều 69 Hiến pháp). Quốc hội đưa đến những chuẩn mực xử sự cho các quannhà nước
lOMoARcPSD| 61685031
thông qua việc ban hành các luật tổ chức cho các cơ quan nhà nước, tránh sự “tuỳ tiện” của các cơ
quan nhànước khi hành xử. Thêm vào đó, Quốc hội với vai trò là cơ quan nhận được sự uỷ quyền
về ý chí, nguyện vọng của Nhândân, Quốc hội cũng gánh trách nhiệm đưa ra những chuẩn mực
xử sự cho các quan hệ xã hội phát sinh trong đời sống xãhội, để đảm bảo mọi quan hệ xã hội đều
được điều chỉnh bởi các quy phạm pháp luật hoặc được diễn giải từ các nội dung,nguyên tắc của
các quy phạm pháp luật để từ đó tạo ra một trật tự xã hội ổn định.Ở Việt Nam, tuy có sự phân biệt
quyền lập hiến và lập pháp nhưng cũng giống như mô hình của nhiều nước trên thếgiới, hiện nay
Việt Nam trao quyền lập hiến và lập pháp cơ quan đại biểu cao nhất của Nhân dân
- Quốc hội. Quốc hội làđại diện xứng đáng nhất để Hiến pháp trao chức năng lập hiến,
lậppháp.Chức năng lập hiến, lập pháp của Quốc hội được hiểu đơn giản là: Quốc hội giữ quyền
làm hiến pháp thì cũng cóquyền sửa đổi hiến pháp; Quốc hội có quyền làm luật thì cũng có quyền
sửa đổi luật, Để đảm bảo cho hoạt độngy củaQuốc hội được tiến hành thuận lợi và hiệu quả,
pháp luật đã quy định cụ thể các bước chuẩn bị và quy trình thực hiện.
Tuy vậy, khác với Hiến pháp năm 1992, Hiến pháp năm 2013 không ghi Quốc hội là cơ quan “duy
nhất” có quyền lậphiến, lập pháp. Hiện nay vẫn còn nhiều ý kiến khác nhau xung quanh việc Hiến
pháp 2013 đã bỏ cụm từ “duy nhất” trongphần nội dung quy định về chức năng này, Có thể lý giải
điều này như sau: Việc bỏ đi cụm từ “duy nhất” chính Hiếnpháp hiện hành đã chính thức thừa
nhận rằng: ngoài Quốc hội thì sẽ có chủ thể khác làm Hiến pháp, sửa đổi Hiến pháp.Cụ thể: Theo
quy định tại Điều 120 Hiến pháp 2013, ngoài Quốc hội chủ thể thông qua Hiến pháp thì Nhân
dân có thểtham gia vào quy trình lập hiến, thông qua việc nhân dân biểu quyết khi Quốc hội quyết
định trưng cầu ý dân về Hiếnpháp. Quy định này chính sự khẳng định rõ nét cho nội dung: Nhân
dân mới là chủ thể tối cao của quyền lập hiến vàNhân dân chỉ trao quyền này cho cơ quan đại diện
của mình. Bản chất “lập hiến” vẫn quyền của người dân. Việc bỏcụm từ “duy nhất” trong khi
thực hiện quyền lập hiến giúp nhấn mạnh ý nghĩa quyền lập hiến. Có thể khái quát quyền lậphiến
lập pháp thông qua các bước bản sau: 1. Quyền lập hiến:- sở pháp lý: Điều 120 Hiến
pháp năm 2013; - Quyền lập hiến của Quốc hội bao gồm các bước:
+ Bước 1: Đề xuất xây dựng, sửa đổi Hiến pháp: Chủ tịch nước, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội,
Chính phủ hoặc ítnhất một phần ba tổng số đại biểu Quốc hội có quyền đề nghị Quốc hội xem xét,
quyết định việc làm Hiến pháp hoặc sửađổi Hiến pháp.
+ Bước 2: Quyết định xây dựng, sửa đổi Hiến pháp: Quốc hội quyết định (Khi ít nhất tổng
số đại biểu Quốchội biểu quyết tán thành) và thành lập Uỷ ban dự thảo Hiến pháp.
+ Bước 3: Xây dựng dự thảo Hiến pháp: Do Uỷ ban dự thảo Hiến pháp soạn thảo, tổ chức lấy ý
kiến Nhân dân vàtrình Quốc hội dự thảo Hiến pháp.
+ Bước 4: Quốc hội thảo luận và bỏ phiếu thông qua dự thảo Hiến pháp: Dự thảo thông qua khi
có ít nhất ⅔ tổng sốđại biểu Quốc hội biểu quyết tán thành (có thể có trưng cầu dân ý)
+ Bước 5: Công bố HIến pháp: Do Chủ tịch nước tiến hành
.2. Quyền lập pháp:- sở pháp lý: Điều 5, Luật Tổ chức Quốc hội năm 2014, cụ thể được quy
định trong Luật Ban hành văn bản quyphạm pháp luật (sửa đổi, bổ sung) năm 2020.
- Trình tự thực hiện quyền lập pháp của Quốc hội một cách khái quát như sau:
+ Bước 1: Quốc hội quyết định chương trình xây dựng luật, pháp lệnhtheo đề nghị của Uỷ ban
Thường vụ Quốc hộ
i+ Bước 2: Các dự án luật trước khi trình Quốc hội phải được Hội đồng Dân tộc hoặc Uỷ ban của
QUốc hội thẩmtra, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội cho ý kiến
.+ Bước 3: Quốc hội thảo luận, xem xét. Thông qua dự án luật tại một hoặc nhiều kỳ họp Quốc hội
căn cứ vào nộidung của dự án luật+
lOMoARcPSD| 61685031
Bước 4: Quốc hội bỏ phiếu thông qua dự thảo luật, Luật được thông qua khi có quá nửa sự đồng ý
của Đại biểuQuốc hội tại phiên họp toàn thể (Điều 96 Luật Tổ chức Quốc hội năm 2014) + Bước
5: Chủ tịch nước công bố luật, pháp lệnh chậm nhất 15 ngày kể từ ngày luật, pháp lệnh được
thông quaHiến pháp năm 2013 cũng quy định các chủ thể có quyền sáng kiến lập pháp, cụ thể:
- Các cơ quan sau đây có quyền trình dự án luật ra trước Quốc hội (Theo Điều 84 Hiến pháp năm
2013):
+ Chủ tịch nước
+ Uỷ ban Thường vụ Quốc hội
+ Hội đồng Dân tộc
+ Các Uỷ ban của Quốc hội
+ Chính phủ
+ Toà án nhân dân tối cao
+ Viện kiểm sát nhân dân tối cao
+ Kiểm toán nhà nước
+ Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và cơ quan Trung ương của tổ chức thành viên
của Mặt trận + Đại biểu Quốc hội
* Nhận xét: So sánh 2 quy trình lập hiến và lập pháp trong việc thực hiện chức năng này của Quốc
hội có thể thấy:
- Do hiệu lực pháp của Hiến pháp cao hơn so với các văn bản quy phạm pháp luật khác
doQuốc hội ban hành, nênquy trình làm Hiến pháp, sửa đổi Hiến pháp cũng chặt chẽ hơn so với
quy trình làm luật, sửa đổi luật.
- Tỉ lệ đồng thuận của Hiến pháp phải thể hiện sự nhất trí của toàn thnhân dân thông
quangười đại diện cao hơnso với thông qua luật, cụ thể: Quyết định việc làm Hiến pháp, sửa đổi
Hiến pháp khi ít nhất tổng số đại biểu Quốchội biểu quyết tán thành, thông qua Hiến pháp
cần phải có quá ⅔ tổng số Đại biểu Quốc hội tán thành. Để thông qua Dựán Luật chỉ cần quá nửa
tổng số Đại biểu Quốc hội tán thành
.- Chủ thể đề xuất làm Hiến pháp, sửa đổi Hiến pháp cũng bị giới hạn hơn nhiều so với các chủ thể
được đề xuất làmLuật, sửa đổi Luật. Điều này được giải thích rằng: Hiến pháp với vai trò là “đạo
luật gốc”, căn cứ pháp cho cả hệthống pháp luật Việt Nam, nên Hiến pháp cần sổn định.
Hoạt động Lập hiến không nên diễn ra thường xuyên, nếu diễn ra thường xuyên sẽ đưa đến sự
xáo trộn, không ổn định. Trong khi đó nhiệm vụ lập pháp phải thì phải thường xuyên,đáp ứng nhu
cầu đòi hỏi và sự vận động của xã hội.
Câu30: Phân tích chức năng giám sát tối cao của Quốc hội theo pháp luật hiện hành.
Giám sát tối cao là một trong những chức năng quan trọng của Quốc hội. Theo quy định tại Điều
69 HIến pháp 2013thì Quốc hội thực hiện giám sát tối cao đối với hoạt động của Nhà nước. Giám
sát tối cao việc Quốc hội theo dõi, xemxét, đánh giá hoạt động của quan, tổ chức, nhân
chịu sự giám sát trong việc tuân theo Hiến pháp, luật, nghị quyếtcủa Quốc hội và xử lý theo thẩm
quyền hoặc yêu cầu quan thẩm quyền xử lý. Giám sát tối cao được thực hiện tạikỳ họp Quốc
hội (Khoản 3 Điều 2 Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng Nhân dân năm 2015)Đối
với Nhà nước pháp quyền hội chủ nghĩa Việt Nam, chức năng giám sát tối cao của Quốc hội
đối với hoạt độngcủa nhà nước để bảo đảm cho Hiến pháp, luật và nghị quyết của Quốc hội được
các cơ quan ở cấp Trung ương tuân thủvà thực hiện một cách thống nhất; ngăn chặn sự lạm quyền
trong tổ chức và thực hiện quyền lực nhà nước bảo đảm chomọi hoạt động của các cơ quan và các
nhân đứng đầu các quan nói trên hoạt động lợi ích của Nhân dân. Giám sáttối cao của
Quốc hội giám sát mang tính quyền lực nhà nước. Đặc trưng này giúp phân biệt sự khác nhau
lOMoARcPSD| 61685031
giữa giám sátcủa Quốc hội - quan quyền lực nhà nước cao nhất với giám sát của Mặt trận Tổ
quốc Việt Nam và các tổ chức thànhviên. Nội dung này cũng chỉ rõ sự khác nhau giữa giám sát tối
cao của Quốc hội với các hoạt động điều tra, thanh tra,giám sát, kiểm sát,... của các quan nhà
nước khác. Trong bộ máy nhà nước ta, ngoài Quốc hội khôngmột cơ quannhà nước nào được
phép thực hiện quyền giám sát tối cao.Giám sát tối cao là chức năng mà Hiến pháp giao duy nhất
cho Quốc hội. thế chức năng này chỉ thtiến hànhtại các kỳ họp của Quốc hội với các
phương thức tương ứng. Theo quy định tại Điều 11 Luật Hoạt động giám sát Quốchội Hội đồng
nhân dân năm 2015 thì Quốc hội thực hiện hoạt động giám sát tối cao với các nội dung sau:Một
là, xem xét báo cáo công tác của Chủ tịch nước, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Toà án
nhân dân tốicao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Kiểm toán nhà nước, cơ quan khác do Quốc hội
thành lập. Đây là hoạt động cơ bảnđể thực hiện quyền giám sát tối cao của Quốc hội.
Tại kỳ họp cuối năm, Quốc hội xem xét, thảo luận Báo cáo công tác hằng năm của Uỷ ban Thường
vụ Quốc hội, Hộiđồng dân tộc, Chính phủ, T án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối
cao, Kiểm toán nhà nước; Báo cáo củaChính phvề các vấn đề như kinh tế - hội; thực hiện
ngân sách nhà nước, quyết toán ngân sách nhà nước; tình hình thihành Hiến pháp, luật, nghị quyết
của Quốc hội, …Tại kỳ họp cuối nhiệm kỳ, Quốc hội xem xét, thảo luận Báo cáo công tác nhiệm
kỳ của Chủ tịch nước, Uỷ banthường vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc, các UỶ ban của Quốc hội,
Chính phủ, Tán nhân dân tối cao, Viện kiểm sátnhân dân tối cao, Kiểm toán nhà nước và
quan khác do Quốc hội thành lập.Hai là, xem xét các văn bản pháp luật có dấu hiệu trái với Hiến
pháp, luật, Nghị quyết của Quốc hội. Đây là phươngthức để thực hiện nội dung giám sát tình hợp
hiến, hợp pháp của các văn bản quy phạm pháp luật của các đối tượng thuộcquyền giám sát tối
cao của Quốc hội. Trường hợp văn bản quy phạm pháp luật trái với Hiến pháp, luật, nghị quyết
củaQuốc hội thì quyết định bãi bỏ một phần hoặc toàn bộ văn bản đó.Ba là, xem xét chất vấn
trả lời chất vấn.Theo quy định tại khoản 7 điều 2 Luật Hoạt động giám sát Quốc hội và Hội đồng
nhân dân năm 2015 thì chất vấn đạibiểu Quốc hội là việc đại biểu Quốc hội nêu vấn đề thuộc trách
nhiệm của Chủ tịch nước, Chủ tịch Quốc hội, ThtướngChính phủ, Bộ trưởng, thành viên khác
của Chính phủ, Chánh án Tán nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sátnhân dân tối cao,
Tổng Kiểm toán nhà ớc yêu cầu những người này trả lời về trách nhiệm của mình đối với
vấn đềđược nêu. Cthể:- Chủ thể chất vấn: Đại biểu Quốc hội - Đối tượng chất vấn: Chủ tịch
nước, Chủ tịch Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ, Btrưởng, thành viên khác củaChính phủ, Chánh
án Tán nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tổng Kiểm toán nhà
nước- Thời gian chất vấn: Tại kỳ họp và giữa hai kỳ họpTrong thời gian giữa hai kỳ họp, chất vấn
được gửi đến Uỷ ban Thường vụ Quốc hội để chuyển đến cơ quan hoặcngười bị chất vấn và quyết
định thời hạn trả lời chất vấn.Bốn là, xem xét báo cáo giám sát chuyên đềGiám sát chuyên đề
việc chủ thể giám sát theo dõi, xem xét, đánh giá vấn đề hoặc hoạt động của quan, tổ chức,cá
nhân chịu sự giám sát trong việc tuân theo Hiến pháp pháp luật (Khoản 4 Điều 2 Luật Hoạt
động giám sát của Quốchội HỘi đồng nhân dân năm 2015).Năm là, xem xét báo cáo của Uỷ
ban lâm thời do Quốc hội thành lập để điều tra về một vấn đề nhất địnhSáu là, lấy phiếu tín nhiệm,
bỏ phiếu tín nhiệm đối với người giữ chức vụ do
Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn
Lấy phiếu tín nhiệm là việc Quốc hội, Hội đồng nhân dân thực hiện quyền giám sát, đánh giá mức
độ tín nhiệm đốivới người giữ chức vụ do Quốc hội, HĐND bầu hoặc phê chuẩn để làm sở cho
việc xem xét đánh giá cán bộ (Điều 2Nghị quyết số 85/2014/QH13 của Quốc hội).Bỏ phiếu tín
nhiệm việc Quốc hội, HĐND thể hiện sự tín nhiệm hoặc không n nhiệm đối với người giữ
chức vụdo Quốc hội, HĐND bầu hoặc phê chuẩn để làm sở cho việc miễn nhiệm hoặc phê
chuẩn đề nghị miễn nhiệm ngườikhông được Quốc hội, HĐND tín nhiệm (Điều 2 Nghị quyết số
lOMoARcPSD| 61685031
85/2014/QH13 của Quốc hội).Việc lấy phiếu tín nhiệm, bỏ phiếu n nhiệm nhằm nâng cao hiệu
lực, hiệu quả hoạt động giám sát của Quốc hội,HĐND; nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động
của bộ máy nhà nước; giúp người được lấy phiếu tín nhiệm, bỏ phiếutín nhiệm thấy được mức độ
tín nhiệm của mình để phấn đấu, rèn luyện, nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động; làmcơ sở
để cơ quan, tổ chức có thẩm quyền xem xét đánh giá cán bộ.Bảy là, xem xét báo cáo của Uỷ ban
Thường vụ Quốc hội về kiến nghị giám sát của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, Hộiđồng Dân tộc,
Uỷ ban của Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội và đại biểu Quốc hội.Trường hợp cơ quan, tổ chức,
nhân chịu sự giám sát không thực hiện kết luận, kiến nghị giám sát của Uỷ banThường vụ Quốc
hội, Hội đồng Dân tộc, Uỷ ban của Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội đại biểu Quốc hội thì
Hộiđồng Dân tộc, Uỷ ban của Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội đại biểu Quốc hội quyền
kiến nghị với Uỷ banThường vụ Quốc hội để báo cáo Quốc hội xem xét, quyết định
thể nói, chức năng giám sát tối cao của Quốc hội xuất phát từ bản chất của Quốc hội nước ta
là cơ quan đại biểucao nhất của Nhân dân. Giám sát chỉ một trong những chức năng của Quốc
hội, Có mối quan hệ gắn giữa lập phápvà giám sát: Quốc hội dùng giám sát để tìm hiểu xem
các cơ quan nhà nước đã thực thi pháp luật như thế nào và luật phápphải được hoàn thiện ra sao.
Ngoài ra, Quốc hội còn có chức năng đại diện. Giám sát cũng gắn bó chặt chẽ với chức năng này:
nhờ tương tác vớicử tri Quốc hội thể xác định được chính c, kịp thời những vấn đề cần
được giám sát. Trong điều kiện xây dựngNhà nước pháp quyền hội chủ nghĩa Việt Nam, việc
thực hiện chức năng giám sát tối cao đối với hoạt động của Nhànước của Quốc hội cần được nhận
thức một cách đầy đủ, đúng đắn khoa học cả về phương diện luận lẫn thực tiễnhoạt động.
Quốc hội thực hiện giám sát tối cao đối với hoạt động của Nhà nước trong điều kiện Nhà nước
pháp quyền xãhội chủ nghĩa Việt Nam vai trò to lớn trong việc góp phần phòng chống lạm
quyền, lộng quyền từ phía các quannhà nước thẩm quyền. Đảm bảo quyền lực nhà nước
thuộc về Nhân dân và phục vụ Nhân dân
Câu31: Tại sao nói kỳ họp Quốc hội là hình thức hoạt động quan trọng nhất của Quốc hội? Tại kỳ
họp, Quốc hội thảo luận dân chủ và quyết định những vấn đề quan trọng nhất của đất nước và của
nhân dân;thực hiện quyền giám sát tối cao đối với hoạt động của các quan nhà nước. Kỳ họp
của Quốc hội được tổ chức thườnglệ một năm hai lần do Uỷ ban thường vụ quốc hội triệu tập.
Trong trường hợp Chủ tịch nước, Thủ tướng Chính phủ hoặcít nhất một phần ba tổng số đại biểu
Quốc hội yêu cầu hoặc theo quyết định của mình, Ủy ban thường vụ Quốc hội triệutập Quốc hội
họp bất thường. Việc triệu tập các kỳ họp thường lệ của Quốc hội phải được Uỷ ban thường vụ
Quốc hộiquyết định thông báo chậm nhất ba mươi ngày (đối với các kỳ họp bất thường
bảy ngày) trước ngày khai mạc kìhọp. Dự kiến chương trình làm việc của kì họp được gửi đến đại
biểu Quốc hội cùng với quyết định triệu tập kỳ họp chậmnhất mười lăm ngày trước khi Quốc
hội họp, dự kiến chương trình kì họp thường lệ phải được thông báo trên cácphương tiện thông tin
đại chúng. Kỳ họp thứ nhất của Quốc hội khoá mới được triệu tập chậm nhất hai tháng kể từngày
bầu cử đại biểu quốc hội do Chủ tịch Quốc hội khóa trước khai mạc và chủ tọa cho đến khi
Quốc hội khóa mớibầu Chủ tịch Quốc hội khoá mới.Kỳ họp hình thức hoạt động chủ yếu và
quan trọng nhất của Quốc hội. Kỳ họp nơi biểu hiện trực tiếp tậptrung nhất quyền lực nhà
nước của cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất củanước
Cộng hòa hội Chủ nghĩa Việt Nam thực hiện quyền lập hiến lập pháp; nơi thể hiện trí tuệ
tập thể của các đạibiểu Quốc hội. Tại kỳ họp, Quốc hội thảo luận dân chủ quyết định những
vấn đề quan trọng nhất của đất nước củanhân dân; thực hiện quyền giám sát tối cao đối với hoạt
động của các quan nhà nước.Trong trường hợp Chủ tịch nước, Ủy ban Thường vụ Quốc hội,
Thủ tướng Chính phủ hoặc ít nhất một phần ba tổngsố đại biểu Quốc hội yêu cầu thì Quốc hội họp
bất thường. Ủy ban Thường vụ Quốc hội triệu tập kỳ họp Quốc hội (Điều83 Hiến pháp 2013)
lOMoARcPSD| 61685031
Câu32: Nguyên tắc “tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân” thể hiện như thế nào thông
qua quy định về vị trí pháp lý của Quốc hội trong Hiến pháp năm 2013?
1. Địa vị pháp lý của Quốc hội theo Hiến pháp 2013Hiến pháp 2013: Quốc hội là cơ quan đại
biểu cao nhất của Nhân dân, cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất củanước Công hòa xã hộ chủ
nghĩa Việt Nam.
2. Chức năng của Quốc hội theo Hiến pháp 2013 Quốc hội thực hiện quyền lập hiến, lập pháp,
quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và giám sát tối cao đốivới hoạt động của Nhà nước.
3. Nhiệm vụ và quyền hạn của Quốc hội theo Hiến pháp 2013 Theo Ðiều 70 Hiến pháp 2013,
Quốc hội có những nhiệm vụ và quyền hạn sau đây:1. Làm Hiến pháp và sửa đổi Hiến pháp; làm
luật sửa đổi luật;2. Thực hiện quyền giám sát tối cao việc tuân theo Hiến pháp, luật nghị
quyết của Quốc hội; xét báo cáo công táccủa Chủ tịch nước, Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Chính
phủ, Tán nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Hộiđồng bầu cử quốc gia, Kiểm
toán Nhà nước quan khác do Quốc hội thành lập;3. Quyết định mục tiêu, chỉ tiêu, chính
sách, nhiệm vụ cơ bản phát triển kinh tế – xã hội của đất nước;4. Quyết định chính sách cơ bản về
tài chính, tiền tệ quốc gia; quy định, sửa đổi hoặc bãi bỏ các thứ thuế; quyết địnhphân chia c
khoản thu nhiệm vụ chi giữa ngân sách trung ương ngân sách địa phương; quyết định mức
giới hạnan toàn nợ quốc gia, nợ công, nợ chính phủ; quyết định dự toán ngân sách Nhà nước
phân bổ ngân sách trung ương,phê chuẩn quyết toán ngân sách Nhà nước;5. Quyết định chính sách
dân tộc, chính sách tôn giáo của Nhà nước;6. Quy định tổ chức hoạt động của Quốc hội, Chủ
tịch nước, Chính phủ, Tán nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân,Hội đồng bầu cử quốc gia, Kiểm
toán Nhà nước, chính quyền địa phương quan khác do Quốc hội thành lập; 7. Bầu, miễn
nhiệm, bãi nhiệm Chủ tịch nước, Phó Chủ tịch nước, Chủ tịch Quốc hội, Phó Chủ tịch Quốc hội,
Ủyviên Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Chủ tịch Hội đồng dân tộc, Chủ nhiệm Ủy ban của Quốc hội,
Thủ tướng Chính phủ,Chánh án Toà án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối
cao, Chủ tịch Hội đồng bầu cử quốc gia, TổngKiểm toán Nhà nước, người đứng đầu cơ quan khác
do Quốc hội thành lập; phê chuẩn đề nghị bổ nhiệm, miễn nhiệm,cách chức Phó Thủ tướng Chính
phủ, Bộ trưởng và thành viên khác của Chính phủ, Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao;phê chuẩn
danh sách thành viên Hội đồng quốc phòng an ninh, Hội đồng bầu cử quốc gia.Sau khi được
bầu, Chủ tịch nước, Chủ tịch Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao
phảituyên thệ trung thành với Tổ quốc, Nhân dân Hiến pháp;8. Bỏ phiếu tín nhiệm đối với
người giữ chức vụ do Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn;9. Quyết định thành lập, bãi bỏ bộ, quan
ngang bộ của Chính phủ; thành lập, giải thể, nhập, chia, điều chỉnh địagiới hành chính tỉnh, thành
phố trực thuộc trung ương, đơn vị hành chính kinh tế đặc biệt; thành lập, bãi bỏ quankhác
theo quy định của Hiến pháp luật;10. Bãi bỏ văn bản của Chủ tịch nước, Uỷ ban thường vụ
Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Tán nhândân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối
cao trái với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội;11. Quyết định đại xá;12. Quy định hàm,
cấp trong lực lượng trang nhân dân, hàm, cấp ngoại giao những hàm, cấp Nhà nước khác;quy
định huân chương, huy chương và danh hiệu vinh dự Nhà nước;13. Quyết định vấn đề chiến tranh
và hoà bình; quy định về tình trạng khẩn cấp, các biện pháp đặc biệt khác bảo đảmquốc phòng và
an ninh quốc gia; 14. Quyết định chính sách cơ bản về đối ngoại; phê chuẩn, quyết định gia nhập
hoặc chấm dứt hiệu lực của điều ướcquốc tế liên quan đến chiến tranh, hòa bình, chủ quyền quốc
gia, tư cách thành viên của Cộng hòa hội chủ nghĩa ViệtNam tại các tổ chức quốc tế và khu vực
quan trọng, điều ước quốc tế về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản củacông dân và điều
ước quốc tế khác trái với luật, nghị quyết của Quốc hội;15. Quyết định trưng cầu ý dân.
4. Quốc Hội thực hiện chức năng giám sát với những cơ quan: – Điều 69: Quốc hội thực hiện
quyền … giám sát tối cao đối với hoạt động của Nhà nước. (trong Hiến pháp trước đâylà giám sát
lOMoARcPSD| 61685031
đối với toàn bộ hoạt động của Nhà nước ).– Khoản 2 điều 70: Thực hiện quyền giám sát tối cao
việc tuân theo Hiến pháp, luật nghị quyết của Quốc hội; xétbáo cáo công tác của Chủ tịch nước;
Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sátnhân dân tối cao,
Hội đồng bầu cử quốc gia, Kiểm toán Nhà nước các quan khác do Quốc hội thành lập.=>
Phạm vi giám sát của Quốc hội là ở những quan cấp cao, do Quốc hội thành lập và chịu trách
nhiệm với Quốchội. Phạm vi giám sát này phù hợp với tính “tối cao” của Quốc hội; đồng thời phù
hợp với thực tiễn lịch sử Quốc hộihầu như không bao giờ thực hiện phạm vi giám sát các
quan cấp tỉnh trở xuống.
5. Quốc hội thực hiện chức năng giám sát bằng cách: Xem xét các báo cáo công tác của
Chủ tịch nước, UBTVQH, Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao,..– Xem xét các đề nghị của các cơ
quan của Quốc hội, của đại biểu Quốc hội, của các cơ quan, tổ chức và nhân vềcác văn bản quy
phạm pháp luật của Chủ tịch nước, UBTVQH, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Tán nhân dân
tốicao Viện kiểm sát nhân dân tối cao có dấu hiệu trái với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc
hội.– Xem xét chất vấn và trả lời chất vấn tại kỳ họp.– Thành lập Uỷ ban lâm thời, Đoàn giám sát
trong những trường hợp cần thiết để điều tra về một vấn đề nhất định.– Quốc hội thành lập các cơ
quan và bầu ra các chức danh sao cho hợp (đúng người đúng khả năng) chính là mộthành vi thực
hiện quyền giám sát.
Câu33: Phân tích hoạt động chất vấn của đại biểu Quốc hội theo pháp luật hiện hành. Đánh giá
hoạt động chất vấn của đại biểu Quốc hội trong thực tiễn Việt Nam hiện nay.
1. Hiến định về chất vấn trong Hiến pháp Hiến pháp nước Cộng hòa XHCN Việt Nam được
Quốc hội khóa XIII, kỳ họp thứ 6 thông qua ngày 28/11/2013,gồm 11 chương, 120 điều;
trong đó Chương V hiến định về Quốc hội gồm 17 điều, từ Điều 69 đến Điều 85; duy
nhấtĐiều 80 quy định về chất vấn của đại biểu Quốc hội (ĐBQH). Cụ thể là: “Điều 80 1.
ĐBQH quyền chất vấn Chủ tịch nước, Chủ tịch Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ, Bộ
trưởng các thành viênkhác của Chính phủ, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao
(TANDTC), Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao(VKSNDTC), Tổng Kiểm toán
nhà nước. 2. Người bị chất vấn phải trả lời trước Quốc hội tại kỳ họp hoặc tại phiên họp
Ủy ban thường vụ Quốc hội(UBTVQH) trong thời gian giữa hai kỳ họp Quốc hội; trong
trường hợp cần thiết, Quốc hội, UBTVQH cho trả lời bằngvăn bản. 3. ĐBQH quyền
yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp thông tin, tài liệu liên quan đến nhiệm vụ của
cơquan, tổ chức, nhân đó. Người đứng đầu quan, tổ chức hoặc nhân trách nhiệm
trả lời những vấn đề ĐBQHyêu cầu trong thời gian nhất định”. Chất vấn một hình
thức giám sát quan trọng tất cả các Hiến pháp của nước ta qua các thời kỳ đều đã
traoquyền cho ĐBQH. Tuy quy định quyền của nhân đại biểu nhưng khi thực hiện,
chất vấn tại nghị trường lại hoạtđộng của Quốc hội; Quốc hội thực hiện quyền lực nhà
nước tại mỗi kỳ họp, buộc các đối tượng bị chất vấn phải trả lờitrước toàn thể Quốc hội,
hoặc trả lời bằng văn bản riêng cho đại biểu chất vấn. Chất vấn là một hình thức giám
sát tốicao của Quốc hội, được kế thừa phát triển qua 5 Hiến pháp từ Hiến pháp năm
1946 đến Hiến pháp năm 2013. Đốitượng trả lời chất vấn được mở rộng dần qua mỗi Hiến
pháp Hiến pháp năm 2013, Điều 80 quy định tương tự như Điều 98 Hiến pháp năm 1992
và tăng thêm một đối tượngphải trả lời chất vấn nữa, đó là Tổng Kiểm toán nhà nước.Qua
5 bản Hiến pháp, quyền lực nhà nước được kiểm soát, được quy định ngày càng chặt chẽ
hơn. Đến nay, tất cảnhững người đứng đầu các quan nhà nước thuộc ba nhánh quyền
lực đều phải chịu sự giám sát trực tiếp, thường xuyêncủa Quốc hội nói chung, đều phải trả
lời chất vấn trước Quốc hội nói riêng. Nếu các Hiến pháp năm 1946 Hiến phápnăm

Preview text:

lOMoAR cPSD| 61685031
BỘ ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP VẤN ĐÁP MÔN LUẬT HIẾN PHÁP
CÂU 1: Phân tích đối tượng điều chỉnh của ngành luật hiến pháp Việt Nam. Lấy ví dụ minh họa.
Khái Niệm: đối tượng điều chỉnh của nghành LHP là các QHXH nền tảng, cơ bản nhất và quan
trọng nhất trong xã hội.
-Đối tượng điều chỉnh của nghành LHP có thể chia thành 3 nhóm lớn:
+ Thứ nhất: Các quan hệ xã hội nền tảng, cơ bản và quan trọng nhất trong các lĩnh vực chính trị,
kinh tế, văn hóa,giáo dục, khoa học, công nghệ, an ninh, quốc phòng, chính sách đối ngoại.
Trong lĩnh vực chính trị, ngành Luật Hiến pháp điều chỉnh các mối quan hệ nền tảng, cơ bản và
quan trọng nhất liênquan tới quốc gia, lãnh thổ, quyền lực nhà nước và tổ chức thực hiện quyền
lực nhà nước. Có thể kể đến như vấn đề chủquyền quốc gia, quyền dân tộc cơ bản, bản chất của
nhà nước, nguồn gốc của quyền lực nhà nước, hệ thống chính trị. Khiđiều chỉnh các quan hệ xã
hội nền tảng của lĩnh vực chính trị, ngành Luật Hiến pháp đồng thời thiết lập nền tảng của chếđộ chính trị.
Trong các lĩnh vực kinh tế, văn hoá, giáo dục, khoa học, công nghệ, an ninh, quốc phòng và chính
sách đối ngoại,những quan hệ xã hội nền tảng mà ngành Luật Hiến pháp điều chỉnh là những quan
hệ xã hội liên quan tới định hướngphát triển lớn của từng lĩnh vực, ví dụ mô hình phát triển kinh
tế, định hướng giá trị phát triển nền văn hoá, khoa học,công nghệ…
Qua việc điều chỉnh các quan hệ xã hội đó, ngành Luật Hiến pháp hình thành các chính sách cơ
bản nhất, quan trọngnhất định hướng hoạt động của các cơ quan nhà nước trong từng lĩnh vực.
+ Thứ hai: Các quan hệ xã hội nền tảng, cơ bản và quan trọng nhất trong lĩnh vực quan hệ giữa
nhà nước và ngườidân, hay nói cách khác là các quan hệ xã hội xác định quyền và nghĩa vụ cơ bản của người dân.
Trong đời sống xã hội, các ngành luật của hệ thống pháp luật Việt Nam quy định về quyền và nghĩa
vụ của công dân.Đó là những quyền và nghĩa vụ nền tảng, cơ bản và quan trọng của người dân
trong từng lĩnh vực. Đó có thể là quyền bầucử, ứng cử trong lĩnh vực chính trị, quyền sở hữu đối
với tư liệu sản xuất, tự do kinh doanh trong lĩnh vực lĩnh vực, quyềnbất khả xâm phạm danh dự,
nhâm phẩm, tính mạng, tài sản trong lĩnh vực tự do cá nhân. Những quyền cơ bản này là nềntảng
hình thành các quyền cụ thể của người dân trong từng lĩnh vực, ví dụ như quyền được đăng kí kinh
doanh, quyềnđược khởi kiện, quyền được yêu cầu bồi thường dân sự ngoài hợp đồng.
+ Thứ ba: Các quan hệ xã hội nền tảng, cơ bản và quan trọng nhất trong lĩnh vực tổ chức và hoạt
động của bộ máynhà nước.
Đây là các quan hệ xã hội liên quan tới việc xác định các nguyên tắc tổng thể của bộ máy nhà nước
Việt Nam, cácnguyên tắc tổ chức và hoạt động, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức
và hoạt động của các cơ quan trọng bộmáy nhà nước Việt Nam từ trung ương đến địa phương. Đây
là nhóm đối tượng điều chỉnh lớn nhất của ngành Luật Hiếnpháp.
Ví dụ: Trong lĩnh vực dân sự, quan hệ sở hữu là một quan hệ nền tảng, nếu không xác định được
quan hệ sở hữu thìkhông thể thiết lập được các giao dịch dân sự có liên quan. Từ đây, có thể hiểu,
quan hệ sở hữu chính là đối tượng điềuchỉnh của Luật Hiến pháp. lOMoAR cPSD| 61685031
Câu2: Nêu định nghĩa và phân tích đặc điểm của hiến pháp.
- Hiến pháp là hệ thống các quy phạm pháp luật có hiệu lực pháp lí cao nhất quy định những vấn
đề cơ bản nhất về chủ quyền quốc gia, chế độ chính trị, chính sách kinh tế, văn hóa, xã hội, tổ
chức quyền lực nhà nước, địa vị pháp lí của con người và công dân.
- Hiến pháp có bốn đặc trưng cơ bản sau:
+ Thứ nhất, hiến pháp là luật cơ bản (basic law), là “luật mẹ”, luật gốc. Nó là nền tảng, là cơ sở để
xây dựng và phát triển toàn bộ hệ thống pháp luật quốc gia. Mọi đạo luật và văn bản QPPL khác
dù trực tiếp hay gián tiếp đều phải căn cứ vào hiến pháp để ban hành.
+ Thứ hai, hiến pháp là luật tổ chức (organic law), là luật quy định các nguyên tắc tổ chức bộ máy,
là luật xác định cách thức tổ chức và xác lập các mối quan hệ giữa các cơ quan lập pháp, hành
pháp và tư pháp; quy định cấu trúc các đơn vị hành chính lãnh thổ và cách thức tổ chức chính quyền địa phương.
+ Thứ ba, hiến pháp là luật bảo vệ (protective law). Các quyền con người và công dân bao giờ
cũng là một phần quan trọng của hiến pháp. Do hiến pháp là luật cơ bản của nhà nước nên các quy
định về quyền con người và công dân trong hiến pháp là cơ sở pháp lí chủ yếu để nhà nước và xã
hội tôn trọng và bảo đảm thực hiện các quyền con người và công dân.
+ Thứ tư, hiến pháp là luật có hiệu lực pháp lí tối cao (highest law), tất cả các văn bản pháp luật
khác không được trái với hiến pháp. Bất kì văn bản pháp luật nào trái với hiến pháp đều phải bị hủy bỏ.
Câu3: Tại sao nói hiến pháp là công cụ kiểm soát quyền lực nhà nước?
-HP là công cụ kiểm soát quyền lực nhà nước tại vì:
+ Hiến pháp là phương tiện bảo vệ quyền con người quyền công dân Hiến pháp là văn bản có vị
trí cao nhất trong thang bậc hiệu lực pháp lý, đóng vai trò là đạo luật gốc, làm cơ sở cho các văn
bản khác trong hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật của mỗi quốc gia. Những nội dung không
thể thiếu trong hầu hết các bản hiến pháp, đó là những quy định về cách thức tổ chức quyền lực
nhà nước và ghi nhận quyền con người, quyền công dân đã làm cho hiến pháp đóng một vai trò
quan trọng trong việc đảm bảo nhân quyền
+ Hiến pháp là công cụ phòng chống tham nhũng Một trong những vai trò quan trọng bậc nhất
của Hiến pháp làphòng, chống tham nhũng, hay nói một cách khác, Hiến pháp là một trong
những công cụ để phòng, chống tham nhũngcủa quốc gia. Muốn cho Hiến pháp là công cụ của
việc phòng, chống tham nhũng, cũng là việc hiểu Hiến pháp như là công cụ kiểm soát, quyền
lực. Nếu quyền lực không kiểm soát được, cũng là quyền lực đã góp phần gia tăng cho tệ nạn tham nhũng.
+ Hiến pháp là công cụ để đánh giá một nền dân chủ ''Hiến pháp không phải là một công cụ của
chính phủ để đàn ápnhân dân, mà là một công cụ để nhân dân kiềm chế chính phủ " Câu nói này
phản ánh một cách khái quát mối quan hệgiữa hiến pháp và dân chủ. Nó cũng có nghĩa là thông
qua hiến pháp có thế bước đầu đánh giá được một nền dân chủ Dânchủ có nghĩa là một hệ thống
chính phủ được thành lập và mang tính chính danh thông qua bầu cử. Tuy nhiên, không phảiai
cũng được ứng cử trong các cuộc bầu cử; chỉ có những người tham gia mới được lựa chọn để ứng
cử. Thêm vào đó,không phải ai cũng được đi bầu. Bản chất của hiến pháp là dân chủ, vì nó thể
hiện quyền lực của nhân dân và phải đượcthông qua với sự đồng ý của nhân dân. Như vậy, hiến
pháp phản ánh một nền dân chủ trước hết qua cách thức làm ra nó.Về khía cạnh này, khả năng,
mức độ tham gia (thực chất) của người dân vào việc xây dựng và thông qua hiến pháp tỷ lệthuận lOMoAR cPSD| 61685031
với tính dân chủ của một nhà nước. Ở một quốc gia càng dân chủ, nhà nước càng áp dụng nhiều
biện pháp để ngườidân có thế tự do và thuận lợi đóng góp ý kiến vào việc xây dựng hiến pháp,
cũng như vào việc bỏ phiếu trong các cuộctrưng cầu ý dân về hiến pháp. Thêm vào đó, ở một quốc
gia dân chủ, quá trình trưng cầu ý dân và xin ý kiến nhân dânđược thực hiện một cách trân trọng,
minh bạch, dưới sự giám sát chặt chẽ của báo chí và các tổ chức xã hội dân sự. Điềunày rất quan
trọng vì hầu hết các nước thực hiện trưng cầu ý dân hoặc các hình thức xin ý kiến nhân dân về dự
thảo hiếnpháp, nhưng ở nhiều quốc gia quá trình này được tiến hành một cách hình thức, thiếu
minh bạch hoặc đi kèm với sự đedoạ (công khai hay ngấm ngầm) của chính quyền khiến người
dân không dám thể hiện quan điểm thật sự của mình.
Câu4: Tại sao nói hiến pháp là luật bảo vệ?
Hiến pháp là phương tiện bảo vệ quyền con người quyền công dân ? Hiến pháp là văn bản có vị trí
cao nhất trongthang bậc hiệu lực pháp lý, đóng vai trò là đạo luật gốc, làm cơ sở cho các văn bản
khác trong hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật của mỗi quốc gia. Những nội dung không thể
thiếu trong hầu hết các bản hiến pháp, đó là những quy định về cách thức tổ chức quyền lực nhà
nước và ghi nhận quyền con người, quyền công dân đã làm cho hiến pháp đóng mộtvai trò quan
trọng trong việc đảm bảo nhân quyền Thông qua hiến pháp, người dân xác định những quyền gì
của mình mà nhà nước phải tôn trọng và bảo đảm thực hiện, cùng những cách thức đế bảo đảm
thực thi những quyền đó. Với tính chất là văn bản pháp lý có hiệu lực tôi cao, hiến pháp là bức
tường chắn quan trọng nhất để ngăn ngừa những hành vi lạm dụng, xâm phạm quyền con người,
quyền công dân, cũng như là nguồn tham chiếu đầu tiên mà người dân thường nghĩđến khi các
quyền của mình bị vi phạm. Hiệu lực bảo vệ quyền con người, quyền công dân của hiến pháp còn
được pháthuy qua việc hiến định các cơ chế, thiết chế bảo vệ quyền, cụ thể như thông qua hệ thôhg
toà án tư pháp, các cơ quan nhân quyền quốc gia, cơ quan thanh tra Quốc hội (Ombudsman) hay
toà án hiến pháp... Hiến pháp là văn bản ghi nhận quyền con người, quyền công dân bên cạnh đó
hiến pháp là văn bản pháp lý ràng buộc trách nhiệm của nhà nước đểquyền con người, quyền công
dân được thực thi. Muốn đảm bảo quyền con người, quyền công dân thì trước hết nhà nướcphải
ghi nhận những quyền đó, nếu không có sự ghi nhận thì sẽ không có sự bảo vệ và thúc đẩy việc
hiện thực hóa nhữngquyền này. Việc ghi nhận quyền con người trong hiến pháp cũng là cách để
một quốc gia tuyên bố với thế giới về tình trạng nhân quyền của nước mình. Hiến pháp là đạo luật
cơ bản của nhà nước có tính bắt buộc chung đối với toàn xã hội,trong đó và trước hết là những cơ
quan, cán bộ nhà nước. Điều đó có nghĩa rằng, các cơ quan nhà nước phải nỗ lực trong việc tạo ra
cơ chế (ban hành thể chế và thành lập các thiết chế) để các quyền con người, quyền công dân được
thực thi.Nếu không tạo điều kiện và cơ chế để hiện thực hóa các quyền con người, quyền công dân
ghi trong hiến pháp thì chính nhà nước cũng bị coi là không hoàn thành trách nhiệm và trong một
chừng mực nhất định có thể bị coi là vi hiến. Do vậy,có thể nói rằng, trong trường hợp này hiến
pháp đóng vai trò quan trọng trong việc bảo đảm quyền con người, quyền công dân. Bảo đảm bằng
cách “bắt” nhà nước phải thực hiện chính những gì mà mình đã ghi nhận về quyền con người,
quyền công dân trong nội dung của hiến pháp. Câu5: Câu6:
Câu7:Phân tích quy trình lập hiến theo Hiến pháp năm 2013.
1. Quan niệm về quy trình lập hiến Hiểu theo ngôn ngữ thông thường, quy trình là trình tự
phải tuân theo để tiến hànhmột công việc nào đó[3]. Dưới góc độ pháp luật, “quy trình lập lOMoAR cPSD| 61685031
hiến” được hiểu là một chế định pháp luật, gồm nhữngquy định về chủ thể, quyền và nghĩa
vụ, trách nhiệm của các chủ thể trong việc xây dựng và ban hành hiến pháp; trình tự,thủ
tục tiến hành các hoạt động xây dựng, ban hành hiến pháp. “Quy trình lập hiến” còn được
hiểu là quy trình hoạt độngcó tính chính trị - pháp lý, gồm nhiều giai đoạn, nhiều hoạt động
khác nhau, do nhiều chủ thể tiến hành; có mối liên hệchặt chẽ và tuân theo trình tự nhất
định; là quy trình hoạt động mang tính sáng tạo sản phẩm là bản văn hiến pháp. Quathực
tiễn lập hiến của Nhà nước ta, chúng tôi cho rằng, có thể quan niệm về quy trình lập hiến
ở nước ta là: “Quy trìnhlập hiến là trình tự, thủ tục mà những cơ quan, tổ chức có trách
nhiệm thực hiện hoạt động lập hiến phải tuân theo trongquá trình ban hành mới hoặc sửa
đổi hiến pháp nhằm chuyển hoá ý chí của giai cấp công nhân và nhân dân lao động dướisự
lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam thành những quy phạm hiến định và thể hiện chúng
dưới hình thức một bảnvăn hiến pháp”.
2. Đặc điểm của quy trình lập hiến Việc xác định rõ được các đặc điểm của quy trình lập hiến
có những ý nghĩa quantrọng nhằm bảo đảm cho việc xác lập và thực hiện quy trình này
một cách đúng đắn, qua đó bảo đảm được chất lượng vàhiệu quả của hoạt động lập hiến.
Thực tế quá trình lập hiến ở nước ta hơn 60 năm qua cho thấy, bởi chưa xác định rõ đượccác
đặc điểm của quy trình lập hiến, dẫn đến không thừa nhận hoặc chưa tôn trọng đúng mức
các đặc điểm khách quancủa quy trình lập hiến, từ đó thậm chí còn phủ nhận tính độc lập
của quy trình lập hiến, đồng nhất quy trình lập hiến vớiquy trình lập pháp hoặc coi quy
trình này là một nội dung thuộc về quy trình lập pháp thông thường. Tuy nhiên, theo
quanđiểm của chúng tôi, quy trình lập hiến mặc dù có những điểm tương đồng nhất định
với quy trình lập pháp nhưng khôngthể đồng nhất hoặc lẫn lộn với quy trình này hay một
quy trình nào khác, xuất phát từ những đặc điểm cơ bản sau của quytrình lập hiến: Thứ
nhất, nếu như các quy trình hoạt động khác được quy định chủ yếu trong các văn bản luật,
dưới luật,như: quy trình ban hành luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của
Uỷ ban Thường vụ Quốc hội được quyđịnh chủ yếu tại Luật Ban hành văn bản quy phạm
pháp luật năm 1996[4] thì quy trình sửa đổi hiến pháp cho đến nay chỉđược quy định tại
các hiến pháp. Thứ hai, quy trình lập hiến là quy trình hoạt động duy nhất được hiến pháp
quy địnhđiều kiện thông qua rất chặt chẽ. Hiến pháp năm 1959, Hiến pháp năm 1980 và
Hiến pháp năm 1992 đều thống nhất quyđịnh: “Việc sửa đổi Hiến pháp phải được ít nhất
là 2/3 tổng số đại biểu Quốc hội biểu quyết tán thành”[5]. Thứ ba, quytrình lập hiến là quy
trình hoạt động thường gắn với việc Quốc hội phải thành lập ra một cơ quan đặc biệt để
giúp Quốchội thực hiện hoạt động lập hiến, đó là Uỷ ban sửa đổi Hiến pháp. Theo quy trình
quyết định những vấn đề quan trọngcủa đất nước, trong trường hợp cần thiết, Quốc hội có
thể thành lập một Uỷ ban lâm thời để giúp Quốc hội thẩm tra, xácminh vấn đề. Tuy nhiên,
đây chỉ là những trường hợp cá biệt, thực tế rất hiếm xảy ra. Ngược lại, trong các trường
hợp banhành mới hay sửa đổi Hiến pháp đều phải thành lập ra Uỷ ban dự thảo hoặc Uỷ
ban sửa đổi Hiến pháp để giúp Quốc hộisoạn thảo Hiến pháp hoặc văn bản sửa đổi Hiến
pháp (trừ trường hợp sửa đổi Lời nói đầu của Hiến pháp năm 1980).Ngoài ra, quy trình lập
hiến mang tính chính trị - pháp lý, phản ánh
đặc trưng của hệ thống chính trị một đảng duy nhấtcầm quyền, thể hiện ở chỗ trong toàn
bộ các khâu công việc đều được Đảng quan tâm lãnh đạo và chỉ đạo trực tiếp. Đồngthời,
quy trình lập hiến là quy trình hoạt động đòi hỏi có sự tham gia chủ động, tích cực của nhân dân lOMoAR cPSD| 61685031
3. Các nguyên tắc cơ bản của quy trình lập hiến Các nguyên tắc của quy trình lập hiến là
những tư tưởng chỉ đạoxuyên suốt quá trình xây dựng và tổ chức thực hiện quy trình lập
hiến. Trong điều kiện nước ta, để bảo đảm cho hoạtđộng lập hiến có chất lượng và hiệu
quả, quy trình lập hiến đòi hỏi phải tuân thủ nhiều nguyên tắc quan trọng, trong đó cóbốn
nguyên tắc cơ bản sau: Thứ nhất, bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động lập
hiến. Ở nước ta, hệ thốngchính trị có đặc trưng là một đảng duy nhất cầm quyền, pháp
luật là thể chế hoá đường lối, chủ trương của Đảng, nhằmxác lập về phương diện pháp lý
sự lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và xã hội. Vì thế, bảo đảm sự lãnh đạo của Đảngđối
với hoạt động lập hiến trở thành yêu cầu hàng đầu trong toàn bộ hoạt động của Nhà nước.
Sự lãnh đạo của Đảng đốivới hoạt động lập hiến được thể hiện qua các nội dung như: Đảng
xác định mục đích, nội dung, yêu cầu của việc xâydựng, sửa đổi hiến pháp; Đảng cử cán
bộ của Đảng trực tiếp tham gia vào hoạt động lập hiến; các cơ quan lãnh đạo củaĐảng như
Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Ban Chấp hành trung ương Đảng thường xuyên theo dõi, xem
xét và cho ý kiến đốivới các vấn đề quan trọng của hiến pháp trong quá trình xây dựng, sửa
đổi hiến pháp... Thứ hai, phát huy dân chủ tronghoạt động lập hiến; tạo điều kiện để mọi
cơ quan, tổ chức và công dân tham gia tích cực vào hoạt động lập hiến. Dân chủlà một
trong những đặc điểm cơ bản, quan trọng nhất của hiến pháp nước ta. Để hiến pháp bảo
đảm tính dân chủ thực sựthì quy trình lập hiến cũng phải bảo đảm để ngay trong hoạt động
xây dựng và sửa đổi hiến pháp cũng phải bảo đảm tínhdân chủ. Bởi vì, không thể có hiến
pháp dân chủ thực sự khi chính hoạt động xây dựng, sửa đổi hiến pháp lại thiếu dânchủ.
Dân chủ trong hoạt động lập hiến càng cao bao nhiêu thì càng phát huy được tối đa trí tuệ
của tập thể đại biểu Quốchội, các cơ quan, tổ chức hữu quan và công dân trong việc tạo lập
các quy phạm hiến định; càng phản ánh được thực chấthơn, sâu sắc hơn ý chí, nguyện vọng
của quần chúng nhân dân, để hiến pháp thực sự là hiến pháp "của nhân dân, do nhândân và
vì nhân dân", càng góp phần bảo đảm cho các quy phạm hiến định phù hợp hơn với điều
kiện kinh tế - xã hội củađất nước và xu thế thời đại. Thứ ba, tuân thủ nghiêm chỉnh trình
tự, thủ tục đã được xác lập trong quy trình lập hiến.Nguyên tắc này yêu cầu mỗi chủ thể
tham gia hoạt động lập hiến phải thực hiện nghiêm chỉnh các trình tự, thủ tục đãđược pháp
luật quy định, phù hợp với nhiệm vụ và quyền hạn của từng loại chủ thể trong hoạt động
lập hiến. Mỗi hoạtđộng của từng chủ thể là một khâu trong hoạt động lập hiến, chỉ cần trục
trặc ở một khâu nhất định sẽ ảnh hưởng tới hàngloạt các khâu tiếp theo, thậm chí vô hiệu
hoá các nỗ lực lập hiến trước đó.
4. Phân loại quy trình lập hiến Qua nghiên cứu các quy định về quy trình lập hiến và thực tiễn
lập hiến ở nước ta, cóthể phân ra hai loại quy trình lập hiến cơ bản là: quy trình ban hành
mới hiến pháp và quy trình sửa đổi hiến pháp. 4.1. Quy trình ban hành mới hiến pháp Thực
tiễn lập hiến ở các nước trên thế giới cho thấy, việc ban hành hiến phápmới thường xảy ra
trong ba trường hợp sau: i) khi thành lập quốc gia mới; ii) khi thay đổi chế độ chính trị; iii)
khi cónhững thay đổi cơ bản về chế độ kinh tế, chính sách phát triển xã hội trong đường
lối, chính sách của giới cầm quyền. Ởnước ta, quy trình ban hành mới
hiến pháp hầu như chưa được pháp luật quy định. Trong văn bản pháp luật đầu tiên liênquan
trực tiếp đến việc xây dựng Hiến pháp năm 1946 - bản hiến pháp đầu tiên của Nhà nước ta
- là Sắc lệnh số 34/SLngày 20/9/1945 (do Chủ tịch Hồ Chí Minh ký ban hành) cũng như
chính bản Hiến pháp năm 1946 và tất cả các bản hiếnpháp được ban hành sau này đều
không có một điều khoản, một quy định nào về quy trình ban hành hiến pháp mới.
Nhìnchung, hiến pháp của các nước cũng thường không có quy định về quy trình ban hành lOMoAR cPSD| 61685031
mới hiến pháp. Điều này có thểđược lý giải bởi hai lý do sau: - Thứ nhất, hiến pháp là văn
bản pháp lý có tính cương lĩnh, quy định những vấn đề cơ bản,quan trọng nhất của một
quốc gia. Đó là những vấn đề mang tính ổn định cao, ít bị tác động bởi sự thay đổi thường
xuyêndiễn ra của đời sống kinh tế - xã hội và vì vậy, các bản hiến pháp bao giờ cũng rất ổn
định, ít bị thay đổi như các đạo luậtthường. Cũng vì vậy, trong khoa học pháp lý cũng như
trong pháp luật thực định, vấn đề ban hành mới hiến pháp để thaythế hiến pháp hiện hành
ít được đặt ra. - Thứ hai, khi ban hành hiến pháp, nhìn chung về mặt chủ quan, các nhà lập
hiếnđều mong muốn (và tin tưởng) bản hiến pháp được ban hành cũng như thể chế chính
trị đã sản sinh ra nó phải tồn tại lâudài, nếu không nói là vĩnh viễn. Do đó, trong các hiến
pháp họ thường không đặt ra quy định về việc ban hành mới hiếnpháp mà chỉ có các quy
định về việc sửa đổi hiến pháp.
Quy trình sửa đổi hiến pháp Trên thế giới, có những nước coi việc sửa đổi hiến pháp cũng
như sửa đổi một đạoluật nên quy trình sửa đổi hiến pháp cũng tương tự như quy trình sửa đổi luật,
thậm chí được áp dụng bởi quy trình lậppháp. Những hiến pháp được sửa đổi bởi quy trình lập
pháp như vậy được các nhà luật học trên thế giới xếp vào nhóm“hiến pháp mềm”. Tuy nhiên, số
nước sử dụng quy trình lập pháp để sửa đổi hiến pháp rất ít, mà hầu hết các nước trên thếgiới sử
dụng một quy trình sửa đổi riêng đối với hiến pháp và thông thường là quy trình này chặt chẽ hơn
hơn so với quytrình lập pháp. Đó cũng là lý do để các nhà luật học xếp hiến pháp của các nước này
vào nhóm “hiến pháp cứng", cónghĩa là thuộc loại hiến pháp khó bị sửa đổi. Ở các nước, việc sửa
đổi hiến pháp thường được tiến hành theo hai loại quytrình là: (a) Do Quốc hội lập pháp thực hiện,
đây là quy trình phổ biến nhất hiện nay; (b) Do một hội nghị dân cử đặc biệtthực hiện, đây là quy
trình được áp dụng ở một số nước. Nước Mỹ là một điển hình trong việc áp dụng quy trình
này.Ngoài ra, cũng có một số nước, như ở các tiểu bang của Thuỵ Sĩ áp dụng quy trình sửa đổi
hiến pháp theo phương thứcdo nhân dân quyết định Câu8:Phân tích ý nghĩa của vấn đề bảo vệ hiến pháp.
Trước hết, tại sao cần phải bảo vệ Hiến pháp?
Các nước đều nhận thấy cần phải bảo vệ HP vì 2 lý do: một là, xuấtphát từ vai trò của HP đối với
Nhà nước và xã hội; hai là, xuất phát từ thực tế là có hành vi vi hiến, do đó, nếu không cócơ chế
bảo vệ HP thì sẽ không có cách thức để ngăn chặn hay xử lý những hành vi vi hiến đó.Vậy, bản
chất của bảo vệ HP là gì? Nếu hiểu về mặt thuật ngữ, bảo vệ HP là đặt ra những biện pháp ngăn
chặn nguycơ xâm phạm HP và xử lý hành vi vi phạm các quy định của HP nhằm đảm bảo các quy
định của HP được thực thi 1 cáchđầy đủ, nghiêm túc trên thực tế. Tuy nhiên, cần phải hiểu sâu sắc
hơn vấn đề bảo vệ HP, nắm được bản chất của bảo vệHP 1 cách hiệu quả.Từ các đặc trưng của HP,
có thể thấy, HP có vai trò vô cùng quan trọng không chỉ đối với hệ thống pháp luật quốc giamà
còn mang ý nghĩa về mặt chính trị,hay nói cách khác, HP là minh chứng cho 1 Nhà nước dân chủ,
tại nhiều nước, HPra đời đánh dấu bước ngoặt lịch sử của một dân tộc, là căn cứ pháp lý nền tảng
để định hướng xây dựng chế độ XHCN ởmột quốc gia, giống như học giả Daniel Webster đã nhận
định: “ Một quốc gia, một hiến pháp, một vận mệnh.”. Do đó,bảo vệ HP thực chất là bảo vệ “thành
quả” của sự thoả thuận giữa một bên lầ người dân và một bên là chính quyền.Những thoả thuận về
quyền lực Nhà nước thuộc về ai, quyền lực Nhà nước giới hạn đến đâu, được tổ chức ntn, Nhà
nướcsẽ có trách nhiệm bảo vệ những quyền cơ bản nào của con người, của công dân và công dân
có nghĩa vụ nào đối với Nhànước..được ghi nhận trong HP cần phải được tôn trọng. Trong vấn đề
thực hiện thoả thuận đó,rõ ràng bên nắm quyền lựcNhà nước thường sẽ là bên dễ vi phạm “Khế lOMoAR cPSD| 61685031
ước’’ bởi lẽ bản khế ước đó phần lớn là để kiểm soát quyền lực của họ, đểtiết chế họ nhưng một
khi họ nắm giữ quyền lực thì sự ràng buộc đó khiến họ không muốn tuân thủ hiến pháp. Trong
khiđó, với người dân thì HP chính là cơ sở quan trọng để họ yên tâm về sự vận hành của chính
quyền, giúp họ có thể bảo vệcác quyền lợi chính đáng của mình. Từ đây, chúng ta có thể lý giải tại
sao thực tế hành vi vi hiến lại chủ yếu được thựchiện bởi Nhà nước, và bản chất của bảo vệ hiến
pháp chính là ngăn chặn và xử lý các cơ quan nhà nước, quan chức nhànước không thực hiện hoặc
thực hiện không đúng cam kết với người dân đã được hiến định. Có thể thấy rằng, xây dựngcơ chế
bảo hiến chính là sự “dũng cảm” của Nhà nước, sẵn sàng chịu trách nhiệm với những hành động
đi ngược lại vớinhững gì đã thoả thuận với người dân.
Câu9: Phân tích quy định về bảo vệ hiến pháp theo Hiến pháp năm 2013.
Hiện nay, trên thế giới có 3 mô hình bảo vệ hiến pháp phổ biến gồm: Hội đồng bảo vệ Hiến pháp,
Toà án Hiến phápvà Toà án tư pháp có chức năng bảo vệ hiến pháp. Mỗi mô hình lại có cạc thức
bảo vệ hiến pháp khác nhau. Việc lựachọn mô hình nào phụ thuộc vào truyền thống chính trị pháp
lý của mỗi quốc gia. Tuy nhiên, dù là mô hình nào thì đều cómột số điểm chung sau:
Một là, các mô hình bảo hiến đều thể hiện tính độc lập. Đây là một yếu tố rất quan trọng để đảm
bảo tính hiệu quảcủa cơ chế bảo vệ hiến phápHai là, các mô hình bảo hiến đảm bảo tính chuyên
nghiệp. Tính chuyên nghiệp ở đây thể hiện ở cơ quan đảm nhậnchức năng này phải đánh giá được
đâu là đâu là hành vi có thể bị coi là vi hiến.Ba là, các quyết định của cơ quan bảo hiến phải đảm
bảo tính hiệu lực. Có thể thấy, dù là mô hình hội đồng hay toàán thì các nước đều cho phép đây là
cơ quan có quyền quyết định tối cao trong việc đánh giá và xử lý hành vi vi phạmhiến pháp.Theo
HP 2013, vấn đề bảo vệ HP Việt Nam được quy định tại Khoản 2 Điều 119. Theo đó, việc bảo vệ
hiến pháp làtrách nhiệm của toàn bộ các cơ quan nhà nước và toàn thể Nhân dân. Còn cơ chế bảo
vệ bảo HP sẽ do luật định. Như vậy,cơ chế bảo vệ HP cụ thể ntn sẽ có luật quy định chi tiết. Hiện
nay, Quốc hội vẫn chưa ban hành một đạo luật quy định cơchế bảo hiến cụ thể mà việc bảo vệ HP
mới chỉ được thể hiện thông qua những quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của cơquan nhà nước
trong đó có đề cập đến trách nhiệm của cơ quan nhà nước khi ban hành hay phát hiện văn bản pháp
luật viphạm hiến pháp và cách thức xử lý văn bản pháp luật đó. Theo các quy định này thì nguyên
tắc bảo vệ HP ở nước ta chủ yếu dựa trên cơ chế kiểm tra, giám sát việc ban hànhVBPL của CQNN
cấp trên đối với CQNN cấp dưới, giữa cơ quan quyền lực Nhà nước ( QH, HĐND ) với cơ quan
chấphành cùng cấp ( CP, UBND ).Ví dụ: Quốc hội có quyền xem xét VBPL của Chính Phủ, nếu
phát hiện Chính Phủ ban hành VBPL trái với Hiếnpháp thì có quyền bãi bỏ văn bản đó Hay Chính
phủ có quyền bãi bỏ VBPL trái với Hiến pháp của UBND cấp tỉnh…Có thể thấy, dưới góc độ Hiến
định chúng ta đề cao tinh thần bảo vệ HP khi xác định đó là trách nhiệm của Nhà nướcvà Nhân
dân. Nhưng muốn bảo vệ HP có hiệu quả thì cần phải sớm có cơ chế bảo hiến cụ thể. Việc lựa chọn
mô hình phitập trung như hiện nay ( không có cơ quan chuyên trách bảo vệ hiến pháp) sẽ khó đáp
ứng được các tiêu chí về một môhình bảo hiến có hiệu quả như đã đề cập ở trên.
Câu9:Tại sao nói Hiến pháp năm 2013 là luật cơ bản của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam?
HP 2013 ra đời xuất phát từ nhu cầu hoàn thiện thêm 1 bươc nữa HP 1992. Mắc dù HP 1992 ra đời
với tư tưởng “Đổimới” đã đánh dấu bước ngoặt quan trọng đưa VN thoát khỏi thời kì khủng hoảng,
đặc biệt là trong lĩnh vực kinh tế. Tuynhiên, trước bối cảnh quốc tế mới, HP 1992 đã bộc lộ nhiều
điểm chưa đáp ứng được nhu cầu làm căn cứ pháp lý nềntảng cho việc phát triển đất nước. Do vậy,
trên cơ sở Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH ( bổsung, phát triển
2011) việc sửa đổi HP1992 đã được đặt ra. Kết quả của sự sửa đổi này đã mang lại cho chúng ta 1
bản HPmới với nhiều nội dung có sự thay đổi căn bản so với HP 1992.Có thể nói, HP 2013 ra đời
có ý nghĩa đáp ứng kịp thời nhu cầu xây dựng đất nước trong thời kì mới. Là bản HP cơbản nhất, lOMoAR cPSD| 61685031
đặc trưng nhất. Đối với xã hội, HP 2013 tiếp tục củng cố và đề cao hơn nữa nguyên tắc chủ quyền
nhân dân,khẳng định quyền làm chủ của người dân đối với quyền lực nhà nước. Bên cạnh đó, HP
2013 còn đề cao hơn nữa tráchnhiệm của NN trong việc bảo đảm quyền con người, quyền cơ bản
của công dân; Đối với Nhà nước, HP 2013 là cơ sởpháp lý quan trọng để đổi mới và hoàn thiện tổ
chức và hoạt động của BMNN theo hướng tăng cường vấn đề kiểm soátquyền lực nhà nước, hạn
chế vấn đề tham ô, tham nhũng, hướng tới 1 Nhà nước phục vụ cho lợi ích của Nhân dân,…
Câu10: Nêu khái niệm và phân tích các đặc trưng cơ bản của quyền con người.
- Khái niệm: “ Quyền con người là những nhu cầu, khả năng, lợi ích tự nhiên, vốn có của con
người, được pháp luật quy định và bảo đảm bởi Nhà nước” - Quyền con người có 4 đặc trưng:
+ Tính phổ quát: điều này có nghĩa là quyền con người thuộc về tất cả mọi người một cách như
nhau. Tuy nhiên, để đảm bảo sự bình đẳng giữa tất cả cá thể trong khi có những nhóm người về
bản chất đã không được hưởng trọn vẹn các quyền của mình; có 1 số quyền phổ quát dành cho họ.
Ví dụ: các dân tộc thiểu số bản địa có quyền bảo vệ bản sắc của mình, điều này có nghĩa là người
dân tộc khácc không được tự do cư trú tại nơi ở của họ.
+ Tính không thể tước bỏ: điều này có nghĩa là các quyền gắn chặt với phẩm giá của con người.,
NN cũng như các chủ thể khác không được tuỳ tiện tước bỏ hay cản trở các quyền đó. Tuy nhiên,
trong 1 số trường hợp, các quyền con người có thể bị tước bỏ hoặc hạn chế để khắc phục tình trạng đó.
Ví dụ: trong tình trạng bệnh dịch, quyền tự do đi lại có thể bị hạn chế để bảo vệ sức khoẻ của cộng đồng.
+ Tính không thể phân chia: điều này có nghĩa là các quyền không có thứ tự ưu tiên mà cần phải
được tôn trọngngang bằng nhau. Tuy nhiên, với 1 số trường hợp nguy cấp, 1 số quyền phải chấp
nhận đứng dưới các quyền khác bởi nếu các quyền đó không được bảo đảm thì thì các quyền còn
lại cũng không được duy trì.
Ví dụ: khi xảy ra tình trạng lũ lụt, những người không có chỗ trú có thể đến lánh nạn tại bất kỳ nhà
người khác an toàn vì quyền được sống của họ ưu tiên hơn quyền sở hữu của người khác.
+ Tính liên hệ và phụ thuộc lẫn nhau. Điều này có nghĩa là các quyền không tồn tại 1 cách độc lập
mà có sự liên hệ với nhau. Sở dĩ có điều này là vì các quyền phản ánh những khía cạnh khác nhau
của đời sống con người mà những khía cạnh đó lại có sự liên hệ với nhau, hỗ trợ nhau.
Câu11: Nêu khái niệm quyền con người. Nhà nước Việt Nam có trách nhiệm gì đối với quyền con người?
- Khái niệm: “ Quyền con người là những nhu cầu, khả năng, lợi ích tự nhiên, vốn có của con
người, được phápluật quy định và bảo đảm bởi Nhà nước” - Quyền con người có 4 đặc trưng:
+ Tính phổ quát: điều này có nghĩa là quyền con người thuộc về tất cả mọi người một cách như
nhau. Tuy nhiên, đểđảm bảo sự bình đẳng giữa tất cả cá thể trong khi có những nhóm người về
bản chất đã không được hưởng trọn vẹn cácquyền của mình; có 1 số quyền phổ quát dành cho
họ.Ví dụ: các dân tộc thiểu số bản địa có quyền bảo vệ bản sắc của mình, điều này có nghĩa là
người dân tộc khácckhông được tự do cư trú tại nơi ở của họ
.+ Tính không thể tước bỏ: điều này có nghĩa là các quyền gắn chặt với phẩm giá của con người.,
NN cũng như cácchủ thể khác không được tuỳ tiện tước bỏ hay cản trở các quyền đó. Tuy nhiên,
trong 1 số trường hợp, các quyền conngười có thể bị tước bỏ hoặc hạn chế để khắc phục tình trạng lOMoAR cPSD| 61685031
đó.Ví dụ: trong tình trạng bệnh dịch, quyền tự do đi lại có thể bị hạn chế để bảo vệ sức khoẻ của cộng đồng.
+ Tính không thể phân chia: điều này có nghĩa là các quyền không có thứ tự ưu tiên mà cần phải
được tôn trọngngang bằng nhau. Tuy nhiên, với 1 số trường hợp nguy cấp, 1 số quyền phải chấp
nhận đứng dưới các quyền khác bởi nếucác quyền đó không được bảo đảm thì thì các quyền còn
lại cũng không được duy trì.Ví dụ: khi xảy ra tình trạng lũ lụt, những người không có chỗ trú có
thể đến lánh nạn tại bất kỳ nhà người khác antoàn vì quyền được sống của họ ưu tiên hơn quyền
sở hữu của người khác.
+ Tính liên hệ và phụ thuộc lẫn nhau. Điều này có nghĩa là các quyền không tồn tại 1 cách độc lập
mà có sự liên hệvới nhau. Sở dĩ có điều này là vì các quyền phản ánh những khía cạnh khác nhau
của đời sống con người mà những khíacạnh đó lại có sự liên hệ với nhau, hỗ trợ nhau.
Câu12: Nêu khái niệm quyền con người. Nhà nước Việt Nam có trách nhiệm gì đối với quyền con người?
- Khái niệm: “ Quyền con người là những nhu cầu, khả năng, lợi ích tự nhiên, vốn có của con
người, được phápluật quy định và bảo đảm bởi Nhà nước”Việc bảo đảm quyền con người có ý
nghĩa rất quan trọng, đó là điều kiện để phát triển tự do của con người trong khuôn khổ pháp luật
và đạo đức xã hội, để mọi người được hưởng các quyền dân sự và chính trị một cách bình đẳng,
có cơ hội bình đẳng nêu ra quan điểm và ý kiến mang tính chất xây dựng khi tham gia vào đời
sống chính trị, xã hội của đất nước Việc bảo đảm quyền con người còn có vai trò rất to lớn trong
việc bảo vệ tính mạng, sức khỏe, tài sản, danh dự, nhân phẩm của con người. Bảo đảm có hiệu
quả quyền con người sẽ hỗ trợ cho mỗi người tránh được sự đe dọa bởi bạo lực, áp bức, bóc lột,
đói nghèo, bệnh tật và những rủi ro bất thường khác; đồng thời được sống trong môi trường kinh
tế, xã hội văn minh, lành mạnh, môi trường tự nhiên trong lành, thể hiện tính ưu việt của xã hội xã hội chủ nghĩa
Ở Việt Nam, quan điểm về quyền con người của Đảng Cộng sản Việt Nam được thể hiện rõ tại
Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm
2011), trong đó xác định: “Con người là trung tâm của chiến lược phát triển, đồng thời là chủ thể
phát triển. Tôn trọng và bảo vệ quyền con người, gắn quyền con người với quyền và lợi ích của
dân tộc, đất nước và quyền làm chủ của nhân dân". Quyền con người được hình thành từ bản sắc
văn hóa Việt Nam, từ lịch sử đấu tranh chống giặc ngoại xâm, từ nền tảng của chủ nghĩa Mác -
Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, từ những nguyên tắc và tiêu chuẩn quốc tế về quyền con người
mang giá trị phổ quát, được các dân tộc thừa nhận và từ thực tiễn đổi mới, hội nhập quốc tế, xây
dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Việc đổi mới tư duy chính trị - pháp lý đã khẳng
định rằng quyền con người là giá trị chung của nhân loại, không phải sản phẩm riêng của chủ nghĩa
tư bản. “Đó là thành quả của cuộc đấu tranh lâu dài qua các thời đại của nhân dân lao động và các
dân tộc bị áp bức trên thế giới và cũng là thành quả của cuộc đấu tranh của loài người làm chủ
thiên nhiên, qua đó nhân quyền trở thành giá trị chung của nhân loại”. Tuy nhiên, “trong xã hội có
phân chia giai cấp đối kháng, khái niệm nhân quyền mang tính giai cấpsâu sắc”. Nhân quyền vừa
có tính phổ biến, vừa có tính đặc thù, “nhân quyền luôn luôn gắn liền với lịch sử, truyền thống và
phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế, văn hóa của đất nước. Do vậy không thể áp đặt hoặc sao
chép máy móc các tiêu chuẩn, mô thức của nước này cho nước khác”. Vì vậy, “khi tiếp cận và xử
lý các vấn đề nhân quyền cần kết hợp hài hòa các chuẩn mực, nguyên tắc chung của pháp luật quốc
tế với những điều kiện đặc thù về lịch sử, chính trị, kinh tế - xã hội, các giá trị văn hóa, tôn giáo, lOMoAR cPSD| 61685031
tín ngưỡng, phong tục tập quán của mỗi quốc gia và khu vực. Không một nước nào có quyền áp
đặt mô hình chính trị, kinh tế, văn hóa của mình cho một quốc gia khác”. Chúng ta cũng quan niệm
rất rõ rằng nhân quyền và quyền dân tộc cơ bản là thống nhất vì “quyền thiêng liêng, cơ bản nhất
của con người là quyền được sống trong độc lập, tự do, quyền tự quyết định vận mệnh của mình”.
Để bảo đảm chắc chắn quyền con người, cần có một hệ thống quy phạm pháp luật điểu chỉnh các
quan hệ xã hội liên quan đến quyền con người. Khi nói về quyền con người, thì quyền không tách
rời nghĩa vụ và trách nhiệm. “Dân chủ gắn liền với kỷ luật, kỷ cương và phải được thể chế hóa
bằng pháp luật, được pháp luật bảo đảm. Nhà nước tôn trọng và bảo đảm các quyền con người,
quyền công dân; chăm lo hạnh phúc, sự phát triển tự do của mỗi người. Quyền và nghĩa vụ công
dân do Hiến pháp và pháp luật quy định. Quyền của công dân không tách rời nghĩa vụ công dân”.
Một vấn đề rất quan trọng đặt ra là các quyền con người cần phải được tôn trọng và được thực
hiện trên thực tế. Điều đó khẳng định trách nhiệm của Đảng và Nhà nước ta trong việc bảo vệ và
thúc đẩy quyền con người trong quá trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.
Thể chế hóa quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về quyền con người, Hiến pháp năm 2013
của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã ghi nhận quyền con người, quyền công
dân ngày ở Chương II của Hiến pháp, chỉ sau chương quy định về chế độ chính trị, đã thể hiện
nhận thức mới đầy đủ, sâu sắc hơn trong việc đề cao quyền tự nhiên của con người; đồng thời,
coi con người là chủ thể, nguồn lực chủ yếu và là mục tiêu của sự phát triển. Đó là quyền sống,
quyền được pháp luật bảo hộ tính mạng, quyền bình đẳng của mọi người trước pháp luật, quyền
không bị phân biệt đối xử trong đời sống chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội; quyền bất khả
xâm phạm về thân thể, quyền được pháp luật bảo hộ về sức khoẻ, danh dự và nhân phẩm, quyền
được đối xử nhân đạo và tôn trọng nhân phẩm của những người bị Tòa án tước tự do; quyền được
xét xử công bằng, quyền được bồi thường khi bị cơ quan nhà nước và công chức nhà nước gây
thiệt hại về vật chất và tinh thần...
Hiến pháp năm 2013 ghi nhận một nguyên tắc mang đậm tính pháp quyền và nhân văn, đó là quyền
con người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế bởi một đạo luật trong trường hợp cần thiết vì lý
do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng.
Điều đó đã đề cao trách nhiệm của Nhà nước trong việc tôn trọng và bảo vệ quyền con người,
quyền công dân. Đồng thời cũng là cơ sở pháp lý để mọi người tự bảo vệ và thực hiện quyền con
người, quyền công dân của mình
Câu13: Nêu khái niệm quyền cơ bản của công dân. Mối quan hệ giữa quyền cơ bản của công dân
với quyền cụ thể của công dân?
Công dân là những người có quốc tịch của một quốc gia nhất định. Mối quan hệ giữa công dân và
Nhà nước có tínhchất bền chặt và thể hiện công dân đó là một thành viên, thuộc về một cộng đồng
mà ở đó có sự chia sẻ về cả chủng tộc,văn hoá, lịch sử cũng như vận mệnh tương lai.Quyền và
nghĩa vụ cơ bản của công dân là các quyền và nghĩa vụ được xác định trong Hiến pháp trên các
lĩnh vựcchính trị, dân sự, kinh tê, xã hội, văn hóa, là cơ sở để thực hiện các quyền và nghĩa vụ cụ
thể khác của công dân và cơ sởchủ yếu để xác định địa vị pháp lý của công dânXét về chủ thể,
quyền con người rộng hơn quyền công dân ( bao hàm cả người không quốc tịch, người nước ngoài).
Xét về nội dung, mối liên hệ giữa quyền công dân và quyền con người là mối quan hệ giữa cái
riêng và cái chung; quyềncông dân hàm chứa quyền con người nhưng lại có những điểm cá biệt
mà chỉ có công dân mới có. lOMoAR cPSD| 61685031
Câu14: Phân tích nguyên tắc tôn trọng quyền con người được quy định trong khoản 1, Điều 14 Hiến pháp năm 2013.
Khoản 1, Điều 14 ghi nhận: “Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người,
quyền công dân vềchính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ,
bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật. ”. Đâythực chất là sự hiến pháp hóa quan điểm của Đảng
về quyền con người “Nhà nước tôn trọng và bảo đảm quyền conngười, quyền công dân; chăm lo
hạnh phúc, sự phát triển tự do của mỗi người. Quyền và nghĩa vụ công dân do Hiến phápvà pháp
luật quy định”[2] [3]. Như vậy, lần đầu tiên trong Hiến pháp Việt Nam ghi nhận “Quyền con
người”, điều nàycho thấy không phải các bản Hiến pháp trước đó chúng ta không ghi nhận về
“quyền con người” (nhân quyền) mà trướcđây chúng ta chưa phân biệt rõ hai khái niệm “quyền
con người” và “quyền công dân”, hay nói cách khách chúng ta đãđồng nhất hai khái niệm trên,
cũng chính vì điều này mà chúng ta bị các thế lực thù địch xuyên tạc Nhà nước ta khôngquan tâm
đến “quyền con người”, vi phạm nhân quyền…lần ghi nhận này có ý nghĩa hết sức quan trọng một
mặt chúng taphân biệt rõ hai khái niệm “quyền con người” và “quyền công dân”, ghi nhận “quyền
con người” đứng trước “quyền côngdân” cũng có nghĩa là chúng ta ghi nhận “quyền con người”
có nội hàm rộng hơn “quyền công dân”, “quyền công dân” làmột bộ phận của quyền con người,
đồng thời cũng ghi nhận từ trước đến nay chúng ta luôn thừa nhận quyền con người đãđược cụ thể
hóa trong quyền công dân mà các Hiến pháp trước đây đã công nhận, có điều chúng ta chưa tách
bạch độclập về hai khái niệm trên
Câu15: Phân tích nguyên tắc công nhận quyền con người được quy định trong khoản 1, Điều 14 Hiến pháp năm 2013.
Câu16: Phân tích nguyên tắc công nhận quyền con người được quy định trong khoản 1, Điều 14 Hiến pháp năm 2013.
Câu17: Phân tích nguyên tắc bảo vệ quyền con người được quy định trong khoản 1, Điều 14 Hiến pháp năm 2013.
Câu18: Phân tích nguyên tắc “Mọi người đều bình đẳng trước pháp luật” được quy định tại khoản
1 Điều 16 Hiến pháp 2013
Câu19: Theo khoản 1 Điều 14 Hiến pháp năm 2013, trách nhiệm của Nhà nước đối với quyền con
người, quyền công dân được thể hiện như thế nào?
Quyền con người, quyền công dân gắn liền với bản chất quyền lực của Nhà nước ta là Nhà nước
pháp quyền xã hộichủ nghĩa Việt Nam của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân. Do đó, trách
nhiệm của Nhà nước là phải bảo đảm vàkhông ngừng phát huy quyền làm chủ của Nhân dân, công
nhâ Žn, tôn trọng, bảo vê Ž và bảo đảm quyền con người, quyềncông dân trong mọi hoàn cảnh
phù hợp với mục tiêu xây dựng xã hội dân chủ, công bằng, văn minh và xu hướng toàn cầuhóa hội
nhập quốc tế toàn diện với cơ chế bảo vệ quyền con người, quyền công dân của các quốc gia
Câu20: Phân tích nội dung, ý nghĩa của nguyên tắc “Quyền con người, quyền công dân chỉ có thể
bị hạn chế theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc
gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng”
(Khoản 2, Điều 14 Hiến pháp năm 2013).
Câu21: Trước tình hình ô nhiễm môi trường ngày càng gia tăng và nghiêm trọng, đặc biệt là ô
nhiễm không khí, ô nhiễm tiếng ồn và tắc đường, thành phố H ban hành quy định cấm xe máy lưu
thông ở các quận nội thành. Dựa trên nguyên tắc hạn chế quyền, hãy bình luận về quy định trên.
Câu22:Trình bày vị trí, vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong hệ thống chính trị theo pháp luật hiện hành. lOMoAR cPSD| 61685031
Vị trí: Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là tổ chức liên minh chính trị, liên hiệp tự nguyện của tổ chức
chính trị, các tổchức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội và các cá nhân tiêu biểu trong các giai cấp,
tầng lớp xã hội, dân tộc, tôn giáo, ngườiViệt Nam định cư ở nước ngoài.Vai trò: Mặt trận Tổ quốc
Việt Nam là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân; đại diện, bảo vệ quyền và lợi íchhợp pháp,
chính đáng của Nhân dân; tập hợp, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, thực hiện dân
chủ, tăngcường đồng thuận xã hội; giám sát, phản biện xã hội; tham gia xây dựng Đảng, Nhà nước,
hoạt động đối ngoại nhân dângóp phần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Câu23:Phân tích chức năng giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam theo pháp luật hiện hành.
+ Giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam: 1. Giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là việc
Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp trực tiếp hoặc đề nghịcác tổ chức thành viên của Mặt
trận Tổ quốc Việt Nam theo dõi, xem xét, đánh giá, kiến nghị đối với hoạt động của cơquan, tổ
chức, đại biểu dân cử, cán bộ, công chức, viên chức trong việc thực hiện chính sách, pháp luật.2.
Giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam mang tính xã hội; đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp
pháp, chính đángcủa Nhân dân, kịp thời phát hiện và kiến nghị xử lý sai phạm, khuyết điểm; kiến
nghị sửa đổi, bổ sung chính sách, pháp luật; phát hiện, phổ biến những nhân tố mới, các điển hình
tiên tiến và những mặt tích cực; phát huy quyền làm chủ củaNhân dân, góp phần xây dựng Nhà
nước trong sạch, vững mạnh.3. Hoạt động giám sát được thực hiện theo nguyên tắc bảo đảm phát
huy dân chủ, sự tham gia của Nhân dân, thànhviên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; xuất phát từ
yêu cầu, nguyện vọng của Nhân dân; thực hiện công khai, minh bạch,không chồng chéo; không
làm cản trở hoạt động của cơ quan, tổ chức, cá nhân được giám sát.+ Phản biện xã hội của Mặt
trận Tổ quốc Việt Nam: 1. Phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là việc Ủy ban Mặt
trận Tổ quốc Việt Nam các cấp trực tiếphoặc đề nghị các tổ chức thành viên của Mặt trận Tổ quốc
Việt Nam nhận xét, đánh giá, nêu chính kiến, kiến nghị đối vớidự thảo văn bản pháp luật, quy
hoạch, kế hoạch, chương trình, dự án, đề án (sau đây gọi chung là dự thảo văn bản) của cơquan
nhà nước.2. Phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam mang tính xã hội, khách quan, khoa
học, xây dựng, góp phầnbảo đảm tính đúng đắn, phù hợp với thực tiễn đời sống xã hội và tính hiệu
quả của văn bản; bảo đảm quyền và lợi ích hợppháp, chính đáng của Nhân dân; phát huy dân chủ,
tăng cường đồng thuận xã hội.3. Hoạt động phản biện xã hội được thực hiện theo nguyên tắc dân
chủ, công khai, minh bạch, bảo đảm sự thamgia của thành viên, hội viên, đoàn viên và Nhân dân;
tôn trọng các ý kiến khác nhau nhưng không trái với quyền và lợiích hợp pháp, chính đáng của
Nhân dân, lợi ích quốc gia, dân tộc.(Luật Mặt trận)
Câu24: Phân tích những biểu hiện của nguyên tắc “tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân
trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước theo pháp luật hiện hành.
1.Theo khoản 2 Điều 2 Hiến pháp 2013: “Nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam do Nhân
dân làmchủ; tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp
công nhân với giai cấp nôngdân và đội ngũ trí thức.” Liên minh giữa giai cấp công nhân với giai
cấp nông dân và tầng lớp trí thức chính là bộ phận đông đảo nhất - tầnglóp nhân dân lao động,
chiếm tuyệt đại đa số trong khái niệm Nhân dân và có ý thức hệ tiên tiến trong xã hội. Do đó,
bộphận này được xác định là nền tảng để thực hiệh quyền lực nhà nước của Nhân dân; xác định
như vậy cũng để bảo đảmviệc thực hiện quyền lực nhà nước thực sự vì lợi ích của đa số trong xã
hội. Chính vì quyền lực nhà nước xuất phát từNhân dân nên bộ máy nhà nước Việt Nam cũng phải
xuất phát từ Nhân dân,2. Nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước bằng dân chủ trực tiếp, bằng dân
chủ đại diện thông qua Quốchội, Hội đồng nhân dân và các Cơ quan khác của nhà nước.Hiến pháp
năm 2013 xác định hai hình thức để Nhân dân Việt Nam thực hiện quyền lực nhà nước. Hình thức lOMoAR cPSD| 61685031
thứ nhấtlà người dân trực tiếp thể hiện ý chí của mình để quyết định công việc của nhà nước, bởi
vì về nguyên lý quyền lực thuộcvề ai thì do người đó thực hiện. Khi có những công việc hệ trọng
của đất nước cần ý kiến quyết định của người dân thì cơquan nhà nước có thẩm quyền tổ chức để
người dân thể hiện ý chí lựa chọn của mình; sau đó các cơ quan nhà nước thựcthi theo quyết định
của người dân. Công việc của Nhà nước sẽ được quyết định theo hình thức thứ hai, tức là bởi
nhữngngười đại diện do Nhân dân bầu ra, đó chính là đại biểu Quốc hội ở trung ương và đại biểu
Hội đồng nhân dân ở địaphương. Những đại biểu này đại diện cho Nhân dân biểu quyết công việc
của Nhà nước và chịu ữách nhiệm trước Nhândân về những quyết định mà mình đưa ra. Khi người
đại diện không còn được tín nhiệm của Nhân dân thì Nhân dân cóquyền bãi nhiệm họ hoặc không
bầu chọn họ làm người đại diện nữa (Điều 7 Hiến pháp năm 2013). Từ các cơ quan đạidiện của
nhân dân hình thành nên các cơ quan khác trong bộ máy nhà nước và như vậy cả bộ máy nhà nước
đều bắtnguồn từ Nhân dân. Bộ máy nhà nước vận hành theo cách này được được gọi là chính quyền đại diện
3. Theo Khoản 2 Điều 8 Hiến pháp năm 2013: “Các cơ quan nhà nước, cán bộ, công chức, viên
chức phảitôn họng Nhân dân, tận tuỵ phục vụ Nhân dân, liên hệ chặt chẽ với Nhân dân, lắng nghe
ý kiến và chịu sự giám sát củaNhân dân.” Khi quyền lực nhà nước là của Nhân dân thì bộ máy nhà
nước cũng là của Nhân dân, do Nhân dân bầu ra vàphục vụ lợi ích của Nhân dân. Các cơ quan nhà
nước, cán bộ, công chức, viên chức trong bộ máy nhà nước ấy cũng phảithực sự thể hiện được mối
quan hệ phục vụ đối với Nhân dân theo tinh thần trên
Câu25: Phân tích những biểu hiện của nguyên tắc “quyền lực nhà nước là thống nhất” trong tổ
chức và hoạt động của bộ máy nhà nước theo pháp luật hiện hành.
Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà
nước trong việc thựchiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp là nguyên tắc hiến định tại Điều
2, Hiến pháp 2013. Đây là nguyên tắc thểhiện rõ rệt sự phát triển về mặt quan niệm trong cách
thức tổ chức quyền lực nhà nước ở Việt Nam. Trước hết, với bảnchất nhà nước xã hội chủ nghĩa,
Hiến pháp vẫn tiếp tục ghi nhận quyền lực nhà nước là thống nhất. Tuy nhiên, xu hướngtập quyền
xã hội chủ nghĩa ở mức cao độ không còn tiếp tục duy trì. Hơn thế, quy định trên đã tiếp thu một
cách chọn lọcvà hợp lý thuyết phân quyền. Đầu tiên là ở việc thừa nhân sự tồn tại và phân định
rạch ròi giữa các quyền lực lập pháp,hành pháp, tư pháp. Thứ hai, mặc dù không thiết lập xu hướng
kiềm chế đối trọng như các nhà nước tư sản phân quyền,Hiến pháp 2013 quy định việc các nhánh
quyền phải được kiểm soát. Đây là điều kiện thiết yếu để ngăn ngừa sự làmquyền của các cơ quan nhà nước.
Nguyên tắc trên được thể hiện trong 1 số quy định về tổ chức bộ máy nhà nước như sau: - Trước
hết, cần phải thấy Quốc hội là biểu tượng của sự thống nhất quyền lực nhà nước. Điều đó thể hiện
ở chỗ chỉduy nhất Quốc hội là cơ quan được toàn bộ cử tri trong cả nước trực tiếp bầu, Các cơ
quan nhà nước khác ở Trung ươngđều do Quốc hội thành lập.- Thứ hai, các cơ quan nhà nước
được phân công rõ ràng về quyền lực, đặc biệt là quy định về Quốc hội (Điều 69),Chính phủ (Điều
94), Toà án (Điều 102) đã khẳng định rõ đây là các cơ quan gắn với quyền lập pháp, hành pháp và
tưpháp.- Thứ ba, trong quy định về thẩm quyền, các cơ quan có sự phối hợp với nhau rất rõ ràng.
Chẳng hạn trong quy trìnhlàm luật, các cơ quan khác đều có thể có vai trò nhất định trong việc
sáng kiến lập pháp cũng như soạn thảo, góp ý.- Thứ tư, giữa các cơ quan nhà nước đã có sự kiểm
soát quyền lực nhằm ngăn ngừa sự lạm dụng quyền lực nhà nước.Điều này thể hiện trong mối
quan hệ giữa các cơ quan nhà nước.
Câu26: Phân tích nội dung, yêu cầu của nguyên tắc pháp quyền xã hội chủ nghĩa trong tổ chức và
hoạt động của bộ máy nhà nước theo pháp luật hiện hành. lOMoAR cPSD| 61685031
Nguyên tắc pháp quyền Xã hội chủ nghĩa được hiến định tại Điều 2, Hiến pháp 2013 và vận dụng
một cách cụ thểtrong các quy định về các cơ nhà nước. Bản thân pháp quyền là một tư tưởng và
cũng là nguyên tắc được vận dụng từ rấtlâu trong lịch sử nhân loại. Nguyên tắc pháp quyền có một
số đặc trưng cơ bản sau: -
Thứ nhất, pháp luật ở vị trí thượng tôn. Điều này có nghĩa là, tất cả các chủ thể trong xã
hộiđều phải đứng dướipháp luật, tuân thủ pháp luật; kể cả đó là Nhà nước. Bản thân Nhà nước
không được tuỳ tiện đặt ra các quy định pháp luậtmà phải cân nhắc tới các giá trị chung về công
lý, bình đẳng (nghĩa là pháp luật thực định phải phù hợp với luật tự nhiên). -
Thứ hai, phải có cơ chế để người dân bảo vệ các quyền của mình trên cơ sở tình thiêng
liêngcủa hiến pháp. Điềunày có nghĩa là, khi người dân nhận thấy Nhà nước có xu hướng lạm
quyền, người dân phải được quyền sử dụng cơ chếtư pháp (Thông qua Toà án) để bảo vệ quyền
lợi của mình. Khi người dân đưa một hành vi của Nhà nước (có thể là luật,quyết định hành chính
v.v…) ra toà, họ sẽ có thể đứng với vị thế bình đẳng với Nhà nước để được phán xử một cách
côngbằng.Để cụ thể hoà nguyên tắc này, Hiến pháp năm 2013 đã bổ sung một quyền rất quan
trọng, đó là: “người bị buộc tộiphải được Toà án xét xử … công bằng, công khai” (Khoản 2 Điều
31). Quy định trên phản ánh phần nào tinh thần Điều14 Công ước quốc tế về các quyền dân sự và
chính trị năm 1966, nói về quyền được xét xử công bằng. Ngoài ra, nguyêntắc tranh tụng trong xét
xử được bảo đảm theo Điều 103 Hiến pháp năm 2013 là điều kiện tốt nhất để Toà án phát huy
vaitrò bảo vệ công lý của mình. Bên cạnh đó, Hiến pháp năm 2013 lần đầu quy định về “cơ chế
bảo vệ hiến pháp” tại Khoản2 Điều 119, và mặc dù còn nhiều bỏ ngỏ nhưng đây được trông đợi là
hướng đi cho việc bảo vệ quyền con người
Câu27: Phân tích vị trí, tính chất “Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân” theo pháp luật hiện hành. -
Điều 2 Hiến pháp Việt Nam năm 2013: Quốc hội là một cơ quan chiếm vị trí đặc biệt
quantrọng trong bộ máy nhànước của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Theo Hiến pháp
năm 2013, ở nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa ViệtNam tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân
.- Điều 6 Hiến pháp năm 2013: Nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước bằng dân chủ trực tiếp,
bằng dân chủ đại diệnthông qua Quốc hội, Hội đồng nhân dân và thông qua các cơ quan khác của Nhà nước.
-> Vì vậy, Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp thường được gọi là cơ quan quyền lực nhà
nước. Thêm vào đó,Quốc hội lại là cơ quan duy nhất do toàn thể Nhân dân Việt Nam bầu ra thông
qua một cuộc tổng tuyển cử, do đó Quốchội là cơ quan đại biểu cao nhất của Nhân dân .-> Trong
Hiến pháp năm 2013, Quốc hội được xác định vị trí, tính chất: Điều 69 Hiến pháp năm 2013 “Quốc
hội làcơ quan đại biểu cao nhất của Nhân dân, cơ quan quyền lực lực nhà nước cao nhất của nước
Cộng hoà xã hội chủ nghĩaViệt Nam
-Về tính chất quốc hội là cơ quan đại diện cao nhất của nhân dân. Các đại biểu QH là những công
nhân nông dân, trí thức và những người lao động thuốc mọi tầng lớp trong cả nc đc nd cả ncbaauf
cử và chịu trách nhiệm trước nd, họ có mlh chặt chẽ với quần chúng nắm vững tâm tư
nguyện vọng của nd và hoạt động vì những người họ làm đại diện
Câu 28/29: Phân tích chức năng lập hiến/ của Quốc hội theo pháp luật hiện hành:
Trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam -
cơ quan đại biểu cao nhất của Nhân dân được HIến pháptrao cho chức năng lập hiến, lập
pháp(Điều 69 Hiến pháp). Quốc hội đưa đến những chuẩn mực xử sự cho các cơ quannhà nước lOMoAR cPSD| 61685031
thông qua việc ban hành các luật tổ chức cho các cơ quan nhà nước, tránh sự “tuỳ tiện” của các cơ
quan nhànước khi hành xử. Thêm vào đó, Quốc hội với vai trò là cơ quan nhận được sự uỷ quyền
về ý chí, nguyện vọng của Nhândân, Quốc hội cũng gánh trách nhiệm đưa ra những chuẩn mực
xử sự cho các quan hệ xã hội phát sinh trong đời sống xãhội, để đảm bảo mọi quan hệ xã hội đều
được điều chỉnh bởi các quy phạm pháp luật hoặc được diễn giải từ các nội dung,nguyên tắc của
các quy phạm pháp luật để từ đó tạo ra một trật tự xã hội ổn định.Ở Việt Nam, tuy có sự phân biệt
quyền lập hiến và lập pháp nhưng cũng giống như mô hình của nhiều nước trên thếgiới, hiện nay
Việt Nam trao quyền lập hiến và lập pháp cơ quan đại biểu cao nhất của Nhân dân -
Quốc hội. Quốc hội làđại diện xứng đáng nhất để Hiến pháp trao chức năng lập hiến,
lậppháp.Chức năng lập hiến, lập pháp của Quốc hội được hiểu đơn giản là: Quốc hội giữ quyền
làm hiến pháp thì cũng cóquyền sửa đổi hiến pháp; Quốc hội có quyền làm luật thì cũng có quyền
sửa đổi luật, Để đảm bảo cho hoạt động này củaQuốc hội được tiến hành thuận lợi và có hiệu quả,
pháp luật đã quy định cụ thể các bước chuẩn bị và quy trình thực hiện.
Tuy vậy, khác với Hiến pháp năm 1992, Hiến pháp năm 2013 không ghi Quốc hội là cơ quan “duy
nhất” có quyền lậphiến, lập pháp. Hiện nay vẫn còn nhiều ý kiến khác nhau xung quanh việc Hiến
pháp 2013 đã bỏ cụm từ “duy nhất” trongphần nội dung quy định về chức năng này, Có thể lý giải
điều này như sau: Việc bỏ đi cụm từ “duy nhất” chính là Hiếnpháp hiện hành đã chính thức thừa
nhận rằng: ngoài Quốc hội thì sẽ có chủ thể khác làm Hiến pháp, sửa đổi Hiến pháp.Cụ thể: Theo
quy định tại Điều 120 Hiến pháp 2013, ngoài Quốc hội là chủ thể thông qua Hiến pháp thì Nhân
dân có thểtham gia vào quy trình lập hiến, thông qua việc nhân dân biểu quyết khi Quốc hội quyết
định trưng cầu ý dân về Hiếnpháp. Quy định này chính là sự khẳng định rõ nét cho nội dung: Nhân
dân mới là chủ thể tối cao của quyền lập hiến vàNhân dân chỉ trao quyền này cho cơ quan đại diện
của mình. Bản chất “lập hiến” vẫn là quyền của người dân. Việc bỏcụm từ “duy nhất” trong khi
thực hiện quyền lập hiến giúp nhấn mạnh ý nghĩa quyền lập hiến. Có thể khái quát quyền lậphiến
và lập pháp thông qua các bước cơ bản sau: 1. Quyền lập hiến:- Cơ sở pháp lý: Điều 120 Hiến
pháp năm 2013; - Quyền lập hiến của Quốc hội bao gồm các bước:
+ Bước 1: Đề xuất xây dựng, sửa đổi Hiến pháp: Chủ tịch nước, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội,
Chính phủ hoặc ítnhất một phần ba tổng số đại biểu Quốc hội có quyền đề nghị Quốc hội xem xét,
quyết định việc làm Hiến pháp hoặc sửađổi Hiến pháp.
+ Bước 2: Quyết định xây dựng, sửa đổi Hiến pháp: Quốc hội quyết định (Khi có ít nhất ⅔ tổng
số đại biểu Quốchội biểu quyết tán thành) và thành lập Uỷ ban dự thảo Hiến pháp.
+ Bước 3: Xây dựng dự thảo Hiến pháp: Do Uỷ ban dự thảo Hiến pháp soạn thảo, tổ chức lấy ý
kiến Nhân dân vàtrình Quốc hội dự thảo Hiến pháp.
+ Bước 4: Quốc hội thảo luận và bỏ phiếu thông qua dự thảo Hiến pháp: Dự thảo thông qua khi
có ít nhất ⅔ tổng sốđại biểu Quốc hội biểu quyết tán thành (có thể có trưng cầu dân ý)
+ Bước 5: Công bố HIến pháp: Do Chủ tịch nước tiến hành
.2. Quyền lập pháp:- Cơ sở pháp lý: Điều 5, Luật Tổ chức Quốc hội năm 2014, cụ thể được quy
định trong Luật Ban hành văn bản quyphạm pháp luật (sửa đổi, bổ sung) năm 2020.
- Trình tự thực hiện quyền lập pháp của Quốc hội một cách khái quát như sau:
+ Bước 1: Quốc hội quyết định chương trình xây dựng luật, pháp lệnhtheo đề nghị của Uỷ ban Thường vụ Quốc hộ
i+ Bước 2: Các dự án luật trước khi trình Quốc hội phải được Hội đồng Dân tộc hoặc Uỷ ban của
QUốc hội thẩmtra, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội cho ý kiến
.+ Bước 3: Quốc hội thảo luận, xem xét. Thông qua dự án luật tại một hoặc nhiều kỳ họp Quốc hội
căn cứ vào nộidung của dự án luật+ lOMoAR cPSD| 61685031
Bước 4: Quốc hội bỏ phiếu thông qua dự thảo luật, Luật được thông qua khi có quá nửa sự đồng ý
của Đại biểuQuốc hội tại phiên họp toàn thể (Điều 96 Luật Tổ chức Quốc hội năm 2014) + Bước
5: Chủ tịch nước công bố luật, pháp lệnh chậm nhất là 15 ngày kể từ ngày luật, pháp lệnh được
thông quaHiến pháp năm 2013 cũng quy định các chủ thể có quyền sáng kiến lập pháp, cụ thể:
- Các cơ quan sau đây có quyền trình dự án luật ra trước Quốc hội (Theo Điều 84 Hiến pháp năm 2013): + Chủ tịch nước
+ Uỷ ban Thường vụ Quốc hội + Hội đồng Dân tộc
+ Các Uỷ ban của Quốc hội + Chính phủ
+ Toà án nhân dân tối cao
+ Viện kiểm sát nhân dân tối cao + Kiểm toán nhà nước
+ Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và cơ quan Trung ương của tổ chức thành viên
của Mặt trận + Đại biểu Quốc hội
* Nhận xét: So sánh 2 quy trình lập hiến và lập pháp trong việc thực hiện chức năng này của Quốc hội có thể thấy: -
Do hiệu lực pháp lý của Hiến pháp cao hơn so với các văn bản quy phạm pháp luật khác
doQuốc hội ban hành, nênquy trình làm Hiến pháp, sửa đổi Hiến pháp cũng chặt chẽ hơn so với
quy trình làm luật, sửa đổi luật. -
Tỉ lệ đồng thuận của Hiến pháp phải thể hiện có sự nhất trí của toàn thể nhân dân thông
quangười đại diện cao hơnso với thông qua luật, cụ thể: Quyết định việc làm Hiến pháp, sửa đổi
Hiến pháp khi có ít nhất ⅔ tổng số đại biểu Quốchội biểu quyết tán thành, thông qua Hiến pháp
cần phải có quá ⅔ tổng số Đại biểu Quốc hội tán thành. Để thông qua Dựán Luật chỉ cần quá nửa
tổng số Đại biểu Quốc hội tán thành
.- Chủ thể đề xuất làm Hiến pháp, sửa đổi Hiến pháp cũng bị giới hạn hơn nhiều so với các chủ thể
được đề xuất làmLuật, sửa đổi Luật. Điều này được giải thích rằng: Hiến pháp với vai trò là “đạo
luật gốc”, là căn cứ pháp lý cho cả hệthống pháp luật Việt Nam, nên Hiến pháp cần sự ổn định.
Hoạt động Lập hiến không nên diễn ra thường xuyên, vì nếu diễn ra thường xuyên sẽ đưa đến sự
xáo trộn, không ổn định. Trong khi đó nhiệm vụ lập pháp phải thì phải thường xuyên,đáp ứng nhu
cầu đòi hỏi và sự vận động của xã hội.
Câu30: Phân tích chức năng giám sát tối cao của Quốc hội theo pháp luật hiện hành.
Giám sát tối cao là một trong những chức năng quan trọng của Quốc hội. Theo quy định tại Điều
69 HIến pháp 2013thì Quốc hội thực hiện giám sát tối cao đối với hoạt động của Nhà nước. Giám
sát tối cao là việc Quốc hội theo dõi, xemxét, đánh giá hoạt động của cơ quan, tổ chức, cá nhân
chịu sự giám sát trong việc tuân theo Hiến pháp, luật, nghị quyếtcủa Quốc hội và xử lý theo thẩm
quyền hoặc yêu cầu cơ quan có thẩm quyền xử lý. Giám sát tối cao được thực hiện tạikỳ họp Quốc
hội (Khoản 3 Điều 2 Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng Nhân dân năm 2015)Đối
với Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, chức năng giám sát tối cao của Quốc hội
đối với hoạt độngcủa nhà nước để bảo đảm cho Hiến pháp, luật và nghị quyết của Quốc hội được
các cơ quan ở cấp Trung ương tuân thủvà thực hiện một cách thống nhất; ngăn chặn sự lạm quyền
trong tổ chức và thực hiện quyền lực nhà nước bảo đảm chomọi hoạt động của các cơ quan và các
cá nhân đứng đầu các cơ quan nói trên hoạt động vì lợi ích của Nhân dân. Giám sáttối cao của
Quốc hội là giám sát mang tính quyền lực nhà nước. Đặc trưng này giúp phân biệt sự khác nhau lOMoAR cPSD| 61685031
giữa giám sátcủa Quốc hội - cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất với giám sát của Mặt trận Tổ
quốc Việt Nam và các tổ chức thànhviên. Nội dung này cũng chỉ rõ sự khác nhau giữa giám sát tối
cao của Quốc hội với các hoạt động điều tra, thanh tra,giám sát, kiểm sát,... của các cơ quan nhà
nước khác. Trong bộ máy nhà nước ta, ngoài Quốc hội không có một cơ quannhà nước nào được
phép thực hiện quyền giám sát tối cao.Giám sát tối cao là chức năng mà Hiến pháp giao duy nhất
cho Quốc hội. Vì thế chức năng này chỉ có thể tiến hànhtại các kỳ họp của Quốc hội với các
phương thức tương ứng. Theo quy định tại Điều 11 Luật Hoạt động giám sát Quốchội và Hội đồng
nhân dân năm 2015 thì Quốc hội thực hiện hoạt động giám sát tối cao với các nội dung sau:Một
là, xem xét báo cáo công tác của Chủ tịch nước, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Toà án
nhân dân tốicao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Kiểm toán nhà nước, cơ quan khác do Quốc hội
thành lập. Đây là hoạt động cơ bảnđể thực hiện quyền giám sát tối cao của Quốc hội.
Tại kỳ họp cuối năm, Quốc hội xem xét, thảo luận Báo cáo công tác hằng năm của Uỷ ban Thường
vụ Quốc hội, Hộiđồng dân tộc, Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối
cao, Kiểm toán nhà nước; Báo cáo củaChính phủ về các vấn đề như kinh tế - xã hội; thực hiện
ngân sách nhà nước, quyết toán ngân sách nhà nước; tình hình thihành Hiến pháp, luật, nghị quyết
của Quốc hội, …Tại kỳ họp cuối nhiệm kỳ, Quốc hội xem xét, thảo luận Báo cáo công tác nhiệm
kỳ của Chủ tịch nước, Uỷ banthường vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc, các UỶ ban của Quốc hội,
Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sátnhân dân tối cao, Kiểm toán nhà nước và cơ
quan khác do Quốc hội thành lập.Hai là, xem xét các văn bản pháp luật có dấu hiệu trái với Hiến
pháp, luật, Nghị quyết của Quốc hội. Đây là phươngthức để thực hiện nội dung giám sát tình hợp
hiến, hợp pháp của các văn bản quy phạm pháp luật của các đối tượng thuộcquyền giám sát tối
cao của Quốc hội. Trường hợp văn bản quy phạm pháp luật trái với Hiến pháp, luật, nghị quyết
củaQuốc hội thì quyết định bãi bỏ một phần hoặc toàn bộ văn bản đó.Ba là, xem xét chất vấn và
trả lời chất vấn.Theo quy định tại khoản 7 điều 2 Luật Hoạt động giám sát Quốc hội và Hội đồng
nhân dân năm 2015 thì chất vấn đạibiểu Quốc hội là việc đại biểu Quốc hội nêu vấn đề thuộc trách
nhiệm của Chủ tịch nước, Chủ tịch Quốc hội, Thủ tướngChính phủ, Bộ trưởng, thành viên khác
của Chính phủ, Chánh án Toà án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sátnhân dân tối cao,
Tổng Kiểm toán nhà nước và yêu cầu những người này trả lời về trách nhiệm của mình đối với
vấn đềđược nêu. Cụ thể:- Chủ thể chất vấn: Đại biểu Quốc hội - Đối tượng chất vấn: Chủ tịch
nước, Chủ tịch Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng, thành viên khác củaChính phủ, Chánh
án Toà án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tổng Kiểm toán nhà
nước- Thời gian chất vấn: Tại kỳ họp và giữa hai kỳ họpTrong thời gian giữa hai kỳ họp, chất vấn
được gửi đến Uỷ ban Thường vụ Quốc hội để chuyển đến cơ quan hoặcngười bị chất vấn và quyết
định thời hạn trả lời chất vấn.Bốn là, xem xét báo cáo giám sát chuyên đềGiám sát chuyên đề là
việc chủ thể giám sát theo dõi, xem xét, đánh giá vấn đề hoặc hoạt động của cơ quan, tổ chức,cá
nhân chịu sự giám sát trong việc tuân theo Hiến pháp và pháp luật (Khoản 4 Điều 2 Luật Hoạt
động giám sát của Quốchội và HỘi đồng nhân dân năm 2015).Năm là, xem xét báo cáo của Uỷ
ban lâm thời do Quốc hội thành lập để điều tra về một vấn đề nhất địnhSáu là, lấy phiếu tín nhiệm,
bỏ phiếu tín nhiệm đối với người giữ chức vụ do
Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn
Lấy phiếu tín nhiệm là việc Quốc hội, Hội đồng nhân dân thực hiện quyền giám sát, đánh giá mức
độ tín nhiệm đốivới người giữ chức vụ do Quốc hội, HĐND bầu hoặc phê chuẩn để làm cơ sở cho
việc xem xét đánh giá cán bộ (Điều 2Nghị quyết số 85/2014/QH13 của Quốc hội).Bỏ phiếu tín
nhiệm là việc Quốc hội, HĐND thể hiện sự tín nhiệm hoặc không tín nhiệm đối với người giữ
chức vụdo Quốc hội, HĐND bầu hoặc phê chuẩn để làm cơ sở cho việc miễn nhiệm hoặc phê
chuẩn đề nghị miễn nhiệm ngườikhông được Quốc hội, HĐND tín nhiệm (Điều 2 Nghị quyết số lOMoAR cPSD| 61685031
85/2014/QH13 của Quốc hội).Việc lấy phiếu tín nhiệm, bỏ phiếu tín nhiệm nhằm nâng cao hiệu
lực, hiệu quả hoạt động giám sát của Quốc hội,HĐND; nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động
của bộ máy nhà nước; giúp người được lấy phiếu tín nhiệm, bỏ phiếutín nhiệm thấy được mức độ
tín nhiệm của mình để phấn đấu, rèn luyện, nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động; làmcơ sở
để cơ quan, tổ chức có thẩm quyền xem xét đánh giá cán bộ.Bảy là, xem xét báo cáo của Uỷ ban
Thường vụ Quốc hội về kiến nghị giám sát của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, Hộiđồng Dân tộc,
Uỷ ban của Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội và đại biểu Quốc hội.Trường hợp cơ quan, tổ chức,
cá nhân chịu sự giám sát không thực hiện kết luận, kiến nghị giám sát của Uỷ banThường vụ Quốc
hội, Hội đồng Dân tộc, Uỷ ban của Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội và đại biểu Quốc hội thì
Hộiđồng Dân tộc, Uỷ ban của Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội và đại biểu Quốc hội có quyền
kiến nghị với Uỷ banThường vụ Quốc hội để báo cáo Quốc hội xem xét, quyết định
Có thể nói, chức năng giám sát tối cao của Quốc hội xuất phát từ bản chất của Quốc hội nước ta
là cơ quan đại biểucao nhất của Nhân dân. Giám sát chỉ là một trong những chức năng của Quốc
hội, Có mối quan hệ gắn bó giữa lập phápvà giám sát: Quốc hội dùng giám sát để tìm hiểu xem
các cơ quan nhà nước đã thực thi pháp luật như thế nào và luật phápphải được hoàn thiện ra sao.
Ngoài ra, Quốc hội còn có chức năng đại diện. Giám sát cũng gắn bó chặt chẽ với chức năng này:
nhờ tương tác vớicử tri mà Quốc hội có thể xác định được chính xác, kịp thời những vấn đề cần
được giám sát. Trong điều kiện xây dựngNhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, việc
thực hiện chức năng giám sát tối cao đối với hoạt động của Nhànước của Quốc hội cần được nhận
thức một cách đầy đủ, đúng đắn và khoa học cả về phương diện lý luận lẫn thực tiễnhoạt động.
Quốc hội thực hiện giám sát tối cao đối với hoạt động của Nhà nước trong điều kiện Nhà nước
pháp quyền xãhội chủ nghĩa Việt Nam có vai trò to lớn trong việc góp phần phòng chống lạm
quyền, lộng quyền từ phía các cơ quannhà nước có thẩm quyền. Đảm bảo quyền lực nhà nước
thuộc về Nhân dân và phục vụ Nhân dân
Câu31: Tại sao nói kỳ họp Quốc hội là hình thức hoạt động quan trọng nhất của Quốc hội? Tại kỳ
họp, Quốc hội thảo luận dân chủ và quyết định những vấn đề quan trọng nhất của đất nước và của
nhân dân;thực hiện quyền giám sát tối cao đối với hoạt động của các cơ quan nhà nước. Kỳ họp
của Quốc hội được tổ chức thườnglệ một năm hai lần do Uỷ ban thường vụ quốc hội triệu tập.
Trong trường hợp Chủ tịch nước, Thủ tướng Chính phủ hoặcít nhất một phần ba tổng số đại biểu
Quốc hội yêu cầu hoặc theo quyết định của mình, Ủy ban thường vụ Quốc hội triệutập Quốc hội
họp bất thường. Việc triệu tập các kỳ họp thường lệ của Quốc hội phải được Uỷ ban thường vụ
Quốc hộiquyết định và thông báo chậm nhất là ba mươi ngày (đối với các kỳ họp bất thường là
bảy ngày) trước ngày khai mạc kìhọp. Dự kiến chương trình làm việc của kì họp được gửi đến đại
biểu Quốc hội cùng với quyết định triệu tập kỳ họp chậmnhất là mười lăm ngày trước khi Quốc
hội họp, dự kiến chương trình kì họp thường lệ phải được thông báo trên cácphương tiện thông tin
đại chúng. Kỳ họp thứ nhất của Quốc hội khoá mới được triệu tập chậm nhất là hai tháng kể từngày
bầu cử đại biểu quốc hội và do Chủ tịch Quốc hội khóa trước khai mạc và chủ tọa cho đến khi
Quốc hội khóa mớibầu Chủ tịch Quốc hội khoá mới.Kỳ họp là hình thức hoạt động chủ yếu và
quan trọng nhất của Quốc hội. Kỳ họp là nơi biểu hiện trực tiếp và tậptrung nhất quyền lực nhà
nước của cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất củanước
Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam thực hiện quyền lập hiến và lập pháp; nơi thể hiện trí tuệ
tập thể của các đạibiểu Quốc hội. Tại kỳ họp, Quốc hội thảo luận dân chủ và quyết định những
vấn đề quan trọng nhất của đất nước và củanhân dân; thực hiện quyền giám sát tối cao đối với hoạt
động của các cơ quan nhà nước.Trong trường hợp Chủ tịch nước, Ủy ban Thường vụ Quốc hội,
Thủ tướng Chính phủ hoặc ít nhất một phần ba tổngsố đại biểu Quốc hội yêu cầu thì Quốc hội họp
bất thường. Ủy ban Thường vụ Quốc hội triệu tập kỳ họp Quốc hội (Điều83 Hiến pháp 2013) lOMoAR cPSD| 61685031
Câu32: Nguyên tắc “tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân” thể hiện như thế nào thông
qua quy định về vị trí pháp lý của Quốc hội trong Hiến pháp năm 2013? 1.
Địa vị pháp lý của Quốc hội theo Hiến pháp 2013Hiến pháp 2013: Quốc hội là cơ quan đại
biểu cao nhất của Nhân dân, cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất củanước Công hòa xã hộ chủ nghĩa Việt Nam. 2.
Chức năng của Quốc hội theo Hiến pháp 2013 Quốc hội thực hiện quyền lập hiến, lập pháp,
quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và giám sát tối cao đốivới hoạt động của Nhà nước. 3.
Nhiệm vụ và quyền hạn của Quốc hội theo Hiến pháp 2013 Theo Ðiều 70 Hiến pháp 2013,
Quốc hội có những nhiệm vụ và quyền hạn sau đây:1. Làm Hiến pháp và sửa đổi Hiến pháp; làm
luật và sửa đổi luật;2. Thực hiện quyền giám sát tối cao việc tuân theo Hiến pháp, luật và nghị
quyết của Quốc hội; xét báo cáo công táccủa Chủ tịch nước, Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Chính
phủ, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Hộiđồng bầu cử quốc gia, Kiểm
toán Nhà nước và cơ quan khác do Quốc hội thành lập;3. Quyết định mục tiêu, chỉ tiêu, chính
sách, nhiệm vụ cơ bản phát triển kinh tế – xã hội của đất nước;4. Quyết định chính sách cơ bản về
tài chính, tiền tệ quốc gia; quy định, sửa đổi hoặc bãi bỏ các thứ thuế; quyết địnhphân chia các
khoản thu và nhiệm vụ chi giữa ngân sách trung ương và ngân sách địa phương; quyết định mức
giới hạnan toàn nợ quốc gia, nợ công, nợ chính phủ; quyết định dự toán ngân sách Nhà nước và
phân bổ ngân sách trung ương,phê chuẩn quyết toán ngân sách Nhà nước;5. Quyết định chính sách
dân tộc, chính sách tôn giáo của Nhà nước;6. Quy định tổ chức và hoạt động của Quốc hội, Chủ
tịch nước, Chính phủ, Toà án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân,Hội đồng bầu cử quốc gia, Kiểm
toán Nhà nước, chính quyền địa phương và cơ quan khác do Quốc hội thành lập; 7. Bầu, miễn
nhiệm, bãi nhiệm Chủ tịch nước, Phó Chủ tịch nước, Chủ tịch Quốc hội, Phó Chủ tịch Quốc hội,
Ủyviên Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Chủ tịch Hội đồng dân tộc, Chủ nhiệm Ủy ban của Quốc hội,
Thủ tướng Chính phủ,Chánh án Toà án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối
cao, Chủ tịch Hội đồng bầu cử quốc gia, TổngKiểm toán Nhà nước, người đứng đầu cơ quan khác
do Quốc hội thành lập; phê chuẩn đề nghị bổ nhiệm, miễn nhiệm,cách chức Phó Thủ tướng Chính
phủ, Bộ trưởng và thành viên khác của Chính phủ, Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao;phê chuẩn
danh sách thành viên Hội đồng quốc phòng và an ninh, Hội đồng bầu cử quốc gia.Sau khi được
bầu, Chủ tịch nước, Chủ tịch Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao
phảituyên thệ trung thành với Tổ quốc, Nhân dân và Hiến pháp;8. Bỏ phiếu tín nhiệm đối với
người giữ chức vụ do Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn;9. Quyết định thành lập, bãi bỏ bộ, cơ quan
ngang bộ của Chính phủ; thành lập, giải thể, nhập, chia, điều chỉnh địagiới hành chính tỉnh, thành
phố trực thuộc trung ương, đơn vị hành chính – kinh tế đặc biệt; thành lập, bãi bỏ cơ quankhác
theo quy định của Hiến pháp và luật;10. Bãi bỏ văn bản của Chủ tịch nước, Uỷ ban thường vụ
Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Toà án nhândân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối
cao trái với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội;11. Quyết định đại xá;12. Quy định hàm,
cấp trong lực lượng vũ trang nhân dân, hàm, cấp ngoại giao và những hàm, cấp Nhà nước khác;quy
định huân chương, huy chương và danh hiệu vinh dự Nhà nước;13. Quyết định vấn đề chiến tranh
và hoà bình; quy định về tình trạng khẩn cấp, các biện pháp đặc biệt khác bảo đảmquốc phòng và
an ninh quốc gia; 14. Quyết định chính sách cơ bản về đối ngoại; phê chuẩn, quyết định gia nhập
hoặc chấm dứt hiệu lực của điều ướcquốc tế liên quan đến chiến tranh, hòa bình, chủ quyền quốc
gia, tư cách thành viên của Cộng hòa xã hội chủ nghĩa ViệtNam tại các tổ chức quốc tế và khu vực
quan trọng, điều ước quốc tế về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản củacông dân và điều
ước quốc tế khác trái với luật, nghị quyết của Quốc hội;15. Quyết định trưng cầu ý dân. 4.
Quốc Hội thực hiện chức năng giám sát với những cơ quan: – Điều 69: Quốc hội thực hiện
quyền … giám sát tối cao đối với hoạt động của Nhà nước. (trong Hiến pháp trước đâylà giám sát lOMoAR cPSD| 61685031
đối với toàn bộ hoạt động của Nhà nước ).– Khoản 2 điều 70: Thực hiện quyền giám sát tối cao
việc tuân theo Hiến pháp, luật và nghị quyết của Quốc hội; xétbáo cáo công tác của Chủ tịch nước;
Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sátnhân dân tối cao,
Hội đồng bầu cử quốc gia, Kiểm toán Nhà nước và các cơ quan khác do Quốc hội thành lập.=>
Phạm vi giám sát của Quốc hội là ở những cơ quan cấp cao, do Quốc hội thành lập và chịu trách
nhiệm với Quốchội. Phạm vi giám sát này phù hợp với tính “tối cao” của Quốc hội; đồng thời phù
hợp với thực tiễn lịch sử là Quốc hộihầu như không bao giờ thực hiện phạm vi giám sát các cơ
quan cấp tỉnh trở xuống. 5.
Quốc hội thực hiện chức năng giám sát bằng cách: – Xem xét các báo cáo công tác của
Chủ tịch nước, UBTVQH, Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao,..– Xem xét các đề nghị của các cơ
quan của Quốc hội, của đại biểu Quốc hội, của các cơ quan, tổ chức và cá nhân vềcác văn bản quy
phạm pháp luật của Chủ tịch nước, UBTVQH, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Toà án nhân dân
tốicao và Viện kiểm sát nhân dân tối cao có dấu hiệu trái với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc
hội.– Xem xét chất vấn và trả lời chất vấn tại kỳ họp.– Thành lập Uỷ ban lâm thời, Đoàn giám sát
trong những trường hợp cần thiết để điều tra về một vấn đề nhất định.– Quốc hội thành lập các cơ
quan và bầu ra các chức danh sao cho hợp lí (đúng người đúng khả năng) chính là mộthành vi thực hiện quyền giám sát.
Câu33: Phân tích hoạt động chất vấn của đại biểu Quốc hội theo pháp luật hiện hành. Đánh giá
hoạt động chất vấn của đại biểu Quốc hội trong thực tiễn Việt Nam hiện nay.
1. Hiến định về chất vấn trong Hiến pháp Hiến pháp nước Cộng hòa XHCN Việt Nam được
Quốc hội khóa XIII, kỳ họp thứ 6 thông qua ngày 28/11/2013,gồm 11 chương, 120 điều;
trong đó Chương V hiến định về Quốc hội gồm 17 điều, từ Điều 69 đến Điều 85; duy
nhấtĐiều 80 quy định về chất vấn của đại biểu Quốc hội (ĐBQH). Cụ thể là: “Điều 80 1.
ĐBQH có quyền chất vấn Chủ tịch nước, Chủ tịch Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ, Bộ
trưởng và các thành viênkhác của Chính phủ, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao
(TANDTC), Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao(VKSNDTC), Tổng Kiểm toán
nhà nước. 2. Người bị chất vấn phải trả lời trước Quốc hội tại kỳ họp hoặc tại phiên họp
Ủy ban thường vụ Quốc hội(UBTVQH) trong thời gian giữa hai kỳ họp Quốc hội; trong
trường hợp cần thiết, Quốc hội, UBTVQH cho trả lời bằngvăn bản. 3. ĐBQH có quyền
yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp thông tin, tài liệu liên quan đến nhiệm vụ của
cơquan, tổ chức, cá nhân đó. Người đứng đầu cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân có trách nhiệm
trả lời những vấn đề mà ĐBQHyêu cầu trong thời gian nhất định”. Chất vấn là một hình
thức giám sát quan trọng mà tất cả các Hiến pháp của nước ta qua các thời kỳ đều đã
traoquyền cho ĐBQH. Tuy là quy định quyền của cá nhân đại biểu nhưng khi thực hiện,
chất vấn tại nghị trường lại là hoạtđộng của Quốc hội; Quốc hội thực hiện quyền lực nhà
nước tại mỗi kỳ họp, buộc các đối tượng bị chất vấn phải trả lờitrước toàn thể Quốc hội,
hoặc trả lời bằng văn bản riêng cho đại biểu có chất vấn. Chất vấn là một hình thức giám
sát tốicao của Quốc hội, được kế thừa và phát triển qua 5 Hiến pháp từ Hiến pháp năm
1946 đến Hiến pháp năm 2013. Đốitượng trả lời chất vấn được mở rộng dần qua mỗi Hiến
pháp Hiến pháp năm 2013, Điều 80 quy định tương tự như Điều 98 Hiến pháp năm 1992
và tăng thêm một đối tượngphải trả lời chất vấn nữa, đó là Tổng Kiểm toán nhà nước.Qua
5 bản Hiến pháp, quyền lực nhà nước được kiểm soát, được quy định ngày càng chặt chẽ
hơn. Đến nay, tất cảnhững người đứng đầu các cơ quan nhà nước thuộc ba nhánh quyền
lực đều phải chịu sự giám sát trực tiếp, thường xuyêncủa Quốc hội nói chung, đều phải trả
lời chất vấn trước Quốc hội nói riêng. Nếu các Hiến pháp năm 1946 và Hiến phápnăm